Thiền Sư Trung Hoa Giảng Giải

Đời Thứ Hai Sau Lục Tổ Huệ Năng



THIỀN SƯ HY THIÊN Ở THẠCH ĐẦU (700 – 790)

Thiền sư Thạch Đầu Hy Thiên, đời thứ hai sau Lục Tổ. Tuy thời đó có nhiều vị thiền sư nổi tiếng, nhưng hai ngài Thạch Đầu Hy Thiên và Mã Tổ Đạo Nhất đại biểu cho hai dòng thiền hiện giờ còn lưu truyền là Tào Động và Lâm Tế. Dòng phái của ngài Hành Tư truyền xuống ngài Hy Thiên mãi cho đến nay là tông Tào Động. Dòng phái của ngài Hoài Nhượng truyền xuống ngài Mã Tổ mãi cho đến nay là tông Lâm Tế, còn nhiều tông khác cũng đã từ hai dòng này. Có thể nói học hai vị này là đại biểu cho toàn thể đồ đệ của Lục Tổ.

Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Đoan Châu. Lúc thọ thai Sư, mẹ thích ăn chay, không ưa đồ mặn. Khi còn hài nhi, Sư tự hành động lấy, không phiền mẹ săn sóc. Đến lớn khôn, Sư tự an ổn vui tươi, không khi nào tỏ vẻ không bằng lòng người. Ở thôn làng, sơn dân bản địa sợ quỷ thần nên lập nhiều miếu thờ, thường họp nhau mua rượu làm bò tế lễ. Sư đi qua thấy dân chúng tế lễ, bèn phá miếu giật bò cứu đem về. Một năm có vài chục con mà hương lão không thể cấm. 

Sư từ giã quyến thuộc đi xuất gia. Nghe Lục tổ Huệ Năng đang giáo hóa tại Tào Khê, Sư tìm đến thọ giáo. Lục Tổ độ Sư làm đệ tử. Sư chưa thọ giới Cụ túc, cũng chưa đạt đạo, Tổ đã báo tin sắp tịch. Sư hỏi Tổ: 

– Sau khi Hòa thượng viên tịch, con phải nương 

tựa nơi ai? 

Tổ bảo: 

– Tầm Tư đi 

Tổ tịch rồi, mỗi ngày Sư đến bên cạnh tháp ngồi tư duy đến quên cả ăn ngủ. Có vị thượng tọa thấy thế hỏi: 

– Thầy đã tịch, ngươi làm gì ngồi đây mãi? 

Sư thưa: 

– Tôi vâng lời di huấn dạy “Tầm Tư” nên ngồi tư duy. 

Thượng tọa bảo: 

– Ngươi có sư huynh hiệu Hành Tư đang ở núi Thanh Nguyên, nên đến đó nương tựa, Thầy đã dạy rõ, ngươi còn nghi gì? 

Nghe lời dạy này, Sư thu xếp đồ đạc, tìm đến núi Thanh Nguyên ra mắt thiền sư Hành Tư. 

Những hành động của ngài thuở bé rất khác thường, chứng tỏ con người đặc biệt. Đến khi trưởng thành ngài từ giã quyến thuộc xuất gia tìm đến học đạo với Lục Tổ ở Tào Khê. Lục Tổ sắp tịch mà lúc đó ngài chưa thọ giới Cụ túc cũng chưa đạt đạo, ngài hỏi: Sau khi Hòa thượng viên tịch, con phải nương tựa nơi ai? Tổ bảo: Tầm Tư đi. Ông già xưa tiếc lời, chỉ nói Tầm Tư, vì vậy sau khi Tổ tịch, ngài ra tận tháp Tổ ngồi tư duy suốt ngày quên ăn quên ngủ, thật là trung thành.

Có vị thượng tọa trông thấy bèn hỏi: Thầy đã tịch, ngươi làm gì ngồi đây mãi? Ngài thưa: Tôi vâng lời di huấn nên ngồi tư duy. Thượng tọa bảo: Ngươi có sư huynh hiệu Hành Tư đang ở núi Thanh Nguyên, nên đến đó nương tựa, Thầy dạy đã rõ, ngươi còn nghi gì? Ngài thu xếp đồ đạc tìm đến núi Thanh Nguyên ra mắt thiền sư Hành Tư.

Đoạn này chúng ta đã học rồi, không cần lặp lại, đây chỉ thêm một chút.

Một hôm thiền sư Hành Tự hỏi: 

– Có người nói Lãnh Nam có tin tức. 

Sư thưa: 

– Có người không nói Lãnh Nam có tin tức. 

– Nếu thế, đại tạng tiểu tạng từ đâu mà ra? 

– Thảy từ trong ấy, trọn không chút việc khác.

Thiền sư Hành Tư gật đầu. 

Một hôm thiền sư Hành Tư hỏi: Có người nói Lãnh Nam có tin tức. Ngài nói: Có người không nói Lãnh Nam có tin tức. Lời hai thầy trò có dính gì với nhau không? Đây là lối đối đáp trung thành với Lục Tổ. Khi Thầy nói: Có người nói Lãnh Nam có tin tức, ngài liền trả lời: Có người không nói Lãnh Nam có tin tức. Nói có thì dùng không đáp, nói không thì dùng có đáp. Nguyên tắc Lục Tổ dạy không mắc kẹt có và không. Người ngoài nghe nói không hiểu, người trong cuộc thì cảm thông dễ dàng.

Ngài Hành Tư nói: Nếu thế thì đại tạng, tiểu tạng từ đâu mà ra? Nếu không có tin tức nghĩa là không có dấu vết được đạo thì đại tạng, tiểu tạng từ đâu mà ra? Ngài Hy Thiên đáp: Thảy từ trong ấy, trọn không chút việc khác. Thảy từ trong ấy là trong nào? Trong một tấc tâm, hoặc trong cả bầu trời đó không thiếu việc gì.

Ngài Hành Tư chấp nhận. Đó là những đối đáp nho nhỏ giữa thầy trò với nhau.

Đời Đường, niên hiệu Khai Nguyên thứ mười sáu (728), Sư đến La Phù thọ giới Cụ túc. Niên hiệu Thiên Bảo năm đầu (742) Sư tìm đến Hoành Nhạc tại Nam Tự, cạnh chùa phía đông có gộp đá cao giống như cái đài, Sư lên đó cất am tranh ở. Thời nhân kính trọng Sư nên gọi là Hòa thượng Thạch Đầu. 

Đây nói sau khi ngài được Thầy cho chiếc búa rồi, tức là xong việc, đến niên hiệu Khai Nguyên đời Đường năm thứ mười sáu (728), ngài đến La Phù thọ giới Cụ túc. Niên hiệu Thiên Bảo năm đầu (742), ngài tìm đến Hoành Nhạc tại Nam Tự, cạnh chùa phía đông có gộp đá cao giống như cái đài, ngài lên đó cất am tranh ở. Ngài tu hành cho đến thần nhân đến xin thọ giới quy y với ngài, nên thiên hạ kính lắm không dám kêu tên, chỉ gọi là Hòa thượng Thạch Đầu.

Một hôm, thượng đường dạy chúng, Sư bảo: 

– Pháp môn của ta do Phật trước truyền trao, không luận thiền định tinh tấn, chỉ đạt tri kiến Phật, tức tâm tức Phật. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ-đề, phiền não tên tuy khác mà thể vẫn đồng. Các ngươi nên biết, thể tâm linh của mình lìa tánh đoạn và thường, không phải nhơ sạch, lặng lẽ tròn đầy, phàm thánh ngang bằng nhau, ứng dụng không lường, lìa tâm ý thức, ba cõi sáu đường chỉ do tâm mình hiện, như trăng đáy nước, bóng trong gương, đâu có sanh diệt. Các ngươi khéo biết nó thì không gì chẳng đủ. 

Một hôm, thượng đường dạy chúng, Sư bảo:

Pháp môn của ta do Phật trước truyền trao, không luận thiền định tinh tấn, chỉ đạt tri kiến Phật, tức tâm tức Phật. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ-đề, phiền não tên tuy khác mà thể vẫn đồng.

Ngài dạy chúng: Pháp môn của ta do Phật trước truyền trao, không luận thiền định tinh tấn, chỉ đạt tri kiến Phật, tức tâm tức Phật. Ngài nêu chủ yếu của pháp môn chỉ thẳng tâm mình là Phật, tức là tri kiến Phật. Điều này kinh Pháp Hoa đức Phật thường tuyên nói: hiểu đây thì có thể hiểu kia. Tâm, Phật, chúng sanh, Bồ-đề, phiền não, tên tuy khác mà thể vẫn đồng. Tuy có bao nhiêu tên, bao nhiêu tướng trạng, nhưng xét về bản thể thì không khác.

Các ngươi nên biết, thể tâm linh của mình lìa tánh đoạn và thường, không phải nhơ sạch, lặng lẽ tròn đầy, phàm thánh ngang bằng nhau, ứng dụng không lường, lìa tâm ý thức, ba cõi sáu đường chỉ do tâm mình hiện, như trăng đáy nước, bóng trong gương, đâu có sanh diệt. Các ngươi khéo biết nó thì không gì chẳng đủ.

Nếu nhận ra rồi mới biết tất cả tam giới lục đạo đều từ đó mà ra. Tam giới lục đạo chỉ như bóng trong gương, như trăng đáy nước, đâu có gì thật mà chúng ta mắc kẹt, đắm chìm? Biết được như vậy, nhận được như vậy thì tất cả đều sẵn đủ nơi mình, khỏi tìm kiếm đâu xa.

Đệ tử Đạo Ngộ hỏi: 

– Ý chỉ Tào Khê người nào được? 

Sư đáp: 

– Người hội Phật pháp được. 

 Thầy được chăng? 

 Ta không hội Phật pháp. 

Đệ tử Đạo Ngộ hỏi: Ý chỉ Tào Khê người nào được? Hỏi ý chỉ của Lục Tổ ai được? Ngài đáp: Người hội Phật pháp được. Người nào lãnh hội Phật pháp thì người đó được. Thầy được chăng? Ta không hội Phật pháp. Tại sao ngài chối dài như vậy? Không hội Phật pháp sao dám làm thầy người ta? Đây là chỗ khéo của thiền sư, nếu nói ta hội tức nhiên ngầm ý ta có được, như thế kẹt trong hữu sở đắc. Hữu sở đắc là dã can kêu không phải sư tử rống. Vì vậy hỏi, Thầy được chăng? Thì đáp, ta không hội Phật pháp. Các ngài không bao giờ chấp nhận có cái được, nếu chấp nhận là kẻ bị kẹt, chưa hiểu Phật pháp.

Có vị tăng hỏi: 

– Thế nào là giải thoát? 

Sư đáp: 

– Ai trói ngươi? 

– Thế nào là Tịnh độ? 

– Cái gì làm như ngươi? 

– Thế nào là Niết-bàn? 

Ai đem sanh tử cho ngươi? 

Có vị tăng hỏi: Thế nào là giải thoát?

Sư đáp: – Ai trói ngươi? 

Thử hỏi ai trói mình mà mình đòi giải thoát? Như ngài Huệ Trung nói “các pháp không đến nhau”, muốn giải thoát thì đừng cho nó dính là giải thoát, đâu có ai trói buộc. Chúng ta cứ đi tìm giải thoát, chẳng thấy chỗ không bị trói buộc là giải thoát, còn bị trói buộc thì mình chịu trầm luân không có gì lạ.

– Thế nào là Tịnh độ?

Cái gì làm như ngươi? 

Thế nào là Niết-bàn? 

Ai đem sanh tử cho ngươi? 

Hỏi Niết-bàn lấy sanh tử đáp, hỏi tịnh thì lấy nhơ đáp, ngài ứng dụng nguyên tắc của Lục Tổ rất trung thành.

Đọc những đoạn này chúng ta thấy rõ bản ý của Lục Tổ nhắm vào ngài Hành Tư là người xứng đáng kế thừa. Như đoạn trước Tổ bảo “y để lại đây, ngươi đi một nơi hoằng hóa”, đó là chấp nhận một lần. Đến đệ tử chưa ngộ đạo hỏi chỗ nương thì ngài bảo phải tìm Hành Tư. Rõ ràng Lục Tổ tin tưởng ngài Hành Tư, chính ngài Hành Tư và hệ phái của ngài rất trung thực đường lối của Lục Tổ. Đến bây giờ tông Tào Động tuy rất xa rồi mà lối tu cũng giống như Lục Tổ, ứng dụng lối thấy các pháp huyễn hóa, đối duyên không động. Đó là điều đặc biệt.

Sư hỏi vị tăng mới đến: 

– Từ đâu đến? 

Tăng thưa: 

– Từ Giang Tây đến. 

– Thấy Mã đại sư chăng? 

– Dạ thấy. 

Sư bèn chỉ khúc củi bảo: 

– Mã đại sư sao giống cái này? 

Tăng không đáp được, trở về thuật lại Mã Tổ. 

Giang Tây tức là chỗ mà Mã Tổ đang giáo hóa. Mã Tổ là bậc thầy thiên hạ mà ngài lại bảo giống khúc củi, là sao? Còn câu nào đáp được? Tăng đành làm thinh trở về thuật lại Mã Tổ.

Tăng hỏi: 

– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? 

Sư đáp: 

– Hỏi cây cột cái đi! 

– Con không hội. 

– Ta cũng chẳng hội.

Tăng hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? Sư đáp: Hỏi cây cột cái đi! Hỏi ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, ngài không đáp mà bảo hỏi cây cột cái, cây cột có biết nói đâu mà hỏi, như vậy là sao? Chính những câu này gọi là nghi chết thiên hạ.

Ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, ngài Hy Thiên bảo hỏi cây cột cái, đến nhiều vị khác, mỗi người trả lời mỗi cách, đều nói theo kiểu điếc lỗ tai. Ngài Trí Nhàn ở Hương Nghiêm thì nói: “Như người trèo lên cây cao, miệng cắn vào cành cây, tay chân lơ lửng không dính vào đâu, chợt có người dưới gốc cây hỏi, ý của Tổ sư từ Ấn Độ sang. Trong trường hợp này nếu há miệng thì rớt xuống chết liền. Như vậy nên đáp hay không nên đáp? Không đáp thì phụ lòng người hỏi, còn nếu đáp thì tán thân mất mạng.” Vì chỗ bí mật này nên tăng nói: Con không hội. Ngài đáp: Ta cũng chẳng hội. Thầy trò nói trớt quớt, không dính gì hết. Đó là lối đáp tài tình. Thôi để vậy, ai hiểu sao hiểu.

Đại Điền hỏi: 

– Nói có nói không là hai cái đáng chê, xin 

Thầy trừ? 

Sư đáp: 

– Một vật cũng không, trừ cái gì? 

Sư lại hỏi: 

– Dẹp bỏ cổ họng môi lưỡi, ngươi nói đi? Đại Điền thưa: 

– Không cái này. 

Sư bảo: 

– Như thế là ngươi được vào cửa. 

Đại Điền hỏi: Nói có, nói không là hai cái đáng chê, xin Thầy trừ? Ngài đáp: Một vật cũng không, trừ cái gì? Câu đáp này hay đáo để, đúng là bản lai vô nhất vật.

Ngài hỏi lại Đại Điên: Dẹp bỏ cổ, họng, môi, lưỡi, ngươi nói đi? Ai nói giùm tôi một câu mà không cần cổ họng môi lưỡi? Đại Điên nói: Không cái này. Ngài nói: Như thế là ngươi được vào cửa. Thường chúng ta dùng ngôn ngữ để biện luận lý lẽ phải quấy… Ngôn ngữ phát xuất từ cổ họng môi lưỡi, là pháp nhân duyên sanh diệt. Không thể dùng ngôn ngữ nói được cái bất sanh bất diệt kia, nên khi ngài Hy Thiên bảo dẹp bỏ thì Đại Điền nói không cái này, tức là không có những cái thuộc về sanh diệt. Nếu người thấy được cái không sanh diệt tức nhiên người đó đã vào cửa. Vì thế nói ngươi được vào cửa, được vô cửa này rồi.

Đạo Ngộ hỏi:

– Thế nào là đại ý Phật pháp? Sư đáp: 

– Không được, không biết.

Tiến lên lại có chỗ chuyển hay không? 

– Hư không chẳng ngại mây trắng bay. 

Ngài trả lời còn lương thiện quá, nghe hỏi thế nào là đại ý Phật pháp? Trả lời không được, không biết. Sau này chúng ta học, cũng câu hỏi tương tự như vậy mà khi tổ Lâm Tế hỏi ngài Hoàng Bá, liền bị ăn gậy. Ngài Hoàng Bá không trả lời, ba lần hỏi là ba lần ăn gậy, còn dữ dằn hơn ngài Hy Thiên. Đây thật là lương thiện, hỏi thì ngài đáp: Không được, không biết. Chỉ hai chữ “không được không biết” đó, là nắm được đại ý Phật pháp. Chư tổ luôn luôn tránh lối nói được mất, xem như là điều tối kỵ. Người học đạo bây giờ thì sao? Cứ vỗ ngực xưng ta được cái này ta được cái kia, vì vậy nên không qua khỏi cửa này.

Đạo Ngộ hỏi thêm: Tiến lên lại chỗ chuyển hay không? Vì không được, không biết thì xem như là phủ nhận, bây giờ còn có chỗ chuyển hay không? Tức là còn cái gì khẳng định trong đó hay không? Ngài đáp: Hư không chẳng ngại mây trắng bay. Câu này hay quá hay! Hư không mênh mông có ngăn chặn những vầng mây trắng hay không? Nó tự do thênh thang. Như vậy khi vượt qua chỗ không sở đắc, không phân biệt thì sẽ được tự tại như những đám mây bay trong bầu trời, chứ đâu phải chỗ đó là không còn gì.

Sư ở Nam Nhạc có nhiều vị thần linh hiện ra nghe pháp và xin thọ quy giới.

Đời Đường niên hiệu Quảng Đức năm thứ hai (764) đệ tử thỉnh Sư xuống Lương Đoan xiển hóa. Từ đây, hóa chủ Hồ Nam là Thạch Đầu, hóa chủ Giang Tây là Mã Tổ.

Đến ngày hai mươi lăm tháng chạp niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu (790), Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, 63 tuổi hạ. Vua sắc ban là Vô Tế đại sư, tháp hiệu Kiến Tướng. 

Ngài ở Nam Nhạc có nhiều vị thần linh hiện ra nghe pháp và xin thọ quy giới. Đời Đường niên hiệu Quảng Đức năm thứ hai (764), đệ tử thỉnh xuống Lương Đoan xiển hóa, Lương Đoan thuộc về Hồ Nam, vì vậy nói Hồ Nam là nói ngài Thạch Đầu, còn nói Giang Tây là nói ngài Mã Tổ, hai vị tổ đương thời nổi tiếng nhất. Hai nơi này là hai trường dạy làm Phật, hai ngài không tranh cãi nhau. Học trò nào đến, thấy không phải duyên của mình thì chỉ sang bên kia. Bên kia thấy không phải duyên của mình thì chỉ qua bên đây, như vậy cứ trao đổi cảm thông nhau. Đây là chỗ hỗ tương truyền bá.

Ngài viên tịch năm 91 tuổi, vua sắc ban là Vô Tế đại sư.

Sư trước tác một thiên Tham Đồng Khế có chú giải lưu hành khá rộng, lại có làm một bài ca Thảo Am: 

THẢO AM CA 

Ngô kết thảo am vô bảo bối 

Phạn liễu thung dung đồ thùy khoái 

Thành thời sơ kiến mao thảo tân 

Phá hậu hoàn tương mao thảo cái. 

Trụ am nhân, trấn thường tại 

Bất thuộc trung gian dữ nội ngoại

Thế nhân trụ xứ ngã bất trụ 

Thế nhân ái xứ ngã bất ái. 

Am tuy tiểu, hàm pháp giới 

Phương trượng lão nhân tương thể giải 

Thượng thừa Bồ-tát tín vô nghi 

Trung hạ văn chi tất sanh quái. 

Vấn thử am, hoại bất hoại?

Hoại dữ bất hoại chủ nguyên tại

Bất cư nam bắc dữ đông tây

Cơ thượng kiên lao dĩ vi tối. 

Thanh tùng hạ, minh song nội

Ngọc điện chu lâu vị vị đối

Nạp bí mông đầu vạn sự hưu 

Thử thời sơn tăng độ bất hội. 

Trụ thử am, hưu tác giải 

Thùy khoa phô tịch đồ nhân mãi 

Hồi quang phản chiếu tiện quy lai 

Khoách đạt linh căn phi hướng bối. 

Ngộ Tổ sư, thân huấn hối 

Kết thảo vi am mạc sanh thối 

Bách niên phao khước nhậm tung hoành 

Bãi thủ tiện hành thả vô tội. 

Thiên chủng ngôn, vạn ban giải 

Chỉ yếu giáo quân trường bất muội

Dục thức am trung bất tử nhân 

Khởi ly nhi kim giá bì đại. 

Dịch: 

BÀI CA THẢO AM 

Tôi cất am tranh không của báu 

Ăn xong thong thả ngủ ngon lành 

Khi thành nhìn thấy cỏ tranh xanh 

Lúc hỏng lại tìm cỏ tranh lợp. 

Người chủ am vẫn mãi còn 

Không thuộc khoảng giữa chẳng ngoài trong 

Chỗ trụ người đời, ta chẳng trụ 

Chỗ yêu người đời, ta chẳng yêu (ưa). 

Am tuy nhỏ, trùm khắp giới 

Lão già phương trượng mới hiểu tường 

Bồ-tát thượng thừa tin chẳng ngại

Trung hạ nghe đây ắt lạ kỳ. 

Hỏi am này hoại chẳng hoại?

Hoại cùng chẳng hoại chủ mãi còn

Chẳng ở đông tây hoặc nam bắc

Nền móng vững vàng là rất chắc. 

Dưới tùng xanh, trăng giọi song

Điện ngọc lầu son chưa dám đối

Áo nạp trùm đầu muôn việc thôi

Khi này sơn tăng toàn chẳng hội. 

 am này, thôi khởi nghĩ 

Ai khéo trải chiếu mời người mua

Hồi quang phản chiếu là trở về

Đạt suốt linh căn không theo bỏ. 

Gặp Tổ sư thân chỉ dạy 

Kết cỏ làm am chớ thối lui 

Trăm năm bỏ sạch mặc tung hoành

Buông thõng tay đi vẫn không tội. 

Ngàn thứ nói, muôn điều hiểu

Chỉ cốt dạy anh thường chẳng muội

Muốn biết người bất tử trong am 

Đâu rời đây da hiện nay có. 

Ngài có hai áng văn còn lưu lại sau này, thứ nhất là Tham Đồng Khế có chú giải, vì nhiều nên tôi không đưa vào đây. Áng văn thứ hai là Thảo Am Ca, tức là lúc ngài ở trong thảo am thích chí nên làm bài ca này.

Bài ca này, tôi giải nghĩa từng câu một cho dễ hiểu.

Ngô kết thảo am vô bảo bối, nghĩa là tôi kết am tranh này không có bảo bối gì. Phạn liễu thung dung đồ thùy khoái, ăn xong rồi thong thả ngủ, thiệt là thích, thùy khoái tức là ngủ rất thích. Thành thời kiến mao thảo tân, khi mới thành lúc ban đầu thấy cỏ xanh còn tươi, còn mới. Phá hậu hoàn tương mao thảo cái, sau khi nó thủng dột thì đem cỏ khác mà che. Am tranh của ngài là am gì mà khéo quá vậy?

Trụ am nhân, trấn thường tại, người trong am hằng ở đó. Bất thuộc trung gian dữ nội ngoại, người chủ am không thuộc ba nơi giữa, trong và ngoài. Thế nhân trụ xứ ngã bất trụ, chỗ trụ của người đời ta chẳng trụ. Thế nhân ái xứ ngã bất ái, chỗ yêu thích của người đời ta không yêu thích. Am tuy có mục hư, mới cũ nhưng người chủ am vẫn thường tại, không trong ngoài chặng giữa.

Am tuy tiểu, hàm pháp giới, am tuy nhỏ mà gồm chứa cả pháp giới, ai hiểu điều đó? Phương trượng lão nhân tương thể giải, chỉ các vị phương trượng già nua mới có thể hiểu nổi. Đó là các thiền sư chống gậy đi cộp cộp, phải không? Chỉ những vị ấy mới hiểu nổi cái am nhỏ mà hàm pháp giới này, rồi ai hiểu nữa? Thượng thừa Bồ-tát tín vô nghi, các hàng Bồ-tát thượng thừa thì tin cái am này không ngờ chút nào. Trung hạ văn chi tất sanh quái. Hàng trung căn và hạ căn nghe nói đến am này ắt sanh quái lạ, ngờ vực.

Đoạn thứ nhất diễn tả cái am của ngài ở. Đoạn thứ hai diễn tả ông chủ ở trong am. Đoạn thứ ba nói về am bất hoại, không phải là am trước nữa.

Vấn thử am, hoại bất hoại? Thử hỏi am này hoại hay không hoại? Hoại dữ bất hoại chủ nguyên tại. Dù hoại hay không hoại, chủ vẫn còn luôn luôn. Bất cư nam bắc dữ đông tây, không ở nam bắc đông tây, tức là không thuộc không gian. Cơ thượng kiên lao dĩ vi tối, nền móng của nó rất vững chắc, hơn hết. Nền móng của am cũng là bản chất của người tu chúng ta.

Đây diễn tả sự thong thả nhàn hạ của người trong am. Thanh tùng hạ, minh song nội, ngọc điện chu lâu vị vi đối. Dưới tùng xanh, trong cửa sổ trăng rọi sáng, giả sử điện ngọc lầu son cũng không thể so sánh được với am này. Nạp bí mông đầu vạn sự hưu, tức là áo nạp trùm đầu muôn việc thôi. Thử thời sơn tăng đô bất hội, khi ấy sơn tăng trọn chẳng hiểu. Bốn câu này diễn tả thật đẹp! Am đó chúng ta có hay không?

Trụ thử am, hưu tác giải, ở trong am này chớ khởi ra hiểu biết, khởi hiểu biết tức là bệnh. Thùy khoa phô tịch đồ nhân mãi, mặc ai trải chiếu mời người mua. Chúng ta khoe khoang hiểu biết kiến giải thì cũng như mời người đến xem, ở trong am đây không cần các việc ấy. Hồi quang phản chiếu tiện quy lai, xoay ánh sáng chiếu lại nơi mình, liền là trở về. Khoách đạt linh căn phi hướng bối, linh căn rỗng suốt không tiến lui. Nghĩa là cội linh rỗng rang thông suốt, không có gì tiến tới hay lùi lại.

Trong mấy câu này ý nói gì? Người muốn được ở am thì đừng khởi hiểu biết phân biệt, mặc tình cho ai trải chiếu mời người mua. Các nơi giảng đạo gọi là pháp tịch, lúc ấy mời đồ chúng đến nghe, nghe rồi kẻ thì khen hay, người thì chê dở… chẳng khác nào mở cửa hàng mời người mua. Người trong am ở đây thôi không khởi nghĩ gì, mặc tình ngoài kia ai trải chiếu buôn bán, chỉ một việc hồi quang phản chiếu, quay ánh sáng lại chiếu nơi mình. Đó là chỗ nên trở về, lúc đó sẽ đạt được cội linh rỗng suốt, không còn gì đối đãi.

Ngộ Tổ sư thân huấn hối, kết thảo vi am mạc sanh thối. Gặp được Tổ sư dạy bảo kết cỏ làm am chớ sanh lui sụt. Bách niên phao khước nhậm tung hoành, tất cả việc trăm năm quăng hết đi, ném hết đi. Bãi thủ tiện hành thả vô tội, buông thõng tay liền đi vẫn không tội lỗi. Người ta sống ở đời ôm ấp việc trăm năm giữ hoài không bỏ. Việc gì năm ngoái xảy ra tới năm này cũng nhớ, năm kia năm kìa từng xảy ra bây giờ cũng nhớ. Nhớ quá khứ, theo hiện tại, nghĩ vị lai, vì thế tâm điên đảo cả ngày. Tất cả đều quăng ném, buông hết, lúc đó mặc tình ngang dọc. Được như vậy gọi là buông thõng tay đi không có gì tội lỗi; nếu còn nhớ, còn ghi thì còn tội lỗi.

Thiên chủng ngôn, vạn ban giải, ngàn lời nói, muôn điều hiểu. Chỉ yếu giáo quân trường bất muội, cốt yếu là chỉ dạy anh luôn luôn đừng mê. Dục thức am trung bất tử nhân, muốn biết người bất tử trong am thì khởi ly nhi kim giá đại, đâu lìa cái đãy da hiện giờ của mình. Muốn biết ở đâu thì trong cái đãy da hiện giờ đã có người bất tử. Ai muốn thấy thì cất thảo am như ngài Hy Thiên. Ngài thích nó nên ca hoài bài ca đó, chúng ta cũng rất hâm mộ bài ca tự tại này, phải vậy không?

THIỀN SƯ MÃ TỔ ĐẠO NHẤT ở GIANG TÂY (709-788)

Sư họ Mã, quê ở huyện Thập Phương, Hán Châu. Thuở nhỏ, Sư dung mạo lạ thường: đi như trâu, nhìn như cọp, lưỡi dài quá mũi, dưới chân có hai khu ốc. Lúc bé, Sư đến chùa La-hán xin xuất gia với hòa thượng Đường ở Tư Châu. Sau Sư thọ giới cụ túc nơi luật sư Viên ở Du Châu. 

Đời Đường khoảng niên hiệu Khai Nguyên (713-742), Sư tập thiền định ở viện Truyền Pháp tại Hoành Nhạc, nhân thiền sư Hoài Nhượng giáo hóa được giải ngộ. Bạn đồng học với Sư có sáu người, chỉ riêng Sư được truyền tâm ấn. 

Sau khi tạm biệt thầy, Sư đến Kiến Dương ở ngọn núi Phật Tích, kế dời sang Lâm Xuyên, sau lại đến núi Cung Công ở Nam Khang. Niên hiệu 

Đại Lịch (766-779), Liên soái Lộ Từ Cung nghe danh kính mộ nên đích thân thọ học, thỉnh Sư khai đường để truyền bá tông phong. Từ đây học giả bốn phương tụ hội về rất đông. Có thể nói Giang Tây là một trường thi Phật. 

Mã Tổ là người mà tổ Bát-nhã-đa-la ở Ấn Độ đã huyền ký: dưới chân của ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng sẽ có một con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ. Ngài họ Mã, tên là Đạo Nhất, ngài làm thầy thiên hạ đồ chúng rất đông, có tám mươi bốn đệ tử là thiện tri thức một phương. Người thời ấy nể vì nên gọi ngài là Mã Tổ, tức là ông Tổ họ Mã.

Đây diễn tả tướng trang nghiêm của ngài, đi như trâu, nhìn như cọp. Con trâu khi đi bốn chân chậm rãi đều đặn, bước này tới bước kia không nghiêng qua ngả lại; con cọp chỉ ngó thẳng không ngó ngang dọc, ví như mắt ngài ngó thẳng không liếc ngó chung quanh. Lưỡi dài quá mũi, lưỡi liếm trùm lỗ mũi. Dưới chân hai khu ốc, lòng bàn chân của ngài có đường chỉ xoắn ốc như bánh xe. Ngài xuất gia từ thuở bé, thọ giới Cụ túc xong, tập tu thiền định tại núi Hoành Nhạc thì được gặp tổ Hoài Nhượng rồi ngộ đạo.

Sau này ngài tạm biệt thầy, đến Kiến Dương ngọn núi Phật Tích, đó là dời lần thứ nhất. Kế đời sang Lâm Xuyên, rồi sau lại đến núi Cung Công ở Nam Khang. Niên hiệu Đại Lịch (766-779) Liên soái Lộ Từ Cung nghe đạo phong của ngài nên kính mộ, đích thân thỉnh ngài khai đường để truyền bá tông phongTừ đây học giả bốn phương tụ hội rất đông. Có thể nói Giang Tây là một trường tuyển Phật, đủ thấy tiếng tăm vang dội của ngài như thế nào.

Một hôm Sư dạy chúng: 

Các ngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Đạt-ma từ Nam Ấn 

sang Trung Hoa truyền pháp Thượng thừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinh Lăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điên đảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinh Lăng-già nói: “Phật nói tâm là chủ, cửa Không là cửa pháp.” (Phật ngữ tâm vi tông, vô môn vi pháp môn). 

Phàm người cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêng có Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiện chẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạt tánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không có tự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đều là cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâm không tự là tâm, nhân sắc mới có. 

Các ngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn không có chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳng sanh. Nếu nhận rõ tâm này, mới có thể tùy thời mặc áo ăn cơm nuôi lớn thánh thai, mặc tình tháng ngày trôi qua, đâu còn có việc gì. 

Các ngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này:

Tâm địa tùy thời thuyết 

Bồ-đề diệc chỉ ninh 

Sự lý câu vô ngại 

Đương sinh tức bất sinh.

Dịch:

Đất tâm tùy thời nói 

Bồ-đề cũng thế thôi 

Sự lý đều không ngại 

Chính sanh là chẳng sanh.

Một hôm Sư dạy chúng:

Các ngươi mỗi người tin tâm mình là Phật, tâm này tức là tâm Phật. Tổ Đạt-ma từ Nam Ấn sang Trung Hoa truyền pháp Thượng thừa nhất tâm, khiến các ngươi khai ngộ. Tổ lại dẫn kinh Lăng-già để ấn tâm địa chúng sanh. Sợ e các ngươi điên đảo không tự tin pháp tâm này mỗi người tự có, nên kinh Lăng-già nói: Phật nói tâm là chủ, cửa Không là cửa pháp.” 

Phật ngữ tâm vi tông, môn vi pháp môn. Câu này thật quan trọng, là chủ yếu của Thiền tông. Người tu thiền lấy tâm làm chủ, lấy cửa không là cửa pháp. Vì thế cửa thiền còn gọi là cửa Không, cửa Không là cửa Bát-nhã, vào cửa này để thấy tâm là chủ.

Phàm người cầu pháp nên không có chỗ cầu, ngoài tâm không riêng Phật, ngoài Phật không riêng có tâm, không lấy thiện chẳng bỏ ác, hai bên nhơ sạch đều không nương cậy, đạt tánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, vì không có tự tánh nên tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng đều là cái bóng của một pháp, thấy sắc tức là thấy tâm, tâm không tự là tâm, nhân sắc mới có.

Những điểm ngài dặn dò ở đây thật kỹ lưỡng, nói rõ ràng cho biết ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm. Tức tâm là Phật, người tu không chấp thiện, không bỏ ác. Đừng nghe nói không bỏ ác rồi cứ làm việc ác. Phải hiểu là nơi tâm mình chẳng dấy niệm thiện cũng chẳng dấy niệm ác, không phải bỏ việc thiện mà làm việc ác.

Tột cùng của tự tâm không có lấy bỏ, nhơ sạch cũng không nương, biết rõ tánh tội là không, mỗi niệm đều không thật, khởi niệm dấy lên biết nó là không thật. Vì không tự tánh nên tam giới chỉ là tâm, câu này người thường khó tin nổi, chỉ người có trí Bát-nhã nhìn tất cả sự vật một cách tường tận thì mới tin. Nhìn cái nhà biết nhà tự tánh không, nhìn cây biết cây tự tánh không, nhìn người biết người tự tánh không. Nhìn tất cả biết đều là giả tướng, tự tánh không. Như vậy cái gì là chủ? Duy có nhất tâm là chủ, tất cả các pháp chỉ là bóng dáng của nhất tâm, nên nói thấy sắc tức thấy tâm.

Chủ trương của Mã Tổ, tất cả pháp đều là nhất tâm. Người học thiền biết chủ yếu này rồi thì dầu cách nhau một hai ngàn năm, nói ra một hai câu, chúng ta đều nghiệm biết ở trong dòng nào. Như từ Mã Tổ của đời Đường cho đến thiền sư Thiền Lão đời nhà Lý nước Việt Nam cũng một chủ trương. Ngài Thiền Lão nói:

Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh,

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân.

Rõ ràng trung thực với câu của Mã Tổ, tam giới chỉ là tâm, sum la vạn tượng chỉ là cái bóng của một pháp. Thấy trúc biếc hoa vàng biết là bóng của chân tâm, nhân thấy đó biết rõ chân tâm, ngoài tâm không có một pháp, đều là dòng họ của tông này. Người ở trong Tông của ngài Thạch Đầu thì sao? Bản lai vô nhất vật, không có một pháp để cho người, đó là lối dạy của ngài Thạch Đầu. Người hiểu biết thì nghe một câu liền có thể nhận được xuất thân từ dòng nào, tông phong của ai.

Các ngươi chỉ tùy thời nói năng tức sự là lý, trọn không chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳng sanh. Nếu nhận tâm này, mới có thể tùy thời mặc áo ăn cơm nuôi lớn thánh thai, mặc tình tháng ngày trôi qua, đâu còn có việc gì. Các ngươi nhận ta dạy hãy nghe bài kệ này: 

Tâm địa tùy thời thuyết 

Bồ-đề diệc chỉ ninh 

Sự lý câu vô ngại 

Đương sinh tức bất sinh.

Dịch:

Đất tâm tùy thời nói 

Bồ-đề cũng thế thôi 

Sự lý đều không ngại 

Chính sanh là chẳng sanh.

Các ngươi chỉ tùy thời nói năng, tức sự là lý, trọn không chỗ ngại, đạo quả Bồ-đề cũng như thế. Ngay nơi sự liền thấy lý, tại sao? Tất cả nói năng là sự, đều là bóng của tâm. Từ bóng mà thấy được hình, là tức sự là lý. Đạo quả Bồ-đề cũng như thế, ngay nơi sự mà thấy lý, không có gì trở ngại.

Nơi tâm sanh ra thì gọi là sắc, vì biết sắc không, nên sanh tức chẳng sanh. Thấy sắc biết tánh sắc tức là không, sắc khi sanh không thật sanh nên sanh tức chẳng sanh. Nếu nhận rõ tâm này mới thể tùy thời mặc áo ăn cơm, nuôi lớn thánh thai, mặc tình tháng ngày trôi qua, đâu còn việc gì. Nếu nhận rõ như vậy rồi thì còn gì phải tu. Thấy các pháp là bóng của tâm, pháp không thật, thấy biết như bóng như vang, không có gì chấp giữ. Tất cả pháp gốc từ nơi tâm thì còn gì phiền não, còn gì Bồ-đề, tất cả chỉ là đối đãi, nên các ngài nói không cần tu chỉ tùy thời mặc áo ăn cơm, nuôi lớn thánh thai tức là trưởng dưỡng tâm chân thật.

Hiện giờ có một số người dùng lối thai tức của ngoại đạo, hít hơi thở vô tới rốn, dẫn đến đan điền, ngưng tụ lại chừng năm phút, rồi dần dần đến mươi mười lăm phút, lâu ngày bụng to lên gọi là nuôi lớn thánh thai. Đây không phải chủ trương của nhà thiền. Tổ dạy nuôi lớn thánh thai nghĩa là mặc áo ăn cơm, tâm không còn chạy theo cảnh, tự nhiên ngày ngày hằng thanh tịnh, thanh tịnh trùm khắp. Như vậy, mặc tình ngày tháng trôi qua đâu còn có việc gì, chỉ làm một vô sự tăng.

Ngài dạy bài kệ:

Đất tâm tùy thời nói 

Bồ-đề cũng thế thôi 

Sự lý đều không ngại 

Chính sanh là chẳng sanh.

Pháp môn tâm địa này tùy theo thời tiết mà nói, khi nói thế này, khi nói thế kia. Bồ-đề là tánh giác cũng là tâm, tùy thời hiển lộ. Sự và lý đều không thấy có hai, tức là vô ngại, sự lý vô ngại rồi chính khi sanh thấy rõ lý vô sanh.

Có vị tăng hỏi: 

– Hòa thượng vì sao nói tức tâm tức Phật? 

Sư đáp: 

– Vì dỗ con nít khóc. 

 Con nít nín rồi thì thế nào? 

– Phi tâm phi Phật. 

– Người trừ được hai thứ này rồi, phải dạy thế nào? 

– Nói với y là chẳng phải vật (bất thị vật). 

– Khi chợt gặp người như thế thì phải làm sao? 

– Hãy dạy y thể hội đại đạo. 

Trong đoạn này chúng ta thấy thuật đối đáp của Mã Tổ y theo đường lối của Thiền tông, chủ trương tức tâm tức Phật, chính nơi tâm mình là Phật, ngoài tâm không có Phật nào khác.

vị tăng hỏi: Hòa thượng vì cái gì nói tức tâm tức Phật? Ngài liền nói: Vì dỗ con nít khóc. Dỗ con nít khóc là phương tiện, không phải là chân lý. Tại sao? Bởi vì chúng sanh lầm mê, cứ tưởng Phật ngoài tâm, quên mình đi cầu Phật bên ngoài, cầu hoài mà không gặp Phật, cho rằng tu không được thành Phật. Chư tổ thương những người lầm lạc đó, muốn kéo họ trở lại nên chỉ dạy tức tâm tức Phật, tức là xoay lại bên trong. Từ người chạy bên ngoài kéo trở về bên trong, cũng là phương tiện chứ chưa phải là thật. Chỗ thật đó vượt ra ngoài nói năng, vượt ra ngoài tức và phi. Còn nói tức nói phi thì chưa phải là cứu cánh, cũng chỉ là phương tiện dạy người biết trở về nơi mình. Trước dùng chữ tức tâm tức Phật, đó là giai đoạn đầu, là phương tiện như nắm lá vàng dỗ con nít khóc vậy.

Đến giai đoạn hai, con nít nín rồi thì thế nào? Con nít khóc là dụ cho những người chỉ đòi những cái bên ngoài, không được thì buồn khổ. Người ta đang chạy ra ngoài, dạy họ trở về tức là xoay về bên trong, khi trở về được rồi như con nít nín khóc. Lúc đó ngài nói phi tâm phi Phật. Trước dùng chữ tức để chỉ thẳng tâm mình là Phật, cũng là phương tiện, khi thấy rồi muốn phủ nhận chữ tức nên dùng chữ phi. Phi tâm phi Phật là để phá bệnh chấp tức tâm tức Phật. Đối với người trừ được hai bệnh này rồi phải dạy thế nào? Tức là khẳng định, phi là phủ định, hai bên đã lìa thì nói với y là chẳng phải vật, không phải là một đối tượng gì, không còn vật gì để bám.

Hỏi: Khi gặp người như thế thì phải làm sao? Nếu gặp người đã thoát khỏi hai bên, không còn dính kẹt nữa, hãy nói với họ thế nào? Hãy dạy y thể hội đại đạo, nghĩa là người đó đã hội xong việc lớn. Như vậy câu thứ ba chẳng phải vật là chỗ cứu cánh. Vì trước còn phi tâm phi Phật cũng là hai, đến sau rốt bất thị vật là không còn cái một nữa, huống là hai. Đó là người thể hội đại đạo.

Có vị tăng hỏi: 

– Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? 

Sư bảo: 

– Hôm nay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏi Trí Tạng. 

Vị tăng ấy đến hỏi Trí Tạng. Trí Tạng bảo: 

– Sao không hỏi Hòa thượng? 

Tăng đáp: 

– Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy. 

Trí Tạng nói: 

– Hôm nay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi sư huynh Hải. 

Tăng đến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo: 

– Đến chỗ này tôi cũng chẳng hội. 

Tăng trở lại trình Sư, Sư bảo: 

– Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc. 

Ly tứ cú, tuyệt bách phi nghĩa là lìa bốn câu, dứt trăm phi. Tuyệt bách phi dẫn trong kinh Lăng-già, mở đầu Bồ-tát Đại Huệ hỏi Phật một trăm lẻ tám câu, khi Phật trả lời ngài lặp lại và dùng chữ phi. Như “Câu số cú câu phi số cú, câu mây câu phi mây…” Đáng lẽ phải là trăm lẻ tám câu phi, nhưng chư Tổ nói gọn trăm câu phi, gọi là bách phi. Một chữ phi đáp cho tất cả, vì những câu hỏi ấy đều nằm trong kiến chấp đối đãi, nên Phật dùng chữ phi để phá kiến chấp đó. Tứ là lý luận theo Ấn Độ có bốn thứ: có, không, chẳng phải có chẳng phải không, cũng có cũng không. Tứ cú bách phi đại diện tất cả ngôn ngữ, lìa tứ cú tuyệt bách phi là chỗ không còn ngôn ngữ. Vì vậy tăng hỏi: Ly tứ cú tuyệt bách phi, thỉnh Thầy chỉ thẳng ý Tổ từ Ấn Độ sang?

Nếu hỏi chúng ta thì chắc mình cũng nói thế này thế khác. Đối với Mã Tổ, ngài bảo: Hôm nay ta mệt nhọc không thể vì ngươi nói, ngươi đến hỏi Trí Tạng.

Vị tăng ấy đến hỏi Trí Tạng. Trí Tạng bảo:

Sao không hỏi Hòa thượng?

Tăng đáp: 

Hòa thượng dạy đến hỏi Thầy.

Trí Tạng nói: 

Hôm nay tôi đau đầu, không thể vì ông nói, đến hỏi sư huynh Hải.

Tăng đến hỏi Hoài Hải, Hoài Hải bảo: 

Đến chỗ này tôi cũng chẳng hội.

Tăng trở lại trình Sư, Sư bảo:

– Tạng đầu bạch, Hải đầu hắc.

Tại sao ba thầy trò trốn tránh câu hỏi đó? Người nói mệt nhọc, người nói đau đầu, người nói chẳng hội. Nhà thiền bảo chúng ta đừng bị đầu lưỡi Lão hòa thượng lừa, ông tăng này có bị lừa không? Ông tăng nghe nói “ta mệt không nói được, ngươi đến hỏi Trí Tạng”, ý nói chỗ đó là chỗ bặt ngôn ngữ, chỉ có trí thầm hội. Trí tạng là trí ẩn kín. Tăng không hiểu, lại tưởng bảo đi hỏi ngài Trí Tạng. Những chỗ này trong chúng không có quyền trả lời nên ngài Trí Tạng bảo, sao không hỏi Hòa thượng. Tăng nói Hòa thượng bảo hỏi Thầy, Trí Tạng sực nhớ lại nên nói tôi đau đầu nói không được. Ban đầu hỏi sao không hỏi Hòa thượng? Đó là ngài rất thật tình trong cái bình dị của người thường, chưa dùng cách khéo của thiền sư. Nhưng ngài Hoài Hải vừa hỏi là biết liền, nên nói chỗ đó tôi không hội. Mã Tổ bảo là Hải đầu hắc, là chỗ khéo ẩn giấu không thể thấy. Như vậy ông tăng đó bị ba người gạt.

Ly tứ cú tuyệt bách phi thì đâu còn ngôn ngữ để nói, hơn nữa ý Tổ lại là chỗ không ngôn ngữ, bảo nói chỗ không thể nói, thì làm sao? Cái đó tự khế hội, nhưng nếu bảo tự khế hội nghe bình dị quá, nên bảo đi hỏi Trí Tạng. Chỗ này nếu người lanh lẹ liền nhận ra, còn không khéo thì bị lừa.

Cư sĩ Bàng Uẩn đến hỏi: 

– Nước không gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý này thế nào? 

Sư đáp: 

 Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gân xương? 

Uẩn bảo: 

– Không lầm người xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìn lên. 

Sư liền nhìn thẳng xuống. Uẩn nói: 

– Một cây đàn cầm không dây, mà Thầy đàn rất hay. 

Sư liền nhìn lên. Uẩn lễ bái. Sư trở về phương trượng. Uẩn theo sau thưa: 

– Vừa rồi muốn làm khéo trở thành vụng. 

Cư sĩ Bàng Uẩn hỏi: Nước không gân xương hay thắng chiếc thuyền muôn hộc, lý này thế nào? Nước không gân xương nghĩa là nước không có gì cứng chắc, sao có thể chở được tàu thuyền mấy ngàn ký, nước mạnh vượt trội hơn tàu thuyền? Bàng Uẩn hỏi nước hay hỏi về cái gì? Nghĩa là thân thể thì có tướng mạo hình dáng, cái không hình dáng sao điều khiển được cái có hình dáng. Tâm không có hình dáng điều khiển được tất cả cái có hình dáng, như vậy là sao? Mã Tổ bảo: Trong ấy không nước cũng không thuyền, nói gì là gân xương. Câu đó khéo làm sao, Bàng Uẩn nghe liền lãnh hội được, bèn nói: Không lầm người xưa nay, thỉnh Thầy để mắt nhìn lên! Không lầm người xưa nay là người nào? Chúng ta nhớ ngài Hoài Nhượng ấn chứng trong số đệ tử: Người đạt được tâm ta, giỏi về xưa nay là Đạo Nhất. Không lầm người xưa nay tức là thấu đạt tâm. Thỉnh Thầy để mắt nhìn lên thì ngài ngó xuống.

Bàng Uẩn nói: Một cây đàn cầm không dây mà Thầy đàn rất hay. Thỉnh nhìn lên mà ngài nhìn xuống, đó là pháp đối đãi theo Lục Tổ. Uẩn lễ bái, ngài trở về phương trượng. Uẩn theo sau thưa: Vừa rồi muốn làm khéo mà trở thành vụng. Như vậy thầy trò đã cảm thông nhau. Có ai biết cây đàn không dây không? Nhà thiền có dụng ngữ đàn không dây, sáo không lỗ, thuyền không đáy… Đó là chỗ không nghĩ bàn.

Một đêm Trí Tạng, Hoài Hải, Phổ Nguyện theo hầu Sư xem trăng. Sự hỏi: 

– Ngay bây giờ nên làm gì? 

Trí Tạng thưa: 

 Nên cúng dường. 

Hoài Hải thưa: 

– Nên tu hành. 

Phổ Nguyện phất tay áo đi ra. 

Sư bảo: 

 Kinh vào Tạng, Thiền về Hải, chỉ có Phổ Nguyện vượt ngoài sự vật. 

Xem như các ngài đùa chơi, nhưng bao nhiêu ý nghĩa nằm trong đó. Tại sao Kinh về Tạng? Chủ trương của Mã Tổ, lý tức tâm tức Phật là để dỗ con nít khóc. Bây giờ nên cúng dường là cúng dường Phật. Ngay tâm mình là Phật tức là hằng trở lại với tâm, ngài Trí Tạng nhận được lý tức tâm tức Phật, là cúng dường người vô tu vô chứng. Lý tức tâm tức Phật là nắm lá vàng dỗ con nít khóc, bao nhiêu kinh Phật đều là nắm lá vàng dỗ con nít khóc. Ngài Trí Tạng nhận được lý đó nên nói Kinh về Tạng.

Ngài Hoài Hải thì nói nên tu hành, chỗ tu hành là không còn nhận lý mà phải thấy tánh khởi tu, đã vượt qua tức tâm tức Phật. Đến đây là phi tâm phi Phật, chỉ nỗ lực sống với tánh, không còn thấy tâm thấy Phật, không còn kẹt hai bên. Ngài Hoài Hải nói nên tu hành, là vượt giai đoạn thứ nhất, đến giai đoạn thứ hai là phi tâm phi Phật, đó là chỗ nhà thiền không còn chấp nên nói Thiền về Hải.

Nhưng nói nên tu hành cũng là còn thực hành, còn cố gắng nỗ lực, đến ngài Phổ Nguyện thì phất tay áo đi ra, là đến chỗ cuối cùng bất thị vật. Bất thị vật thì còn nói gì tu, còn nói gì cúng dường? Đó là thể hội đại đạo, không còn ngôn ngữ, nên nói Phổ Nguyện vượt ngoài sự vật.

Trong cuộc nói chuyện này, Hoài Hải là người truyền Thiền mãi mãi, dòng của ngài lâu bền nhất vì ngài hằng sống đúng với cái tâm đó. Tuy ngài không siêu việt như Phổ Nguyện, nhưng là người nỗ lực thực hành, vì vậy dòng của ngài bền bỉ nhất.

Hoài Hải hỏi: 

– Thế nào là chỉ thú Phật pháp? 

Sư đáp:

– Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng.

Sư hỏi lại Hoài Hải:

– Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người? 

Hoài Hải dựng đứng cây phất tử. Sư bảo:

– Chỉ cái này hay còn gì khác? 

Hoài Hải ném cây phất tử xuống. 

Ngài Hoài Hải đã nhận được ý Phật pháp nên mới hỏi Thế nào là chỉ thủ Phật pháp? Mã Tổ nói Chính là chỗ ngươi bỏ thân mạng. Tại sao? Chỉ thú Phật pháp là chỗ nếu còn thấy có ngã có pháp thì không đạt được, đó là chỗ vượt ra ngoài chấp ngã chấp pháp, nên nói là chỗ bỏ thân mạng.

Mã Tổ hỏi lại Hoài Hải: Ngươi lấy pháp gì chỉ dạy người? Hoài Hải dựng đứng cây phất tử lên. Cây phất tử là cây chổi quét bụi trên bàn không có gì lạ. Ngài hỏi: Chỉ cái này hay còn khác? Hoài Hải quăng xuống, rồi… hết! Như vậy là sao? Nếu nói dạy người thì tùy duyên dựng lập. Khi người ta hội rồi thì phải buông, tất cả chỉ là phương tiện chứ không có gì là thật hết.

Tăng hỏi: 

– Làm sao được hợp đạo? 

Sư đáp: 

– Ta sớm chẳng hợp đạo. 

Tăng hỏi: 

– Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Độ sang? 

Sư liền đánh và nói: 

– Ta nếu không đánh ngươi, các nơi sẽ cười ta. 

Hợp đạo thì mỗi người phải tự hợp, không do vấn đáp mà được. Đây là chỗ dứt ngôn ngữ nên Mã Tổ nói: Ta cũng không hợp đạo. Hỏi ý Tổ sư từ Ấn Độ sang, ngài liền đánh và nói: Nếu ta không đánh ngươi, các nơi sẽ cười ta. Chỗ này cũng không ngôn ngữ, không nói năng, hỏi ý Tổ sư mà dùng ngôn ngữ thì sai. Nếu khéo thấy chỗ đó chẳng những riêng ngài mà tất cả chư thiền đức đều không nói, nếu ngài nói thì sẽ bị lỗi, làm cho mọi người chê cười. Vì vậy mà nói ta không đánh ngươi các nơi sẽ cười ta.

Đặng Ẩn Phong từ biệt Sư đi nơi khác, Sư hỏi: 

 Đi đến đâu? 

Ẩn Phong thưa: 

– Đi đến Thạch Đầu. 

– Đường Thạch Đầu trơn. 

– Có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa. 

Ẩn Phong vừa đến Thạch Đầu, đi nhiễu giường thiền một vòng, giộng tích trượng động đất một tiếng, hỏi: 

 Ấy là tông chỉ gì? 

Thạch Đầu nói: 

– Trời xanh! Trời xanh 

Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thưa với 

Sư. Sư bảo: 

– Ngươi nên đi lại bên ấy, nếu Thạch Đầu nói “Trời xanh”, ngươi “Hư! Hư” 

Ẩn Phong lại đi đến Thạch Đầu làm như trước. Thạch Đầu bèn “Hư! Hư 

Ẩn Phong không đáp được, lại trở về trình với Sư. Sư bảo: 

– Ta đã nói với ngươi, đường Thạch Đầu trơn.

Đặng Ẩn Phong từ biệt ngài đi nơi khác, ngài hỏi: Đi đến đâu? Ấn Phong thưa đi đến Thạch Đầu. Ngài bảo: Đường Thạch Đầu trơn. Ẩn Phong hơi ỷ tài nên nói: Có cây gậy tùy thân, gặp trường thì đùa. Gậy tùy thân là khả năng của mình. Đặng Ấn Phong sau này trồng chuối ngược mà chết, người tự tại như vậy không ỷ sao được. Cho nên, ngài đã cảnh cáo trước đường Thạch Đầu trơn rồi mà cũng vẫn còn coi thường.

Ẩn Phong đi đến Thạch Đầu nhiễu giường thiền một vòng, giộng tích trượng động đất một tiếng, hỏi: Ây là tông chỉ ? Ngài Thạch Đầu nói: Trời xanh! Trời xanh! Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thưa ngài. Ngài bảo: Ngươi nên đi lại bên ấy, nếu Thạch Đầu nói “Trời xanh” thì ngươi “! Hư!” Ẩn Phong lại đi đến Thạch Đầu, làm như trước, Thạch Đầu bèn “Hư! Hư!” Ẩn Phong không đáp được, lại trở về trình với ngài. Ngài bảo, Ta đã nói với ngươi, đường Thạch Đầu trơn.

Thạch Đầu đã nắm vững thủ thuật của mọi người rồi, nên đối với ngài đừng có đùa. Chỉ có Mã Tổ với Thạch Đầu tương đương nhau, những người nhỏ sau này không phải là tay đối thủ. Trong nhà thiền dùng hình ảnh đi quanh một vòng rồi đứng chống tích trượng hỏi ý chỉ, đó là chỗ cứu cánh vô ngôn. Thạch Đầu đáp trời xanh, trời xanh, như chúng ta nhìn lên trời thấy lặng lẽ không một gợn mây, chỗ không ngôn ngữ mà ngài dùng ngôn ngữ, chúng ta nghe không hiểu biết gì. Chữ trời xanh là lối diễn tả sự rộng lớn bao la, muốn đáp lại thì chỉ còn hư hư tức là một lời không ý nghĩa, dẹp vọng thức. Đó là cảm thông nhau. Cái khéo léo của thiền sư là như thế. Chúng ta gặp trường hợp này chỉ cười chịu thua. Vì vậy mà còn câu nói bất hủ đường Thạch Đầu trơn truyền đến bây giờ.

Có vị giảng sư đến hỏi: 

– Thiền tông truyền giữ pháp gì? 

Sự hỏi lại: 

– Tọa chủ truyền giữ pháp gì? 

– Tôi giảng được hơn hai mươi bản Kinh Luận. 

– Đâu không phải là sư tử con? 

– Không dám. 

Sư thốt ra tiếng: Hư! Hư! 

Giảng sư nói: 

– Đây là pháp. 

– Là pháp gì? 

– Pháp sư tử ra khỏi hang. 

Vì sư tử ra khỏi hang cho nên gầm, tiếng “hư hư” trong nhà thiền là tiếng sư tử gầm.

Sư bèn im lặng. Giảng sư nói: 

– Đây cũng là pháp. 

 Là pháp gì? 

 Pháp sư tử ở trong hang. 

– Không ra không vào là pháp gì? 

Giảng sư không đáp được, bèn từ giã ra đến cửa, Sư gọi: 

– Tọa chủ! 

Giảng sư xoay đầu lại. 

Sư hỏi: 

-Là pháp gì? 

Giảng sư cũng không đáp được. 

Sư bảo: 

– Ông thầy độn căn. 

Ý của Mã Tổ ở chỗ nào? Ngài gọi, ông tăng xoay đầu lại. Xoay đầu lại là xong rồi mà không biết, ngài hỏi là pháp gì? Tức là câu hỏi như trên mà giảng sư cũng bí luôn, bị ngài gọi là ông thầy độn căn. Trước ngài thấy giảng sư khá lanh lợi, nên dùng thuật “hư hư” và làm thinh, giảng sư đều đáp được. Nhưng khi đặt câu hỏi không ra không vào thì đáp không được. Khi giảng sư đi đến cửa, ngài gọi: Tọa chủ, nếu xoay đầu lại “dạ” rồi sụp xuống lạy là xong. Vì không hiểu chỗ gọi dạ nên rốt cuộc ở ngoài cửa.

Một hôm Sư dạy chúng: 

– Đạo không dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao là ô nhiễm? Nếu có tâm sanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốn hội thẳng đạo này thì tâm bình thường là đạo. Sao gọi là tâm bình thường? Không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: “Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnh Bồ-tát.” Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật đều là đạo. Đạo tức là pháp giới, cho đến diệu dụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phải vậy, tại sao nói “pháp môn tâm địa”, tại sao nói “vô tận đăng”? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tên đều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm là cội gốc của muôn pháp. Kinh nói: “Biết tâm đạt cội nguồn nên hiệu là Sa-môn.” Tên đồng nghĩa đồng, tất cả pháp đều đồng thuần nhất không lẫn lộn. 

Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lập pháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như, lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháp trọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác, toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do sự xoay vần của tâm. Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiêu mặt trăng thật thì không; bao nhiêu nguồn nước thì có, mà bao nhiêu tánh nước thì không; bao nhiêu sum la vạn tượng thì có, mà bao nhiêu hư không thì không; bao nhiêu lời nói đạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêu các thứ thành lập đều do một tâm. Dựng lập cũng được, dẹp hết cũng được, thảy là diệu dụng. Diệu dụng trọn là nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân, thảy đều là thể của nhà mình. 

Nếu chẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phật pháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chân như, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảy là dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết. Kinh nói: “Chỗ chỗ nơi nơi đều có Phật.” Phật là Năng Nhân, có trí tuệ khéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúng sanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v… tình chấp phàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe không gì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lý đều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳng để dấu vết, ví như vẽ nước thành lằn, không sanh không diệt, là đại tịch diệt. Tại triền gọi là Như Lai tàng, xuất triền gọi là pháp thân thanh tịnh. Thể không tăng giảm, hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình như trăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốc chẳng hết hữu vi, không trụ vô vị. Hữu vi là dụng của vô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương, nên nói: “Như hư không chẳng chỗ nương” Nghĩa tâm sanh diệt, nghĩa tâm chân như. Tâm chân như dụ như gương sáng soi vật tượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấp pháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt. Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như. 

Thanh văn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không có khác, dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí. Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộ chẳng trở lại mê. Như đang khi mặt trời mọc lên không trở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chung cùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liền trừ vọng tưởng. Vọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháp tánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồi tức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hợp đạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnh huân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳng thông. 

Một hôm Sư dạy chúng: 

– Đạo không dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm. Sao ô nhiễm? Nếu có tâm sanh tử, tạo tác, thú hướng đều là ô nhiễm. Nếu muốn hội thẳng đạo này thì tâm bình thường là đạo. Sao gọi là tâm bình thường? Không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Kinh nói: “Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnh Bồ-tát.

Đạo không dụng tu, chỉ đừng ô nhiễm, đừng ô nhiễm là được chứ không cần dụng công tu. Ô nhiễm là còn có tâm sanh tử, còn có tâm tạo tác, còn có tâm thú hướng. Tâm sanh tử là tâm dấy niệm sanh diệt, tạo tác thủ hướng là có chỗ nhắm đến, đều là sanh tử. Vì có chỗ nhắm đến là bên ngoài nên không phải là đạo, chỉ cần hội thẳng thì tâm bình thường là đạo.

Tâm bình thường là tâm không tạo tác, không thị phi, không thủ xả, không đoạn thường, không phàm thánh. Nghe nói tâm bình thường tưởng là tâm hằng sống như mọi người, đó là lầm. Tâm trần thế có thị phi, phải quấy, tạo tác, thủ xả,… còn thấy có hai bên thì chưa phải là tâm bình thường. Bình thường cũng có nghĩa là bình đẳng, không kẹt bên này mắc bên kia, tâm đó là đạo. Vì thế nói: Chẳng phải hạnh phàm phu, chẳng phải hạnh thánh hiền, là hạnh Bồ-tát, nghĩa là người chấp phàm thánh là mắc kẹt hai bên.

Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng cơ tiếp vật đều là đạo. Đạo tức là pháp giới, cho đến diệu dụng như hà sa đều không ngoài pháp giới. Nếu chẳng phải vậy, tại sao nói “pháp môn tâm địa”, tại sao nói vô tận đăng”? Tất cả pháp đều là pháp của tâm, tất cả tên đều là tên của tâm. Muôn pháp đều từ tâm sanh, tâm là cội gốc của muôn pháp.

Chỉ như hiện nay đi đứng ngồi nằm, ứng tiếp vật đều là đạo, nghĩa là trong bốn oai nghi có chỗ nào không phải là đạo? Có lúc nào mất đạo? Chỉ vì mình quên thì mất, nếu không quên thì không chỗ nào mất đạo.

Đạo tức là pháp giới, tức là đạo bao trùm khắp cả nên thường ví dụ như hư không. Lúc nào, ở đâu cũng có hư không, như thế không lúc nào là không có đạo, có cái nào ngoài đạo. Đạo tức là tâm, tâm ấy bao trùm cả pháp giới, không cái dụng nào ngoài tâm. Nói pháp môn tâm địa vì tâm ấy bao hàm cả vạn tượng, cũng nói vô tận đăng là ngọn đèn không bao giờ tắt.

Kinh nói: “Biết tâm đạt cội nguồn nên hiệu là Sa-môn.Tên đồng nghĩa đồng, tất cả pháp đều đồng thuần nhất không lẫn lộn.

Đây dẫn kinh Tứ Thập Nhị Chương, người tu phải biết tâm, phải đạt được cội nguồn của các pháp, mới gọi là Sa-môn.

Tên đồng nghĩa đồng, tất cả pháp đều đồng thuần nhất không lẫn lộn. Chủ trương của Mã Tổ là tất cả pháp đều từ tâm sanh, không một pháp nào ngoài tâm, thấy pháp tức là thấy tâm. Tôi gọi đó là chủ trương thâu vào. Tất cả pháp đều là tâm thì còn khởi tâm chạy theo pháp làm gì? Do đó thấy pháp là thấy tâm, nghe pháp là nghe tâm.

Nếu ở trong giáo môn được tùy thời tự tại thì dựng lập pháp giới trọn là pháp giới, lập chân như là chân như, lập lý tất cả pháp trọn là lý, lập sự tất cả pháp trọn là sự, nắm giở một thì ngàn theo, sự lý không khác, toàn là diệu dụng. Lại không có lý riêng, đều do sự xoay vần của tâm.

Nếu ở trong giáo môn tức là trong kinh điển, mà biết tùy thời tự tại tức là nhận được diệu lý mà không mắc kẹt ngôn ngữ. Như vậy dựng lập cái gì được cái ấy, vì sao? Vì không bị mắc kẹt, không bị chướng ngại, tất cả sự lý lập ra đều được thành tựu.

Ví như bao nhiêu bóng mặt trăng thì có, mà bao nhiều mặt trăng thật thì không; bao nhiêu nguồn nước thì có, mà bao nhiêu tánh nước thì không; bao nhiêu sum la vạn tượng thì có, mà bao nhiêu hư không thì không; bao nhiêu lời nói đạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không; bao nhiêu các thứ thành lập đều do một tâm.

Đây dùng ví dụ trên hư không chỉ có một mặt trăng thật, nhìn xuống hồ thì có bóng mặt trăng trong hồ, ở ao có bóng mặt trăng trong ao, ở sông có bóng mặt trăng trong sông, ở biển có bóng mặt trăng trong biển, ở lu nước có bóng mặt trăng trong lu nước, ở thau nước có bóng mặt trăng trong thau nước… Trăm ngàn muôn chỗ có nước, đều có trăm ngàn muôn bóng trăng. Như bóng trăng có trăm ngàn muôn, mà trăng thật thì không hai. Cũng vậy, các pháp có ngàn muôn, mà thể tự tâm thì không hai, đó là ví dụ thứ nhất.

Kế tiếp nói: Bao nhiêu nguồn nước thì có, bao nhiêu tánh nước thì không. Tánh nước là tánh ướt, tự bao giờ nước có thể chia ra trăm sông ngàn ngòi, nhưng tánh nước có trăm ngàn không? Chỉ một tánh ướt mà thôi, nên nói không có bao nhiêu tánh nước.

Bao nhiêu sum la vạn tượng thì có, mà bao nhiêu hư không thì không. Sum la vạn tượng có muôn ngàn thứ nhưng hư không bao trùm thiên hình vạn trạng chỉ có một.

Bao nhiêu lời nói đạo lý thì có, mà bao nhiêu Tuệ vô ngại thì không. Người có được Tuệ vô ngại ai hỏi gì đáp đó, hỏi gì nói nấy, đạo lý rất nhiều trăm ngàn muôn thứ nhưng chỉ xuất phát từ một trí tuệ vô ngại.

Kết luận, bao nhiêu thứ dựng lập đều do một tâm, dựng lập thì nhiều mà không ngoài tâm.

Dựng lập cũng được, dẹp hết cũng được, thảy là điệu dụng. Diệu dụng trọn là nhà mình, chẳng phải lìa chân mà có, nơi nơi đều chân, thảy đều là thể của nhà mình.

Nếu chẳng vậy, lại là người nào? Tất cả pháp đều là Phật pháp, các pháp tức là giải thoát, giải thoát tức là chân như, các pháp không ngoài chân như, đi đứng ngồi nằm thảy là dụng bất tư nghì, không đợi thời tiết.

Tất cả pháp đều là thể của mình, ngoài tâm ra không có gì khác. Truyền thống của pháp thiền này trung thực từ thủy tới chung, ai tu theo dòng của Mã Tổ đều có cái nhìn thâu vào như vậy. Trong tâm không thêm bớt, được mất, vì thế không dính mắc như nước trôi chảy không ngừng, như hư không trùm khắp.

Ở đâu và lúc nào chúng ta thấy cái gì cũng biết là tâm mình, như vậy mình có ghét tâm mình, thương tâm mình không? Mọi thứ yêu ghét, đoạn thường, thủ xả… theo đó đều hết. Được cái nhìn như vậy là tu hành đến chỗ an lành tự tại. Theo cái nhìn của ngài Thạch Đầu, tất cả không có một vật thì có gì để duyên theo, nắm bắt, thủ xả… như thế cũng là yên ổn tự tại. Đường lối của hai ngài, một bên thì thâu vào nhất tâm, một bên thì buông xả không một vật.

Kinh nói: “Chỗ chỗ nơi nơi đều Phật.” Phật là Năng Nhân, trí tuệ khéo hợp lòng người, hay phá lưới nghi cho tất cả chúng sanh, vượt ra vòng trói buộc của có và không v.v.. tình chấp phàm thánh hết, nhân pháp đều không, chuyển bánh xe không gì hơn, vượt các số lượng, việc làm không ngại, sự lý đều thông, như trời hiện mây, chợt có lại không, chẳng để dấu vết, ví như vẽ nước thành lằn, không sanh không diệt, là đại tịch diệt. Tại triền gọi là Như Lai tàng, xuất triền gọi là pháp thân thanh tịnh.

Chỗ chỗ nơi nơi đều Phật vì thấy tất cả pháp không ngoài tâm, không ngoài chân như, đâu cũng là chân như, đâu cũng là giải thoát.

Tất cả cách giải quyết phá chấp của đức Phật chẳng khác nào như trời hiện mây, mới vừa hiện đầy trời giây phút sau tan biến không còn thấy dấu vết, không biết tan chỗ nào. Phật vì chúng sanh dựng lập phá chấp để họ không còn sai lầm, khi tất cả chúng sanh hết chấp rồi thì tìm lại không thấy có dấu vết.

Ví như vẽ nước thành lằn, không sanh không diệt, là đại tịch diệt. Như chúng ta ngồi trên thuyền rồi lấy tay vạch xuống nước một lằn, lằn nước vừa hiện liền mất. Nó có sanh diệt không? Tay vừa vạch thấy có lằn, lấy tay lên thì mặt nước bằng lại, không còn lằn nữa, có sanh diệt gì đâu. Động thì thấy có lằn, hết động thì hết lằn. Phật giảng kinh cũng vậy, tùy theo bệnh chúng sanh mà phá chấp, hết chấp thì hết bệnh, không có gì gọi là Phật là pháp.

Tại triền gọi là Như Lai tàng, xuất triền gọi là pháp thân thanh tịnh. Pháp thân khi còn trong trói buộc của ngũ ấm gọi là Như Lai tàng, ra khỏi trói buộc của ngũ ấm gọi là pháp thân thanh tịnh. Khi năm ấm che lấp gọi là Như Lai tàng, phá được năm ấm gọi là pháp thân thanh tịnh.

Thể không tăng giảm, hay lớn hay nhỏ, hay vuông hay tròn, hợp vật hiện hình như trăng trong nước, vận dụng mênh mông, không lập mầm gốc chẳng hết hữu vi, không trụ vô vi. Hữu vi là dụng của vô vi, vô vi là chỗ nương của hữu vi, chẳng trụ chỗ nương, nên nói: “Như hư không chẳng chỗ nương.

Tâm thanh tịnh ấy không có đối đãi, đối đãi chỉ là giả lập, vì thế nó không trụ hữu vi cũng không mắc kẹt vô vi, hai bên đều không. Tâm thanh tịnh không tướng nên nói như hư không, không tướng thì nương gá vào đâu?

Nghĩa tâm sanh diệt, nghĩa tâm chân như. Tâm chân như dụ như gương sáng soi vật tượng. Gương dụ tâm, vật tượng dụ pháp. Nếu tâm chấp pháp là dính với cái nhân bên ngoài, tức là nghĩa sanh diệt. Tâm không chấp pháp tức là nghĩa chân như. 

Ngài giải thích rõ nghĩa tâm chân như và tâm sanh diệt. Tâm chân như là tâm không dính với pháp, tâm sanh diệt là tâm chạy theo các pháp bên ngoài. Tâm không dính pháp ấy, dụ như tấm gương sáng hay soi tất cả các vật tượng, vật tượng dụ như pháp. Vật tượng hiện bóng trong gương khi có khi không, nếu chạy theo vật thì sanh diệt. Gương thì không sanh diệt, tuy có vật tượng cũng không dính mắc. Chúng ta phải rõ biết tâm nào là sanh diệt, tâm nào là vô sanh để tu hành không bị mắc kẹt trong sanh diệt.

Thanh văn tai nghe Phật tánh. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh. Tánh không khác, dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí. Thuận lý là ngộ, theo sự là mê. Mê tức là mê bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Một phen ngộ là hằng ngộ chẳng trở lại mê.

Hàng Thanh văn nghe Phật nói pháp mà ngộ đạo, đó là do nghe mà ngộ. Bồ-tát mắt thấy Phật tánh vì tự tu chứng. Tự tu chứng là tự mắt thấy không phải do lòng tin bởi tai nghe. Liễu đạt không hai gọi là bình đẳng tánh, tức là thấy rõ tánh, không còn mắc kẹt bên này bên kia gọi là tánh bình đẳng. Tánh thì không có khác, dụng thì chẳng đồng. Tại mê là thức, tại ngộ là trí. Khi mê chạy theo sanh diệt là thức, khi ngộ sống với chân như là trí. Người biết trở về chân như gọi là trí, người theo sanh diệt gọi là thức.

Thuận là ngộ, theo sự là mê. Thuận lý tức là trở về tâm không sanh diệt, đó là ngộ. Theo sự là chạy theo các pháp bên ngoài, đó là mê. Mê tức là mê bản tâm mình, ngộ là ngộ bản tánh mình. Mê tức là quên bản tâm mình. Ngộ là nhớ, là biết, nhận được bản tâm mình. Một phen ngộ là hằng ngộ chẳng trở lại mê. Tại sao? Chúng ta thường nghi khi ngộ rồi có mê lại hay không? Nên hiểu rõ có hai trường hợp: chợt ngộ chợt mê và ngộ rồi không trở lại mê. Chúng ta biết tâm sanh diệt là vọng, nhưng có khi biết mà không theo, có khi biết mà cứ theo. Cái biết vọng là sanh diệt, chúng ta không bao giờ quên, không quên tức là vẫn biết nhưng khi vọng mạnh thì bị lỗi chạy, vọng yếu thì biết liền dừng. Đó là trường hợp chợt mê chợt ngộ.

Đây cũng là lối nói tương đối. Thật ra khi tu tập, khi đã biết cái nào chân cái nào vọng, chúng ta không còn lầm mê, đó là ý nghĩa một phen ngộ thì chẳng trở lại mê. Như chúng ta biết thân là sanh diệt, nhận ra rồi thì mãi về sau không nói nó là chân thường. Biết lẽ thật như vậy nhưng làm chủ nó được tức khắc hay là bị nó lôi đi một thời gian, đó là trường hợp ngộ rồi không mê lại chỉ do mình có sức mạnh hay chưa, chứ không phải mê quên luôn. Mê là giả mà tưởng là thật, khi giả biết là giả rồi từ đó về sau lúc nào cũng biết giả không lầm. Chỗ ngộ này chúng ta mới nhận nên sức còn yếu, ngộ mãnh liệt như Phật Bồ-tát thì chưa có. Chúng ta ngộ phơn phớt rằng thân tâm sanh diệt, biết như vậy từ đây tới già tới chết cũng không cho nó là chân thật. Chúng ta không lầm lẫn không quên nhưng mình làm chủ được hay bị nó làm chủ, đó là do tu có đạo lực hay không. Vì vậy Tổ nói đã ngộ rồi thì không trở lại mê, một phen biết rồi không còn lầm, nhưng sức mạnh của mình phải thường xuyên mới được.

Như đang khi mặt trời mọc lên không trở lại tối. Mặt trời trí tuệ xuất hiện, không chung cùng cái tối phiền não. Liễu đạt cảnh giới của tâm liền trừ vọng tưởngVọng tưởng đã trừ tức là vô sanh. Pháp tánh sẵn có, chẳng nhờ tu. Thiền không thuộc ngồi, ngồi tức có chấp trước. Nếu thấy lý này là chân chánh hợp đạo, tùy duyên qua ngày, đứng ngồi theo nhau, giới hạnh huân thêm, nhóm nơi tịnh nghiệp. Chỉ hay như thế, lo gì chẳng thông.

Đây là chỉ thẳng, vọng tưởng đã trừ ngay đó là vô sanh. Chúng ta không cần tìm vô sanh ở đâu xa, chỉ cần không theo vọng tưởng. Pháp tánh sẵn có, có chẳng nhờ tu. Nếu hết vọng tưởng rồi chính là vô sanh, không phải tu mà được vô sanh. Thiền không thuộc ngồi, ngồi tức có chấp trước. Đây là tự tánh định, tức là sáu căn không nhiễm sáu trần. Nếu người tâm định, đi đứng nằm ngồi sáu căn không theo sáu trần, không nhiễm sáu trần đó là hằng định, hằng ở trong tam-muội.

Lời dạy của ngài thẳng tắt rõ ràng, là pháp môn đốn tu làm hưng thịnh thiền Tào Khê.

Đệ tử của ngài được nhập thất (được vào thiền thất, là đã ngộ đạo) có đến một trăm ba mươi chín vị, mỗi người làm chủ một phương truyền hóa vô cùng. 

Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tư (788) khoảng tháng giêng, Sư lên núi Thạch Môn, Kiến Xương, đi kinh hành trong rừng thấy chỗ hang động bằng phẳng, bèn bảo thị giả: 

 Thân cũ mục của ta vào tháng sau sẽ trở về nơi này. 

Nói xong, Sư trở về. 

Đến ngày mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong, ngồi kiết già nhập diệt, thọ 80 tuổi, được 60 tuổi hạ. 

Vua sắc ban hiệu Đại Tịch. 

Ngài biết trước thời gian viên tịch một tháng, đến ngày viên tịch các đệ tử đưa nhục thân ngài an táng ở Thạch Môn. Hiện vẫn còn di tích.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.