Nội dung:
Sư họ Lưu, quê ở An Thành, Kiết Châu, xuất gia từ thuở bé. Mỗi khi trong chúng họp lại luận bàn đạo lý thì Sư chỉ lặng thinh. Sau này, nghe Lục tổ Huệ Năng ở Tào Khê, Sư liền đến tham học.
Sư hỏi Tổ:
– Phải làm việc gì khỏi rơi vào giai cấp?
Tổ gạn lại:
– Ngươi từng làm việc gì?
– Thánh đế cũng chẳng làm.
– Vậy rơi vào giai cấp nào?
– Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp.
Tổ rất hài lòng.
Tại Tào Khê học chúng khá đông, Sư là người đứng đầu trong chúng.
Một hôm Tổ gọi Sư bảo:
– Từ trước y pháp cả hai đều được thầy truyền cho trò, y để tiêu biểu làm tin, pháp để ấn tâm, nay không còn sợ người chẳng tin. Ta từ khi nhận y đến nay đã gặp nhiều tai nạn, huống là đời sau cạnh tranh quá nhiều. Y để lại nơi đây, ngươi đến một phương truyền bá tâm tông không để cho đoạn dứt.
Trong số bốn mươi mấy đệ tử của Lục Tổ, trước hết chúng ta học về ngài Hành Tư. Hiện giờ trong nhà thiền con cháu ngài toàn là tông Tào Động. Dòng mạch của ngài Hành Tư từ sau Lục Tổ đến bây giờ truyền bá liên miên không dứt, chứng tỏ đường lối tu và sự giáo hóa của ngài theo đúng tinh thần Lục Tổ.
Khi tham học với Lục Tổ, ngài là người đứng đầu trong chúng. Lục Tổ có ý truyền y cho ngài, nhưng sợ mầm tranh giành của mai hậu, nên bảo để y lại trấn sơn môn, còn ngài đi chỗ khác truyền bá tâm tông. Như vậy chúng ta thấy rõ trong hàng đệ tử, Lục Tổ chọn ngài là người xứng đáng kế thừa.
Sau khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.
Có Sa-di Hy Thiên đến, Sư hỏi:
– Ngươi phương nào đến?
Hy Thiên thưa:
– Con từ Tào Khê đến.
– Đem được cái gì đến?
– Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.
– Như thế đến Tào Khê làm gì?
– Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.
Hy Thiên hỏi:
– Đại sư Tào Khê lại biết Hòa thượng chăng?
– Nay ngươi biết ta chăng?
– Biết. Lại đâu có thể biết được.
– Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ.
– Hòa thượng rời Tào Khê bao lâu?
– Ta cũng chẳng biết. Ngươi rời Tào Khê lúc nào?
– Hy Thiên không từ Tào Khê đến.
Ta cũng biết chỗ ngươi đi.
– Hòa thượng thật là đại nhân chớ hấp tấp.
Hôm khác, Sư lại hỏi Hy Thiên:
– Ngươi từ đâu đến?
Hy Thiên thưa:
– Con từ Tào Khê đến.
Sư bèn dựng phất tử hỏi:
– Tào Khê lại có cái này chăng?
– Chẳng những Tào Khê, Tây thiên cũng không.
– Ngươi đã từng đến Tây thiên chăng?
– Nếu đến tức có.
– Chưa đúng, hãy nói lại.
– Hòa thượng cũng cần nói giúp phân nửa, chớ hoàn toàn trông vào học nhân.
– Không từ chối nói với ngươi, chỉ ngại về sau không có người đảm đang thừa kế.
Sau khi đắc pháp, Sư trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.
Có Sa-di Hy Thiên đến, Sư hỏi:
– Ngươi phương nào đến?
Hy Thiên thưa:
– Con từ Tào Khê đến.
– Đem được cái gì đến?
Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.
– Như thế đến Tào Khê làm gì?
– Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất.
Sau khi được Lục Tổ ấn chứng, ngài về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu. Lúc đó có Sa-di tên Hy Thiên đến gặp. Hy Thiên là đệ tử nhỏ của Lục tổ Huệ Năng chưa ngộ đạo. Khi Lục Tổ sắp tịch, Hy Thiên hỏi: Sau khi Hòa thượng tịch, Hy Thiên con chưa biết nương người nào? Tổ bảo: Tầm Tư đi.
Tầm Tư nghĩa là tìm hòa thượng Hành Tư mà nương, nhưng Hy Thiên lại hiểu là cứ ngồi suy tư, nên sau khi Tổ tịch Hy Thiên ra chỗ vắng ngồi yên lặng. Vị Thủ tọa thấy ông Sa-di sao cứ ngồi yên lặng, bèn hỏi lý do. Hy Thiên nói: Vì thầy dạy sau khi thầy tịch thì tầm tư nên tôi ngồi đó suy tư. Thủ tọa bảo: Ông có sư huynh là hòa thượng Hành Tư hiện ở Kiết Châu, nhân duyên của ông ở đó. Vì thế Hy Thiên tìm đến ngài Hành Tư.
Qua đoạn đối đáp đã bộc lộ chỗ thấu hiểu của Hy Thiên. Hỏi đáp chỉ là cớ để dò xét, khi ngài Hành Tư hỏi ông từ Tào Khê đến đây đem được gì, đó là câu hỏi thông thường trong nhà thiền. Hy Thiên đáp: Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất. Nghĩa là khi con chưa tới Tào Khê, cái đó cũng vẫn có, không đợi tới Tào Khê mới có. Ngài Hành Tư lại hỏi, trước chưa tới Tào Khê đã không mất, như thế đến Tào Khê làm gì? Hy Thiên trả lời: Nếu không đến Tào Khê đâu biết chẳng mất. Tuy nhiên có sẵn nhưng phải đến Tào Khê mới biết chẳng bao giờ mất. Chỗ này phải nhờ thầy mới nhận ra.
Hy Thiên hỏi:
– Đại sư Tào Khê lại biết Hòa thượng chăng?
– Nay ngươi biết ta chăng?
– Biết. Lại đâu có thể biết được.
– Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ.
– Hòa thượng rời Tào Khê bao lâu?
– Ta cũng chẳng biết. Ngươi rời Tào Khê lúc nào?
– Hy Thiên không từ Tào Khê đến.
– Ta cũng biết chỗ ngươi đi.
– Hòa thượng thật là đại nhân chớ hấp tấp.
Hy Thiên hỏi thêm: Đại sư Tào Khê lại biết Hòa thượng chăng? Câu này không hỏi theo cái biết thường tình, mà hỏi chỗ biết tâm truyền tâm. Ngài Hành Tư hỏi: Nay ngươi biết ta chăng? Hy Thiên trả lời: Biết, lại đâu có thể biết được? Vừa nói biết, lại nói đâu có thể biết được, tại sao? Nghĩa là con biết ngài để truyền tâm, nhưng ngài chưa truyền nên con đâu có biết, vì thế nói biết mà không biết. Qua câu đó ngài Hành Tư biết người này không phải thường, nên nói: Loài có sừng tuy nhiều, một con lân là đủ. Ý chấp nhận Hy Thiên xứng đáng là người thừa kế.
Hy Thiên hỏi thêm: Hòa thượng rời Tào Khê bao lâu? Ngài đáp: Ta cũng chẳng biết, ngươi rời Tào Khê lúc nào? Tại sao kỳ vậy? Hỏi rời Tào Khê bao lâu, nói không biết, còn hỏi lại ngươi rời Tào Khê lúc nào? Lối đối đáp này là lối đặc biệt trong nhà thiền. Hy Thiên nói: Con không từ Tào Khê đến. Ngài Hành Tư đáp: Ta cũng biết chỗ ngươi đi. Không từ Tào Khê đến thì ta biết chỗ ngươi đi. Đến đây, thầy trò đã cảm thông, Hy Thiên nói: Hòa thượng là bậc đại nhân chớ hấp tấp.
Hôm khác, Sư lại hỏi Hy Thiên:
– Ngươi từ đâu đến?
Hy Thiên thưa:
– Con từ Tào Khê đến.
Sư bèn dựng phất tử hỏi:
– Tào Khê lại có cái này chăng?
– Chẳng những Tào Khê, Tây thiên cũng không.
– Ngươi đã từng đến Tây thiên chăng?
– Nếu đến tức có.
– Chưa đúng, hãy nói lại.
Hòa thượng cũng cần nói giúp phân nửa, chớ hoàn toàn trông vào học nhân.
– Không từ chối nói với ngươi, chỉ ngại về sau không có người đảm đang thừa kế.
Một hôm ngài lại hỏi Hy Thiên: Ngươi từ đâu đến? Hôm trước đã hỏi rồi, nay lại hỏi nữa, Hy Thiên nói: Con từ Tào Khê đến. Ngài liền dựng cây phất tử lên: Tào Khê có cái này chăng? Hy Thiên trả lời: Chẳng những Tào Khê, Tây thiên cũng không. Những câu này xem như đùa cợt nhưng thật là lối nói khéo léo; người thường đọc sách thiền, tuy không biết ý sâu kín trong đó nhưng cảm thấy vui vui.
Giờ đây chúng ta thử bàn một tí, không dám bàn nhiều. Như nói từ Tào Khê đến, ngài liền dựng cây phất tử hỏi, Tào Khê lại có cái này chăng? Ý hỏi chỗ Lục Tổ có cái này không? Hy Thiên trả lời, chẳng những Tào Khê mà Tây thiên cũng không. Thường người ta nói mượn cảnh để thấy tâm, dựng cây phất tử lên không phải nói cây phất tử. Nếu là người thường thì trả lời phớt phớt, nói cái này có hoặc là không; Hy Thiên trả lời xác định: dù Tào Khê hay Tây thiên cũng không có, nghĩa là đối với ngài cảnh không thật, bởi cảnh không thật nên chỉ còn tâm.
Ngài Hành Tư liền nói trớ qua chuyện khác: Ngươi đã từng đến Tây thiên chăng? Hy Thiên đáp: Nếu đến tức có. Có người đi và có cảnh để đến. Hy Thiên bị ngài Hành Tư bắt chẹt, trước nói ở Tào Khê và cả Tây thiên cũng không, tức là cảnh không chỉ còn tâm. Đến đây nếu thấy có đến đi tức là có, như vậy tuy nói hay nhưng còn bị mắc kẹt trong có và không, chưa phải cứu cánh, nên ngài Hành Tư nói: Chưa đúng hãy nói lại. Hy Thiên bí rồi hết chỗ nói, xin Hòa thượng nói giúp một phần, ngài Hành Tư trả lời: Không từ chối nói với ngươi, chỉ ngại về sau không người đảm đang thừa kế. Nếu ta nói thì đó là chuyện của ta, ngươi không hội thì làm sao gánh vác gia nghiệp của ta được, vì vậy không nói để thấy chỗ đạt đạo của ngươi. Như vậy, khi Hy Thiên mới đến đã tỏ vẻ lanh lợi gần như biết, nhưng chưa thấu đáo nên đến chỗ này thì bí.
Một hôm Sư sai Hy Thiên đem thư sang thiền sư Hoài Nhượng, dặn rằng:
– Ngươi đem thư xong về nhanh, ta có chiếc búa nhỏ sẽ cho ngươi ở núi.
Hy Thiên đến thiền sư Hoài Nhượng, chưa trình thư đã hỏi:
– Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào?
Thiền sư Hoài Nhượng đáp:
– Ngươi hỏi quá cao, sao không hỏi thấp xuống?
– Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân, chứ chẳng mộ giải thoát của chư thánh.
Thiền sư Hoài Nhượng bèn thôi.
Hy Thiên về đến chùa Tịnh Cư, Sư hỏi:
– Ngươi đi không lâu, đem thư đến chăng?
– Tin cũng chẳng thông, thư cũng chẳng đến.
– Làm thế nào?
Hy Thiên thuật lại lúc đến thiền sư Hoài Nhượng cho Sư nghe xong, bèn thưa:
– Khi đi nhờ ơn Hòa thượng hứa cho chiếc búa, tiện đây xin nhận lấy.
Sư liền duỗi một chân. Hy Thiên lễ bái.
Sau đó, Hy Thiên từ giã Sư lên núi Nam Nhạc ở tu.
Sau một thời gian ở lâu bên ngài, được thấm nhuần đạo lý rồi, bây giờ ngài sai Hy Thiên đem thư sang cho thiền sư Hoài Nhượng, tức là huynh đệ. Hoài Nhượng và Hành Tư là hai vị học trò thượng thủ của Lục Tổ. Ngài dặn: Ngươi đem thư xong về nhanh, ta có chiếc búa nhỏ sẽ cho ngươi ở núi. Nghĩa là xem như ngươi đã gần xong việc, giờ đem thư về ta trao cho cái búa ở núi, tức nhiên chấp nhận cho rời thầy.
Hy Thiên đến thiền sư Hoài Nhượng, chưa trình thư đã hỏi: Khi chẳng mộ chư thánh, chẳng trọng tánh linh mình thì thế nào? Không mộ chư thánh bên ngoài, không trọng tánh linh mình bên trong, tức là phàm thánh đều buông hết, lúc đó thế nào? Hoài Nhượng nói: Ngươi hỏi quá cao, sao không hỏi thấp xuống? Hy Thiên nói: Thà chịu vĩnh kiếp trầm luân, chứ chẳng mộ giải thoát của chư thánh. Hỏi thấp xuống tức là giai cấp, thà chịu trầm luân chứ không mắc kẹt trong giai cấp. Hoài Nhượng im lìm không đáp. Đó là cách thức của Hy Thiên đưa thư.
Khi trở về Hành Tư hỏi: Ngươi đi không lâu, đem thư đến chăng? Hy Thiên đáp: Tin cũng chẳng thông, thư cũng chẳng đến. – Làm thế nào? Hy Thiên bèn thuật lại đầu đuôi cho ngài nghe, xong rồi thưa: Khi đi nhờ ơn Hòa thượng hứa cho chiếc búa, tiện đây xin nhận lấy. Lúc ấy ngài Hành Tư đang ngồi bèn duỗi chân ra, Hy Thiên lễ bái, như vậy búa ở đâu, xem như ngài hứa suông, hứa cho chiếc búa mà chỉ duỗi chân ra, bên này lễ bái không nghĩ gì hết là chuyện đã xong. Cái duỗi chân đó là gì? Khi hứa cho chiếc búa tức là thầm ý chấp nhận đã được rồi, cần đi một tí rồi về khỏi phải tìm y pháp ở đâu xa. Nên khi về hỏi chiếc búa ngài duỗi chân, duỗi chân là xong việc. Ở núi đủ rồi, đó là chiếc búa ở núi đời đời sử dụng.
Hy Thiên là đệ tử nối pháp kế thừa đời sau của ngài Hành Tư, phần thầy trò đối đáp đã xong.
Một hôm thiền sư Thần Hội đến tham vấn, Sư hỏi:
– Ở đâu đến?
Thần Hội đáp: – Tào Khê đến.
– Ý chỉ Tào Khê thế nào?
Thần Hội chỉnh thân rồi thôi.
Sư bảo: – Vẫn còn đeo ngói gạch.
– Ở đây Hòa thượng có vàng ròng cho người chăng?
– Giả sử có cho, ông để vào chỗ nào?
Thần Hội cũng là đệ tử của Lục Tổ đến, ngài hỏi: Ở đâu đến? Thần Hội đáp: Tào Khê đến. Ngài hỏi: Ý chỉ Tào Khê thế nào? Thần Hội chỉnh thân rồi thôi, tức nghiêm chỉnh thân mình. Ngài bảo: Vẫn còn đeo ngói gạch. Còn hành động, đó là đeo ngói gạch. Thần Hội hỏi: Ở đây Hòa thượng có vàng ròng cho người chăng? Ngài bảo: Giả sử có cho, ông để vào chỗ nào? Nếu ta có vàng cho thì ngươi để vào chỗ nào? Ngài đã chỉ cho hết vàng ròng, không phải không chỉ. Nhưng nếu còn thấy có cho tức nhiên có chỗ nhận, có pháp để nhận thì tâm và pháp là hai, nên ngài Hành Tư hỏi lại: Nếu có, ngươi để chỗ nào? Thần Hội đã ngộ rồi, nên đến đây dò xét cho biết. Đối đáp xong liền từ tạ ra về.
Có vị tăng đến hỏi Sư:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Sư đáp:
– Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu?
Sư truyền pháp cho Hy Thiên xong, đến ngày mười ba tháng chạp năm Canh Thìn, nhằm đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28 (740), Sư lên pháp đường từ biệt chúng, ngồi kiết già thị tịch.
Sau này, vua Hy Tông ban hiệu là Hoằng Tế thiền sư, tháp tên Quy Chơn.
Có vị tăng đến hỏi ngài: Thế nào là đại ý Phật pháp? Câu hỏi này trong nhà thiền thường nêu lên. Ngài đáp: Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu? Giả sử có người lại đây hỏi: Thưa Thầy thế nào là đại ý Phật pháp? Tôi liền đáp: Gạo ở Vũng Tàu giá bao nhiêu? Rồi thôi không nói thêm câu nào nữa, như vậy có thể hiểu được gì không? Câu đó là câu giá trị, sau này người ta thường nhắc.
Khi ngài sắp thị tịch, trước hết lên pháp đường từ biệt chúng, rồi ngồi kiết già an nhiên. Các ngài ra đi thảnh thơi quá, không có gì khó khăn hết.
Câu Gạo ở Lô Lăng giá bao nhiêu? Cứ xem đi.
Sư họ Đỗ, quê ở Kim Châu, sanh ngày mùng tám tháng tư đời Đường niên hiệu Nghi Phụng năm thứ hai. Được mười lăm tuổi, Sư theo luật sư Hoằng Cảnh ở chùa Ngọc Tuyền đất Kinh Châu xuất gia.
Sau khi thọ giới Cụ túc, Sư học tập tạng Luật. Một hôm, Sư tự than: “Phàm người xuất gia phải vì pháp vô vi, trên trời và nhân gian không có gì hơn được!”
Bạn đồng học là Thản Nhiên biết Sư có chí cao siêu, khuyên Sư cùng đi đến yết kiến hòa thượng Huệ An ở Tung Sơn. Hòa thượng An chỉ dạy và sau bảo Sư đến Tào Khê tham vấn Lục tổ Huệ Năng.
Đây là vị Tổ rất xa của tông Lâm Tế, là một thiền sư rất quan trọng trong nhà thiền. Trong phần tiểu sử đặc biệt nói về ý chí, khi ngài thọ giới Cụ túc học luật rồi, một hôm tự than: Phàm người xuất gia phải vì pháp vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được. Nghĩa là người xuất gia phải lấy giải thoát làm trên, nhận được pháp bất sanh bất diệt mới là cứu cánh, còn kẹt trên hình thức sanh diệt thì chưa phải cứu cánh.
Bạn đồng học là Thản Nhiên thấy ngài có ý chí siêu việt bèn khuyên cùng đến chỗ thiền sư Huệ An ở Tung Sơn để học thiền.
Sư đến Tào Khê, Tổ hỏi:
– Ở đâu đến?
Sư thưa:
– Ở Tung Sơn đến.
Tổ hỏi:
– Vật gì đến như thế?
Sư thưa:
– Nói in tuồng một vật tức không trúng.
Tổ hỏi:
– Lại có thể tu chứng chăng?
Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.
Tổ bảo:
– Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây thiên có lời sấm rằng: “Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện một con ngựa tơ (nhất Mã Câu) đạp chết người trong thiên hạ. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.”
Sự hoát nhiên khế hội. Từ đây Sư ở hầu hạ Tổ ngót mười lăm năm.
Đoạn này tôi đã giảng trong Pháp Bảo Đàn nên đây không lặp lại.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai (713), Sư đến Hoành Nhạc ở chùa Bát Nhã.
Có vị Sa-môn ở viện Truyền Pháp hiệu Đạo Nhất hằng ngày ngồi thiền. Sự biết đó là pháp khí, bèn đi đến hỏi:
– Đại đức ngồi thiền để làm gì?
Đạo Nhất thưa:
– Để làm Phật.
Sau đó, Sư lấy một cục gạch đến trên hòn đá ở trước am Đạo Nhất ngồi mài. Đạo Nhất hỏi:
– Thầy mài gạch để làm gì?
Sư đáp:
– Mài để làm gương.
– Mài gạch đâu có thể thành gương được?
– Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?
– Vậy làm thế nào mới phải?
Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải? Đánh trâu là phải?
Đạo Nhất lặng thinh, Sư nói tiếp:
– Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.
Đạo Nhất nghe Sư chỉ dạy như uống đề-hồ, lễ bái hỏi:
Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội?
Sư bảo:
– Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.
– Đạo không phải sắc tướng làm sao thấy được?
– Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo. Vô tướng tam-muội cũng lại như vậy.
– Có thành hoại chăng?
Nếu lấy cái thành hoại tụ tán mà thấy đạo thì không thể thấy đạo. Nghe ta nói kệ:
Tâm địa hàm chư chủng
Ngộ trạch tất giai manh
Tam-muội hoa vô tướng
Hà hoại phục hà thành
Dịch:
Đất tâm chứa các giống
Gặp ướt liền nảy mầm
Hoa tam-muội không tướng
Nào hoại lại nào thành?
Đạo Nhất nhờ khai ngộ tâm ý siêu nhiên, theo hầu Sư suốt mười năm, mỗi ngày càng nhận sâu lý đạo.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai, Sư đến Hoành Nhạc ở chùa Bát Nhã. Đến khi ngài lên dãy Hoành Nhạc, các dãy núi này nối liền nhau như ở Việt Nam mình có dãy Hoành Sơn nhiều ngọn tiếp nối nằm ngang. Ngài ở ngọn núi phía Nam, người sau vì kính trọng nên gọi ngài là Tổ Nam Nhạc.
Có vị Sa-môn ở viện Truyền Pháp hiệu Đạo Nhất hằng ngày ngồi thiền. Sự biết đó là pháp khí, bèn đi đến hỏi:
– Đại đức ngồi thiền để làm gì?
Đạo Nhất thưa:
– Để làm Phật.
Sau đó Sư lấy một cục gạch đến trên hòn đá ở
trước am Đạo Nhất ngồi mài. Đạo Nhất hỏi:
– Thầy mài gạch để làm gì?
Sư đáp:
– Mài để làm gương.
– Mài gạch đâu có thể thành gương được?
– Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được?
– Vậy làm thế nào mới phải?
– Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải? Đánh trâu là phải?
Đạo Nhất lặng thinh.
Có vị Sa-môn ở viện Truyền Pháp, hiệu là Đạo Nhất suốt ngày chuyên ngồi thiền, rất chăm chỉ cần mẫn, ngài biết là bậc pháp khí, bèn đến hỏi: Đại đức ngồi thiền để làm gì? Đạo Nhất trả lời: Để làm Phật. Như vậy quý hóa biết mấy nhưng ngài không nói gì, hôm sau đem một miếng gạch đến bên am Đạo Nhất ngồi mài. Đạo Nhất thấy lạ hỏi: Thầy mài gạch để làm gì? Ngài đáp: Để làm gương. Đạo Nhất hỏi: Mài gạch đâu có thể thành gương được? Ngài liền đáp: Ngồi thiền đâu có thể thành Phật được. Việc làm của ngài thấy như vô lý vì mài gạch không thể thành gương. Đó là ngài muốn chỉ dạy việc của Đạo Nhất, ngồi thiền không thể thành Phật được.
Nghe nói vậy, Đạo Nhất băn khoăn liền hỏi: ngồi thiền không thể làm Phật được thì làm sao mới phải, làm sao để làm Phật? Ngài đáp: Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, đánh xe là phải hay đánh trâu là phải? Câu đó là câu hay nhất, mạnh nhất! Xe không đi đánh xe là phải hay đánh trâu là phải? Ai cũng đồng ý đánh trâu, giả sử có người đánh xe thì mình cười người đó là anh chàng ngốc. Không ngờ anh chàng ngốc đó chính là mình.
Câu chuyện này mới nghe thấy như rất lạ. Trâu là gì? Xe là gì? Trâu là tâm, xe là thân, chúng ta tu nơi tâm hay nơi thân? Nếu tu thân thì đánh xe, tu tâm thì đánh trâu. Đa số người tu cứ mãi lo đánh xe, lo chăm bẳm tu bên ngoài, nên bị Tổ quở rầy.
Những hình thức bên ngoài như ngồi thiền, kinh hành, tụng kinh lễ sám… đều là hành động của thân, làm chủ những hành động ấy là tâm. Cũng vậy, tạo thành nghiệp lành hay nghiệp dữ chủ động là tâm. Chỗ tu cốt yếu là dừng ngay cái chủ động đó, chủ động đã dừng rồi thì mọi nghiệp theo đó mà hết. Người tu không chịu nhắm vào cái chủ động đó mà dừng, cứ lo chạy quanh bên ngoài, rồi than vãn tu bao nhiêu năm mà phiền não không hết. Đó là vì lo tu cái ngọn mà không chịu tu ngay nơi gốc.
Như có người chấp ngồi thiền nhiều, cho ngồi ngày ngồi đêm mới thật là tinh tấn tu. Lại có người chấp nằm, nằm hoài không dậy; hoặc có người chấp dứng, dứng một chỗ không nằm, cũng cho như vậy là tu tinh tấn; có người chấp lạy Phật thật nhiều là tinh tấn… Nếu căn cứ vào hành động của thân mà cho là đạt đạo, đó là chỉ biết đánh xe. Nếu biết tất cả thời, dù đi đứng nằm ngồi, phút giây nào vọng tưởng dấy lên đều làm chủ được, đó gọi là đánh trâu. Người tu không biết đâu là chủ yếu, bỏ gốc lo ngọn thì dù trải qua trăm ngàn kiếp cũng không đạt kết quả.
Buổi đầu Mã Tổ Đạo Nhất lấy ngồi thiền làm trên, nên ngồi suốt ngày. Khi bị hỏi Đại đức ngồi thiền để làm gì, trả lời để làm Phật. Tưởng ngồi thiền như vậy là thành Phật, không ngờ thành Phật là ở chỗ tâm thanh tịnh không sanh diệt. Nếu ngồi mà tâm cứ xao động, thì người đi đứng mà tâm không động vẫn thanh tịnh không phải Phật sao? Nếu chấp ngồi mới là Phật thì khi đi khi đứng là gì?
Ngài Hoài Nhượng đưa ra thí dụ: như trâu kéo xe, xe không đi thì đánh xe hay đánh trâu? Thí dụ đó cụ thể hóa việc tu, tu về hình thức hay tu về tâm niệm. Biết tu về tâm niệm mới thật là tu, còn cứ chạy theo hình thức thì nhọc nhằn đến đâu cũng không sao hết được điên đảo. Nghe thí dụ này Đạo Nhất lặng thinh, không còn gì để đáp được, vì chấp ngồi là Phật, cho ngồi là cứu cánh đó là đánh xe không phải đánh trâu.
Sư nói tiếp:
– Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.
Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Thiền là tâm thể thanh tịnh, không lệ thuộc ngồi hay nằm, trong bốn oai nghi đều lặng lẽ thanh tịnh. Thiền cũng tức là định và tuệ song tu, định là yên, tuệ là khi yên rồi mới có trí sáng suốt. Người tu chúng ta có lúc nào rời định tuệ? Nếu rời định tuệ tức là bị vô minh, vọng tưởng lôi cuốn; phải hằng giờ hằng phút hằng giây giữ không cho định tuệ mất. Đó mới thật là người ngồi thiền, tu thiền.
Nếu học ngồi Phật, Phật không có tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt lý kia. Chấp ngồi là Phật tức là giết Phật, tại sao? Hoạt động của Phật trong một ngày: kinh hành, khất thực, ngồi thiền, nằm nghỉ. đủ bốn oai nghi, nếu chấp oai nghi ngồi là Phật, thì các oai nghi kia không phải Phật. Đó gọi là giết Phật. Nên nói Phật không có tướng nhất định, chỉ cần đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả, hiểu như thế mới thật hiểu được Phật.
Bản ý của thiền tông, như Lục Tổ nói kệ:
Sanh lai tọa bất ngọa
Tử khứ ngọa bất tọa
Nguyên thị xú cốt đầu
Hà vi lập công khóa.
Dịch:
Khi sống ngồi không nằm
Lúc chết nằm không ngồi
Vốn là bộ xương thối
Vì sao lập công khóa.
Khi sống thì ngồi, chết thì nằm, cũng là bộ xương đó hoặc đặt nằm hoặc dựng đứng hoặc để ngồi… không có gì quan trọng, chỉ quan trọng ở nơi tâm. Nhiều người tu ngồi được, chấp ngồi cho là cứu cánh, người ngồi không được thì chấp đi, cho đi là cứu cánh. Chúng ta đừng bị kẹt trong những tướng đó, phải làm sao đi đứng nằm ngồi, bốn oai nghi đều là thiền.
Trong thiền viện tôi chủ trương ngồi ít nhất cũng hai tiếng đồng hồ. Tại sao? Dù biết rằng đi, đứng, nằm, ngồi đều tu được, nhưng đó là đối với người có đạo lực; với người đi nhiều vọng tưởng lăng xăng như khỉ vượn, không bắt buộc ngồi yên thì tâm cứ lao xao hoài, bao giờ mới yên. Nên bắt buộc phải ngồi hai tiếng đồng hồ, tâm hơi tạm đình chỉ, từ đó trong bốn oai nghi thường xuyên tu tập. Giai đoạn đầu ngồi thù thắng hơn các oai nghi kia, vì vậy ở thiền viện phải ngồi cho vững.
Đạo Nhất nghe Sư chỉ dạy như uống đề-hồ, lễ bái hỏi:
– Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội?
Sư bảo:
Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.
Nếu duyên ngươi hợp với chỗ ta chỉ dạy thì sẽ thấy được vô tướng tam-muội ấy.
Lại hỏi: Đạo không phải sắc tướng làm sao thấy được?
Sư bảo: Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo, vô tướng tam-muội cũng lại như vậy.
Tuy đạo không phải con mắt phàm tục thấy được, nhưng người nhận ra pháp môn tâm địa thì tự nhiên thấy đạo.
Đạo Nhất hỏi: Có thành hoại chăng?
Sư bảo: Nếu người lấy cái thành hoại tụ tán mà thấy đạo thì không thể thấy đạo.
Đạo là thể bất sanh bất diệt, không thể nói có thành hoại tụ tán, còn nghĩ đến thành hoại tụ tán ấy là người chưa thấy đạo.
Nghe ta nói kệ:
Tâm địa hàm chư chủng
Ngộ trạch tất giai manh
Tam-muội hoa vô tướng
Hà hoại phục hà thành?
Dịch:
Đất tâm chứa các giống
Gặp ướt liền nảy mầm
Hoa tam-muội không tướng
Nào hoại lại nào thành?
Đạo Nhất nhờ khai ngộ tâm ý siêu nhiên, theo hầu Sư suốt mười năm, mỗi ngày càng nhận sâu lý đạo.
Đất tâm sẵn có của mọi người, trong đó đã chứa những chủng tử đạo lý. Những chủng tử này nếu không gặp duyên thì không nảy mầm được, khi gặp thiện tri thức khai phát cho thì chẳng khác nào hạt giống dưới đất gặp được mưa móc liền nảy mầm, trổ hoa vô tướng tam-muội.
Đạo Nhất nhờ khai ngộ tâm ý siêu nhiên, theo hầu Sư suốt mười năm, mỗi ngày càng nhận sâu lý đạo. Chúng ta thấy ngài Nam Nhạc ở chỗ Lục Tổ mười lăm năm, Đạo Nhất ở chỗ ngài Nam Nhạc mười năm, càng ngày càng thâm sâu lý đạo. Chúng ta hiện nay chỉ khuyên nhau ở tu ba năm, thời gian ít oi, chưa đủ thấm sâu đạo lý, vì vậy nên phải bền lòng học đạo.
Tuy các ngài nghe một câu nói liền ngộ, sau buổi nói chuyện đã nhận ra lý đạo rồi, nhưng muốn thể nhập phải trải qua nhiều năm mới thấu suốt tánh thể không tịch. Chúng ta hiện nay chẳng nên nghe một câu vô tướng không tướng, rồi xách gói rời thầy ra đi cho là xong việc. Sau này tự nhiên thấy mình hời hợt nông nổi, tu tiến không được. Chúng ta phải chịu khó nghe thầy giảng dạy, rèn luyện thân tâm cho thấu suốt. Tuy mỗi lần nghe giảng cũng chỉ loanh quanh nói đi nói lại một việc chính yếu nhận ra ông chủ nơi mình, nhưng càng nhắc lại càng nhớ, càng nhớ lại càng thấu suốt các pháp tánh không, càng thấu suốt tánh không thì càng tiến bộ. Nếu không nhắc, không nhớ, không nghiên cứu kỹ thì tiến không nổi, vì đây là việc khó làm, phải ráng hiểu kỹ, ráng cần mẫn tu tập, đừng xem thường.
Đệ tử nhập thất gồm có sáu người, Sư ấn khả rằng:
– Sáu người các ngươi đồng chứng thân ta, mỗi người khế hội một phần: Người được chân mày ta, giỏi về oai nghi là Thường Hạo. Người được mắt ta, giỏi về ngó liếc là Trí Đạt. Người được tai ta, giỏi về nghe lý là Thản Nhiên. Người được mũi ta, giỏi về biết mùi là Thần Chiếu. Người được lưỡi ta, giỏi về đàm luận là Nghiêm Tuấn. Người được tâm ta, giỏi về xưa nay là Đạo Nhất.
Sư lại bảo:
Tất cả các pháp đều từ tâm sanh,
Tâm không chỗ sanh, pháp không thể trụ.
Nếu đạt tâm địa việc làm không ngại,
Không phải thượng căn dè dặt chớ nói.
(Nhất thiết chư pháp giai tùng tâm sanh,
Tâm vô sở sanh, pháp vô sở trụ.
Nhược đạt tâm địa sở tác vô ngại,
Phi ngộ thượng căn nghi thận từ tai.)
Nói về các đệ tử ưu tú của ngài, gọi là đệ tử nhập thất, gồm có sáu người. Ngài ấn chứng cho mỗi vị.
Người được chân mày ta, giỏi về oai nghi là Thường Hạo. Như vậy biết rõ ngài Thường Hạo là trang nghiêm tề chỉnh, luôn luôn giữ đúng oai nghi.
Người được mắt ta, giỏi về liếc ngó là Trí Đạt. Có thể vị này thông minh lanh lợi lắm nên nói rằng được con mắt giỏi về liếc ngó.
Người được tai ta, giỏi về nghe lý là Thản Nhiên. Vị này giỏi về nghe bàn đạo lý, nhưng chỉ mới được phần tại thôi.
Người được mũi ta, giỏi về biết mùi là Thần Chiếu. Vị này thông suốt về mùi, biết khí vị nhà thiền.
Người được lưỡi ta, giỏi về đàm luận là Nghiêm Tuấn. Vị này thì lý luận rất giỏi.
Người được tâm ta, giỏi về xưa nay là Đạo Nhất. Riêng người được tâm mới là xứng đáng kế thừa.
Như vậy ai học đạo cũng có phần, mỗi người được mỗi phần, có học đạo thì có tiến, có tu thì có được, chỗ được tùy cạn sâu, không phải mỗi người đều được như nhau. Không phải tại thầy không bình đẳng, đó là tại duyên riêng của mỗi người, cạn sâu khác nhau, đồng một thầy dạy mà người thì nhận được bên ngoài, người nhận được bên trong sai biệt.
Sư lại bảo:
Tất cả các pháp đều từ tâm sanh,
Tâm không chỗ sanh, pháp không thể trụ.
Nếu đạt tâm địa việc làm không ngại,
Không phải thượng căn dè dặt chớ nói.
Tất cả pháp đều từ tâm sanh, tâm đây là chỉ cho tâm vọng tưởng. Tâm vọng tưởng ấy sanh mà không có chỗ sanh, các pháp từ vọng tưởng sanh, vọng tưởng không có chỗ nơi nên pháp không có chỗ trụ. Nếu đạt tâm địa, việc làm không ngại, nếu chúng ta thấy được pháp môn tâm địa thì làm gì cũng không ngại. Chỗ đó nếu không phải là kẻ thượng căn dè dặt chớ nói.
Có vị đại đức đến hỏi Sư:
Như gương đúc tượng, sau khi tượng thành không biết cái sáng của gương đi về chỗ nào?
Sư bảo:
– Như Đại đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu?
– Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi?
Sư bảo:
– Tuy không chiếu soi, nhưng dối y một điểm cũng chẳng được.
Với câu hỏi này nếu người chưa thông thì câu đáp cũng khó thông suốt. Câu hỏi này không có thông hay ngại, thông ngại tại nơi chúng ta thôi. Thật ra người hỏi câu này là một người tu hết sức cần mẫn chín chắn mới hỏi được như vậy.
Như gương đúc tượng, nghĩa là đem thủy tinh đổ vô nấu để đúc thành một pho tượng, khi pho tượng thành rồi thì ánh sáng của gương đi đâu? Cũng thế, chúng ta tu để lặng hết những vọng tưởng, vọng tưởng lặng xuống thì chân tâm hiển bày, khi nhận được chân tâm thì cái biết vọng tưởng ở đâu? Lúc đó tâm mình có biết hay không? Đó là ý hỏi, khi tâm chúng ta thật lặng lẽ, hằng giờ hằng phút hằng giây, dừng lặng vọng tưởng, lúc đó thành một khối như như. So sánh với gương đúc tượng, khi tượng thành rồi, tức là khi vọng tưởng lặng xuống, hoàn toàn như như rồi, lúc đó cái biết hằng ngày ở đâu? Cũng như gương thành tượng rồi thì ánh sáng của gương đi đâu?
Chúng ta hiểu câu hỏi như thế, mới hiểu được câu đáp. Ngài liền bảo rằng, như Đại đức tướng mạo lúc trẻ thơ hiện thời ở đâu? Người hỏi mượn hình ảnh của gương đúc tượng, ngài mượn hình ảnh tướng nơi thân: tướng mạo thời thuở trẻ thơ, cho đến khi thành người khôn lớn, tướng mạo ấy có đổi đi đâu không? Tuy không còn tướng trẻ thơ nữa, nhưng không phải mất hẳn, chỉ thay đổi từ tướng trẻ thơ thành tướng người lớn. Tánh biết kia cũng vậy, khi tâm còn mê vọng thì biết theo mê vọng, tâm lặng lặng thì chuyển thành cái biết của trí, không mất đi đâu. Cũng như chúng ta chuyển thân trẻ thơ thành thân người lớn, không phải không còn.
Đại đức cũng còn nghi: Tại sao sau khi thành tượng không chiếu soi? Ngài đáp: Tuy không chiếu soi nhưng dối y một điểm cũng chẳng được. Khi tâm yên lặng có nhận xét phân biệt như lúc lăng xăng không? Không có. Tuy không chiếu soi lăng xăng nhưng dối y một điểm không được. Người ta nói một câu mình cũng vẫn yên, người ta đi qua trước mắt cũng vẫn thấy. Không có gì đến mà nó không biết, nhưng không phân biệt như lúc còn vọng tưởng.
Đây là câu hỏi về cách tu rất chín chắn ở tâm, không phải hỏi một cách hời hợt ở ngoài. Câu đáp của ngài cũng rõ ràng. Nghĩa là khi tâm lặng lẽ như như rồi, không còn phân biệt như lúc lăng xăng, nhưng tất cả những gì đến nó đều biết hết, không cái gì không biết. Chỗ này hợp với câu nói của ngài Huyền Giác, phân biệt cũng chẳng phải ý.
Sau Đạo Nhất đi giáo hóa ở Giang Tây, Sư hỏi chúng:
– Đạo Nhất vì chúng thuyết pháp chăng?
Chúng thưa:
– Đã vì chúng thuyết pháp.
– Sao không thấy người đem tin tức về?
Chúng lặng thinh. Sư bèn sai một vị tăng đi thăm. Trước khi đi, Sư dặn:
– Đợi khi thượng đường (lên thuyết pháp) chỉ hỏi “làm gì?” Y trả lời, nhớ ghi những lời ấy đem về đây.
Vị tăng đi thăm làm đúng như lời Sư đã dặn. Khi trở về, vị tăng thưa:
– Đạo Nhất nói: từ loạn Hồ sau ba mươi năm, chưa từng thiếu tương muối.
Sư nghe xong gật đầu.
Đến ngày mười một tháng tám đời Đường niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba (744), Sư viên tịch tại Hoành Nhạc, thọ sáu mươi bảy tuổi.
Vua sắc ban hiệu là Đại Huệ thiền sư, tháp hiệu Tối Thắng Luân.
Ngài dặn vị tăng đến chỗ Đạo Nhất đừng nói gì hết, ngồi trong chúng chờ Đạo Nhất lên pháp tòa rồi, bước ra hỏi “Làm gì?” nói vậy thôi, trả lời làm sao ghi đem về đây. Vị tăng làm đúng như vậy, khi trở về thưa rằng: Đạo Nhất nói: từ loạn Hồ sau ba mươi năm chưa từng thiếu tương muối.
Ngài nghe xong gật đầu. Không nói gì về sự hoằng hóa, nhưng thầy trò tương ưng, người ngoài cuộc hiểu không nổi. Tại sao từ loạn Hồ sau ba mươi năm chưa từng thiếu tương muối? Lời đáp của Đạo Nhất cho biết rằng từ ngày ngộ đạo rồi, đến bây giờ chưa có một việc gì ra ngoài chỗ mình đã thấy. Loạn Hồ tức là giặc nơi miền Tây Vực. Trung Hoa thường bị giặc chung quanh đánh gọi là loạn. Sau loạn Hồ ba mươi năm, từ đó đến giờ tương muối có đều đặn. Tương muối là thức ăn quan trọng trong nhà chùa, tương muối không thiếu là chỉ cho cái cần thiết không bao giờ thiếu. Ý Đạo Nhất nói sau khi nhận được lý đạo rồi, từ đó đến giờ chưa từng có những điều lệch lạc sai lầm, ra ngoài phạm vi chân chánh ấy. Vì vậy nên nghe xong ngài Hoài Nhượng gật đầu.
Trong câu chuyện đối đáp của ngài có hai hình ảnh mà tôi cho rằng đẹp nhất. Thứ nhất hình ảnh con trâu kéo xe, không đánh trâu mà đánh xe, đó là sự chỉ dạy khắc cốt ghi tâm. Thứ hai là hình ảnh gương đúc tượng. Những chỗ đó ngài trả lời rất khéo, giúp chúng ta hiểu rõ hơn việc tu tập.
Sư họ Đới, quê ở Vĩnh Gia Ôn Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư xem khắp ba tạng, trí đức viên mãn, trụ trì chùa Hưng Long. Sư tinh thâm về pháp môn Chỉ Quán của đại sư Trí Khải ở núi Thiên Thai, trong bốn oai nghi lúc nào cũng khế hợp thiền quán. Thấy cạnh chùa dưới sườn núi có cảnh đẹp, Sư bèn xuống cất một thiền am, lưng tựa ngọn núi xanh, trước mặt biển mênh mông. Sự sống một đời thanh đạm, không hề nghĩ đến việc thế tục.
Sư nhân xem kinh Duy-ma phát minh được tâm địa. Gặp đệ tử của Lục Tổ là thiền sư Huyền Sách, hai bên nói chuyện với nhau đều thầm hợp chư tổ. Huyền Sách hỏi:
– Nhân giả đắc pháp nơi thầy nào?
Sư đáp:
– Tôi nghe trong các kinh luận Phương Đẳng mỗi vị đều có thầy trò trao truyền. Sau xem kinh
Duy-ma ngộ được tâm tông, mà chưa có người chứng minh.
Huyền Sách bảo:
– Từ đức Phật Oai Âm Vương về trước, không có thầy chứng minh thì được. Từ đức Phật Oai Âm Vương về sau, không thầy tự ngộ đều là ngoại đạo thiên nhiên.
Sư nói:
– Xin nhân giả vì tôi chứng minh.
Huyền Sách bảo:
– Lời nói tôi nhẹ lắm. Ở Tào Khê có Lục Tổ đại sư bốn phương học giả tụ họp về thọ pháp, nếu nhân giả muốn đi thì tôi đi cùng với.
Sư bèn theo Huyền Sách đi đến Tào Khê.
Đến nơi, Sư tay cầm tích trượng vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi:
– Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn oai nghi tám muôn tế hạnh, Đại đức là người phương nào đến, mà sanh đại ngã mạn như vậy?
Sư thưa:
– Sanh tử là việc lớn, vô thường quá nhanh.
Tổ bảo:
– Sao không ngay nơi đó thể nhận lấy vô sanh, liễu chẳng mau ư?
Sư thưa:
– Thể tức vô sanh, liễu vốn không mau.
Tổ khen:
– Đúng thế! Đúng thế.
Lúc đó đại chúng nghe nói đều ngạc nhiên. Sư bèn đầy đủ oai nghi lễ tạ Tổ. Chốc lát sau Sư xin cáo từ. Tổ bảo:
– Trở về quá nhanh!
Sư thưa:
– Vốn tự không động thì đâu có nhanh.
Tổ bảo:
– Cái gì biết không động?
Sư thưa:
– Ngài tự phân biệt.
Tổ bảo:
– Ngươi được ý vô sanh rất sâu.
Sư thưa:
– Vô sanh có ý sao?
Tổ bảo:
– Không ý, cái gì biết phân biệt?
Sư thưa:
Phân biệt cũng không phải ý.
Tổ khen:
– Lành thay! Lành thay!
Sư ở lại đây một đêm để hỏi thêm đạo lý. Sáng hôm sau, Sư cùng Huyền Sách đồng xuống núi trở về Ôn Giang. Thời nhân gọi Sư là Nhất Túc Giác.
Từ đây về sau, học chúng bốn phương tìm đến tham vấn Sư thật đông. Sư được tặng hiệu là Chơn Giác đại sư.
Đời Đường niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, ngày mười bảy tháng mười, tại viện riêng ở chùa Hưng Long, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ bốn mươi chín tuổi. Vua sắc ban là Vô Tướng đại sư, tháp hiệu Tịnh Quang.
Sư có trước tác một tập Chứng Đạo Ca và Thiền Tông Ngộ Tu Viên Chỉ từ cạn đến sâu, sau này môn đồ là Ngụy Tĩnh làm thứ sử Khánh Châu, góp lại làm thành mười thiên gọi là Vĩnh Gia Tập.
Về phần thiền sư Huyền Giác tôi đã giảng rồi, nên thông qua.
Sư họ Trương, quê ở Ráng Châu, xuất gia từ thuở bé. Sau Sư đến tham học với Lục tổ Huệ Năng được Tổ truyền tâm. Sư từ giã Tổ, tìm đến núi Tư Không ở chùa Vô Tướng, chuyên ở nơi đây tu hành.
Đời Đường niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba (744) vua Huyền Tông sai Trung sứ Dương Quang Đình vào núi cắt dây thường xuân. Dương Quang Đình tình cờ gặp được thất của Sư. Đình lễ bái thưa:
– Đệ tử mộ đạo đã lâu, cúi xin Hòa thượng từ bị tóm tắt chỉ dạy.
Sư bảo:
– Người nghiên học Thiền tông trong thiên hạ đều hội về Kinh sư, thiên sứ nên trở về triều thưa hỏi là đầy đủ. Bần đạo ở gộp núi cạnh khe không có chỗ dụng tâm.
Quang Đình thiết tha khóc lóc lễ lạy.
Sư bảo:
– Thôi! Chớ lễ bần đạo. Thiên sứ vì cầu Phật hay vì hỏi đạo?
Đình thưa:
– Đệ tử trí thức tối tăm chưa biết Phật với Đạo nghĩa ấy thế nào?
Sư bảo:
– Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội đạo, vô tâm là đạo.
– Thế nào tức tâm là Phật?
– Phật nhân tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu ngộ vô tâm thì Phật cũng chẳng có.
– Thế nào vô tâm là đạo?
– Đạo vốn vô tâm, vô tâm gọi là đạo. Nếu rõ vô tâm thì vô tâm tức là đạo vậy.
Quang Đình đảnh lễ tin nhận.
Trở về triều, Quang Đình tâu hết việc trong núi cho vua nghe. Vua ban sắc lệnh sai Quang Đình đi thỉnh Sư. Ngày mười ba tháng chạp, Sư theo sứ về đến đế đô, vua thỉnh ở chùa Bạch Liên.
Đến ngày rằm tháng hai năm sau, vua mời hết những danh tăng và các người học Phật uyên bác đến nội đạo tràng cùng Sư xiển dương Phật lý.
Khi ấy, có thiền sư Viễn lớn tiếng hỏi Sư:
Nay đối thánh thượng để xét lường tôn chỉ, cần phải hỏi thẳng đáp thẳng, không cần dùng nhiều lời. Như chỗ thấy của Thiền sư lấy gì làm đạo?
Sư đáp:
– Vô tâm là đạo.
Viễn hỏi:
– Đạo do tâm mà có, đâu được nói vô tâm là đạo?
Sư đáp:
– Đạo vốn không tên, nhân tâm nên gọi là đạo. Tâm và tên nếu có thì đạo không rỗng suốt. Tột tâm đã không thì đạo nương đâu mà lập? Cả hai đều hư vọng, trọn là giả danh.
Viễn hỏi:
– Thiền sư thấy thân tâm là đạo rồi chăng?
Sư đáp:
– Sơn tăng thân tâm xưa nay là đạo.
Viễn hỏi:
– Vừa nói vô tâm là đạo, giờ lại nói thân tâm xưa nay là đạo, đâu không trái nhau?
Sư đáp:
– Vô tâm là đạo, tâm mất đạo không, tâm đạo nhất như nên nói vô tâm là đạo. Thân tâm xưa nay là đạo, đạo cũng vốn là thân tâm, thân tâm vốn đã là không, đạo cũng tột nguồn chẳng có.
Viễn hỏi:
– Xem hình thể Thiền sư rất nhỏ, đâu thể hội được lý này?
Sư đáp:
– Đại đức chỉ thấy tướng sơn tăng, chẳng thấy được không tướng của sơn tăng. Thấy tướng là chỗ thấy của Đại đức, kinh nói “phàm có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức ngộ được đạo kia”. Nếu lấy tướng cho là thật thì cùng kiếp không thể ngộ đạo.
Viễn bảo:
– Nay thỉnh Thiền sư ở trên tướng nói không tướng.
– Sư đáp:
Kinh Tịnh Danh nói: “Bốn đại không chủ, thân cũng không ngã, chỗ thấy không ngã, cùng đạo tương ưng” Đại đức nếu cho tứ đại có chủ là ngã, nếu thấy có ngã thì cùng kiếp không thể hội đạo.
Viễn nghe nói thất sắc lặng lẽ rút lui.
Sư có bài kệ:
Tứ đại vô chủ phục như thủy
Ngộ khúc phùng trực vô bị thử
Tịnh uế lưỡng xứ bất sanh tâm
Ủng quyết hà tằng hữu nhị ý
Xúc cảnh đản tự thủy vô tâm
Tại thế tung hoành hữu hà sự
Dịch:
Bốn đại không chủ cũng như nước
Dù gặp cong ngay chẳng kia đây
Hai nơi nhơ sạch tâm không sanh
Thông bít chưa từng có hai ý
Xúc cảnh chỉ như nước không tâm
Ở thế tung hoành nào có việc?
Một đại như thế, bốn đại cũng vậy.
Nếu rõ bốn đại không chủ tức ngộ vô tâm.
Nếu rõ vô tâm tự nhiên hợp đạo.
Sư họ Trương, quê ở Ráng Châu, xuất gia từ thuở bé. Sau Sư đến tham học với Lục tổ Huệ Năng được Tổ truyền tâm. Sư từ giã Tổ, tìm đến núi Tư Không ở chùa Vô Tướng, chuyên ở nơi đây tu hành.
Đời Đường niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba (744) vua Huyền Tông sai Trung sứ Dương Quang Đình vào núi cắt dây thường xuân. Dương Quang Đình tình cờ gặp được thất của Sư. Đình lễ bái thưa:
– Đệ tử mộ đạo đã lâu, cúi xin Hòa thượng từ bi tóm tắt chỉ dạy.
Sư bảo:
– Người nghiên học Thiền tông trong thiên hạ đều hội về Kinh sư, thiên sứ nên trở về triều thưa hỏi là đầy đủ. Bần đạo ở gộp núi cạnh khe không có chỗ dụng tâm.
Thiền sư Bổn Tịnh, ngộ đạo nơi Lục Tổ rồi từ giã Lục Tổ, tìm đến núi Tư Không ở chùa Vô Tướng, chuyên nơi đó tu hành. Chỗ của ngài vắng vẻ ít người biết, nhân có ông Dương Quang Đình vâng lệnh nhà vua vào núi cắt dây thường xuân, bất chợt gặp được thất của ngài, nên đến xin ngài chỉ dạy cương yếu của đạo. Ngài bảo rằng: Người nghiên học thiền tông trong thiên hạ đều hội về kinh sư, thiên sứ nên trở về triều thưa hỏi là đầy đủ. Bần đạo ở gộp núi cạnh khe không có chỗ dụng tâm.
Quang Đình thiết tha khóc lóc lễ lạy. Sư bảo:
– Thôi! Chớ lễ bần đạo. Thiên sứ vì cầu Phật hay vì hỏi đạo?
Đình thưa:
Đệ tử trí thức tối tăm chưa biết Phật với Đạo nghĩa ấy thế nào?
Sư bảo:
– Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội đạo, vô tâm là đạo.
Vị quan này là sứ giả nhà vua mà lời lẽ rất khiêm tốn, đối với người tu hành, chỉ thưa là đệ tử kiến thức tối tăm, không dám khoe khoang như người khác.
Ngài dạy: Nếu muốn cầu Phật, tức tâm là Phật. Nếu muốn hội đạo, vô tâm là đạo. Nghĩa là ngay tâm chân thật là Phật, không có tâm hư vọng là đạo. Đó là chỉ thẳng Phật và đạo.
– Thế nào tức tâm là Phật?
– Phật nhân tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày.
– Nếu ngộ vô tâm thì Phật cũng chẳng có.
– Thế nào vô tâm là đạo?
– Đạo vốn vô tâm, vô tâm gọi là đạo. Nếu rõ vô tâm thì vô tâm tức là đạo vậy.
Quang Đình đảnh lễ tin nhận.
Quang Đình hỏi tiếp: Thế nào tức tâm là Phật? Ngài đáp: Phật nhân tâm mà ngộ, tâm do Phật được bày. Nếu ngộ vô tâm thì Phật cũng chẳng có. Vừa nói tức tâm là Phật, rốt cuộc nói Phật cũng chẳng có. Phật nhân tâm mà ngộ, tại sao? Nghĩa là chúng ta ngộ đạo thành Phật là nhận được bản tâm. Tâm do Phật được bày. Nếu không phải là người ngộ đạo làm sao chỉ được bản tâm.
Đức Phật sau khi ngộ đạo, ngài mới biết tâm ấy mà dạy chúng ta, chư tổ cũng do nhận ra tâm Phật rồi chỉ bày cho chúng ta. Nếu ngộ vô tâm, tức là ngộ tâm không thì Phật cũng chẳng có. Khi ngộ bản tâm không sanh không diệt, lúc đó không còn tên Phật, tên tâm. Tâm và Phật chỉ là tên giả lập, chứ bản thể không có tên tuổi. Chỗ cứu cánh là không danh, có lập danh chưa phải cứu cánh.
Quang Đình hỏi: Thế nào vô tâm là đạo? Ngài dạy: Đạo vốn vô tâm, vô tâm gọi là đạo. Nếu rõ vô tâm thì vô tâm tức là đạo vậy. Đạo vốn không tâm tức là không còn vọng, nên nói không tâm gọi là đạo, nếu rõ được lý không tâm thì mới thật hiểu đạo.
Trở về triều, Quang Đình tâu hết việc trong núi cho vua nghe. Vua ban sắc lệnh sai Quang Đình đi thỉnh Sư. Ngày mười ba tháng chạp, Sư theo sứ về đến đế đô, vua thỉnh ở chùa Bạch Liên.
Đến ngày rằm tháng hai năm sau, vua mời hết những danh tăng và các người học Phật uyên bác đến nội đạo tràng cùng Sư xiển dương Phật lý.
Quang Đình nghe vậy, đảnh lễ tin nhận. Về triều tâu trình, nhà vua mới cho thỉnh ngài về chùa Bạch Liên. Gặp duyên hoằng hóa ngài tùy hỷ trở về đế đô. Sau nhà vua mời đến nội đạo tràng cùng với chư tăng và cư sĩ thông hiểu Phật pháp để bàn luận lý Phật.
Khi ấy, có thiền sư Viễn lớn tiếng hỏi Sư:
– Nay đối thánh thượng để xét lường tôn chỉ, cần phải hỏi thẳng, đáp thẳng, không cần dùng nhiều lời. Như chỗ thấy của Thiền sư lấy gì làm đạo?
Sư đáp:
– Vô tâm là đạo.
Viễn hỏi:
– Đạo do tâm mà có, đâu được nói vô tâm là đạo?
Sư đáp:
– Đạo vốn không tên, nhân tâm nên gọi là đạo. Tâm và tên nếu có thì đạo không rỗng suốt. Tột tâm đã không thì đạo nương đâu mà lập? Cả hai đều hư vọng, trọn là giả danh.
Thiền sư Viễn lớn tiếng nói: nay trước mặt nhà vua thì thấy sao nói vậy, đúng với chỗ mình thấy chứ đừng nói quanh co. Ngài Bổn Tịnh vẫn đáp câu: Vô tâm là đạo.
Viễn hỏi lại: Đạo do tâm mà có, tại sao nói vô tâm là đạo? Ngài trả lời nêu rõ ý chánh. Đạo vốn không tên, vì chỗ bản thể như nhiên đó vốn không tên tuổi, chỉ nhân nơi tâm vọng tưởng nghĩ đặt tên nó là đạo. Tâm tức là tâm nghĩ, tên là tên đạo, nếu có tâm và tên thì đạo không rỗng suốt. Tức là nếu còn kẹt vào tâm vọng tưởng, vào danh từ đạo thì đạo đó không phải là đạo rỗng suốt. Đến chỗ tột cùng tâm cũng không, tức là vọng tưởng không thì từ đâu mà đặt tên đạo? Cả hai tâm và đạo đều là giả danh.
Viễn hỏi:
– Thiền sư thấy thân tâm là đạo rồi chăng?
Sư đáp:
– Sơn tăng thân tâm xưa nay là đạo.
Viễn hỏi:
– Vừa nói vô tâm là đạo, giờ lại nói thân tâm xưa nay là đạo, đâu không trái nhau?
Sư đáp:
– Vô tâm là đạo, tâm mất đạo không, tâm đạo nhất như nên nói vô tâm là đạo. Thân tâm xưa nay là đạo, đạo cũng vốn là thân tâm, thân tâm vốn đã là không, đạo cũng tột nguồn chẳng có.
Thiền sư Viễn cũng chưa bằng lòng hỏi: Thiền sư thấy thân tâm là đạo rồi chăng? Vì chính mình chưa thấy, nên khi nghe ngài nói tưởng là cũng nói bướng thôi, bèn hỏi gạn lại. Ngài đáp rất quả quyết: Sơn tăng thân tâm xưa nay là đạo. Không ngờ vực gì hết, không e dè gì hết. Ngay câu đáp đó, thiền sư Viễn cho rằng như vậy là mâu thuẫn: Vừa nói vô tâm là đạo, giờ lại nói thân tâm xưa nay là đạo, đâu không trái nhau?
Ngài đáp: Vô tâm là đạo, tâm mất đạo không, tâm đạo nhất như nên nói vô tâm là đạo. Khi không tâm thì lúc đó là đạo, tâm mất đạo không, tức là vọng tưởng hết, tên đạo cũng không còn, tâm và đạo nhất như nên nói không tâm là đạo. Thân tâm xưa nay là đạo, đạo cũng vốn là thân tâm. Ngài thấy thân và tâm của mình nhất như, không dính mắc giả danh giả tướng nên ngài không chấp, bởi không chấp nên nói thân tâm xưa nay là đạo. Đạo cũng vốn là thân tâm, thân tâm không rời nhất như, nhất như không rời thân tâm, nên nói đạo cũng vốn là thân tâm. Thân tâm vốn đã là không, ngay nơi thân tâm này thấy nó không thật, đạo cũng tột nguồn chẳng có. Như vậy thì đạo cũng thừa. Nói thân tâm nói đạo, cũng chỉ là giả danh thôi.
Viễn hỏi:
– Xem hình thể Thiền sư rất nhỏ, đâu thể hội được lý này?
Sư đáp:
Đại đức chỉ thấy tướng sơn tăng, chẳng thấy được không tướng của sơn tăng. Thấy tướng là chỗ thấy của Đại đức, kinh nói “phàm có tướng đều là hư vọng, nếu thấy các tướng chẳng phải tướng, tức ngộ được đạo kia”. Nếu lấy tướng cho là thật thì cùng kiếp không thể ngộ đạo.
Viễn bảo:
– Nay thỉnh Thiền sư ở trên tướng nói không tướng.
Sư đáp:
Kinh Tịnh Danh nói: “Bốn đại không chủ, thân cũng không ngã, chỗ thấy không ngã, cùng đạo tương ưng.” Đại đức nếu cho tứ đại có chủ là ngã, nếu thấy có ngã thì cùng kiếp không thể hội đạo.
Viễn nghe nói thất sắc lặng lẽ rút lui.
Thiền sư Viễn hỏi về lý xong, lại hỏi về tướng, câu hỏi không khéo nên bị ngài bắt bẻ, chỉ ra cho thấy chỗ dở của Viễn, lấy cái thấy tướng hư vọng mà cho là thật.
Viễn bảo: Nay thỉnh Thiền sư ở trên tướng nói không tướng. Như vậy là trước nói về tướng, chưa thấy được không tướng, làm sao để ngay nơi tướng nói về không tướng. Ngài Bổn Tịnh đáp: Kinh Tịnh Danh nói: Bốn đại không chủ, thân cũng không ngã, chỗ thấy không ngã, cùng đạo tương ưng. Bốn đại là tướng mạo vốn không chủ, thân cũng không có ngã, thấy được vô ngã thì hợp với đạo vô tướng. Đó là trên tướng nói rõ không tướng. Đại đức nếu cho tứ đại có chủ là ngã, nếu thấy có ngã thì cùng kiếp không thể hội đạo.
Viễn nghe tới đây thất sắc liền lặng lẽ rút lui.
Sư có bài kệ:
Tứ đại vô chủ phục như thủy
Ngộ khúc phùng trực vô bỉ thử
Tịnh uế lưỡng xứ bất sanh tâm
Ủng quyết hà tằng hữu nhị ý
Xúc cảnh đản tự thủy vô tâm
Tại thế tung hoành hữu hà sự
Dịch:
Bốn đại không chủ cũng như nước
Dù gặp cong ngay chẳng kia đây
Hai nơi như sạch tâm không sanh
Thông bít chưa từng có hai ý
Xúc cảnh chỉ như nước không tâm
Ở thể tung hoành nào có việc?
Một đại như thế, bốn đại cũng vậy. Nếu rõ bốn đại không chủ tức ngộ vô tâm. Nếu rõ vô tâm tự nhiên hợp đạo.
Ngài tụng bài kệ kết thúc:
Tứ đại vô chủ phục như thủy. Tứ đại này vô chủ cũng như nước. Ngộ khúc phùng trực vô bỉ thử. Khi gặp khúc sông cong thì theo đó mà cong, gặp khúc sông ngay thì theo đó mà ngay, nước không chia ra kia và đây, không phân biệt cong hay ngay, chỉ tùy chỗ mà chảy qua.
Tịnh uế lưỡng xứ bất sanh tâm: Hai chỗ tịnh và uế đều không sanh tâm. Dù cho người ta đổ đồ dơ xuống nước có rầy không? Rồi giả sử người ta đem lóng trong, nước có rầy không? Như vậy đối với tịnh uế, nước đều như như. Tứ đại cũng vậy.
Ủng quyết hà tằng hữu nhị ý: Ủng là bít, quyết là thông, khi bít khi thông nước chưa từng có hai ý. Đối với chỗ thông hay bít, nước cũng vẫn như như. Đó là dùng nước để thí dụ cho tứ đại vô chủ.
Xúc cảnh đản tự thủy vô tâm: Khi đối duyên xúc cảnh, chỉ giống như nước, vô tâm như thế đó. Tại thế tung hoành hữu hà sự: Ngay đời này mặc tình đi đông đi tây, không có việc gì. Người nào gặp ngoại cảnh đều vô tâm thì người đó được tự tại vô ngại.
Ngài giảng tiếp: Một đại như thế, bốn đại cũng vậy. Nếu rõ bốn đại không chủ tức ngộ vô tâm. Nếu rõ vô tâm tự nhiên hợp đạo.
Thiền sư Chí Minh hỏi:
– Nếu nói vô tâm là đạo, ngói gạch vô tâm cũng ưng là đạo? Thân tâm xưa nay là đạo, tứ sanh thập loại đều có thân tâm cũng ưng là đạo?
Sư đáp:
– Đại đức nếu hiểu bằng vào thấy nghe hiểu biết thì cùng đạo khác xa, tức là người cầu thấy nghe hiểu biết, không phải là người cầu đạo. Kinh nói: “Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý…” Sáu căn còn không, thấy nghe hiểu biết nương đâu mà lập. Cùng tột gốc nguồn chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Đâu không đồng với cỏ cây ngói gạch.
Chí Minh lặng thinh thối lui.
Sư có bài kệ:
Kiến văn giác tri vô chướng ngại
Thanh hương vị xúc thường tam-muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ vô xả vô tắng ái
Nhược hội ứng xử bản vô tâm
Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại.
Dịch:
Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại
Tiếng mùi vị chạm thường tam-muội
Như chim trong không mặc tình bay
Không thủ không xả không thương ghét
Nếu biết ứng xử vốn vô tâm
Mới được tên là Quán Tự Tại.
Thiền sư Chí Minh hỏi:
Nếu nói vô tâm là đạo, ngói gạch vô tâm cũng ưng là đạo? Thân tâm xưa nay là đạo, tử sanh thập loại đều có thân tâm cũng ưng là đạo?
Câu hỏi của thiền sư Chí Minh nghe rất mạnh. Ngài nói không tâm là đạo, vậy thì ngói gạch không tâm cũng là đạo phải không? Nếu nói thân tâm xưa nay là đạo thì tứ sanh thập loại đều có thân tâm lẽ ra cũng là đạo? Vị này nghe đối đáp nắm được hai điểm, nên bắt bẻ làm khó.
Sư đáp:
– Đại đức nếu hiểu bằng vào thấy nghe hiểu biết thì cùng đạo khác xa, tức là người cầu thấy nghe hiểu biết, không phải là người cầu đạo. Kinh nói: “Không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý…” Sáu căn còn không, thấy nghe hiểu biết nương đâu mà lập. Cùng tột gốc nguồn chẳng có thì chỗ nào còn tâm? Đâu không đồng với cỏ cây ngói gạch.
Ngài Bổn Tịnh liền đáp: Chỗ nói vô tâm là đạo, nếu ông dùng tâm suy nghĩ, cho rằng ngói gạch cũng là đạo thì suy nghĩ ấy làm sao hợp đạo? Đó chỉ là thấy nghe hiểu biết không phải là đạo. Nghe nói không tâm là đạo, nghĩa là lặng vọng tưởng xuống là đạo. Nếu cho rằng ngói gạch không tâm, đó là cũng dựa vào thấy nghe hiểu biết lầm nhận. Kinh Bát-nhã nói không mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là sáu căn còn không, thấy nghe hiểu biết nương đâu mà lập. Sáu căn không, sáu thức cũng không, chỗ nào có thấy nghe hiểu biết mà khởi vọng. Xét kỹ tột gốc nguồn tâm không có, cỏ cây ngói gạch cũng không, tất cả là giả danh có gì để chấp.
Chí Minh lặng thinh thối lui.
Sư có bài kệ:
Kiến văn giác tri vô chướng ngại
Thanh hương vị xúc thường tam-muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ vô xả vô tắng ái
Nhược hội ứng xử bản vô tâm
Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại.
Dịch:
Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại
Tiếng mùi vị chạm thường tam muội
Như chim trong không mặc tình bay
Không thủ không xả không thương ghét
Nếu biết ứng xử vốn vô tâm
Mới được tên là Quán Tự Tại.
Đại ý bài kệ nói: Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại, tất cả thanh hương vị xúc thường ở trong tam-muội. Như chim trong hư không mặc tình bay không có chướng ngại. Không thủ, không xả cũng không yêu ghét. Người hiểu được chỗ ứng xử vốn vô tâm, tức ngay nơi đó nhận được bản tâm. Người như thế mới được gọi là Quán Tự Tại, sống trong mọi cảnh đều không chướng không kẹt.
Thiền sư Chơn hỏi:
– Đạo đã vô tâm, Phật có tâm chăng? Phật cùng với đạo là một, là khác?
Sư đáp:
– Chẳng một chẳng khác.
Chơn hỏi:
– Phật độ chúng sanh vì có tâm, đạo không độ chúng sanh vì vô tâm. Một độ một không độ đâu được không khác?
Sư đáp:
– Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo không độ, đây là Đại đức vọng sanh thấy hai. Theo sơn tăng tức chẳng phải vậy. Phật là tên suông, đạo cũng dối lập, cả hai đều không thật, toàn là giả danh. Trong một cái giả sao lại phân làm hai?
Chơn hỏi:
– Phật với đạo đều là giả danh, chính khi lập danh nhân cái gì mà lập? Nếu có lập được, đâu thể nói là không?
Sư đáp:
– Phật với đạo nhân tâm mà lập, xét cùng cái tâm dựng lập, tâm ấy cũng không, tâm đã là không liền ngộ cả hai đều chẳng thật, biết như mộng huyễn liền ngộ vốn không. Gắng lập hai tên Phật Đạo, đây là cái thấy biết của người Nhị thừa.
Sư bèn nói bài kệ Vô Tu Vô Tác:
Kiến đạo phương tu đạo
Bất kiến phục hà tu
Đạo tánh như hư không
Hư không hà sở tu?
Biến quán tu đạo giả
Bát hỏa mịch phù âu
Đản khán lộng khối lỗi
Tuyến đoạn nhất thời hưu.
Dịch:
Thấy đạo mới tu đạo
Chẳng thấy lấy gì tu
Tánh đạo như hư không
Hư không tu chỗ nào?
Khắp xem người tu đạo
Vạch lửa tìm bọt nổi
Chỉ xem con rối múa
Đứt dây một lúc dừng.
Thiền sư Chơn hỏi:
– Đạo đã vô tâm, Phật có tâm chăng? Phật cùng với đạo là một, là khác?
Sư đáp:
– Chẳng một chẳng khác.
Chơn hỏi:
– Phật độ chúng sanh vì có tâm, đạo không độ chúng sanh vì vô tâm. Một độ một không độ đâu được không khác?
Sư đáp:
– Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo không độ, đây là Đại đức vọng sanh thấy hai. Theo sơn tăng tức chẳng phải vậy. Phật là tên suông, đạo cũng dối lập, cả hai đều không thật, toàn là giả danh. Trong một cái giả sao lại phân làm hai?
Thiền sư Chơn thấy có hai cái khác nhau, Phật có tâm độ chúng sanh, còn đạo là vô tâm. Ngài Bổn Tịnh đáp: Nếu nói Phật độ chúng sanh, đạo không độ, đây là Đại đức vọng sanh thấy hai. Phật đạo không phải như vậy. Nói là Phật, nói là đạo chỉ là giả danh, vì thật trong chỗ chân như bất sanh bất diệt không có tên tuổi, gượng đặt tên Phật, tên đạo cũng là giả danh. Trong cái giả danh sao lại chia làm hai?
Chơn hỏi:
– Phật với đạo đều là giả danh, chính khi lập danh nhân cái gì mà lập? Nếu có lập được, đâu thể nói là không?
Sư đáp:
– Phật với đạo nhân tâm mà lập, xét cùng cái tâm dựng lập, tâm ấy cũng không, tâm đã là không liền ngộ cả hai đều chẳng thật, biết như mộng huyễn liền ngộ vốn không. Gắng lập hai tên Phật Đạo, đây là cái thấy biết của người Nhị thừa.
Người còn phân biệt tên Phật, tên đạo khác nhau là cái thấy biết hai bên của hàng Nhị thừa.
Sư bèn nói bài kệ Vô Tu Vô Tác:
Kiến đạo phương tu đạo
Bất kiến phục hà tu
Đạo tánh như hư không
Hư không hà sở tu?
Biến quán tu đạo giả
Bát hỏa mịch phù âu
Đản khán lộng khối lỗi
Tuyến đoạn nhất thời hưu.
Dịch:
Thấy đạo mới tu đạo
Chẳng thấy lấy gì tu
Tánh đạo như hư không
Hư không tu chỗ nào?
Nghĩa là thấy đạo rồi, mới có thể tu hợp với đạo. Nếu không thấy đạo làm sao tu đúng. Tánh đạo giống như hư không, không có hình tướng, có gì để tu? Nói tu là một lối nói, không có cái tu thật.
Khắp xem người tu đạo
Vạch lửa tìm bọt nổi
Chỉ xem con rối múa
Đứt dây một lúc dừng.
Xem khắp thế gian, những người tu đạo chẳng khác vạch trong lò lửa tìm bọt nước, có tìm được không? Đạo là sống với thể chân thật, không do tạo tác, không do tu hành mà được; nói tôi tu thế này, tôi tu thế nọ, chỉ là giả danh phương tiện mà cho là thật, như thế khác nào vạch trong lò lửa tìm bọt nước.
Con rối mùa, nguyên chữ Hán là lộng khối lỗi, con rối gỗ diễn trò, điều khiển bằng những sợi dây do người cầm nắm bên trong. Khi dây đứt thì con rối ngừng, không múa may diễn trò. Chúng ta phải biết thân này hư giả như người gỗ, như con rối múa may, còn vọng tưởng giật dây thì còn bị chi phối. Khi dứt vọng tưởng rồi thì tất cả những điên đảo cuồng loạn kia cũng theo đó mà hết.
Thiền sư Pháp Không hỏi:
– Phật với đạo đều là giả danh, mười hai phần giáo cũng chẳng phải thật, vì sao các hàng tôn túc từ xưa đều nói tu đạo?
Sư đáp:
– Đại đức lầm hội ý kinh, đạo vốn không tu, Đại đức cưỡng tu, đạo vốn không tác, Đại đức cưỡng tác, đạo vốn không sự, Đại đức cưỡng sanh đa sự, đạo vốn không biết, ở trong ấy cưỡng biết. Thấy hiểu như thế cùng đạo trái nhau. Tôn túc từ xưa không như thế, tự Đại đức không hội, xin suy gẫm đó.
Sư có bài kệ:
Đạo thể bản vô tu
Bất tu tự hợp đạo
Nhược khởi tu đạo tâm
Thử nhân bất hội đạo.
Khí khước nhất chân tánh
Khước nhập náo hạo hạo
Hốt phùng tu đạo nhân
Đệ nhất mạc hướng đạo.
Dịch:
Thể đạo vốn không tu
Chẳng tu tự hợp đạo
Nếu khởi tâm tu đạo
Người này không hiểu đạo.
Bỏ mất một tánh chân
Lại vào nơi ồn náo
Chợt gặp người tu đạo
Cần nhất chớ nói năng.
Thiền sư Pháp Không hỏi:
– Phật với đạo đều là giả danh, mười hai phần giáo cũng chẳng phải thật, vì sao các hàng tôn túc từ xưa đều nói tu đạo?
Sư đáp:
– Đại đức lầm hội ý kinh, đạo vốn không tu, Đại đức cưỡng tu, đạo vốn không tác, Đại đức cưỡng tác, đạo vốn không sự, Đại đức cưỡng sanh đa sự, đạo vốn không biết, ở trong ấy cưỡng biết. Thấy hiểu như thế cùng đạo trái nhau. Tôn túc từ xưa không như thế, tự Đại đức không hội, xin suy gẫm đó.
Pháp Không hỏi: Nếu Phật đạo đều giả danh và mười hai phần giáo, tức là các kinh điển, cũng không thật thì tại sao ngày xưa các tôn túc đều nói có tu. Ngài đáp: Đại đức lầm hội ý kinh. Đạo không có chỗ tu mà gượng nói tu, đạo không có tạo tác mà gượng nói tạo tác… Như thế làm sao được hợp đạo? Các vị thiền sư có tu không?
Có người hỏi thiền sư Tùng Thẩm có tu không? Ngài nói nếu ta có tu là đại họa. Như ngài ở chùa ăn chay, hằng ngày hằng giờ tọa thiền, đi đứng nằm ngồi đều theo nếp của người xuất gia mà ngài nói nếu thấy có tu là họa lớn. Tại sao? Phải biết rằng, nếu trực nhận được đạo, thấy được chân lý bất sanh bất diệt thì chỉ cần sống với nó, không nói tu hay không tu.
Tuy không tu mà hằng sống với đạo không theo vọng tưởng tức là tu. Tu mà không tu vì biết chân lý không phải tạo tác, không phải làm nên. Tu là hành động tạo tác sanh diệt, không thể đem sanh diệt đắp thêm vào vô sanh nên không nói là tu. Khi chúng ta hằng sống với nó thì thiên hạ gọi là tu, sự thật không thấy có người tu. Vì chỉ cần sống đúng với chân lý đó không làm gì khác hơn. Nói tu chỉ là phương tiện đối với người chưa hiểu đạo, tu nghĩa là hành động theo điều lành điều thiện. Hành động thì sanh diệt, đạo thì bất sanh diệt, đem sanh diệt tìm bất sanh diệt làm sao khế hợp. Vì thế nói đạo vốn không tu.
Sư có bài kệ:
Dịch:
Đạo thể bản vô tu
Bất tu tự hợp đạo
Nhược khởi tu đạo tâm
Thử nhân bất hội đạo.
Khí khước nhất chân tánh
Khước nhập náo hạo hạo
Hốt phùng tu đạo nhân
Đệ nhất mạc hướng đạo.
Thể đạo vốn không tu
Chẳng tu tự hợp đạo
Nếu khởi tâm tu đạo
Người này không hiểu đạo.
Bỏ mất một tánh chân
Lại vào nơi ồn náo
Chợt gặp người tu đạo
Cần nhất chớ nói năng.
Thể đạo vốn không do tu, nếu người không dùng cái tu sanh diệt thì người đó tự hợp với đạo. Không nên nghe nói không tu hợp đạo, rồi cho những kẻ đi ngang ngược ngoài chợ đều là hợp đạo, không phải như vậy. Nếu khởi tâm tu để được hợp đạo, người này không hội đạo. Vì khởi tâm tu hợp đạo mà không biết lý đạo bất sanh bất diệt, tức là bỏ mất chân tánh, người ấy sẽ trở lại chỗ náo loạn lăng xăng. Tại sao? Vì cho rằng các hành động sanh diệt là hợp với đạo thì bỏ mất chân tánh, lăn mình trong sanh diệt. Nếu chợt gặp người tu chân chánh thì cần nhất chớ nói năng, vì khởi tâm vọng nói năng tức là trái với đạo.
Thiền sư An hỏi:
– Đạo đã giả danh, Phật nói dối lập, mười hai phần giáo cũng là phương tiện tiếp vật độ sanh, tất cả là vọng lấy gì làm chân?
Sư đáp:
– Vì có vọng nên đem chân đối vọng. Xét cùng tánh vọng vốn không, chân cũng chưa từng có. Thế thì biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị trọn không thật thể, tột cội gốc nó thì tất cả đều không.
An hỏi:
– Đã nói tất cả là vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng không khác, lại là vật gì?
Sư đáp:
– Nếu nói vật gì, vật gì cũng vọng. Kinh nói “không tương tự, không so sánh, bặt đường nói năng, như chim bay trong không”.
Thiền sư An xấu hổ thầm phục mà không biết làm gì.
Sư có bài kệ:
Suy chân, chân vô tướng
Cùng vọng, vọng vô hình
Phản quán suy cùng tâm
Tri tâm điệc giả danh
Hội đạo diệc như thử
Đáo đầu diệc chỉ ninh.
Dịch:
Xét chân, chân không tướng
Tìm vọng, vọng không hình
Quán lại tâm tìm xét
Biết tâm cũng giả danh
Hội đạo cũng như vậy
Đến cùng chỉ lặng yên.
Thiền sư An hỏi:
Đạo đã giả danh, Phật nói dối lập, mười hai phần giáo cũng là phương tiện tiếp vật độ sanh, tất cả là vọng lấy gì làm chân?
Tất cả đều là giả hết thì lấy gì làm chân?
Sư đáp:
Vì có vọng nên đem chân đối vọng. Xét cùng tánh vọng vốn không, chân cũng chưa từng có. Thế thì biết chân vọng đều là giả danh, hai việc đối trị trọn không thật thể, tột cội gốc nó thì tất cả đều không.
Vọng là không thật, chân do đối với vọng mới có, vọng không thì chân cũng không. Chân vọng cả hai đều là giả danh đối lập để cho người ta dễ hiểu. Khi vọng hết thì chân cũng không còn.
An hỏi:
– Đã nói tất cả là vọng, vọng cũng đồng chân, chân vọng không khác, lại là vật gì?
Sư đáp:
– Nếu nói vật gì, vật gì cũng vọng. Kinh nói “không tương tự, không so sánh, bặt đường nói năng, như chim bay trong không”.
Thiền sư An lại hỏi: Khi chân vọng không khác lúc đó là vật gì? Ngài đáp: Nếu nói vật gì, vật gì cũng vọng. Chân vọng không khác, còn hỏi là vật gì thì cũng là vọng. Kinh nói: không tương tự, không so sánh, bặt đường nói năng, như chim bay trong không. Đó là chỗ không có gì tương tự để so sánh, là chỗ dứt nói năng như chim bay trong hư không, không ai tìm dấu vết được. Nên không nói là vật gì.
Thiền sư An xấu hổ thầm phục mà không biết làm gì, tức là nghe nói rất hay nhưng không biết ý, ngộ không được.
Sư có bài kệ:
Suy chân, chân vô tướng
Cùng vọng, vọng vô hình
Phản quán suy cùng tâm
Tri tâm diệc giả danh
Hội đạo diệc như thử
Đáo đầu diệc chỉ ninh.
Dịch:
Xét chân, chân không tướng
Tìm vọng, vọng không hình
Quán lại tâm tìm xét
Biết tâm cũng giả danh
Hội đạo cũng như vậy
Đến cùng chỉ lặng yên.
Suy chân tức là xét chân, chân vốn không có hình tướng. Cùng vọng, tức là tìm tột cùng vọng, vọng cũng không có hình. Chân không tướng, vọng không hình, cả hai đều không thật. Quán trở lại tâm suy tìm, cũng là giả danh không thật. Cả ba: chân không thật, vọng không thật, tâm suy nghĩ về chân vọng cũng không thật. Hội đạo cũng như thế, đến tột cùng thì tự mình yên lặng không nói gì khác hơn. Chỗ tột cùng hết vọng tự nhiên yên lặng.
Thiền sư Đạt Tánh hỏi:
Thiền thật chí vi chí diệu, chân vọng cả hai đều bặt, Phật đạo cả hai chẳng còn, tu hành tánh là không, danh tướng chẳng thật, thế giới như huyễn, tất cả đều giả danh. Khi người đạt đến cái hiểu biết này cũng không thể đoạn dứt hai gốc thiện ác của chúng sanh.
Sư đáp:
– Hai gốc thiện ác đều nhân tâm mà có, tìm tột tâm nếu có thì gốc ắt thật, xét tâm đã không thì gốc nhân đâu mà lập. Kinh nói: “Pháp thiện pháp ác từ tâm hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác vốn không thật có.”
Sư nói bài kệ:
Thiện ký tùng tâm sanh
Ác khởi ly tâm hữu
Thiện ác thị ngoại duyên
Ư tâm thật bất hữu.
Xả ác tổng hà xứ
Thủ thiện linh thùy thủ
Thương ta nhị kiến nhân
Phan duyên lưỡng đầu tẩu.
Nhược ngộ bản vô tâm
Thủy hối tùng tiền cữu.
Dịch:
Thiện đã từ tâm sanh
Ác đâu rời tâm có,
Thiện ác là duyên ngoài
Nơi tâm thật chẳng có.
Bỏ ác đẩy chỗ nào?
Lấy thiện bảo ai giữa
Than ôi! Người thấy hai
Bám víu hai đầu chạy.
Nếu ngộ vốn không tâm
Mới hối lỗi từ trước.
Thiền sư Đạt Tánh hỏi:
– Thiền thật chí vi chí diệu, chân vọng cả hai đều bặt, Phật đạo cả hai chẳng còn, tu hành tánh là không, danh tướng chẳng thật, thế giới như huyễn, tất cả đều giả danh. Khi người đạt đến cái hiểu biết này cũng không thể đoạn dứt hai gốc thiện ác của chúng sanh.
Câu này ý nói gì? Ban đầu dường như khen ngợi thiền thật chí vi chí diệu, quá hay quá cao sâu, nhưng trở lại thực tế thì người đạt được hiểu biết này cũng không thể đoạn dứt hai gốc thiện ác của chúng sanh. Nghĩa là không làm lợi ích gì cho chúng sanh. Đây là lối bắt bẻ khéo léo. Nói như ngài rất hay, cái nào cũng giả, cũng không, thì có gì đâu mà dạy người làm lành bỏ ác? Như vậy cái học hiểu của ngài là rỗng không vô ích.
Sư đáp:
– Hai gốc thiện ác đều nhân tâm mà có, tìm tột tâm nếu có thì gốc ắt thật, xét tâm đã không thì gốc nhân đâu mà lập. Kinh nói: “Pháp thiện pháp ác từ tâm hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác vốn không thật có.”
Ngài Bổn Tịnh đáp: Hai gốc thiện ác đều nhân tâm mà có, tìm tột tâm nếu có thì gốc ắt thật, nghĩa là nếu tâm thật có thì gốc thiện ác có thật, nay xét tâm đã không thì thiện ác không có thật, đâu cần nhọc công đoạn dứt. Kinh nói: Pháp thiện pháp ác từ tâm hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác vốn không thật có.
Như vậy pháp thiện pháp ác từ tâm mà hóa sanh, nghiệp duyên thiện ác là không có thật, đã không thật thì ông nói người tu không làm lợi ích cho chúng sanh vì không trừ thiện ác, đó là lời nói dư.
Sư nói bài kệ:
Thiện ký tùng tâm sanh
Ác khởi ly tâm hữu
Thiện ác thị ngoại duyên
Ư tâm thật bất hữu.
Xả ác tổng hà xứ
Thủ thiện linh thùy thủ
Thương ta nhị kiến nhân
Phan duyên lưỡng đầu tẩu.
Nhược ngộ bản vô tâm
Thủy hối tùng tiền cữu.
Dịch:
Thiện đã từ tâm sanh
Ác đâu rời tâm có,
Thiện ác là duyên ngoài
Nơi tâm thật chẳng có.
Bỏ ác đẩy chỗ nào?
Lấy thiện bảo ai giữ
Than ôi! Người thấy hai
Bám víu hai đầu chạy.
Nếu ngộ vốn không tâm
Mới hối lỗi từ trước.
Thiện đã từ nơi tâm mà sanh, ác đâu lìa tâm mà có, cả hai đều từ tâm. Thiện ác đều là duyên bên ngoài, chính nơi tâm thật chẳng có. Đã không có thật thì sao? Như vậy bỏ cái ác thì đẩy nó đi đâu? Bảo giữ cái thiện, thì lấy gì mà giữ? Thương thay người nhị kiến, cứ bám víu vào hai đầu mà chạy. Nếu ngộ được gốc vô tâm, lúc đó mới hối hận vì lỗi ngày xưa chạy theo nhị kiến. Như thế nói thiện nói ác là lối nói của thế gian, bởi vì thiện ác gốc từ tâm, tâm vọng đã không thật thì thiện ác làm gì có thật. Dứt vọng tâm thì thiện ác theo đó dứt.
Vị quan cận thần hỏi:
– Thân này từ đâu mà đến? Sau khi trăm tuổi trở về đâu?
Sư đáp:
– Như người khi mộng từ đâu mà đến? Khi thức giấc lại đi về đâu?
Quan thưa:
– Khi mộng không thể nói không, đã thức không thể nói có. Tuy có Có – Không mà đến đi không chỗ nơi.
Sư nói:
Bần đạo thấy thân này cũng như mộng.
Có bài kệ:
Thị sanh như tại mộng
Mộng lý thật thị nào
Hốt giác vạn sự hưu.
Hoàn đồng thùy thời ngộ
Trí giả hội ngộ mộng
Mê nhân tín mộng náo.
Hội mộng như lưỡng ban
Nhất ngộ vô biệt ngộ.
Phú quý dữ bần tiện
Cánh diệc vô biệt lộ.
Dịch:
Thấy cuộc sống như mộng
Trong mộng thật là ồn
Chợt thức muôn việc hết.
Lại đồng tỉnh cơn mộng
Người trí nhận biết mộng
Kẻ mê tin mộng ồn.
Biết mộng như hai việc
Một ngộ không ngộ khác.
Giàu sang cùng nghèo hèn
Lại cũng không đường khác.
Niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (761), ngày mùng năm tháng năm, Sư quy tịch.
Vua sắc ban hiệu là Đại Hiểu thiền sư.
Vị quan cận thần hỏi:
– Thân này từ đâu mà đến? Sau khi trăm tuổi trở về đâu?
Sư đáp:
– Như người khi mộng từ đâu mà đến? Khi thức giấc lại đi về đâu?
Quan thưa:
Khi mộng không thể nói không, đã thức không thể nói có. Tuy có Có – Không mà đến đi không chỗ nơi.
Sư nói:
– Bần đạo thấy thân này cũng như mộng.
Vị quan cận thần hỏi: Thân này từ đâu mà đến? Sau khi trăm tuổi trở về đâu? Ông băn khoăn thân này từ đâu mà sanh đến đây, sau khi chết đi về đâu? Câu hỏi này chắc hầu hết mọi người đều thắc mắc. Ngài đáp: Như người khi mộng từ đâu mà đến? Khi thức giấc lại đi về đâu? Nghĩa là khi mộng thì cảnh mộng từ đâu đến, sau khi thức thì nó đi về đâu?
Vị quan trả lời: Khi mộng không thể nói không, đã thức không thể nói có. Khi mộng thì thấy có cảnh thật, khi thức thì không thể nói nó là thật. Tuy có mà không từ đâu đến, đi không về đâu. Như vậy ông tự trả lời rồi, nên ngài nói thêm: Bần đạo thấy thân này cũng như mộng. Đã như mộng thì không có chỗ đi, đến.
Có bài kệ:
Thị sanh như tại mộng
Mộng lý thật thị nào
Hốt giác vạn sự hưu.
Hoàn đồng thùy thời ngộ
Trí giả hội ngộ mộng
Mê nhân tín mộng náo.
Hội mộng như lưỡng ban
Nhất ngộ vô biệt ngộ.
Phú quý dữ bần tiện
Cánh diệc vô biệt lộ.
Dịch:
Thấy cuộc sống như mộng
Trong mộng thật là ồn
Chợt thức muôn việc hết.
Lại đồng tỉnh cơn mộng
Người trí nhận biết mộng
Kẻ mê tin mộng ồn.
Biết mộng như hai việc
Một ngộ không ngộ khác.
Giàu sang cùng nghèo hèn
Lại cũng không đường khác.
Xem cuộc đời này như giấc mộng, ở trong mộng thật là ồn náo. Chúng ta đang sống đây như giấc mộng lăng xăng bao nhiêu việc, nên nói mộng thì ồn náo. Chợt một phen giác ngộ rồi thì muôn việc thôi dứt. Lại giống ngủ mà chợt thức. Khi chúng ta giác ngộ thì muôn việc đều buông không đeo bám, như lúc ngủ chợt thức, muôn việc trong mộng cũng hết không còn gì.
Người trí lãnh hội hay nhận được điều này cũng như trong mộng mà thức giấc. Người mê thì tin giấc mộng ồn, vì tin nên bám chặt. Như vậy chúng ta là trí hay ngu? Chúng ta đang tin giấc mộng ồn, phải không?
Nhận ra hay là biết được mộng như có hai bên thức và ngủ, nhưng một phen ngộ thì không còn có cái ngộ khác. Rốt cuộc giàu sang cùng với bần tiện cũng không có hai đường. Tại sao? Vì đều là trong mộng. Như hai người nằm ngủ chiêm bao, một người chiêm bao thấy mình sanh trong gia đình nghèo nàn đói khát, chạy kiếm miếng ăn cực khổ gần chết, có một hôm nhịn đói đến ngất xỉu, kế giật mình thức dậy. Một người thì thấy mình sanh ra trong gia đình sung sướng giàu sang, có của cải nhà lầu xe hơi, rồi chợt một hôm đang đi xe hơi đụng người ta, liền giật mình thức dậy.
Hai giấc mộng đó khác nhau hay không khác? Trong mộng thì có khác, nhưng thể của mộng thì hai việc đó đều là mộng. Đều là mộng thì có gì khác. Vì chúng ta mê nên ở trong cơn mộng này chấp cho là thật, người thì than thân phận nghèo hèn, người thì vui vẻ cảnh giàu sang, rồi thấy có hơn kém, tranh đua thù nghịch. Nếu chúng ta biết cảnh này là mộng, chỉ cần một phen thức thì mọi sự cũng là mộng thôi. Lúc đó còn gì mà tranh hơn tranh thua, còn gì giành phải giành quấy. Hiểu được như vậy, sống được như vậy thì tự nhiên là đã tu giỏi, không còn gì dính mắc.
Đến đây kết thúc buổi nói chuyện do nhà vua tổ chức.
Niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai (761), ngày mùng năm tháng năm, Sư quy tịch.
Vua sắc ban hiệu là Đại Hiểu thiền sư.
Không biết từ đó về sau ngài làm gì, chỉ kể lại lúc ngài tịch vào niên hiệu Thượng Nguyên thứ hai, vua sắc ban hiệu là Đại Hiểu thiền sư.
Sư họ Nhiễm, quê ở Chư Kỵ, Việt Châu. Thuở nhỏ, Sư da trắng như tuyết, dáng vẻ đoan trang, mộ Phật xuất gia. Sư giới luật thanh tịnh, đức hạnh siêu nhiên, thường tìm đến các vị thiền đức hỏi đạo.
Sau khi được tâm ấn nơi Lục tổ Huệ Năng, Sư về ở cốc Đảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây tu hành, hơn bốn mươi năm Sư chưa từng xuống núi. Đạo hạnh của Sư được dân chúng đồn đãi đến tại nhà vua.
Đời Đường niên hiệu Thượng Nguyên năm thứ hai, vua Túc Tông sai Trung sứ Tôn Triều Tiến mang chiếu đến thỉnh Sư về kinh đô. Sư về đến triều, vua kính Sư làm thầy. Lúc đầu thỉnh Sư ở viện Tây Thiền tại chùa Thiên Phước, sau vua thỉnh về chùa Quang Trạch gần nội cung. Hơn mười sáu năm, Sư tùy cơ thuyết pháp.
Quốc sư Huệ Trung là một vị thiền sư có nhiều điểm mà đến bây giờ vẫn còn được nhắc đến. Trước hết tả lại hình dáng của ngài lúc còn thơ bé, dáng vẻ đoan trang. Sau khi xuất gia được tâm ấn ở chỗ Lục tổ Huệ Năng, kế đến ngài về ở cốc Đảng Tử trên núi Bạch Nhai, quận Nam Dương. Ngài đi học đạo không biết bao nhiêu năm, sau khi ngộ đạo rồi trở về ở núi này hơn bốn mươi năm chưa từng xuống núi. Ý chí thật đáng nể phục. Chúng ta ở Chơn Không vài ba năm không xuống núi thì chẳng có nghĩa gì, phải không? Đạo hạnh của ngài đồn khắp đến tai nhà vua, vua mời ngài về triều. Lúc đó ngài đã tự tại, tùy cơ thuyết pháp.
Một hôm, có Đại Nhĩ Tam Tạng người Ấn sang đến kinh đô, tự nói được tuệ nhãn và tha tâm thông. Vua muốn trắc nghiệm nên mời ông đến ra mắt Sư. Tam Tạng đến, vừa thấy Sư liền lễ bái khoanh tay đứng hầu bên hữu.
Sự hỏi:
– Ông được tha tâm thông chăng?
Tam Tạng đáp: – Chẳng dám.
Sự hỏi:
– Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào?
Tam Tạng đáp:
– Hòa thượng là thầy một nước sao lại đến Tây Xuyên xem đua thuyền.
Sư lại hỏi:
– Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào?
Tam Tạng đáp:
– Hòa thượng là thầy một nước sao lại đứng trên cầu Thiên Tân xem khỉ làm xiếc?
Sư lần thứ ba cũng hỏi y như trước. Tam Tạng lặng thinh không biết chỗ đi.
Sư nạt:
– Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào?
Tam Tạng lặng câm.
Đại Nhĩ Tam Tạng người Ấn sang, có tuệ nhãn và tha tâm thông, đến gặp ngài liền đảnh lễ đứng hầu. Ngài hỏi: Ông được tha tâm thông chăng? Tam Tạng đáp: Chẳng dám. Tức là gật đầu chấp nhận.
Lần thứ nhất, ngài hỏi: Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào? Tam Tạng đáp: Hòa thượng là thầy một nước sao lại đến Tây Xuyên xem đua thuyền.
Lần thứ hai, ngài hỏi: Ông nói xem, hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào? Tam Tạng đáp: Hòa thượng là thầy một nước sao lại đứng trên cầu Thiên Tân xem khỉ làm xiếc? Nếu tâm có chỗ đến thì nói được.
Lần thứ ba, ngài yên lặng rồi mới hỏi: Hiện giờ lão tăng đang ở chỗ nào? Tam Tạng bí không biết chỗ đi của ngài, nên làm thinh hồi lâu. Ngài nạt: Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào?
Hai lần trước thì biết, nhưng lần thứ ba thì không biết ở đâu. Như vậy hai lần trước Tam Tạng nói đúng hay không? Lần thứ ba tại sao ông không nói được? Đó là chỗ mà nhà thiền thường nói chư thánh không làm gì được, tuệ nhãn cũng không thể thấy được. Tuệ nhãn chỉ thấy được tâm duyên theo bóng dáng sáu trần, còn với tâm thanh tịnh thì không chỗ thấy, chỉ riêng mình dùng được, không ai dùng được. Chẳng những quỷ thần hay Diêm vương không làm gì được, đến chư thánh cũng không nhìn thấy.
Đây là chỗ cao siêu tột cùng của thiền tông. Những người tu pháp quán tưởng đều có tâm đối với cảnh, có hình dáng dễ hiện dễ thấy. Tu thiền cho tới khi tâm thật thanh tịnh, không còn một tí niệm nào dấy lên như bầu trời trong. Nhìn bầu trời trong thử hỏi thấy gì? Chỉ là trời trong không thấy gì hết. Tâm chúng ta khi không còn một niệm dấy động, lúc đó chỉ là chân tâm thanh tịnh. Chỗ đó không ai thấy được chỉ có mình tự nhận biết. Vì vậy khi ngài im lìm, Tam Tạng cũng chịu thua, không còn đối đáp gì được. Như vậy tha tâm thông là thấy tâm của những người vọng tưởng, nếu hết vọng tưởng thì hết thấy. Tu đến rốt ráo rồi tâm không có gì, hết vọng tưởng mới là chỗ chân thật.
Một hôm, Sư gọi:
– Thị giả!
Thị giả: – Dạ!
Sư gọi như thế ba lần, thị giả cũng dạ ba lần.
Sư bảo:
– Tưởng là ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta.
Kêu đâu dạ đó mà cô phụ chỗ nào? Ai tìm thấy chỗ cô phụ của ông thị giả này thì giỏi. Lý đáng khi nghe kêu, thị giả liền lúc đó thấy được cái gì. Kêu một lần không thấy, lần thứ hai không thấy, lần thứ ba cũng không thấy, rõ ràng cô phụ rồi. Nhưng thấy cái gì thì tự mỗi người thấy. Kêu lần thứ nhất, lẽ ra thấy mà không nói, kêu lần thứ hai, thấy cũng không nói, kêu lần thứ ba, thấy cũng không nói. Nhưng chỉ dạ suông nên nói là cô phụ. Thấy cái gì, đó là mỗi người tự thấy tôi không có quyền nói. Phần nhiều trong nhà thiền hay dùng tiếng kêu để dò xét trình độ người học.
Như ngài Hoàng Bá, khi Bùi Hưu thấy hình trên vách chùa hỏi: “Hình có thể thấy, cao tăng ở đâu?” Ngài Hoàng Bá liền nghiêm chỉnh gọi “Bùi Hưu!”, Bùi Hưu “Dạ!”, hỏi: “Ở đâu?” Rồi thôi, mà Bùi Hưu ngộ, như vậy là không cô phụ. Còn ông thị giả này gọi ba lần mà không thấy gì hết nên cô phụ. Bây giờ có thị giả nào không cô phụ quý thầy không? Thị giả nào nghe kêu rồi cũng dạ suông thôi, như vậy hầu hết đều là cô phụ.
Nam Tuyền đến tham vấn, Sư hỏi:
– Ở đâu đến?
Nam Tuyền thưa:
– Ở Giang Tây đến.
– Có đem được hình của Mã đại sư đến chăng?
– Chỉ cái ấy.
– Cái sau lưng.
Nam Tuyền bèn lui ra.
Nam Tuyền đến tham vấn, Sư hỏi: Ở đâu đến? Nam Tuyền thưa: Ở Giang Tây đến. Giang Tây tức là chỗ Mã Tổ Đạo Nhất, đệ tử của ngài Nam Nhạc.
Ngài hỏi: Có đem được hình của Mã đại sư đến chăng? Ông ở chỗ Mã Tổ đến, vậy có đem được hình của Mã Tổ đến không? Nam Tuyền đáp: Chỉ cái ấy. Ngài nói: Cái sau lưng. Nam Tuyền bèn lui ra.
Chữ hình là để chỉ chân dung. Ông ở chỗ người đó có đem được chân dung, nghĩa là lãnh hội được ý chỉ của người đó không? Nam Tuyền lui ra, như vậy ngài có đem được không?
Ma Cốc đến tham vấn, đi nhiễu quanh giường thiền của Sư ba vòng, rồi chống tích trượng đứng trước Sư. Sư bảo:
– Đã như thế cần gì thấy bần đạo?
Ma Cốc lại chống tích trượng. Sư nạt:
– Dã hồ tinh, đi ra!
Ma Cốc cũng là đệ tử của Mã Tổ đến tham vấn. Đúng ra Mã Tổ đối với ngài Huệ Trung, như bây giờ gọi là sư chú hay sư bác, đệ tử Mã Tổ thì gọi ngài Huệ Trung là Sư ông chú hay Sư ông bác. Nhưng ngày xưa không lệ thuộc vào dòng họ lắm, đệ tử của ai khi tới hỏi đạo thì cũng vậy thôi. Đó là thoát ra ngoài thông lệ thế gian.
Như Thạch Đầu Hy Thiên, đúng ra với ngài Hành Tư là huynh đệ, nhưng khi đến với ngài Hành Tư thì cũng thấy mình là học trò, không như chúng ta bây giờ đến gọi sư huynh này, sư huynh nọ, vì chấp theo dòng họ, không lấy đức hạnh làm trên.
Ma Cốc tham vấn, đi nhiễu quanh giường thiền của ngài ba vòng, chống tích trượng đứng trước ngài, làm thinh. Ngài bảo: Đã như thế cần gì thấy bần đạo? Được vậy rồi thôi tới đây làm gì? Ma Cốc lại chống tích trượng một cái nữa. Ngài nạt: Dã hồ tinh, đi ra!
Người ta đã nói biết như vậy đủ rồi, không cần tới đây, vậy còn chống tích trượng làm chi? Như vậy Ma Cốc hành động rất kỳ lạ, tới không nói một câu, chỉ chống tích trượng đứng rồi đi ra, không hỏi một câu, cũng không đáp lại. Qua những hành động các đệ tử lớn của Mã Tổ, chúng ta thấy các ngài đã thế nào rồi.
Sư thường dạy chúng:
– Người học thiền tông nên theo lời Phật, lấy Nhất thừa liễu nghĩa khế hợp với nguồn tâm của mình, kinh không liễu nghĩa chẳng nên chấp nhận. Như bọn trùng trong thân sư tử, khi vì người làm thầy, nếu dính mắc danh lợi bèn bày điều dị đoan, thế là mình và người có lợi ích gì? Như người thợ mộc giỏi, búa rìu không đứt tay họ. Sức con voi lớn chở, con lừa không thể kham.
Ngài thượng đường dạy chúng: Người học thiền tông nên theo lời Phật, lấy Nhất thừa liễu nghĩa khế hợp với nguồn tâm của mình, kinh không liễu nghĩa chẳng nên chấp nhận. Chúng ta học thiền tông, phải đem kinh điển Đại thừa phối hợp, xem chỗ tu của mình có đúng với kinh hay không. Chỉ nên dùng kinh điển liễu nghĩa, không nên dùng kinh điển không liễu nghĩa vì còn đối đãi, chưa phải cứu cánh.
Như bọn trùng trong thân sư tử, khi vì người làm thầy, nếu dính mắc danh lợi bèn bày điều dị đoan. Những người làm thầy thiên hạ, có chút danh lợi thì bày trò dị đoan, như bói toán hoặc tiên tri… Đó là cái cớ làm dính mắc danh lợi, như nói tiên tri để chứng tỏ ta đây là thánh, ta biết chuyện quá khứ vị lai. Còn bói toán là để kiếm tiền, tất cả đều ở trong vòng danh lợi. Như vậy là trùng trong thân sư tử ăn thịt sư tử, chỉ hại mình hại người không lợi ích. Phật tử càng gần chừng nào càng thêm mê tín chừng nấy, không thể giác ngộ.
Như người thợ giỏi, búa rìu không đứt tay họ. Sức con voi lớn chở, con lừa không thể kham. Tu hành đến chỗ tự tại thì chẳng khác nào người thợ giỏi, không có gì chướng ngại. Người thợ giỏi không bị búa rìu làm đứt tay, người mới học đục đẽo thì bị đứt tay mang theo rất nhiều. Sức con voi lớn chở thì lừa không kham, không bì được. Người tu gắng sức tiến đến chỗ tự tại, như voi lớn vượt qua mọi chướng ngại, không còn gì ngăn trở.
Có vị tăng hỏi:
– Làm sao được thành Phật?
Sư đáp:
– Phật và chúng sanh đồng thời dẹp đi, ngay đó được giải thoát.
– Làm thế nào được tương ưng?
–
– Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tánh.
– Làm sao được chứng pháp thân?
– Vượt cảnh giới Tỳ-lô.
– Pháp thân thanh tịnh làm sao được?
– Không chấp Phật để cầu.
– Thế nào là Phật?
– Tâm tức là Phật.
– Tâm có phiền não chăng?
– Tánh phiền não tự lìa.
– Đâu không đoạn sao?
– Đoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Phiền não không sanh gọi Đại Niết-bàn.
– Ngồi thiền quán tịnh là làm gì?
– Chẳng cấu chẳng tịnh, đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.
– Thiền sư thấy mười phương hư không là pháp thân chăng?
– Lấy tâm tưởng nhận, đó là thấy điên đảo.
– Tâm tức là Phật, lại cần tu vạn hạnh chăng?
– Chư thánh đều đủ hai thứ trang nghiêm (phước và tuệ) đâu có bác không nhân quả.
Sư lại nói:
– Nay tôi đáp những câu hỏi của ông cùng kiếp không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Cho nên nói: “Thuyết pháp có sở đắc, đây là dã can kêu; thuyết pháp không sở đắc, ấy gọi là sư tử rống.”
Có vị tăng hỏi: Làm sao được thành Phật? Đây là câu hỏi rất chân thật. Ngài đáp: Phật và chúng sanh đồng thời dẹp đi, ngay đó được giải thoát. Muốn được thành Phật thì bỏ cả Phật và chúng sanh, có lạ không?
Tăng lại hỏi: Làm thế nào được tương ưng? Tương ưng tức là thích hợp. Ngài bảo: Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tánh. Đây là ngài nói trắng không giấu giếm gì.
Tăng lại hỏi: Làm sao chứng được pháp thân? Ngài bảo: Vượt cảnh giới Tỳ-lô. Tỳ-lô là pháp thân. Muốn chứng pháp thân thì phải vượt qua cảnh giới Tỳ-lô. Vừa nghĩ đến danh tự pháp thân thì đã mất pháp thân rồi, vì thế phải vượt qua danh tự đó mới thấy được pháp thân.
Tăng hỏi: Pháp thân thanh tịnh làm sao được? Ngài đáp: Không chấp Phật để cầu. Muốn được pháp thân thanh tịnh thì đừng chấp Phật để cầu. Tăng hỏi: Thế nào là Phật? Ngài đáp: Tức tâm là Phật. Hỏi: Tâm có phiền não chăng? Ngài đáp: Tánh phiền não tự lìa. Nếu thấy phiền não thật thì có phiền não, nếu biết tánh phiền não là không thì tự lìa phiền não.
Đây là chỗ tu rất kỹ, phải nhận thức về hai cách dạy trừ phiền não của Đại thừa và Tiểu thừa. Theo tinh thần Tiểu thừa, đối với người thấy sắc đẹp sanh tâm nhiễm trước, liền dạy pháp quán bất tịnh để thấy thân ô uế nhớp nhúa, chán gớm nó. Bởi chán gớm nó nên tâm mến sắc tự nhiên dứt hết. Đối với người nóng giận thì dùng pháp quán từ bi, thương người thì hết giận. Nếu người si mê quá thì dùng pháp quán nhân duyên, biết các pháp do nhân duyên sanh; hiểu lý nhân duyên là trí tuệ, nên dùng nó để phá si mê. Chúng sanh có bao nhiêu bệnh, bao nhiêu phiền não thì ứng dụng bấy nhiêu pháp trị, có rất nhiều pháp để trị bệnh phiền não. Mỗi bệnh phiền não có mỗi pháp trị, đó là đối bệnh cho thuốc. Dạy tu như thế rất dễ hiểu.
Theo tinh thần Đại thừa, nhất là thiền tông thì không dùng lối đối bệnh cho thuốc. Khi sân nổi lên chỉ cần biết tự tánh nó là không, không cần đối trị, biết sân không thật thì còn sân không? Nói lý thuyết suông khó tin, cần thực hành đúng đắn. Khi nổi sân lên nhớ cái sân này không thật không theo, tự nhiên nó tiêu mất. Khi lòng tham dấy lên, biết tham tự tánh là không, tham cũng theo đó mà hết. Như vậy pháp tu này không cần đối trị mỗi thứ riêng, chỉ cần biết tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… bao nhiêu phiền não dấy lên cái nào biết cái đó tự tánh không thật, biết không thật nên không theo thì tự nhiên chấm dứt dễ dàng. Chỉ có một thứ thuốc mà trị được ngàn thứ bệnh.
Nếu chúng ta đi đâu đem thuốc nhiều sợ nặng túi thì chỉ mang một thứ thuốc quán chiếu này, bệnh nào trị cũng được hết. Khi khởi tham, khởi sân, khởi si, đều biết tánh nó là không, không theo nó tự hết. Tại sao thuốc này hay lắm vậy, trị được bá chứng? Tất cả phiền não dấy lên gốc từ si mê. Si mê là gì? Là vô minh nhận vọng tưởng là mình. Chúng ta phiền não vì bị vọng tưởng gạt, giờ đây phiền não dấy lên liền dùng trí tuệ quán chiếu biết nó không tự tánh, vọng tưởng tự tan. Đó là dùng trí tuệ phá tan vô minh, gốc vô minh hết thì hỏi phiền não nào mà còn? Trong mười hai nhân duyên, vô minh đầu tiên dẫn tới hành, hành tới thức, danh sắc… lôi kéo chúng ta đi trong vòng luân hồi. Nếu ngay đây vô minh bị đập nát, không còn gì dẫn đi trong luân hồi, gốc phiền não liền theo đó mà sạch.
Chúng ta hiểu rõ điều này, mới thấy được tinh thần của thiền tông vừa đơn giản vừa thâm thúy, chặn ngay nơi gốc. Còn pháp đối trị kia theo tham, sân, si mà trị, thì cũng chỉ ở ngọn chưa phải gốc. Mỗi người chúng ta đều có sẵn trí tuệ dẹp sạch phiền não. Đây là thuốc trị hết tất cả bệnh.
Vị tăng này nghe nói tánh phiền não tự lìa chưa hiểu, nên nghi ngờ, như vậy không đoạn phiền não sao? Ngài đáp: Đoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Tại sao? Vì phiền não không sanh là Đại Niết-bàn. Nếu thấy có phiền não để đoạn, tức là thấy phiền não thật, pháp đoạn phiền não là thật; cả hai đều thật là Nhị thừa. Nếu biết tánh phiền não là không, tánh đoạn phiền não cũng không là Đại Niết-bàn.
Tăng hỏi thêm: Ngồi thiền quán tịnh là làm gì? Ngài đáp: Chẳng cấu chẳng tịnh, đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh. Nghĩa là thấy thật tánh không phải cấu không phải tịnh, khởi tâm quán tướng tịnh để làm gì?
Tăng hỏi: Thiền sư thấy mười phương hư không là pháp thân chăng? Ngài đáp: Lấy tâm tưởng nhận, đó là thấy điên đảo. Chính chỗ này có một số người tu thiền lầm, nghe nói tâm thể rộng lớn trùm khắp hư không, lại tưởng thân rộng lớn trùm khắp hư không như là pháp thân. Đó là lấy tưởng mà nhận pháp thân, chính là bệnh, không phải là pháp thân. Tâm thể rộng lớn là khi vọng tưởng lặng xuống thì tự thể rỗng rang trùm khắp, không phải do khởi tưởng rộng rồi thành pháp thân rộng rãi bao trùm.
Tăng hỏi: Tâm tức là Phật, lại cần tu vạn hạnh chăng? Như vậy tâm tức là Phật rồi, còn cần tu vạn hạnh hay không? Ngài đáp: Chư thánh đều đủ hai thứ trang nghiêm đâu có bác không nhân quả. Nếu biết tâm mình là Phật, thì làm tất cả việc thiện có lỗi gì đâu? Nhận biết tâm mình là tuệ, làm mọi việc lành là phước, phước tuệ đầy đủ, đâu ngại gì tu vạn hạnh.
Ngài lại nói: Nay tôi đáp những câu hỏi của ông cùng kiếp không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Chỗ chí đạo là chỗ vô ngôn, mượn ngôn thuyết nhiều thì đạo càng xa. Cho nên nói: Thuyết pháp có sở đắc, là đã can kêu; thuyết pháp không sở đắc, ấy gọi là sư tử rống. Ai muốn làm dã can, ai muốn làm sư tử? Nói tu cái này mau được, tu cái kia mau được, đó là dã can kêu. Nói chỗ tu thấy tất cả pháp tự tánh đều không, không thật, đó là sư tử rống. Làm sư tử hay làm dã can tùy ý.
Có người cư sĩ ở Nam Dương tên Trương Phần đến hỏi:
– Được nghe Hòa thượng nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu được ý này, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy.
Sư đáp:
– Ông nếu hỏi vô tình thuyết pháp, hiểu vô tình kia mới được nghe tôi thuyết pháp. Ông chỉ nghe vô tình thuyết pháp đi!
Chỉ nhằm hiện nay trong phương tiện của hữu tình, thế nào là nhân duyên của vô tình?
– Hiện nay trong tất cả động dụng, chỉ hai dòng phàm thánh trọn không có chút phần khởi diệt, liền ra khỏi thức, không thuộc có không, rõ ràng thấy biết, chỉ nghe mà không có tình thức buộc chấp kia. Do đó Lục Tổ nói: “Sáu căn đối cảnh phân biệt mà không phải thức.”
Có cư sĩ ở Nam Dương tên là Trương Phần đến hỏi: Được nghe Hòa thượng nói “vô tình thuyết pháp”, con chưa hiểu được ý này, xin Hòa thượng từ bi chỉ dạy. Nói vô tình thuyết pháp, tánh ý vô tình làm sao thuyết pháp? Nghe ngài nói như thế chúng ta có hiểu không?
Ngài đáp: Ông nếu hỏi vô tình thuyết pháp, hiểu vô tình kia mới được nghe tôi thuyết pháp. Vô tình thuyết pháp nghĩa là gì? Bảo phải hiểu vô tình mới nghe thuyết pháp.
Chúng ta chỉ nghe hữu tình thuyết pháp, chưa nghe được vô tình thuyết pháp. Vì thế hỏi tiếp: Chỉ nhằm hiện nay trong phương tiện của hữu tình, thế nào là nhân duyên của vô tình? Như chúng ta nghe hoặc hỏi pháp, đều nhắm trên phương tiện hữu tình, nào biết vô tình là gì. Vậy thì thế nào là nhân duyên vô tình thuyết pháp?
Ngài đáp: Hiện nay trong tất cả động dụng, chỉ hai dòng phàm thánh trọn không có chút phần khởi diệt, liền ra khỏi thức, không thuộc có không, rõ ràng thấy biết, chỉ nghe mà không có tình thức buộc chấp kia. Ngài giải thích vô tình thuyết pháp. Tức là trong tất cả động dụng hiện giờ mà không chấp phàm không chấp thánh, không có tâm khởi diệt, ra khỏi thức phân biệt, chẳng dính có không, luôn luôn rõ ràng thấy biết. Chỉ nghe mà không có tình thức buộc chấp kia, không còn tình thức buộc chấp là vô tình. Hằng sống với cái vô tình ấy gọi là vô tình thuyết pháp.
Lục Tổ nói: Sáu căn đối cảnh phân biệt mà không phải thức. Đó là vô tình thuyết pháp. Hằng sống trong vô tình, vô tình này không phải như sỏi đá ngói gạch…, mà vô tình là không có tình chấp vọng thức.
Có vị tăng đến tham lễ, Sư hỏi:
– Ông chứa đựng sự nghiệp gì?
Tăng thưa:
– Giảng kinh Kim Cang.
– Hai chữ đầu tiên là gì?
– Như thị.
– Là gì?
Tăng không đáp được.
Hai chữ đầu của kinh không đáp được làm sao giảng kinh Kim Cang? Thường thường nghĩa chữ “như thị” là như thế, như thế đó thôi. Như thế tức là bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…
Có người hỏi Sư:
– Thế nào là giải thoát?
Sư đáp:
– Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát.
– Như thế tức là đoạn.
– Đã nói với ông các pháp không đến nhau, đoạn cái gì?
Tôi cho câu này là câu ưng ý nhất. Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát. Rất hay! Vừa gọn vừa hay! Chúng ta cứ nghĩ giải thoát là sau khi thân này chết rồi, sanh về cõi Phật nào đó. Không ngờ giải thoát là khi tâm không kẹt trong cảnh, dù cảnh đáng yêu cũng không dính, cảnh đáng ghét cũng không động, cảnh buồn hay vui,… tâm cũng bình thường. Cảnh và tâm không dính nhau, đó là giải thoát, ngay hiện tại sống là người tự tại giải thoát rồi. Sở dĩ chúng ta không giải thoát được vì tâm cảnh dính nhau. Như khi muốn đi học đạo mà vì bận việc này việc kia nên nói tôi bị ràng buộc. Ai ràng buộc mình? Chỉ là tâm bận bịu ràng buộc, không có gì khác. Nếu không bận bịu với ngoại cảnh, thì cái gì ràng buộc? Không bận bịu tức là tâm cảnh không dính nhau, các pháp không đến nhau, ai sống được như vậy thử xem có giải thoát hay không?
Tâm cảnh không dính nhau, nghĩa là ở đâu, giờ nào gặp ai nói chuyện gì, xong rồi thôi, không dính mắc gì. Nếu gặp người nói chuyện với mình mà có cảm tình, họ đi rồi cứ nhớ câu nói của họ, nếu là người mình không ưa thì cứ bực thầm trong bụng, như vậy là gì? Tự mình buộc mình không giải thoát, người ta đi rồi cũng còn bận bịu, còn thương còn giận. Nếu cảnh đến người đến thì đến, đi thì đi không dính gì hết, tự nhiên giải thoát, đi đâu cũng giải thoát, ra vào tự tại giải thoát. Thật là thực tế, giải thoát ngay trong đời này.
Học kỹ đạo lý này chúng ta biết ngay thế gian là giải thoát, cũng biết ngay thế gian là trầm luân. Giờ nào trầm luân biết liền, giờ nào giải thoát cũng biết liền, không cần đợi chết rồi mới biết. Nếu không dính mắc là giải thoát, còn dính mắc là biết trầm luân, rõ ràng không nghi ngờ. Đó là lẽ chân thật, không đợi nhập Niết-bàn hay về Cực lạc mới giải thoát.
Trong kinh A-hàm cũng nói rõ về thí dụ dính mắc. Một con khỉ bị thợ săn gài bẫy, nó thấy trái cây ngon, vội chạy đến chụp. Một cái tay dính nhựa, tay thứ hai cũng dính. Đưa hai chân vào gỡ, dính luôn hai chân, há miệng cạp dính luôn miệng, cuối cùng đầu đuôi đều bị dính chặt. Thợ săn chỉ cần nắm lên bỏ vào giỏ, không giãy giụa thoát thân được. Phật nói con khỉ đó tượng trưng sáu căn của chúng ta, dính với nhựa sáu trần, quăng xứ nào cũng được, đẩy đi đâu cũng được. Ma vương là ông thợ săn, là người gài bẫy. Tu giải thoát hay không là sáu căn không dính sáu trần, đây Tổ nói rõ ràng là tâm cảnh không đến nhau là giải thoát. Rất thực tế, rõ ràng không nghi.
Người hỏi vẫn còn ngờ: Như thế tức là đoạn? Ngài dạy: Đã nói với ông các pháp không đến nhau, đoạn cái gì? Vì quen quan niệm đoạn phiền não, chứng Bồ-đề, đoạn sanh tử chứng Niết-bàn nên cứ cho là có đoạn có chứng. Đã nói không đến không dính thì còn đoạn cái gì? Lời của ngài Huệ Trung đơn giản mà thâm thúy vô cùng. Chúng ta nghe một câu nói này có thể ứng dụng cả đời mình cũng chưa rồi. Nếu đi đâu lúc nào cũng thấy tâm cảnh không dính nhau, như thế tức là giải thoát. Nếu thấy dính mắc liền biết đang bị luân hồi, rõ ràng như vậy.
Vua Túc Tông hỏi:
– Thầy được pháp gì?
Sư đáp:
– Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng?
– Thấy.
– Nó do đóng đinh mắc, hay cột dây mắc?
– Thế nào là mười thân của Phật?
Sư đứng dậy hỏi:
– Hội chăng?
– Chẳng hội.
– Đem tịnh bình qua cho lão tăng.
– Thế nào là Vô tránh tam-muội?
– Đàn-việt đạp trên đảnh Tỳ-lô mà đi.
– Ý này thế nào?
– Chẳng nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình.
Vua lại hỏi Sư. Sư đều không nhìn vua. Vua bảo:
– Trẫm là thiên tử nước Đại Đường, tại sao Thầy không nhìn đến?
Sư đáp:
– Bệ hạ thấy hư không chăng?
– Thấy.
– Hư không có nhìn bệ hạ không?
Vua Túc Tông hỏi:
– Thầy được pháp gì?
Sư đáp:
– Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng?
– Thấy.
– Nó do đóng đinh mắc, hay cột dây mắc?
Vua Túc Tông hỏi: Thầy được pháp gì? Vua thấy ngài nói năng lanh lợi thông thạo nên hỏi ngài đã được pháp gì. Ngài không nói, đúng ra thì diễn tả thêm chút nữa mới rõ, ngài nắm tay nhà vua kéo ra ngoài trời chỉ: Bệ hạ thấy một mảnh mây trong hư không chăng? Vua nói: Thấy. Ngài hỏi: Nó do đóng đinh mắc, hay cột dây mắc? Mây ở trong hư không là do đóng đinh hay do cột dây? Hình ảnh ấy đủ trả lời câu hỏi của nhà vua, nhưng người thường đọc qua không hiểu nổi.
Thường chúng ta quan niệm tu là được cái này cái kia. Có được mất là do cột trói, vì thế tu không được tự tại. Tự tại là vô sở đắc, như mây tự tại đến đi trong hư không vì không bị cột, không bị đóng đinh. Người tu giải thoát là không bị cột ở một địa vị, một chỗ nơi; còn thấy có địa vị, chỗ nơi tức là còn bị cột trói. Như mây không đóng đinh, không cột dây, đừng tưởng là mây phải rớt xuống đất, mây vẫn bay khắp cả bầu trời, đến đi tự do. Đó chính là cái đặc biệt của người tu giải thoát. Nếu mở miệng ra nói mình tu được gì chứng được gì, đều là những cái muốn đóng đinh, muốn cột dây cho mây mắc hư không. Vì thế Quốc sư hỏi nhà vua: mây kia có bị cột không?
– Thế nào là mười thân của Phật?
Sư đứng dậy hỏi:
– Hội chăng?
– Chẳng hội.
– Đem tịnh bình qua cho lão tăng.
– Thế nào là Vô tránh tam-muội?
– Đàn-việt đạp trên đảnh Tỳ-lô mà đi.
– Ý này thế nào?
– Chẳng nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình.
Vua lại hỏi Sư. Sư đều không nhìn vua. Vua bảo:
– Trẫm là thiên tử nước Đại Đường, tại sao Thầy không nhìn đến?
Sư đáp:
– Bệ hạ thấy hư không chăng?
– Thấy.
– Hư không có nhìn bệ hạ không?
Vua hỏi: Thế nào là mười thân Phật? Mười thân Phật đây là dẫn trong kinh Hoa Nghiêm. Thường các kinh nói tam thân Phật, nhưng kinh Hoa Nghiêm luôn luôn dùng số mười. Số mười là gốc nên các kinh khác nói lục độ, kinh Hoa Nghiêm nói thập độ, các kinh khác nói tam thân, kinh Hoa Nghiêm nói thập thân. Thập thân của Phật là chỉ cho sự viên mãn của chư Phật, thân viên mãn đó là pháp thân.
Khi hỏi mười thân Phật, ngài đứng dậy hỏi: Hội không? Vua đáp: Chẳng hội. Ngài bảo: Đem tịnh bình qua cho lão tăng. Như vậy thấy mười thân Phật chưa? Đó là chỗ làm thinh đứng dậy, rồi bảo đem tịnh bình qua. Những hành động này tôi gọi là bí mật, không thấy thì cho bí mật luôn.
Vua hỏi câu khác: Thế nào là Vô tránh tam-muội? Vô tránh tam-muội tức là chánh định không xao động, không còn đối đãi. Vô tránh tam-muội cũng là ý nghĩa pháp thân. Ngài liền đáp: Đàn-việt đạp trên đảnh Tỳ-lô mà đi. Ai thấy chỗ này, sao dám đạp trên đảnh Tỳ-lô? Chánh định là không còn xao động, vừa khởi niệm đã quên pháp thân, như vừa có một gợn mây đã làm người ta quên mất bầu trời trong. Vua khởi hỏi là quên pháp thân, là vượt qua đảnh Tỳ-lô, nên nói Đàn-việt đạp trên đảnh Tỳ-lô.
Vua không hiểu: Ý này thế nào? Ngài nói: Chẳng nhận pháp thân thanh tịnh của chính mình. Vua hỏi năm ba câu nữa, hỏi hoài ngài nói mà không nhìn mặt, nhà vua bảo: Trẫm là thiên tử nước Đại Đường, tại sao Thầy không nhìn đến? Ngài nói: Bệ hạ thấy hư không chăng? Thấy. Hư không có nhìn bệ hạ không? Trong đây cũng đều khắp như hư không, bảo nhìn một chỗ mà chi? Nó trùm khắp rồi có lúc nào bỏ bệ hạ đâu. Lối đối đáp của ngài thật là hay.
Ngư Quân Dung hỏi:
– Thầy ở núi Bạch Nhai trong mười hai thời tu thế nào?
Sư gọi một đứa trẻ đến, vò đầu nó, bảo:
– Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh. Rõ ràng hẳn vậy rõ ràng. Về sau chớ để người gạt.
Ngư Quân Dung hỏi: Thầy ở núi Bạch Nhai trong mười hai thời tu thế nào? Ngài ở trên cốc Đảng Tử tại núi Bạch Nhai bốn mươi mấy năm, mười hai giờ ngài tu thế nào? Ngài liền gọi một đứa bé tới, vò đầu nó, nói: Tỉnh tỉnh hẳn vậy tỉnh tỉnh. Rõ ràng hẳn vậy rõ ràng. Về sau chớ để người gạt. Cách trả lời này hay đáo để! Ngài không cần nói trực tiếp với người hỏi, chỉ vò đầu đứa bé nói như thế là quá đủ rồi!
Sau này chúng ta sẽ học Thiền Tông Vĩnh Gia Tập của ngài Huyền Giác, trong đó có một câu, tôi cho là chuẩn mực, là công thức duy nhất của người tu thiền: “Tỉnh tỉnh lặng lặng phải, vô ký lặng lặng sai. Lặng lặng tỉnh tỉnh phải, loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.” Nghĩa là tỉnh tỉnh lặng lặng phải, hôn trầm lặng lặng sai, vì hôn trầm lặng lặng nửa mê nửa thức, tuy như không có vọng nghĩ gì mà gục lên gục xuống thì đúng hay sai? Đó là sai! Lặng lặng, tỉnh tỉnh phải, loạn tưởng tỉnh tỉnh sai, tuy tỉnh mà cứ nghĩ lăng xăng, đó là tỉnh loạn động. Ở đây ngài vò đầu đứa bé mà nói, vì đứa bé bốn năm tuổi tâm không phân biệt thiện ác phải quấy. Phải luôn luôn tỉnh tỉnh rõ ràng, chớ bị người gạt. Nghĩa là tỉnh mãi mãi, nếu bây giờ tỉnh lát nữa quên đó là bị gạt, tức là mê. Nói gọn rằng: Tôi ở trên núi Bạch Nhai hơn bốn mươi năm, suốt mười hai giờ, chỉ tỉnh táo rõ ràng không mê. Đó là chủ yếu của sự tu hành.
Chúng ta tu thiền chủ yếu phải tỉnh mà lặng, như vậy là phải. Nếu tỉnh mà tán loạn thì sai, lặng mà hôn trầm thì không đúng. Hiểu như vậy thì chúng ta dụng tâm không sai, nếu không thì dễ lầm.
Một hôm, Sư hỏi quan Cung phụng Tử Lân:
– Phật là nghĩa gì?
– Là nghĩa giác.
– Phật từng mê chăng?
– Chẳng từng mê.
– Dùng giác làm gì?
Cung phụng không thể đáp được, hỏi lại Sư:
– Thế nào là thật tướng?
– Đem hư không lại!
– Hư không đâu thể đem được!
– Hư không còn không thể đem được, hỏi thật tướng làm gì?
Chúng ta quen ý nghĩa Phật là giác. Đã là Phật thì không mê, như vậy dùng giác làm gì? Sở dĩ giác là đối với mê, Phật không từng mê thì nói giác làm chi cho dư! Như hỏi bây giờ ông ngủ hay thức? Trả lời thức. Ông có ngủ không? Không ngủ. Không ngủ nói thức làm gì? Như thế chúng ta học là mắc kẹt trên chữ nghĩa, trên đối đãi nên không thấy được lẽ thật.
Cung phụng hỏi:
– Thế nào là thật tướng?
– Đem hư không lại!
– Hư không đâu thể đem được.
– Hư không còn không thể đem được, hỏi thật tướng làm gì?
Lối nói này nghe như đùa mà hay đáo để. Ngài không giảng, chỉ nói cụ thể. Theo kinh Bát-nhã, thật tướng là vô tướng. Ngài không cần nói, hỏi thật tướng thì bảo đem hư không lại. Hư không có tướng không? Thường người ta nói hư không là tướng không đối đãi với tướng có, nhưng sự thật hư không là vô tướng. Vì vô tướng nên nói hư không không thể đem lại được, đó là bị ngài lừa rồi. Hư không còn không thể đem được thì hỏi thật tướng làm gì? Ông không hiểu ý nói đem hư không lại thì hỏi thật tướng làm gì?
Sư thấy duyên hóa độ sắp mãn, giờ Niết-bàn sắp đến, bèn từ giã vua Đại Tông trở về núi.
Đại Tông hỏi:
– Thầy sau khi diệt độ, đệ tử sẽ làm gì để kỷ niệm?
Sư đáp:
– Bảo đàn-việt tạo một ngôi tháp vô phùng.
– Xin Thầy cho kiểu tháp.
Sư lặng thinh giây lâu hỏi:
– Hội chăng?
– Không hội.
– Bần đạo đi rồi có thị giả hiệu Ứng Chơn sẽ biết việc này.
Ngày mùng chín tháng chạp năm Đại Lịch thứ mười (775), Sư nằm nghiêng bên hữu thị tịch. Đệ tử xây tháp cạnh cốc Đảng Tử thờ Sư. Vua sắc ban hiệu là Đại Chứng thiền sư.
Nhà vua thật thà quá, đã bảo vô phùng, tức là không dựng đắp, sao lại còn xin kiểu tháp? Tháp vô phùng của ngài sau này thành công án trong nhà thiền, các thiền sư thường nhắc tới nhắc lui. Tháp vô phùng có phải là cái tháp hay không? Nó không là cái gì hết, mà cũng là tất cả. Bốn mươi mấy năm ở núi như ngài thật là xứng đáng, chúng ta chạy lao xao hoài nên không có những câu nói xứng đáng như vậy.
Đến khi tịch, ngài trở lại chùa cũ, nằm nghiêng bên hữu tịch, đệ tử xây tháp ở cốc Đảng Tử thờ. Vua phong là Đại Chứng thiền sư.
Sư họ Cao, quê ở Tương Dương. Lúc nhỏ theo thầy học Nho, Sư thông suốt ngũ kinh, hiểu rành Lão Trang, sau nghiên cứu Phật pháp. Sư theo pháp sư Hạo Nguyên ở chùa Quốc Xương tại phủ nhà xuất gia, học thông Kinh Luật.
Năm mười bốn tuổi là Sa-di ở chùa Ngọc Tuyền, Sư tìm đến yết kiến Lục tổ Huệ Năng. Tổ hỏi:
– Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được gốc (bản) theo chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?
Sư thưa:
– Lấy không trụ làm gốc, thấy tức là chủ.
Tổ bảo:
– Sa-di này đâu nên nói lời tùy tiện.
Sư thưa:
– Hòa thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?
Tổ cầm gậy đánh Sư ba gậy, hỏi:
– Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?
– Cũng đau cũng chẳng đau.
– Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.
– Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?
– Chỗ ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là cũng thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi đau thì đồng với phàm phu, ắt khởi tâm giận hờn. Trước ngươi nói thấy chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sanh diệt. Ngươi không thấy tự tánh mà dám cợt với người.
Sư lễ bái sám hối. Tổ bảo:
– Nếu ngươi tâm mê không thấy nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tánh, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi được. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết tự thấy, lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?
Sư lễ bái hơn trăm lạy cầu xin sám hối.
Từ đây, Sư ở lại hầu hạ Tổ không lúc nào rời.
Một hôm Tổ bảo đại chúng:
– Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?
Sư bước ra thưa:
– Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tánh của Thần Hội.
Tổ bảo:
– Đã nói với các ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên, Phật tánh. Ngươi về sau có chỗ trụ cũng chỉ thành tông đồ của hàng trị giải.
Sư lễ bái lui ra.
Phần ngài Thần Hội đoạn trước đã giảng trong Pháp Bảo Đàn, để khỏi mất thời giờ nên không giảng lại.
Có sáu điều nghi trong tạng Kinh, Sư đem ra hỏi Lục Tổ:
– Giới định tuệ dùng như thế nào? Giới vật gì? Định từ chỗ nào tu? Tuệ nhân chỗ nào khởi? Chỗ thấy của con chưa thông suốt.
Tổ đáp:
– Định là định tâm kia, đem giới để giới hạnh kia, trong tánh thường có tuệ chiếu, tự thấy tự biết sâu.
– Xưa không nay có, có vật gì? Xưa có nay không, không vật gì? Tụng kinh chẳng thấy nghĩa có không, thật giống người cưỡi lừa lại tìm lừa.
– Niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có, niệm niệm thường làm hạnh lành, đời sau sanh trời người chẳng khó. Ngươi nay chính nghe ta nói, ta tức xưa không nay có
– Đem sanh dẹp diệt, đem diệt dẹp sanh, không rõ nghĩa sanh diệt, chỗ thấy in mù điếc?
– Đem sanh dẹp diệt, khiến người không chấp tánh. Đem diệt dẹp sanh, khiến người tâm lìa cảnh. Nếu lìa được hai bên, tự trừ bệnh sanh diệt.
– Trước đốn mà sau tiệm, trước tiệm mà sau đốn, người không ngộ đốn tiệm, trong tâm thường mê muộn?
– Nghe pháp trong đốn mà tiệm, ngộ pháp trong tiệm mà đốn, tu hành trong đốn mà tiệm, chứng quả trong tiệm mà đốn. Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muộn.
– Trước định sau tuệ, trước tuệ sau định, định tuệ cái nào sanh trước cái nào sanh sau là đúng?
– Thường sanh tâm thanh tịnh, trong định mà có tuệ, ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định, định tuệ không trước sau, tu cả hai tự tâm chánh.
– Trước Phật sau pháp, trước pháp sau Phật, nguồn gốc Phật pháp từ đâu khởi?
– Nói tức trước Phật sau pháp, nghe tức trước pháp sau Phật. Nếu luận nguồn gốc Phật pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh.
Có sáu điều nghi trong tạng Kinh, Sư đem ra hỏi Lục Tổ.
Đến đoạn kế ngài đọc trong tạng Kinh, thấy có sáu điều nghi, đem trình lên Lục Tổ để giải nghi.
– Giới định tuệ dùng như thế nào? Giới là giới vật gì? Định từ chỗ nào tu? Tuệ nhân chỗ nào khởi? Chỗ thấy của con chưa thông suốt.
Tổ đáp: Định là định tâm kia. Định là định tâm của chính mình, đem giới để giới hạnh kia, giới là giữ hạnh của mình, định là giữ tâm của mình, trong tánh thường có tuệ chiếu, tự thấy tự biết sâu. Tuệ là trí tuệ của tự tánh phát khởi, tự mình chiếu tự mình thấy, không phải từ ở ngoài mà có. Lục Tổ dạy giới định tuệ rõ ràng. Giới là ngừa tất cả những hạnh sai lầm. Định là giữ cho tâm an định. Tuệ là trong tự tánh thường có trí tuệ chiếu soi.
– Xưa không nay có, có vật gì? Xưa có nay không, không vật gì? Tụng kinh chẳng thấy nghĩa có không, thật giống người cưỡi lừa lại tìm lừa.
– Niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có, niệm niệm thường làm hạnh lành, đời sau sanh trời người chẳng khó. Ngươi nay chính nghe ta nói, ta tức xưa không nay có.
Hỏi thêm: Xưa không nay có, có vật gì? Xưa có nay không, không vật gì? Nghe trong kinh nói xưa không nay có, vậy có là có cái gì? Kinh cũng nói xưa có nay không, vậy không là không cái gì? Tụng kinh chẳng thấy nghĩa có không, thật giống người cưỡi lừa lại tìm lừa.
Lục Tổ đáp: Niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có. Tại sao niệm trước nghiệp ác xưa không? Lục Tổ dạy thể tánh nghiệp ác là không, do tâm niệm dấy khởi nên trước không mà nay có. Niệm sau thiện sanh nay có, nghĩa là niệm thiện cũng vậy, trước không có nay dấy động mới có.
Ngài nói theo thể văn kệ nên bảo là niệm trước nghiệp ác xưa không, niệm sau thiện sanh nay có. Thật ra niệm thiện, niệm ác thể nó tự không, nên gọi là trước không, do dấy niệm phát sanh nên nay có. Điều này dễ hiểu, khi chưa khởi nghĩ làm lành có niệm thiện không? Khi chưa khởi nghĩ làm ác có niệm ác không? Nói về chỗ khởi niệm tường tận để thấy rõ bản chất của niệm, dù thiện hay ác đều không thật.
Niệm niệm thường làm hạnh lành, tuy chúng không thật nhưng luôn luôn dấy niệm làm những hạnh lành, thì đời sau sanh người trời chẳng khó.
Ngươi nay chính nghe ta nói, ta tức xưa không nay có. Như ngươi đang nghe ta nói pháp ở đây thì chính ta xưa không mà nay có.
Như thế Tổ muốn chỉ cái gì? Đây có hai mặt: Thứ nhất nói về vọng tâm thiện hay ác vốn xưa không, nay khởi lên mới có. Thứ hai nói về vọng thân của ngài trước không có, nay duyên hợp mới có, thân và tâm này trước không nay có, trước không là chỉ thể tánh không, nay có là duyên hợp giả có. Ý Lục Tổ chỉ thẳng thân và tâm chúng ta hiện giờ đều là thể tánh không, duyên hợp giả có, để giải thích thắc mắc trước không nay có.
– Đem sanh dẹp diệt, đem diệt dẹp sanh, không rõ nghĩa sanh diệt, chỗ thấy in mù điếc?
– Đem sanh dẹp diệt, khiến người không chấp tánh. Đem diệt dẹp sanh, khiến người tâm lìa cảnh. Nếu lìa được hai bên, tự trừ bệnh sanh diệt.
Câu đáp của Tổ rất hay và thấu đáo. Vì sao nói đem sanh dẹp diệt? Lục Tổ trả lời, nói như vậy khiến người đừng chấp tánh. Như có người nghe kinh nói tự tánh mình vốn lặng lẽ rỗng không, liền chấp lặng lẽ rỗng không là tâm mình. Đó là chấp cái diệt. Vì thế Phật nói: “Các pháp tùy duyên sanh diệt”, nghĩa là nếu cho lặng lẽ rỗng không là một bề diệt hết thì không đúng. Các pháp theo duyên có sanh có diệt, vì thế Tổ dạy lấy pháp có sanh có diệt để phá chấp tánh diệt của các pháp, nên nói khiến người không chấp tánh.
Đem diệt dẹp sanh, khiến người tâm lìa cảnh. Nghĩa là đem lý không để trừ bỏ lối chấp các pháp có thật sanh. Như nói, cái bàn tự tánh không, nhà tự tánh không, mọi sự mọi vật tự tánh không, không tức là lặng lẽ, lặng lẽ tức là diệt. Như vậy khi nói các pháp tự tánh không, đó là đem diệt dẹp sanh, vì người ta cho rằng các sự vật hiện có là thật, thân thật, cảnh thật… Kinh nói tự tánh các pháp không thật, để khiến tâm lìa cảnh, thấy sự vật hiện có sanh đây đều hư giả, hư giả thì chấp làm gì. Đó là khiến họ tự tâm lìa chấp cảnh, không còn dính vào cảnh.
Kinh thiết lập phương tiện để phá chấp, nếu lìa được hai bên sanh diệt, không còn mắc kẹt thì tự trừ được bệnh sanh diệt. Hiểu rõ lời Phật nói vì cốt phá chấp cho chúng sanh, nếu chúng sanh không còn mắc kẹt trong chấp sanh diệt thì Phật cũng không nói sanh hay diệt. Đó là giải thoát.
– Trước đốn mà sau tiệm, trước tiệm mà sau đến, người không ngộ đốn tiệm, trong tâm thường mê muộn?
– Nghe pháp trong đốn mà tiệm, ngộ pháp trong tiệm mà đốn, tu hành trong đốn mà tiệm, chứng quả trong tiệm mà đốn. Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muộn.
Thần Hội hỏi về đốn tiệm: Trước đốn mà sau tiệm, trước tiệm mà sau đốn, người không ngộ đốn tiệm, trong tâm thường mê muộn. Tại sao trong kinh nói đốn tiệm có trước sau? Nếu không hiểu lý đốn tiệm, tâm luôn luôn mê muộn.
Lục Tổ đáp: Nghe pháp trong đốn mà tiệm. Tại sao? Như tôi giảng những lời hay của Tổ sư, nghe rồi chừng bao lâu mới hiểu? Nghe nói qua rồi ngộ cười liền, tức là đốn không cần năm phút mười phút, hai chục phút sau mới hiểu. Đó là nghe pháp tức trong đốn mà tiệm.
Ngộ pháp trong tiệm mà đốn, tuy nghe pháp hiểu liền nhưng muốn ứng dụng chỗ ngộ hiểu thì bao lâu? Phải hằng tu tập năm mười năm mới được. Nghe thì hiểu liền là đốn, còn ngộ pháp rồi phải tiệm tu cho đến ngày đốn ngộ chừng trong một phút giây. Như đức Phật Thích-ca ngồi dưới cội bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm, không phải mỗi ngày ngộ dần dà, mà đến ngày cuối bừng ngộ chỉ trong khoảnh khắc đầy đủ.
Tu hành trong đốn mà tiệm, tu hành tức là y theo pháp đốn mà tu nhưng muốn tiến thì cũng phải dần dần tiến. Chứng quả trong tiệm mà đốn, trước khi ngộ lý chứng quả vị thì giống như trái còn xanh, dần dà đến lúc chín chừng khoảnh khắc. Đốn tiệm là nhân thường, trong ngộ không mê muộn, người ngộ rồi thì không còn mê muộn, không còn nghi ngờ, thấy rất rõ ràng.
– Trước định sau tuệ trước tuệ sau định, định tuệ cái nào sanh trước cái nào sanh sau là đúng?
– Thường sanh tâm thanh tịnh, trong định mà có tuệ, ở trên cảnh mà không tâm, trong tuệ mà có định, định tuệ không trước sau, tu cả hai tự tâm chánh.
Thần Hội hỏi: Trước định sau tuệ, trước tuệ sau định, định tuệ cái nào sanh trước, cái nào sanh sau là đúng? Nghe trong kinh nói do giữ giới sanh định, định rồi phát tuệ, đó là trước định sau tuệ. Lại có khi nói do tuệ rồi sau mới định, tức là dùng trí Bát-nhã quán là tuệ, do quán rồi tâm được dừng lặng là định. Như thế trước định sau tuệ hay trước tuệ sau định, cái nào đúng?
Tổ dạy: Thường sanh tâm thanh tịnh, trong định mà có tuệ, tâm thanh tịnh tức là định, do thanh tịnh nên sáng suốt, đó là trong định mà có tuệ. Ở trên cảnh không tâm, trong tuệ mà có định, nhìn thấy sự vật biết tự tánh nó là không đó là tuệ, biết rồi không chạy theo đó là định. Định tuệ không trước sau, tu cả hai tự tâm chánh, định và tuệ đồng nhau không có trước sau, cần tu cả hai đồng thời. Tôi nói rõ hơn, nếu khi tâm chúng ta thật yên thật thanh tịnh, khi đó có sức sáng ngầm ở trong. Tâm thanh tịnh gọi là định, có sức sáng chiếu gọi là tuệ, định và tuệ đồng thời có mặt. Khi chúng ta đối cảnh thấy sự vật, biết nó tự tánh là không đó là tuệ, biết tự tánh không thì tâm không chạy theo là định. Định và tuệ không rời nhau, nên không nói thời gian trước sau mà biết hai cái liên hệ đồng thời.
– Trước Phật sau pháp, trước pháp sau Phật, nguồn gốc Phật pháp từ đâu khởi?
– Nói tức trước Phật sau pháp, nghe tức trước pháp sau Phật. Nếu luận nguồn gốc Phật pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh.
Kinh A-hàm luôn luôn nói Phật có trước pháp. Phật thành Phật rồi thuyết pháp bốn mươi chín năm gom lại thành ba tạng kinh, như vậy trước có Phật rồi sau mới có pháp. Ngược lại, kinh Kim Cang nói pháp này là mẹ sanh ra chư Phật, đó là pháp trước Phật sau. Những điều nghi như thế.
Tổ dạy: Nói tức trước Phật sau pháp, nghe tức trước pháp sau Phật. Ngài giảng thực tế vô cùng, đối với pháp được nói thì trước Phật sau pháp, vì do có Phật mới nói pháp. Đối với pháp được nghe, được ngộ thì pháp trước Phật sau. Nghĩa là đứng về mặt nghe, mặt tự chứng thì pháp trước Phật sau, vì nếu không có pháp trước thì làm sao ngài thành Phật?
Nếu luận nguồn gốc Phật pháp, xuất phát trong tâm tất cả chúng sanh. Nguồn gốc Phật pháp đều gốc từ tâm chúng ta không phải từ đâu mà có. Lục Tổ giải thích những nghi ngờ trong kinh rất rõ ràng.
Lục Tổ biết sắp đến ngày quy tịch nên họp chúng lại bảo:
– Ta đến tháng tám sắp lìa thế gian, các ngươi có nghi phải ra hỏi sớm, ta sẽ vì các ngươi giải nghi, khiến các ngươi hết mê lầm, sau khi ta đi rồi không có người dạy các ngươi.
Toàn hội chúng đều khóc dầm dề, chỉ có Sư thần tình chẳng động, cũng không ứa nước mắt.
Tổ bảo:
– Thần Hội tiểu sư lại được thiện ác khen chê vui buồn đều chẳng động, các ngươi chẳng bằng.
Sau Sư đi đến Tây Kinh thọ giới Cụ túc.
Niên hiệu Khai Nguyên năm thứ tám (720), vua Đường Huyền Tông thỉnh Sư về chùa Long Hưng ở tại Nam Dương, lại đến Lạc Dương. Ở đây, Sư đã thắp sáng ngọn đuốc Thiền tông đốn ngộ của Lục Tổ. Trước kia, hai kinh đô này chỉ dùng pháp thiền tiệm tu của ngài Thần Tú, đến nay mới nhận rõ đến tiệm hai tông. Vì thế, phái thiền Thần Tú trước thạnh, từ đây suy dần.
Khoảng niên hiệu Thiên Bảo (742-756), ngự sử Lư Dịch a tùng cùng môn đồ Thần Tú tâu dối với vua rằng: “Sư nhóm họp đồ chúng manh tâm làm phản.” Vua Huyền Tông mời Sư về kinh đô để tham vấn. Ra mắt vua, Sư giãi bày hợp lý, vua rất hài lòng. Vua mời Sư dời về ở Quân bộ. Sau vua ra sắc lệnh đày Sư đến ở viện Bát-nhã chùa Khai Nguyên tại Kinh Châu.
Sau vua Túc Tông xuống chiếu thỉnh Sư vào cung cúng dường và lập ngôi chùa Hà Trạch thỉnh Sư trụ trì ở đó. Nơi đây, Sư hiển phát tông phong của Lục Tổ, đồ chúng tham học rất đông.
Ngài Thần Hội là một vị thiền sư mà nhiều truyền thuyết xem như vị Tổ thứ bảy kế thế Lục Tổ. Về phần tông môn lưu truyền thì không được như vậy, vì dòng mạch của ngài mất sớm, thua ngài Hành Tư và ngài Hoài Nhượng. Tuy về sau ngài ít được nhắc đến nhưng đương thời ngài rất nổi tiếng, vì ngài về kinh đô xiển dương lý thiền đốn ngộ được vua chúa thời đó trọng nể, còn hai vị kia về núi, lúc đó vua chúa ít biết. Đây cũng là việc để chúng ta nghiệm đời tu của mình. Ở kinh đô thì nổi tiếng nhưng dòng giống không bền, còn ở núi thì ít ai biết nhưng mà dòng giống được lâu dài.
Khi ngài về kinh đô Lạc Dương truyền bá Thiền đốn ngộ, lúc đó phái của ngài Thần Tú bị lu mờ. Ngự sử Lư Dịch cùng môn đồ của ngài Thần Tú a tùng với nhau dối tâu lên vua Huyền Tông, rằng ngài nhóm họp đồ chúng muốn làm phản. Vua cho đòi ngài vào triều, ngài đối đáp rất hợp lý, vua bằng lòng nhưng cũng còn nghi, nên dời ngài về ở Quân bộ. Quân bộ tức là khu vực quân sự, cũng như để giữ chân ngài. Sau thấy ở gần đó cũng chưa ổn bèn sắc đày ngài qua ở viện Bát-nhã chùa Khai Nguyên tại Kinh Châu, tức là đày tuốt ra ngoài biên giới không cho ở gần, đó là đời vua Huyền Tông.
Sau này đến đời vua Túc Tông xét ngài cũng là người trung thành với đất nước và là người tu hành rất cao sâu, bèn xuống chiếu thỉnh ngài về kinh, lập ngôi chùa Hà Trạch mời ở đó. Tại đây, ngài thong dong giảng dạy lý thiền. Chùa Hà Trạch là nơi danh tiếng nhất trong sự truyền bá của ngài. Sau này mọi người không dám gọi tên ngài mà gọi là thiền sư Hà Trạch.
Sư dạy chúng:
-Phàm người học đạo phải đạt tột nguồn gốc của mình, hàng Tứ quả Tam hiền đều gọi là điều phục, Bích-chi La-hán chưa dứt hoài nghi, Đẳng giác Diệu giác liễu đạt tường tận. Giác có cạn sâu, giáo có đốn tiệm. Tiệm giáo trải kiếp a-tăng-kỳ vẫn còn luân hồi, đốn giáo chỉ khoảng co duỗi cánh tay liền lên Diệu giác. Nếu trước không hạt giống đạo, luống học biết nhiều. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình. Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí. Không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây. Pháp tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau. Nếu biết vô niệm là tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh chóng mở kho báu. Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt.
Ngày xưa ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay. Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi. Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, tự tánh như không, xưa nay không tướng. Đã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn. Trời đất không thể đổi thể kia. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như. Xa lìa suy tính, trí đồng pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm. Đã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý, hoàn toàn không sở đắc. Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!
Sư dạy chúng:
– Phàm người học đạo phải đạt tột nguồn gốc của mình, hàng Tứ quả Tam hiền đều gọi là điều phục, Bích-chi La-hán chưa dứt hoài nghi, Đẳng giác Diệu giác liễu đạt tường tận. Giác có cạn sâu, giáo có đốn tiệm. Tiệm giáo trải kiếp a-tăng-kỳ vẫn còn luân hồi, đến giáo chỉ khoảng co duỗi cánh tay liền lên Diệu giác.
Ngài có vẻ đề cao đốn giáo, về tiệm giáo thì trong số kiếp tăng-kỳ vẫn còn luân hồi. Tại sao? Vì tu ba a-tăng-kỳ mới thành Phật, nếu tu được hai a-tăng-kỳ cũng còn luân hồi. Đốn giáo thì phát tâm là Phật, ngay nơi tâm mà bỏ mê thành giác thì ngay đời này thành chánh giác. Đến tiệm khác nhau chỗ đó.
Nếu trước không hạt giống đạo, luống học biết nhiều. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình. Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí. Không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây. Pháp tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau. Nếu biết vô niệm là tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh chóng mở kho báu. Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt.
Nếu trước không hạt giống đạo, luống học biết nhiều, người chưa có hạt giống đạo dầu có học biết nhiều cũng là luống uổng, học suông thôi. Tất cả tại tâm, tà chánh do mình. Không nghĩ một vật tức là tâm mình, không phải chỗ biết của trí. Câu này ngài chỉ thẳng, không nghĩ một vật tức là tâm mình, tức là không duyên theo một vật nào, chính lúc đó là ai? Dùng trí mà suy xét không biết được. Không có hạnh nào riêng để ngộ vào đây, không có hạnh nào riêng, chỉ dứt tâm chạy theo cảnh thì vào được. Pháp tam-ma-đề chân thật không có đi đến, dứt mé trước sau, tức là vượt qua thời gian, không gian.
Nếu biết vô niệm là tối thượng thừa, rộng suốt trời xanh, chóng mở kho báu. Người nào biết vô niệm thì người đó thấu hiểu được lý Tối thượng thừa, là người mở được kho báu trùm khắp bầu trời. Tâm chẳng phải sanh diệt, tánh bặt đổi dời, tâm tánh chính là cái không sanh không diệt, chẳng đổi chẳng dời. Tự tịnh thì niệm cảnh không sanh, vô tác thì vin theo tự dứt. Người nào tự lặng lẽ thì niệm không chạy theo cảnh, nên gọi là niệm cảnh không sanh. Người nào vô tác, tức là không khởi tâm tạo tác, lúc đó không còn những cái vin theo nữa.
Ngày xưa ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay. Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi. Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, tự tánh như không, xưa nay không tướng. Đã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn. Trời đất không thể đổi thể kia. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như. Xa lìa suy tính, trí đồng pháp tánh. Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm. Đã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý, hoàn toàn không sở đắc. Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!
Ngày xưa, ta đẩy chiếc xe bất thối, nay được định tuệ song tu, như bàn tay với cánh tay. Thấy thể vô niệm chẳng theo vật mà sanh, ngài hằng sống với thể vô niệm, không chạy theo vật mà sanh vọng tưởng. Thường liễu ngộ Như Lai thì còn chỗ nào mà khởi, khi nhận được thể vô niệm, biết đó là pháp thân chân thật của chính mình thì không còn chạy theo vọng.
Nay huyễn chất này nguyên là thường chân, ngay trong thân huyễn này thấy được thể tánh thường chân, tự tánh như không, xưa nay không tướng.
Đã đạt lý này thì còn gì sợ, gì buồn. Người đạt được lý đó là hết sợ, hết buồn. Còn sợ, còn buồn thì dù tu rất lâu cũng chưa vào cửa này được. Vào được cửa tự tánh như không thì không có gì sợ hay buồn rầu, sao cũng tốt. Đời huyễn hóa này dùng cái gì cũng được, đến bằng cách nào cũng xong, được vào chỗ này rồi thì hiện tại giải thoát không có gì quan trọng.
Trời đất không thể đổi thể kia, trời đất cũng không thể thay đổi được bản thể đó. Tâm về pháp giới, vạn tượng nhất như, tâm mình lặng lẽ đồng pháp giới, khi đó đối với vạn tượng là nhất như, không có gì là ngoài tâm. Xa lìa suy tính, trí đồng pháp tánh, lúc đó không còn tính không còn bàn, trí đồng với pháp tánh tức là đầy tràn tất cả.
Ngàn kinh muôn luận chỉ nói rõ tâm, bao nhiêu kinh luận cốt để nói rõ tâm đó. Đã chẳng lập tâm tức thể hội chân lý, hoàn toàn không sở đắc. Khi biết muôn kinh ngàn luận chỉ để diễn tả tâm, chúng ta nhận được tâm thật của mình, lúc đó cũng không lập tên, mới thật là hội chân lý, hoàn toàn là không sở đắc. Bảo các học chúng không tìm cầu bên ngoài, nếu là tối thượng thừa cần phải vô tác. Trân trọng!
Có người hỏi Sư:
– Vô niệm thì pháp có, không chăng?
Sư đáp:
– Chẳng nói có, không.
– Khi ấy thế nào?
– Cũng không khi ấy. Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật.
Chỗ đối đáp này của ngài, tôi cho rằng ngàn đời bất hủ! Có người hỏi ngài: Vô niệm thì pháp có, không chăng? Nghĩa là khi mình vô niệm thì đối với pháp bên ngoài là có hay không? Ngài đáp: Chẳng nói có, không. Nếu vô niệm thì không còn nói có nói không gì cả. Người hỏi: Khi ấy như thế nào? Khi không thấy có không nữa, lúc ấy ra sao? Ngài diễn tả khéo vô cùng: Cũng không khi ấy. Không nói khi ấy là thế nào, ngài nói thêm: Ví như gương sáng nếu không đối hình tượng trọn không thấy hình tượng, nếu thấy không vật mới là thấy gương thật. Câu này rất hay!
Như gương đối trước hình tượng, khi nhìn vào gương thấy hình tượng, khi thấy hình tượng có thấy rõ mặt gương không? Chỉ thấy bóng đồng hồ, bóng cái bàn, bóng cảnh vật ngoài kia phản chiếu mà không thấy mặt gương. Khi không còn thấy bóng hình tượng trong gương, lúc đó mới thấy đầy đủ mặt gương. Mặt gương thật dụ cho tâm thể không vướng bận có không, trong sáng lặng lẽ. Khi dấy niệm có không, là dụ như đối hình tượng quên mặt gương. Chính chỗ này chúng ta nhớ lại tâm mình, khi không duyên theo bóng dáng sáu trần lúc đó mới thật là tâm thanh tịnh. Vừa dấy niệm chạy theo bóng dáng sáu trần thì không còn thấy tâm thể thanh tịnh. Chạy theo niệm cũng như mặt gương phản chiếu nhiều bóng bên ngoài, lúc đó không còn thấy mặt gương trong. Vì vậy bảo phải vô niệm, vô niệm rồi mới thấy được tâm, cũng như không có bóng mới thấy rõ mặt gương.
Ví dụ này minh chứng đầy đủ để chúng ta biết được pháp tu, biết rõ chủ trương vô niệm của chư tổ. Hiểu được chỗ này, chúng ta biết tâm mình lúc nào theo bóng, lúc nào thấy gương, biết rõ ràng không còn nghi ngờ. Vì thế với câu hỏi Khi ấy thế nào? Khi ấy tức là khi tâm không còn mắc kẹt có không thì thế nào? Ngài trả lời cũng không khi ấy, nghĩa là không nói lúc đó thế nào, chỉ biết rõ rằng như gương đối hình vật thì thấy có bóng hình vật, không có bóng hình vật thì thấy rõ mặt gương, vậy thôi. Đây là câu trả lời thấu đáo.
Đời Đường niên hiệu Thượng Nguyên năm đầu (760), tháng năm đêm mười ba, Sư từ biệt đại chúng, đến nửa đêm thị tịch, thọ chín mươi ba tuổi. Vua sắc ban hiệu là Chơn Tông đại sư, tháp hiệu Bát-nhã. Sư có trước tác tập Hiển Tông Ký, hiện giờ còn lưu hành.
Vào tháng năm, đêm mười ba, ngài từ biệt đại chúng, đến nửa đêm thị tịch, thọ chín mươi ba tuổi. Ông già này sống lâu dữ! Đây là theo Cao Tăng Truyện, còn Truyền Đăng Lục thì ngài thọ bảy mươi lăm tuổi, tức sanh năm 686.
Vua sắc phong là Chơn Tông đại sư. Ngài có trước tác tập Hiển Tông Ký. Tác phẩm này tôi còn nghi, vì tìm trong tạng thấy có ghi Hiển Tông Ký nhưng chỉ là bài tụng, tương tự như Tín Tâm Minh, không phải một tập sách. Nếu sau có tìm ra tập này thì bổ sung cho đầy đủ.