Nội dung:
Sư họ Cơ quê ở Võ Lao, dòng tôn thất nhà Chu. Cha mẹ Sư lớn tuổi không con, lắm phen đến chùa cầu con, sau mẹ có thai sanh ra Sư. Khi Sư lọt lòng mẹ, có hào quang lạ chiếu sáng trong nhà, nên đặt tên Sư là Quang.
Thuở bé, Sư học hết sách đời, rất thông Lão Trang. Năm ba mươi tuổi, Sư tự cảm than: “Lão Dịch là sách thế gian chẳng tột được đạo lý.” Sư bắt đầu xem kinh Phật.
Sư viễn du tìm thầy học đạo, đến Lạc Dương lên núi Hương Sơn chùa Long Môn gặp thiền sư Bảo Tịnh bèn xin xuất gia. Sau đó, Sư đến chùa Vĩnh Mục thọ giới ở tại Phù Du giảng tứ. Sư chuyên học Kinh Luận, chưa bao lâu thảy được tinh thông.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma là Sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa, đệ nhị tổ là Huệ Khả. Nhưng nếu xét kỹ thì tổ Huệ Khả là vị tổ đầu tiên của Trung Hoa. Vì tổ Bồ-đề-đạt-ma là người Ân, tổ Huệ Khả là người Hoa. Đây là một cuộc chuyển tiếp giữa thiền tông Ấn Độ và thiền tông Trung Hoa. Chúng ta thấy chặng đường này rất thiết yếu, nếu người học đạo nắm vững từ buổi đầu thì về sau dễ hiểu, dễ thông cảm.
Ngài là con cháu dòng tôn thất nhà Chu, thông minh học giỏi, thông suốt đạo thuyết Lão Trang. Nhưng khi thông suốt rồi ngài tự than Lão Dịch là sách thế gian chẳng tột được đạo lý. Hai quyển sách đó là triết học lớn nhất của Trung Hoa, nhưng với cái nhìn của ngài thì thuộc về thế gian, chưa nói được lý tột cùng của đạo. Do đó ngài bắt đầu nghiên cứu kinh Phật và tìm thầy học đạo.
Ngài đến Lạc Dương, chùa Long Môn ở núi Hương Sơn, gặp thiền sư Bảo Tịnh thấy khế hợp với căn cơ của mình, cho nên ngài xin xuất gia thọ giới và ở đó tu.
Năm ba mươi hai tuổi, Sư trở về bổn sư nơi Hương Sơn. Ở đây trọn ngày, Sư ngồi thiền quán trên núi. Trải tám năm như thế, một hôm khi Sư đang thiền định, bỗng có vị thần hiện ra thưa:
– Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quả hãy đi về phương Nam.
Hôm sau, trên đầu Sư chợt đau như kim châm không thể chịu được. Sư định đi tìm thuốc trị, chợt nghe trong hư không có tiếng nói: “Đây là đổi xương, chẳng phải bệnh thường.” Sư đem việc này thuật lại thiền sư Bảo Tịnh. Bảo Tịnh ngăn không cho trị thuốc. Sáng hôm sau, Bảo Tịnh xem trên đầu Sư quả thấy đầu xương nổi cao như năm ngọn núi, bảo:
– Lạ thay! Ngươi có tướng tốt này ắt sẽ đắc đạo. Thần lại dạy ngươi sang miền nam, ta nghe đại sĩ Bồ-đề-đạt-ma đến ở chùa Thiếu Lâm, chắc đó là Thầy của ngươi vậy.
Nhân có thần mách bảo, nên bổn sư Bảo Tịnh đổi hiệu Sư là Thần Quang.
Sư tìm đến chùa Thiếu Lâm yết kiến tổ Bồ-đề- đạt-ma và được truyền tâm ấn. Sư ở đây cho đến lúc Tổ quy tịch. Sau đó, Sư sang Bắc Tề hoằng truyền Chánh pháp.
Năm ba mươi hai tuổi ngài trở về Hương Sơn, trọn ngày ngồi thiền quán trên núi trải tám năm như vậy. Chúng ta bây giờ có ai công phu được như ngài? Khi mở khóa dạy thiền ở Chơn Không tôi đặt kỳ hạn tối đa là ba năm, mà thiền sinh chịu không nổi, rớt xuống núi liên miên. Huống nữa là ngài ngày đêm ngồi thiền suốt tám năm trời dài quá, để thấy công phu tu hành của ngài thật là đáng kể. Đây là chỗ kỳ đặc chúng ta phải noi theo.
Một đêm ngài đang ngồi thiền, có vị thần hiện ra thưa: Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quả hãy đi về phương Nam. Tu mà cảm đến các vị long thần hộ pháp ủng hộ hiện ra mách bảo chỗ tìm thầy học đạo. Thật là hiếm có!
Hôm sau ngài chợt bị đau trên đầu như kim châm, định đi tìm thuốc để trị nhưng nghe thần mách bảo nên ngài bạch với thầy Bảo Tịnh, thầy ngăn không cho trị thuốc. Bệnh này tự nó hết, không thể dùng thuốc để trị, nếu trị thuốc thì càng hại thêm. Khi ngài Bảo Tịnh xem lại thì quả nhiên trên đầu của ngài xương nổi cao như năm ngọn núi, đó là sự thay đổi tướng của ngài. Trường hợp này trong nhà thiền gọi là hoán cốt, nghĩa là đổi xương.
Nhân có thần mách bảo nên bổn sư Bảo Tịnh đổi hiệu Sư là Thần Quang. Thầy Bảo Tịnh biết mình không đủ khả năng dạy người học trò này, nên mới bảo đến phương nam tìm tổ Bồ-đề-đạt-ma. Ngài tìm đến chùa Thiếu Lâm diện kiến tổ Bồ-đề-đạt-ma và được Tổ truyền tâm ấn. Ngài ở đây cho tới lúc Tổ quy tịch, mới đi hoằng hóa ở Bắc Tề.
Ngài Huệ Khả là người giỏi về văn chương chữ nghĩa, giỏi về các môn triết học của Trung Hoa thời bấy giờ, nhưng khi nghiên cứu kinh Phật, ngài phát nguyện đi tu. Bởi vì lòng thiết tha cầu giải thoát, ngài không ngại khó khăn cực khổ mà chuyên tâm tu thiền quán trên núi đến tám năm.
Chúng ta thấy chí khí của ngài không phải là người thường. Lúc mới tu hành ngài nỗ lực như vậy, nên có hai sự cảm ứng. Thứ nhất được chư thiên, long thần hộ pháp ủng hộ chỉ đường tìm thầy học đạo. Thứ hai tự mình chuyển thành những tướng lạ. Như vậy tướng lạ là từ tâm chân thành mộ đạo thiết tha mà có. Nếu chúng ta có tướng tốt mà khởi tâm tự đắc ngã mạn thì tướng đó sẽ mất. Cho nên không lo mình có tướng xấu, cũng không mừng mình có tướng tốt, mà phải xem tâm mình xấu hay tốt. Nếu tâm mình xấu thì sửa cho tốt, phát triển những điều tốt ra hành động lời nói đó là gốc. Vậy mà chúng ta không chịu lo ở trong, cứ lo chạy theo những ảo huyền không thật bên ngoài.
Một hôm, Sư gặp một cư sĩ trạc bốn mươi tuổi, chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa:
– Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội.
Sư bảo:
– Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối.
Cư sĩ đứng sững giây lâu thưa:
– Đệ tử tìm tội không thể được.
– Ta đã vì ngươi sám hối rồi. Nhưng, ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng.
– Hiện giờ đệ tử thấy Thầy, đã biết được Tăng. Chẳng biết thế nào là Phật và Pháp?
– Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật pháp không hai, ngươi có biết đó chăng?
– Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa; như tội, tâm cũng vậy, thật Phật pháp không hai.
Sư nghe nói rất hoan hỷ, cho cạo tóc xuất gia, bảo:
– Ngươi là vật báu của ta, nên đặt tên Tăng Xán.
Ngày mười tám tháng ba niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai (535 TL) Tăng Xán được thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước. Từ đó, bệnh của ông lần lần thuyên giảm. Ông theo hầu Thầy được hai năm.
Một hôm ngài gặp vị cư sĩ chừng bốn mươi tuổi, chẳng rõ tên họ đến đảnh lễ thưa: Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội. Có lẽ bệnh ghẻ lở này là bệnh thâm niên chứ không phải sơ sơ. Khi gặp tổ Huệ Khả vị cư sĩ xin ngài sám tội vì nghĩ rằng, không biết do tội nghiệp gì đời trước mà mình bị bệnh ghẻ lở.
Tổ thấy người đó có vẻ đặc biệt, nên bảo: Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối. Cư sĩ nhìn sửng sốt tìm không ra tội, giây lâu thưa: Đệ tử tìm tội không thể được! Tổ đáp: Ta đã vì ngươi sám hối rồi. Nhưng ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng. Chúng ta thấy lối đối đáp này cũng tương tự như sự đối đáp ban đầu giữa ngài và tổ Bồ-đề-đạt-ma. Nhưng chỉ có khác nhau ở chỗ một bên hỏi phương pháp an tâm, còn vị cư sĩ thì hỏi về nghiệp, vì thấy mình mang nhiều chướng bệnh, đinh ninh rằng nghiệp chướng có thật. Bây giờ phải thành tâm sám hối mới hết, nên yêu cầu Tổ dạy phương pháp để sám hối.
Theo tinh thần Phật giáo Đại thừa cho rằng tội từ tâm sanh. Tội từ tâm sanh là do vọng tưởng tạo thành nghiệp. Vọng tưởng là gốc tạo thành nghiệp, mà gốc không thật thì ngọn là nghiệp cũng giả luôn. Tuy nhiên khi người đã tạo nghiệp cứ tưởng nghiệp là thật nên lo sợ. Tâm không thật, nghiệp cũng không thật, biết rõ tất cả pháp đều không thật, vì các pháp từ tâm sanh. Tâm sanh cho nên thành nghiệp tướng, do thấy nghiệp tướng không thật, ngay đó ngài ngộ được lý các pháp như huyễn không thật. Khi nhận được lý đó rồi Tổ dạy thêm: Ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng.
Ngài hỏi: Hiện giờ đệ tử thấy Thầy, đã biết được Tăng, chẳng biết thế nào là Phật và Pháp? Tổ đáp: Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật pháp không hai, ngươi có biết đó chăng? Phật là tánh giác của chúng ta, chỉ cho tâm giác ngộ sáng suốt của chính mình. Pháp là chỉ cho tâm bình đẳng thanh tịnh. Như vậy thanh tịnh sáng suốt không hai, nhưng phương tiện nói là Phật là pháp. Cho nên tổ Huệ Khả nói: Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp.
Khi chúng ta mới vào tụng kinh, trước hết đánh lễ tất cả chư Phật, lễ chánh pháp, lễ chư Bồ-tát chư hiền thánh tăng đó là lễ Tam bảo ở bên ngoài. Tụng kinh xong chúng ta tụng tự quy y Phật pháp tăng. Tự quy y Phật là trở về với tâm Phật sáng suốt của chính mình. Tự quy y Pháp là trở về với tự tánh bình đẳng. Tự quy y Tăng là trở về tâm thanh tịnh hòa hợp. Như vậy là quy y tự tánh Tam bảo, vì Phật pháp tăng không ngoài tâm mình.
Cư sĩ thưa: Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa. Như tội, tâm cũng vậy, thật Phật pháp không hai. Bây giờ ngài mới thấy rõ rằng, tự tánh tội không thật, bởi tội không thật nên nó không ở trong, ở ngoài và chặng giữa. Ngài nhận ra bản tâm chân thật, biết rõ nghiệp không thật nên mới nói câu trên.
Tổ nghe như vậy biết vị cư sĩ đã bước vào cửa, liền hoan hỷ cạo tóc xuất gia và đặt tên là Tăng Xán. Chúng ta thấy một cư sĩ bị bệnh ghẻ lở lù sù tới học đạo, Tổ cho đó là pháp khí, không phải đợi mặt mũi khôi ngô gì hết. Như vậy, pháp khí không phải ở dáng vẻ bên ngoài, mà ở khả năng chứng ngộ và ý chí siêu quần của người đó, mới có thể gánh vác được trách nhiệm lớn.
Ngày mười tám tháng ba niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai, Tăng Xán được thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước. Từ đó, bệnh của ngài lần lần thuyên giảm, theo hầu thầy được hai năm.
Một hôm, sư Huệ Khả gọi ông đến bảo:
– Tổ Bồ-đề-đạt-ma chẳng ngại xa xôi từ Ấn Độ sang, đem Chánh pháp nhãn tạng truyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươi khéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:
Bản lại duyên hữu địa,
Nhân địa chủng hoa sanh.
Bản lai vô hữu chủng,
Hoa điệc bất tằng sanh.
Dịch:
Xưa nay nhân có đất,
Bởi đất giống hoa sanh.
Xưa nay không có giống,
Hoa cũng chẳng từng sanh.
Đọc bài kệ xong Sư lại tiếp:
– Ngươi phải tìm nơi núi sâu ở ẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn.
Tăng Xán thưa:
– Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạy con rành rẽ.
– Đây không phải tự ta nói, mà là lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la, do tổ Đạt-ma thuật lại cho ta nghe: Sau khi Tổ nhập Niết-bàn khoảng một trăm năm mươi năm sẽ có những việc xảy ra như bài kệ này:
Tâm trung tuy kiết ngoại đầu hung,
Xuyên hạ Tăng phòng danh bất trúng.
Vị ngộ độc long sanh Võ tử,
Hốt phùng tiểu thử tịch vô cùng.
Dịch:
Trong tâm tuy kiết bên ngoài hung,
Xuyên đất phòng Tăng tên chẳng trúng.
Vì gặp độc long sanh con Võ,
Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng.
Xét về niên số nhằm đời của ngươi, ngươi cố gắng gìn giữ. Ta cũng có cái nợ ngày trước nay cần phải trả.
Một hôm tổ Huệ Khả gọi Sư đến bảo: Tổ Bồ–đề- đạt-ma chẳng ngại xa xôi từ Ấn Độ sang, đem chánh pháp nhãn tạng truyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươi khéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:
Xưa nay nhân có đất,
Bởi đất giống hoa sanh.
Xưa nay không có giống,
Hoa cũng chẳng từng sanh.
Xưa nay nhân có đất mà các loài hoa sanh ra. Đất đó là chỉ cho cái gì? Là chỉ cho tâm địa, vì xưa nay ai cũng sẵn có bản tâm. Nhân nơi đó mới phát ra bao nhiêu tướng dụng, cho nên nói bởi đất giống hoa sanh. Nhưng xưa nay không có giống, hoa cũng chẳng từng sanh. Tất cả hoa đó đều không thật, mà đã không có giống thật thì hoa cũng không sanh thật.
Trong kinh Viên Giác nói, từ vô minh tới tất cả các pháp đều huyễn hóa, chỉ có tánh Viên giác không tăng không giảm. Tánh Viên Giác dụ cho đất, vô minh và tất cả pháp dụ cho giống hoa. Các giống hoa ấy không rời đất mà có, nhưng các giống hoa không thật có. Vì vậy biết rõ các pháp đều như huyễn, chỉ có tánh Viên giác là chân thật. Cũng vậy, biết tất cả giống hoa đều không thật, chỉ có đất mới thật. Bốn câu kệ này đã chỉ bày rành rẽ cái nào giả, cái nào thật để cho ngài Tăng Xán nhận ra.
Đọc bài kệ xong Tổ nói tiếp: Ngươi phải tìm nơi núi sâu ở ẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn. Tăng Xán thưa: Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạy con rành rẽ. Ngài Huệ Khả dẫn bài kệ huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la:
Trong tâm tuy kiết bên ngoài hung,
Xuyên đất phòng Tăng tên chẳng trúng.
Vì gặp độc long sanh con Võ,
Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng.
Nghĩa là bên trong có người ngộ đạo kế thừa Tổ vị, nhưng hoàn cảnh bên ngoài sẽ có những tai nạn xảy đến, tức là nạn Võ Đế diệt đạo Phật lần thứ nhất. Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng, tức là tới năm Tý mới yên ổn. Xét về niên số nhằm đời của ngài Tăng Xán. Tổ khuyên ngài gắng gìn giữ, vì Tổ cũng có cái nợ ngày trước cần phải trả.
Sư sang xứ Nghiệp Đô tùy nghi giáo hóa thuyết pháp độ sanh ngót ba mươi bốn năm.
Lúc đó, có một văn sĩ nổi tiếng là thần đồng tên Mã Tăng Na. Năm hai mươi mốt tuổi, ông đã giảng được sách Lễ, kinh Dịch tại miền Đông Hải, thính giả đến nghe đông như chợ. Một phen gặp Sư, Tăng Na liền xin xuất gia đầu Phật. Từ đây về sau, ông tay chẳng cầm đến cây viết, bỏ hết sách thế gian, chỉ một y một bát, một tọa cụ, ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ngủ một lần, chuyên tu hạnh đầu-đà.
Lại, có ông cư sĩ Hướng là nhà văn uyên bác chẳng màng đến bả công danh, tánh thích rừng sâu quê vắng, đói ăn lá cây, khát uống nước giếng, làm bạn với nước biếc non xanh, để di dưỡng tinh thần. Nghe Sư hoằng hóa ở Bắc Tề, ông biên thư đến hỏi, thư viết:
Bạch Thầy,
Theo thiển ý của tôi, người đời cảnh tạm, công danh phú quý như lùm mây nổi, lạch biển cồn dâu, đài các phong lưu như hòn bọt nước. Có cái gì là chân thật, đáng để ta quý trọng. Vì bởi bóng do hình mà có, vang theo tiếng mà sanh, đuổi bóng nhọc hình, chẳng biết hình là gốc của bóng, to tiếng để ngăn vang, đâu biết tiếng là cội của vang. Trừ phiền não mà thú hướng Niết-bàn, dụ bỏ hình mà tìm bóng; lìa chúng sanh mà cầu Phật quả, dụ im tiếng mà tìm vang. Cho nên biết, mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác, không tên mà đặt tên, nhân tên mà có thị phi. Không lý mà tạo thành lý, nhân lý mà khởi tranh luận. Huyễn hóa chẳng phải chân thì cái gì phải, cái gì quấy? Hư vọng chẳng thật thì cái gì không, cái gì có? Muốn đem cái biết “được mà không chỗ được, mất mà không chỗ mất” trình với Thầy mà chưa có dịp gặp. Nay thố lộ ý này, mong Thầy từ bi đáp cho.
Tổ trao y bát cho ngài Tăng Xán, coi như là trao hết gánh nặng. Tổ sang xứ Nghiệp Đô, tùy nghi thuyết pháp giáo hóa độ sanh, ngót ba mươi bốn năm rày đây mai đó không có trụ xứ ổn định.
Lúc đó có văn sĩ nổi tiếng thần đồng là Mã Tăng Na. Ông giảng được sách Lễ, kinh Dịch thính giả đến nghe rất đông. Giỏi như vậy rồi nhưng khi gặp Tổ, Tăng Na liền xin xuất gia đầu Phật. Từ đó về sau ông bỏ hết sự nghiệp văn chương của thế gian, chuyên tu hạnh đầu-đà. Thật là ít có! Con người tài hoa mà khi thấy đạo rồi thì buông bỏ mọi việc, chỉ sống đời đơn giản của một tăng sĩ.
Cư sĩ Hướng cũng là một nhà văn uyên bác, chán bả công danh, thích ở chỗ vắng vẻ, làm bạn với nước biếc non xanh. Nghe ngài hoằng hóa ở Bắc Tề, ông biên thư đến hỏi. Nội dung bức thư trình bày rất phù hợp với đạo, những điều ông nói thật thiết tha. Một vị cư sĩ mà hiểu Phật pháp như thế, rất là hiếm có!
Trong thư ông nói cuộc đời giả tạm, chẳng có gì chân thật đáng quý trọng, thế nhưng chúng ta cứ đuổi theo bóng, tìm tiếng vang, không biết vang từ tiếng mà có, không biết bóng từ hình mà ra. Cứ chạy theo bóng chạy tìm vang, vang và bóng là từ tiếng và người mà có. Bỏ tiếng bỏ người để đi tìm bóng tìm vang, đó là đuổi theo ảo ảnh. Cho nên nói tới tu hành thì lo trừ phiền não thú hướng Niết-bàn. Nhưng ngay nơi phiền não tức là Niết-bàn mà chúng ta không biết, bỏ phiền não chạy tìm Niết-bàn giống như bỏ hình tìm bóng. Lìa chúng sanh mà cầu Phật quả, như bỏ tiếng tìm vang. Nhưng Phật đâu rời chúng sanh mà có, bỏ chúng sanh đi cầu Phật thì làm sao mà kiếm cho ra.
Như vậy là để chỉ cho lối tu mà không biết nguồn cội, chỉ biết chạy theo ngọn ngành hư ảo cả ngày, không bao giờ nhận ra mê giác nơi mình, cứ lo chuyện ở bên ngoài cho đó là tu, nên càng tu càng xa với Phật pháp. Cho nên ông nói mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác. Quên là ngu, nhớ là trí không hai không khác. Chúng ta đặt tên ngu, trí rồi từ đó mới có thị phi, thấy người ngu thì chê, người trí thì khen. Ai nói mình ngu thì giận, ai khen mình trí thì mừng, nói tới người trí thì thấy đó là người tốt, nói tới người ngu thì thấy là người xấu. Do đó có phải quấy.
Giả sử có ai chỉ mặt mình nói “chú mày ngu quá!”, có chịu không? Nếu tu kha khá, giữa hội chúng mà nói như vậy thì lúc đó mặt cũng đỏ lên. Nếu giữa hội chúng mà nói: “Chú mày thật là người thông minh trí tuệ!”, nếu mình không cười to lộ liễu, thì mặt mày cũng tươi hẳn lên. Đó là biểu hiện bệnh chấp ngã thông thường của chúng sanh. Thành ra chúng ta đang mắc kẹt ở danh từ, người ta nói mình ngu thì nổi giận, nói mình trí thì vui mừng, chứ không biết mình thật có như vậy hay không. Rõ ràng chúng ta không tìm được lẽ thật, chỉ bị danh từ làm cho mình thấy có phải quấy tốt xấu, nhân đó mà khởi tranh luận. Nếu biết tất cả đều huyễn hóa thì trí ngu hay dở, phải quấy tốt xấu cũng là huyễn hóa, còn gì bận tâm mà tranh luận.
Ông đem cái biết “được mà không chỗ được, mất mà không chỗ mất” để trình lên Tổ mong ngài giải đáp.
Sư đáp thư ông cư sĩ Hướng:
Bị quán lại ý giai như thật,
Chân u chỉ lý cánh bất thù.
Bản mê ma-ni vị ngõa lịch,
Hoát nhiên tự giác thị chân châu.
Vô minh trí tuệ đẳng vô dị,
Đương tri vạn pháp tức giai như.
Mẫn thử nhị kiến chi đồ bối,
Thân từ tá bút tác tư thư.
Quán thân dữ Phật bất sai biệt,
Hà tu cánh mịch bỉ vô đư
Dịch:
Xem rõ ý ông gửi đến đây,
Đối lý chân u có khác gì.
Mê bảo ma-ni là ngói gạch,
Bỗng nhiên giác ngộ biết chân châu.
Vô minh trí tuệ đồng chẳng khác,
Muôn pháp đều như, phải liễu trị.
Thương kẻ chấp thường và chấp đoạn,
Bày lời mượn bút viết thư này.
Quán thân với Phật không sai khác,
Nhọc gì tìm kiếm Niết-bàn chi?
Ý bốn câu kệ đầu, khi mê thì bảo hạt chân châu là ngói gạch, lúc ngộ biết là chân châu chứ không có cái nào khác. Như vậy là chỉ rõ ông đã nhận không còn lầm nữa.
Bốn câu kệ kế, vô minh trí tuệ đồng một nguồn, phải biết muôn pháp đều như. Vì sợ những người chấp thường đoạn hai bên, cho nên mới viết thư này.
Hai câu kệ cuối, nếu thấy chúng sanh và Phật không hai thì khỏi cần tìm Niết-bàn, vì chúng sanh và Phật không hai thì sanh tử Niết-bàn đâu có hai. Do đó nếu càng tìm Niết-bàn càng xa, khi chúng ta hết tìm thì Niết-bàn liền hiện bày trước mắt.
Cư sĩ Hướng được thư Sư, đọc xong ông tìm đến đảnh lễ và nhận thọ ấn ký.
Sau này, Sư đổi đạo phục, giả dạng thế gian, có khi vào quán rượu, hoặc lúc đến hàng thịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, hoặc làm người khuân vác v.v…
Có người biết, hỏi Sư:
– Thầy là nhà tu, tại sao làm như thế?
Sư đáp:
Ta tự điều phục tâm, đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi.
Sư đến huyện Quản Thành, ở trước tam quan chùa Khuông Cứu diễn nói đạo vô thượng. Nhằm lúc trụ trì là pháp sư Biện Hòa đang giảng kinh Niết-bàn, thính giả bên trong từ từ rút lần ra nghe Sư diễn hóa. Biện Hòa bực tức mới đi cáo gian với quan ấp tể tên Địch Trọng Khản rằng “Sư giảng tà thuyết làm việc phi pháp”.
Địch Trọng Khản không biết nhận xét, cứ nghe bướng liền bắt Sư gia hình. Sư không đối kháng vẫn mặc nhiên thừa nhận để trả nợ trước cho xong. Ngay lúc gia hình, Sư thị tịch nhằm niên hiệu Khai Hoàng năm thứ mười ba nhà Tùy (593 TL). Sư hưởng thọ được một trăm lẻ bảy tuổi.
Thiện tín thương xót đem di thể của Sư về chôn ở Từ Châu phía đông bắc huyện Phủ Dương.
Đến đời vua Ðức Tông nhà Đường truy phong Đại Tổ thiền sư.
Đây là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của tổ Huệ Khả. Chúng ta thấy rất lạ lùng. Lúc đó ngài khoảng sáu bảy mươi tuổi, công phu tu hành và đạo đức của ngài đáng lẽ làm một vị tổ sư, ở một trú xứ có đệ tử hầu hạ, có đồ chúng đến đảnh lễ học đạo. Nhưng ngài đổi đạo phục mặc áo thế gian, đi vào quán rượu hàng thịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, rồi làm phu khuân vác đồ cho người.
Ngài làm như vậy có phá đi niềm tin của mọi người hay không? Khi ngài đang mang trách nhiệm hoằng pháp của tổ Bồ-đề-đạt-ma trao, lúc đó ngài phải xứng đáng là một vị Hòa thượng để truyền pháp. Đến khi truyền pháp cho Tăng Xán rồi, ngài hết trách nhiệm và tự do. Nếu hiểu theo nhà thiền thì chúng ta không lấy làm lạ.
Cho rằng những người lớn lại không ở địa vị cao mà lang thang không ra gì hết. Chúng ta nhìn bằng con mắt phàm tục, thấy ngài buông hết đạo nghiệp như vậy chắc là tiếc lắm. Hòa thượng tu hành đức hạnh như thế tại sao lại hoàn tục? Nhưng ngài làm không chút ngại ngùng. Có người biết hỏi ngài: Thầy là nhà tu, tại sao làm như thế? Ngài đáp: Ta tự điều phục tâm, đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi.
Giai đoạn này nếu nói theo Thiền tông, đó là giai đoạn Tổ buông thõng tay vào chợ. Tại sao? Vì chúng ta ở trong chùa, những nơi duyên cảnh thuận thì tâm yên, nhưng khi đụng duyên cảnh nghịch thì chưa chắc yên. Muốn biết thực tế ra sao ngài phải gan dạ ra đi để gặp duyên cảnh thuận nghịch mà nhìn lại thấy rõ con người thật của mình. Cho nên mới nói ta tự điều phục tâm đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi. Đi như vậy là cố điều phục tâm, chứ không phải để thụ hưởng dục lạc thế gian. Đi là để va chạm những sự khinh bạc, những cảnh trớ trêu mà người ta không thể nào tưởng tượng xảy ra với một nhà tu, để ngài biết được lòng mình một cách chắc chắn.
Điều này nói lên sự tu hành có hai ý nghĩa rất quan trọng. Thứ nhất, nếu địa vị càng cao thì vô tình bản ngã nổi dậy mà mình không hay. Nghĩa là càng ở địa vị cao chừng nào thì bản ngã càng lớn chừng nấy. Tổ muốn không còn dính một chút hư danh, nên từ địa vị cao cả ấy rớt xuống làm kẻ phàm tục. Khi ngài mặc áo thế tục, bị nhiều người xầm xì chê trách, còn đồ đệ thì khóc nức nở, nhưng ngài cứ an nhiên làm việc của mình. Như vậy cho thấy bản ngã của ngài không lớn.
Thứ hai là để gặp những cảnh đúng với hình thức phàm tục của mình, nếu ngài đi đâu có đồ đệ theo hầu ra vẻ một vị Tổ thì không ai dám đụng tới, làm sao ngài gặp những nghịch cảnh thử thách lòng mình, do đó không thể biết được là đã xong việc hay chưa. Vì vậy ngài phải gan dạ, bỏ hết đạo nghiệp để làm hình thức người thế gian, ở đâu cũng có thể tới được, để thấy tâm mình còn nhiễm ngũ dục hay không.
Bây giờ cũng có nhiều người bắt chước học theo hành động của Tổ, bào chữa bằng câu “Dâm phòng tửu tứ vô vi thanh tịnh đạo tràng”, nghĩa là ở trong phòng dâm, chỗ quán rượu… đâu đâu cũng là thanh tịnh đạo tràng, nhưng họ tới đó với một tâm niệm khác. Đến quán rượu phòng nhạc là để thưởng thức ngũ dục thế gian. Nói như vậy mà tâm niệm không phải thì thật đáng thương, vì đã lầm tưởng mình là Tổ, nhưng rốt cuộc lại là kẻ phàm phu. Phàm phu mà nói lời Tổ thì bị đọa lớn, không biết ngày sau họ sẽ ra sao!
Khi Tổ đến huyện Quản Thành, ngài nói pháp ở trước tam quan chùa Khuông Cứu, nhằm lúc trụ trì là pháp sư Biện Hòa đang giảng kinh Niết-bàn, thính giả bên trong từ từ rút lần ra nghe ngài thuyết pháp. Pháp sư bực tức đi báo gian với quan, ngài giảng tà pháp và làm việc phi pháp. Quan không biết nhận xét liền bắt giam vào khám, đánh đập tra tấn. Ngài không đối kháng, an nhiên thọ nhận sự gia hình, để đền trả nợ trước cho xong.
Khi đó Tổ đã một trăm lẻ bảy tuổi rồi, tuổi già sức yếu mà bị đánh đập làm sao chịu nổi, cho nên Tổ tịch ở trong khám. Nghe tin, thiện tín rất thương xót, đem thi thể của Tổ về chôn tại Từ Châu phía đông bắc huyện Phũ Dương.
Ở Ấn Độ tổ Sư Tử tịch vì bị vua Kế-tân chặt đầu, còn ở Trung Hoa ngài là Tổ thứ hai bị nhốt vô khám rồi tịch. Đối với chúng ta như vậy thật là thương tâm, còn đối với chư tổ thì sao? Chịu khó đọc đoạn sau sẽ biết.
1- Sư Mã Tăng Na sau có đệ tử hiệu là Huệ Mãn. Sư bảo Huệ Mãn:
– Tâm ấn của Tổ sư chẳng phải chuyện khổ hạnh, khổ hạnh chỉ là giúp đạo mà thôi. Nếu người khế hợp được bản tâm, phát cái dụng tùy ý chân quang thì khổ hạnh như nắm đất thành vàng. Nếu người chỉ chú trọng khổ hạnh mà không rõ bản tâm, lại bị yêu ghét trói buộc thì khổ hạnh như đêm ba mươi đi trong đường hiểm.
Đọc qua phần phụ thứ nhất, chúng ta thấy ngài Tăng Na phản đối khổ hạnh hay khen ngợi khổ hạnh? Nếu khổ hạnh mà ngộ được bản tâm thì rất đáng khen, còn khổ hạnh mà không ngộ bản tâm, lại bị trói buộc trong tình yêu ghét thì rất là nguy hiểm. Bây giờ có nhiều người tu khổ hạnh mà không ngộ bản tâm, cho khổ hạnh là trên hết, xem thường những người không tu khổ hạnh như mình. Như vậy là buộc trong tình yêu ghét, là kẻ đi đường hiểm trong đêm ba mươi dễ bị sảy chân, gặp những tai nạn bất thường. Ngài Tăng Na chỉ rõ ý nghĩa khổ hạnh sẽ bất lợi nếu người tu không nhận ra bản tâm.
Ngươi muốn rõ được bản tâm, phải suy cùng xét cạn, khi gặp sắc gặp thanh mà chưa khởi suy nghĩ, tâm ở chỗ nào? Là không chăng? Là có chăng? Đã chẳng rơi vào chỗ có không thì tâm chân tự sáng, thường chiếu thế gian, chưa có một mảy bụi làm gián cách, chưa từng có tướng khoảng sát-na đứt nối.
Huệ Mãn sau cũng hành hạnh đầu-đà.
Đây là lời chỉ thẳng bản tâm không giấu giếm. Khi gặp thanh sắc chưa khởi suy nghĩ lúc đó tâm ở chỗ nào, nếu không thấy ở chỗ nào thì hỏi là có chăng, là không chăng? Khi nào không thấy có không thì bản tâm hiện. Ngài chỉ thẳng như vậy mà người nghe không nhận ra là tại không chịu mở mắt, tôi cũng chẳng biết làm gì hơn!
2- Thiền sư Hạo Nguyệt hỏi thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm:
– Cổ đức nói: “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Như tổ Sư Tử và tổ Huệ Khả vì sao lại đền nợ trước?
Trường Sa bảo:
– Đại đức chẳng biết bản lại không.
Hạo Nguyệt hỏi:
– Thế nào là bản lai không?
– Nghiệp chướng.
Thế nào là nghiệp chướng?
– Bản lai không.
Hạo Nguyệt lặng thinh.
Trong phần phụ thứ hai, thiền sư Hạo Nguyệt dẫn lời thiền sư Huyền Giác hỏi Trường Sa Cảnh Sầm về cái chết của tổ Huệ Khả. Liễu ngộ rồi thì nghiệp chướng xưa nay không, nếu chưa liễu ngộ phải đền nợ trước. Vậy tổ Sư Tử và tổ Huệ Khả đã liễu ngộ chưa mà lại đền nợ trước? Nếu chưa liễu sao được Tổ truyền y, còn liễu rồi tại sao còn đền nợ trước? Đây là chỗ nghi chết người trong thiên hạ. Vị bị vua Kế-tân chặt đầu, vị bị bỏ tù rồi chết trong khám. Rõ ràng là đền nợ trước.
Trường Sa Cảnh Sầm đáp hết sức đúng lý. Tại sao? Bởi vì liễu ngộ thì nghiệp chướng xưa nay không, tức là thấy thân không thật, nghiệp cũng không thật thì cái gì đền nợ trước? Nếu chưa liễu ngộ thì thấy có thân có nghiệp nên thấy có đền trả thật. Còn các ngài tuy đền mà không thấy có đền, nhưng trên thân tứ đại vẫn phải chịu trả. Sự đền trả đó là qua cái nhìn của mỗi người mà thành sai khác.
Chúng ta tu ai cũng mong lúc chết thở cái khì ra đi nhẹ nhàng, còn chết bị hành khổ sở thì không muốn. Nhưng giả sử hồi xưa tạo những nghiệp ác với vài người nào đó, thì ngang đây phải vui lòng đền trả món nợ đó cho xong. Có nợ mà không chịu trả đó là tham.
Trường Sa dùng kệ chỉ bày:
Giả hữu nguyên phi hữu,
Giả diệt diệc phi vô.
Niết-bàn thường trái nghĩa,
Nhất tánh cánh phi thù.
Dịch:
Giả có vốn chẳng có,
Giả diệt cũng chẳng không.
Nghĩa Niết-bàn, đền nợ,
Một tánh lại nào hai.
Giả có nhưng không phải có. Giả diệt, diệt tức là mất đi, cũng không phải không. Có và mất cả hai đều giả, bởi giả nên không thật có cũng không thật không. Nghĩa Niết-bàn và nghĩa đền nợ trước, chỉ là một tánh trọn không thể khác. Tại sao? Bởi vì Niết-bàn và đền nợ trước cũng giả danh mà thôi. Nếu ngộ tức nhiên thấy thân cảnh không thật, nên không thấy đền nợ trước, tâm luôn an lạc đó là Niết-bàn. Mê thì thấy người thật cảnh thật, nên thấy có đền nợ trước. Như vậy, đền hay không đền, nói một bên không bao giờ đúng.
Kinh A-hàm và kinh Đại thừa nói khác nhau ở chỗ đó. A-hàm thì nói đức Phật còn phải chịu nạn kim thương mã mạch, chính đức Phật còn trả nợ đời trước huống là phàm phu. Đại thừa thì cho rằng, nói Phật còn trả nợ trước là không hiểu Phật. Chúng ta mới nghe thấy dường như hai bên nói mâu thuẫn nhau, nhưng sự thật không phải vậy. Bởi vì kinh A-hàm là nhìn trên tướng nghiệp báo và lý nhân quả mà nói có đền trả. Kinh Đại thừa nhìn trên lý liễu ngộ tự tánh mà nói, nên không thấy có gì là đền trả. Một bên đứng về tướng để giải thích nhân quả, một bên đứng về tánh thấu triệt các pháp, nên nói nghiệp chướng bản lai không. Như vậy không có gì chống đối nhau hết. Hiểu rõ tinh thần của các kinh thì không nghi, nếu không hiểu thì đọc tới đâu nghi tới đó.