(Bodhidharma)
Ngài dòng Sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương Chí vua nước này. Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, ngài là vương tử thứ ba. Thuở nhỏ ngài đã có chí siêu việt và đặc biệt có tài hùng biện.
Nhân vua Hương Chí thỉnh tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường, ngài mới có duyên gặp Tổ. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, Tổ đã biết ngài là người siêu quần bạt tụy sẽ kế thừa Tổ vị.
Sau khi vua cha băng hà, ngài quyết chí xuất gia cầu xin tổ Bát-nhã độ làm đệ tử. Tổ hoan hỷ làm lễ thế phát và truyền giới Cụ túc. Tổ bảo ngài:
– Hoàng tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma.
Từ đây, ngài luôn hầu hạ bên thầy. Một hôm, Tổ gọi ngài đến truyền pháp và dặn dò:
– Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt.
Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, ngài đều cầu xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài kệ.
Bồ-đề-đạt-ma là vị Tổ thứ hai mươi tám ở Ấn Độ, cũng là vị Tổ đầu tiên ở Trung Hoa. Chúng ta đọc sử thấy cuộc đời của ngài có những điều hết sức kỳ đặc, do đó cần phải học kỹ hơn để biết đường hướng truyền bá Phật pháp của ngài như thế nào.
Ngài là người mở đầu Thiền tông Trung Hoa, là vương tử thứ ba của vua Hương Chí, thuở nhỏ đã có ý chí siêu việt và đặc biệt là có tài hùng biện. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, tổ Bát-nhã-đa-la biết ngài là người siêu quần bạt tụy sẽ kế thừa Tổ vị, nên nhận cho xuất gia và truyền tâm ấn, được đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma. Từ đây, ngài luôn hầu hạ bên Tổ.
Tổ Bát-nhã-đa-la dặn dò thêm: Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm e có việc không tốt.
Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, ngài đều xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài kệ, vì nhiều quá ở đây không dẫn hết. Những lời dặn dò thì cốt yếu làm sao tìm cho ra người kế thừa, để hạt giống Thiền tông nảy nở ở Trung Hoa không mất.
Tổ tịch rồi, ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa. Người huynh đệ đồng sư với ngài là Phật Đại Tiên cùng chung sức giáo hóa. Thời nhân gọi hai ngài là “Mở hai cửa cam lồ”. Song, sau môn đồ của Phật Đại Tiên lại chia làm sáu tông: 1- Hữu tướng, 2- Vô tướng, 3- Định tuệ, 4- Giới hạnh, 5- Vô đắc, 6- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá. Ngài thấy sự phân chia ấy, ngại cho chánh pháp suy vi. Vì thế, ngài dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Sau khi Tổ tịch, ngài ở tại nước nhà cùng huynh đệ đồng sư là Phật Đại Tiên chung sức giáo hóa. Thời nhân gọi hai ngài Mở hai cửa cam lồ. Nhưng sau đó môn đồ của Phật Đại Tiên lại chia làm sáu tông đua nhau truyền bá. Ngài thấy sự chia chẻ chi li ấy, ngại cho chánh pháp suy vi nên dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Bởi vì Phật pháp không nhiều không hai, mà chia ra nhiều tông phái dễ bị phân tán rời rạc, đó là cái cớ làm Phật pháp suy vi. Cho nên ngài thâu nhiếp trở về một mối.
Vua Nguyệt Tịnh băng hà, con vua là thái tử Dị Kiến nối ngôi. Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo. Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi cải tà quy chánh, vua Dị Kiến hỏi ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho người thỉnh ngài về cung giáo hóa.
Về cung giáo hóa một thời gian, ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, bèn đem lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho vua biết. Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa ngài sang Trung Hoa. Vua và quần thần tiễn đưa ngài ra tới cửa biển.
Vua Nguyệt Tịnh băng hà, thái tử Dị Kiến nối ngôi, lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo. Tổ sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi cải tà quy chánh, vua Dị Kiến mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình, nhà vua cho người thỉnh Tổ về triều giáo hóa.
Thấy cơ duyên giáo hóa ở Trung Hoa đã đến, ngài mới đem lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho cháu nghe. Ông vua cháu này không có lý do gì ngăn cản được, đành phải sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Tổ sang Trung Hoa.
Ngài ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 TL), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý. Thứ sử tỉnh này ra đón tiếp ngài, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Đế. Vua được sớ, liền sai sứ lãnh chiếu chỉ đến thỉnh ngài về Kim Lăng (kinh đô nhà Lương). Vua Võ Đế hỏi:
– Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?
Ngài đáp:
– Đều không có công đức.
– Tại sao không có công đức?
– Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
– Thế nào là công đức chân thật?
– Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.
– Thế nào là Thánh đế nghĩa thứ nhất?
– Rỗng rang không Thánh.
– Đối diện với trẫm là ai?
– Không biết.
Vua Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ. Ngài biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.
Tổ ở trên thuyền gần ngót ba năm. Từ Ân Độ đi đường biển lần lần đến Quảng Châu, có lẽ trong ba năm đó Tổ cũng có ghé Việt Nam. Bởi vì đường biển quá xa, cho nên sẽ thiếu lương thực, cũng có thể ghé xứ mình, mà tại lúc đó mình mù mờ quá cho nên không biết Tổ.
Con đường của tổ Đạt-ma đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa và sau này ngài Huyền Trang từ Trung Hoa sang Ấn Độ, hai con đường khác nhau. Tổ Đạt-ma đi đường quanh vòng biển từ phương tây Ấn Độ tới phương đông, đường biển đi lâu hơn đường bộ nhưng ít nguy hiểm. Ngài Huyền Trang thì đi xuyên qua đường bộ, nên đi qua nhiều nước và rất nguy hiểm.
Chúng ta thấy người xưa vì truyền bá chánh pháp mà phải chịu gian nan, dù xa mấy cũng phải đi cho tới, khó mấy cũng làm được, vì pháp quên thân nên không sợ nguy hiểm sống chết. Còn chúng ta bây giờ phương tiện dễ dàng, nhưng ý chí yếu đuối, quý thân hơn quý pháp, nên gặp việc hơi khó thì không chịu làm.
Khi tới Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương, niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 TL). Khi đó, Thứ sử tại tỉnh này ra đón tiếp Tổ, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Đế. Nhà vua vốn mộ Phật giáo, nên khi được sớ liền cho sứ đến thỉnh Tổ về Kim Lăng, Tổ nghỉ ngơi xong nhà vua mới đến hội kiến.
Vua hỏi: Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng? Khi vua đem câu đó ra hỏi thì có vẻ hơi khoe công. Chính vì khoe công mà bị Tổ nói một câu như tạt gáo nước lạnh vào mặt: Đều không có công đức.
Nhà vua đang sốt sắng đem bao nhiêu công lao của mình thưa trình, ít ra cũng được một lời khen ngợi an ủi. Đằng này Tổ nói đều không có công đức. Giả sử chúng ta bây giờ có vài Phật tử quen, rước về nhà mời ngồi uống trà, rồi trình bày “con ở đây làm rất nhiều Phật sự, như vậy có phước không?”, mình trả lời sao? Quý thầy đều biết rằng đó là phước hữu vi hữu lậu, nhưng có can đảm nói như Tổ hay không? Không dám nói phước nhiều nhưng cũng nói “tốt lắm!” Còn ở đây Tổ cho một gáo nước lạnh, đều không có công đức.
Nếu khi đó chúng ta là vua Lương Võ Đế thì chắc cũng bái Tổ rồi rút lui. Nhưng vua vẫn còn gan dạ nên hỏi thêm: Tại sao không có công đức? Tổ nói: Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
Tất cả việc làm như cất chùa chép kinh độ tăng v.v… là tướng hữu vi vô thường, những việc lành thuộc về vô thường thì quả báo cũng vô thường. Cho nên Tổ nói chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời. Giả sử làm Tổng thống, nhưng đắc cử chừng năm năm cũng phải xuống. Như vậy năm năm oai hùng đó dưới con mắt của người biết đạo, chỉ là phước báo nhỏ chứ không phải lớn.
Vua hỏi tiếp: Thế nào là công đức chân thật? Tổ đáp: Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu. Trí thanh tịnh sáng suốt mầu nhiệm, không có tướng mạo đó mới là công đức, là trí xuất thế gian không sanh diệt, chứ không phải trí phân biệt sanh diệt của thế gian.
Lương Võ Đế làm vua, nhưng cũng là một người giảng kinh hay lắm. Cho nên mới đem danh từ Phật pháp ra hỏi: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Tổ đáp: Rỗng rang không Thánh. Đây là gáo nước lạnh thứ hai.
Đệ nhất nghĩa đế là nghĩa cứu cánh trong các kinh, đó là chỗ tột cùng của chư Bồ-tát hâm mộ, vua đem ra hỏi Tổ, nhưng Tổ đáp rỗng rang không Thánh. Như vậy, phước cũng không mà Thánh cũng không, thì còn lòng dạ nào mà nói chuyện nữa! Cho nên vua bực bội hỏi tiếp: Đối diện với trẫm là ai? Nói không phải Thánh, vậy đối diện với tôi là ai? Tổ đáp: Không biết. Đó là gáo nước lạnh thứ ba. Nói không biết thì còn gì để hỏi! Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, chỉ còn cách lui về nghỉ.
Chúng ta thấy một cuộc đối đáp lạnh tanh, không có sinh khí gì hết. Nhà vua đang nồng nhiệt đưa ra những câu hỏi muốn Tổ đáp thỏa đáng, nhưng Tổ làm cho vua thất vọng, đó là tại Tổ không khế cơ, hay tại vua không khế lý. Nếu người truyền đạo thuyết pháp mà không khế cơ thì có lỗi, vì nói nghĩa lý cao siêu người nghe không hiểu nên mất niềm tin. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, Tổ sang Trung Hoa với một trách nhiệm phi thường, vượt ra ngoài đối đãi chứ không phải trách nhiệm tầm thường, nên Tổ có những lối đối đáp lạ lùng. Chính những điều đó đã làm cho vua Lương Võ Đế không khế hợp được.
Đó cũng là một lý do sau này làm nổi dậy dư luận ở Trung Hoa. Nếu Tổ nói như những vị trước thì không có gì nổi bật. Tuy nhiên trách nhiệm của ngài sang Trung hoa không phải để làm những chuyện thông thường như dịch kinh giảng đạo, mà để truyền tâm ấn cho những người đầy đủ căn cơ pháp khí Đại thừa.
Đến ngày mười chín, ngài bỏ vua Lương, lén sang sông qua Giang Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy, đi đến Lạc Dương nhằm đời Hậu Ngụy vua Hiếu Minh Đế, niên hiệu Chánh Quang năm đầu (520 TL) ngày hai mươi ba tháng mười một.
Ngài dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được. Người đời gọi ngài là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách” (Bích quán Bà-la-môn).
Có vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không màng đến. Thần Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài.” Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chắp tay hướng về ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài thấy thế thương tình, xoay ra hỏi:
– Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần Quang thưa:
– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước mặt ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí bèn dạy:
– Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
Thần Quang thưa:
– Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
– Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
– Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
– Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
– Con tìm tâm không thể được.
– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần Quang nhân đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả.
Lương Võ Đế là vị vua mộ đạo Phật, cho nên dù ngài hỏi Tổ đáp không hợp căn cơ nhưng vẫn kính thờ Tổ và cho người nuôi dưỡng trong nhà riêng rất là xứng đáng. Tổ biết căn cơ vua không hợp nên đến ngày mười chín, bỏ vua Lương lén sang sông qua Giang Bắc nhập cảnh nước Ngụy.
Đến Lạc Dương, Tổ đi thẳng vào núi Tung Sơn, tới chùa Thiếu Lâm, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu. Người đời gọi Tổ là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách”, vì Tổ không cạo râu tóc nên nhìn giống thầy Bà-la-môn.
Có vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Tổ tìm đến yết kiến. Thần Quang y áo chỉnh tề đầy đủ lễ nghi, mà Tổ vẫn ngồi xây mặt vào vách lặng yên không màng đến. Thần Quang nghĩ rằng: Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài. Hôm ấy, nhằm tiết đông tuyết rơi trắng xóa, Thần Quang vẫn suốt đêm đứng yên ngoài tuyết chắp tay hướng về Tổ. Tuyết lên tới khỏi đầu gối mà gương mặt vẫn thản nhiên. Chúng ta đứng suốt đêm ở ngoài trời mưa lả tả cũng quá sức rồi, huống chi ngài đứng trong tuyết lạnh lên tới đầu gối.
Tổ thấy thế thương tình xoay ra hỏi: Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì? Thần Quang thưa: Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con. Con đến đây chỉ cầu mong được Tổ độ cho. Tổ đáp: Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa? Đứng suốt đêm mà Tổ nói chỉ dùng chút công lao nhỏ để cầu đạo vô thượng thì hết hy vọng.
Thần Quang nghe Tổ dạy như vậy, bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước mặt Tổ tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí đại thừa bèn dạy: Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá. Sau này Tổ đặt tên Thần Quang là Huệ Khả. Khả là khá. Chúng ta thấy chính cách đối xử lạnh nhạt của Tổ mới tìm ra một người khá như vậy.
Câu chuyện này có thật hay không? Đứng ngoài tuyết có thể là một sự thật, chặt cánh tay để trước mặt Tổ thì chưa biết thực hư thế nào. Nhưng ở đây hàm chứa ý nghĩa siêu tuyệt. Bởi vì chủ yếu của nhà thiền, là phải có dũng khí của người siêu quần bạt tụy thì mới có thể cầu đạo. Nếu chúng ta cầu đạo với tâm khinh thường, không nhiệt thành thì không bao giờ đạt đạo. Tại sao? Nếu thiếu ý chí thì việc lớn làm không xong, người đại chí thì cái gì muốn, dù khó thế mấy cũng làm cho được. Nếu khó một chút mà không làm thì không đạt tới chỗ cứu cánh của đạo. Ở đây Tổ muốn chọn người có đại chí, cho nên Thần Quang chặt cánh tay dâng lên Tổ để được truyền đạo.
Câu chuyện này là tấm gương lớn cho người học đạo trong nhà thiền. Mỗi khi nói tới tinh thần của người cầu đạo, đều lấy gương người dũng sĩ chặt tay để khích lệ. Người vì đạo quên thân thì mới đủ tư cách đảm đang việc lớn. Tổ chọn người xứng đáng như vậy mới đem Phật pháp truyền trao.
Người xưa cầu đạo chỉ nghe qua một câu nói là ngộ liền. Chúng ta bây giờ vô chùa học đạo, tu hoài không ngộ là tại vì ý chí quá yếu đuối, nhiều khi nghe hiểu nhưng còn nghi ngờ không dám nhận. Cho nên có người đi tu mà vui thì ở chùa, buồn thì về nhà, được chiều chuộng thì thích, mà bị quở trách thì không ưng. Lâu lâu lại than, tu hai ba mươi năm sao không thấy tiến bộ gì hết, chán quá! Bởi vì chí nguyện kém cỏi, tinh thần yếu ớt làm sao đạt đạo. Đạo không phải khó, mà khó tại mình không có ý chí.
Ví dụ nghe tôi giảng bốn tháng nay, có thể nhiều vị nhận ra, hoặc cũng biết chút ít. Nhưng sống được với cái đó là chuyện không phải dễ, cũng không phải khó. Biết rồi nhưng tập khí ngàn xưa không bỏ thì làm sao! Như người ghiền á phiện, ghiền rượu, ghiền thuốc v.v… bệnh ghiền đó không phải bỏ không được. Nếu người gan dạ, ý chí mạnh mẽ biết hút á phiện là xấu lại tốn tiền, có hại cho sức khỏe, biết rồi liền bỏ. Người khác cũng biết như vậy, nhưng thiếu nó lại chạy đi tìm kiếm đưa vô thì suốt đời bỏ không được.
Dù là kẻ yếu đuối bệnh hoạn dốt nát tối tăm, một khi thức tỉnh, đầy đủ ý chí đều làm được hết. Cũng vậy, bao nhiêu tập nghiệp tham sân si, người tu hành không thể nào không buông bỏ, tại không gan dạ nên cứ nuôi dưỡng nó hoài. Như người có nghiệp làm thơ, buổi chiều nhìn thấy biển có những chiếc thuyền nhấp nhô, gặp trăng lên thì cảm hứng muốn làm thơ. Nhưng vừa dấy niệm làm thơ, biết đó là bệnh liền bỏ. Nếu dấy niệm thấy hay, bỏ thì uổng, tiếc nuối không bỏ được. Như khi ngồi thiền, những niệm phải quấy tốt xấu sai lầm dấy lên, biết là lỗi liền buông. Nếu nghĩ những điều hay thì khó buông lắm, buông thì quên đi sẽ uổng, nên ôn tới ôn lui một hồi nó dẫn đi tuốt. Đó là bị xí gạt.
Sự tu hành cốt yếu là phải gan dạ hùng dũng. Nói gan dạ hùng dũng thì người ta cho rằng chỉ có bậc trượng phu mới làm được. Đừng nghĩ nam nhi mới là trượng phu, người nam người nữ nào có ý chí, biết điều dở liền buông, không bị những thói quen lôi dẫn, đều gọi là trượng phu. Điều Ngự Trượng Phu là một trong mười hiệu của đức Phật, ngài có sức mạnh vượt lên trên tất cả chướng ngại. Chúng ta là người kế thừa sự nghiệp to lớn của đức Phật, nếu không có ý chí như thế thì làm sao thừa đương? Do đó phải có dũng khí như chàng dũng sĩ chặt tay, hùng dũng gan dạ, gặp những điều khó khăn mới có thể vượt qua. Ngày xưa chư tổ không phải chọn lựa người thông minh học giỏi, mà chọn người có ý chí kiên cường.
Chúng ta thấy ngài Thần Quang đến với Tổ chưa nói câu nào xuất sắc, chưa luận bàn gì cả, nhưng Tổ thấy tâm quên mình cầu đạo của ngài, biết đó là bậc pháp khí đại thừa nên chấp nhận cho làm đệ tử. Chúng ta học đạo ráng nuôi dưỡng ý chí mãnh liệt như vậy. Những người vì đạo quên mình, khi ngộ rồi đi truyền bá thì ngũ dục thế gian không còn quyến rũ được, do họ không nghĩ tới thân. Chúng ta bây giờ vì quá trọng thân nên khổ một chút thì than, nếu gặp chướng ngại thì nhút nhát không vượt qua được, đều do gốc chấp ngã quá nặng mà ra. Nếu người thấy rõ bản ngã giả tạm thì không có gì quan trọng. Cho nên tăng ni kể cả người cư sĩ bắt đầu học đạo, phải nuôi ý chí vững mạnh, tinh thần kiên định thì không có gì khó cả. Nếu không thì thật là gian truân khổ sở vì đường tu còn dài lắm.
Thần Quang thưa: Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng? Tổ đáp: Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được. Không phải từ người khác nói để mình được, mà chính mình phải nhận lấy, vì cái đó là ở nơi mình.
Một hôm Thần Quang bạch với Tổ: Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm. Tổ bảo: Ngươi đem tâm ra đây ta an cho. Thần Quang tìm một hồi trả lời: Con tìm tâm không thể được. Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay câu nói đó Thần Quang khế ngộ và được Tổ đặt tên là Huệ Khả.
Chúng ta thấy học đạo, ngộ đạo sao dễ quá. Chỉ có một câu nói là ngộ đạo liền. Ngày xưa đọc sử đến đoạn này tôi hơi nghi. Lẽ ra khi người học đạo hỏi tâm con bất an, nhờ Thầy dạy cho phương pháp an tâm, thì phải dạy tu thế này thế kia, nhưng Tổ không dạy mà bảo đem tâm ra ta an. Bảo một cách đột ngột, Thần Quang xoay lại tìm không thấy, nên trả lời con tìm tâm không được. Tổ đáp ta đã an tâm cho ngươi rồi. Không dạy câu nào hết, chỉ nói an tâm rồi, vậy mà Thần Quang ngộ, không biết ngộ cái gì? Đoạn này đáng lý không giảng, vì giảng là có lỗi. Người nghe ai hiểu thì hiểu, tới trình rồi được ấn chứng. Nhưng nếu không giảng thì cũng có hại, người hiểu bên đông người hiểu bên tây cũng nói tôi hiểu đúng, như vậy thì loạn thiên hạ. Vì vậy buộc lòng tôi ráng nói một chút.
Lâu nay Thần Quang chấp nhận cái suy tưởng là tâm mình, cho là thật nên tìm cách này cách nọ làm cho nó an. Bây giờ Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, bất ngờ Thần Quang xoay lại tìm mãi không ra mới sực tỉnh, biết tâm vọng này không thật nên đáp: Bạch Thầy con tìm tâm không được. Tổ trả lời bằng một câu nhẹ nhàng, ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay yếu chỉ đó Thần Quang thấy được pháp tu, nên nói được khế ngộ.
Sau này chư tổ dạy chúng ta biết vọng tức là tu. Biết vọng không thật, chỉ không theo vọng tâm thì tự nhiên tâm an, đó là phương pháp an tâm. Người học đạo ngay đây thấy đường lối tu là ngộ đạo.
Ở đây bất đắc dĩ tôi đưa ra đường lối Thiền Giáo song hành, nghĩa là đem kinh giảng để đối chiếu với Thiền, thấy kinh Phật dạy và lời Tổ nói phù hợp, khả dĩ người học đạo có niềm tin rồi ứng dụng tu để được lợi ích. Nếu nói như tổ Bồ-đề-đạt-ma thì bây giờ không ai lãnh hội để ứng dụng tu.
Từ đây kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến ngài, tiếng tăm vang dậy. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen thỉnh ngài, ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng, hai y kim tuyến, bình bát v.v… Ngài từ khước nhiều lần, nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc ngài phải nhận.
Mở cửa phương tiện, ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ:
1- Báo oán hạnh
2- Tùy duyên hạnh
3- Vô sở cầu hạnh
4- Xứng pháp hạnh.
Từ đây tiếng tăm vang dậy, kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến Tổ. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy ba phen sai sứ thỉnh mời, Tổ đều từ chối. Vua càng kính trọng sai sứ đem lễ vật quý báu đến cúng dường. Nhiều lần Tổ từ chối nhưng nhà vua cố ép, cuối cùng Tổ phải nhận.
Tổ mở cửa phương tiện dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ:
1- Báo oán hạnh
2- Tùy duyên hạnh
3- Vô sở cầu hạnh
4- Xứng pháp hạnh.
Bốn hạnh này nằm trong quyển “Sáu cửa vào động Thiếu Thất”.
Ở Trung Hoa gần chín năm, ngài thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng nói:
– Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.
Đạo Phó ra thưa:
– Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần da của ta.
Ni Tổng Trì ra thưa:
– Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần thịt của ta.
Đạo Dục ra thưa:
– Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần xương của ta.
Đến Huệ Khả bước ra đảnh lễ ngài, rồi lui lại đứng yên lặng.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần tủy của ta.
Ở Trung Hoa hơn chín năm, Tổ có bốn vị đệ tử xuất sắc. Thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng nói: Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.
Ngài Đạo Phó bước ra trình bày: Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là dụng của Đạo. Tổ bảo: Ngươi được phần da của ta. Vị đệ tử này chỉ mới được phần da của Tổ, vì còn nương vào văn tự để diễn bày cái thấy đạo của mình, nên nói còn ở ngoài da.
Ni Tổng Trì ra thưa: Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại. Bà dẫn trong kinh Duy-ma nói rằng ngài A-nan nhờ sức thần thông của Phật, thấy cõi nước Phật A-súc, nhưng khi Phật thâu nhiếp thần thông thì không thấy nữa. Cũng vậy khi Tổ chỉ dạy, ni Tổng Trì nhận ra nhưng không hằng sống được với cái đó, nên Tổ nói ngươi được phần thịt của ta. Như vậy là tiến hơn vị trước, vì ngài Đạo Phó còn mắc kẹt ở ngoài văn tự. Ở đây tuy bà có thấy có nhận nhưng chưa thấm được, nên Tổ mới nói được phần thịt của ta.
Ngài Đạo Dục ra thưa: Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được. Tổ bảo: Ngươi được phần xương của ta. Đạo Dục thấy bốn đại vốn không, năm ấm vô ngã, nghĩa là đối với ngài không có một pháp nào thật hết, nên Tổ nói được phần xương của ta.
Huệ Khả bước ra đảnh lễ Tổ, rồi lui lại đứng yên lặng không nói câu nào. Tổ bảo: Ngươi được phần tủy của ta. Tại sao Huệ Khả được phần tủy? Vì Huệ Khả đứng yên lặng, đó mới là người sống được bằng tánh viên giác. Tánh viên giác không thể dùng ngôn ngữ để diễn bày, người sống được với nó thì không còn thiếu thốn, cho nên nói được phần tủy là phần cốt lõi của đạo. Thể nhập tánh viên giác là chỗ cứu cánh của người tu. Người được như vậy mới xứng đáng lãnh trách nhiệm truyền bá sau này, nên ngài Huệ Khả được truyền y bát.
Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:
– Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho tổ Ca-diếp, lần lượt truyền đến ta. Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi phải truyền trao không để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y Tăng-già-lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.
Tổ trao đại pháp nhãn tạng cho ngài Huệ Khả tiêu biểu bằng y Tăng-già-lê và bình bát. Nói trao nhưng sự thật không có trao gì cả, ấn chứng thì đúng hơn. Tổ chấp nhận cái hiểu của Huệ Khả đã tới nơi, đó là trao. Chúng ta nghe nói truyền trao rồi tưởng có vật gì để trao, sự thật không phải. Nhưng muốn cho người sau tin Huệ Khả là người được Tổ ấn chứng, nên trao y và bình bát để khi có người hỏi thì đem những vật này làm tin, gọi là pháp tín.
Huệ Khả thưa:
– Xin Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.
Ngài dạy:
– Trong truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa để định tông chỉ. Đời sau có nhiều người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa, căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?” Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn ngươi đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai trăm năm sau khi ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền, vì lúc đó Phật pháp rất thạnh hành. Chính khi ấy, người biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe ta nói kệ:
Ngô bản lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Khi Phật pháp thạnh hành, người biết đạo thì nhiều nhưng người hành đạo quá ít. Cũng như bây giờ người biết thiền quá nhiều, người hành thiền quá ít. Thật ra đạo không phải chỉ nói suông, mà chủ yếu ở chỗ thực hành mới có giá trị. Người nói lý thì quá nhiều, nhưng người ngộ lý thì quá ít. Nói lý thì ai nói cũng được, như nói không chấp ngã, nói hút thuốc mà không ghiền, nói ăn chiều nhưng ăn mà không thấy mình ăn là được rồi. Nói hay lắm nhưng mà ngộ được lý có mấy người! Đó là bệnh của người học đạo. Cho nên, người học đạo ngộ được lý chân thật thì mới hay. Tuy nhiên người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Tuy nói vậy nhưng Tổ cũng thấy những người thầm lặng tu chứng rất nhiều, nên khuyên ngài Huệ Khả phải gắng xiển dương đạo thiền, đừng khinh người chưa ngộ.
Tổ nói kệ huyền ký:
Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Ngài lại bảo:
– Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu, cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho tri kiến Phật, nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung vậy.
Xong rồi, ngài cùng đồ chúng đi đến Vũ Môn ở chùa Thiên Thánh dừng lại ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin ngài đến, liền tới đảnh lễ. Ông hỏi:
– Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho?
Ngài đáp:
– Rõ được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.
– Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?
– Cần rõ tâm ngươi, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.
Huyễn Chi lại thưa:
– Đệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp thiện tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật tổ?
Ngài vì ông nói kệ:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độn
Bất dữ phàm thánh đồng triều,
Siêu nhiên danh chi viết Tổ.
Dịch:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng ném mê mà về ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Vượt lên, gọi đó là Tổ.
Tổ lại nói thêm: Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, Phật nói tột pháp yếu, giúp cho chúng sanh mở bày ngộ nhập tri kiến Phật, nay ta trao cho ngươi. Ta từ Nam Ân sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, thấy xứ này tuy có khí Đại thừa nhưng chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung. Có thủy là đến, có chung là đi hay về. Tới đây chưa biết đi hay về sau, sẽ phán đoán lại.
Tổ truyền pháp rồi, cùng đồ chúng đi đến Vũ Môn dừng lại ở chùa Thiên Thánh ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi, là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Tổ đến, liền tới đảnh lễ thưa hỏi: Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho. Tổ đáp: Rõ được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ. Nghĩa là nhận được tâm tông của Phật, hay là tâm Phật của chính mình, rõ ràng không còn một mảy nghi ngờ. Thấy và hành hợp nhau, nghĩa là nhận được sống được với cái đó thì gọi là Tổ.
Huyễn Chi hỏi thêm: Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác? Tổ dạy: Cần rõ tâm ngươi, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Nếu hay hiểu như thế cũng gọi là Tổ. Như vậy nghĩa trước và nghĩa sau khác ở chỗ nào? Trước nói Tổ là người ngộ được tâm tông, sống bằng tâm đó, tức là nhận nơi mình mà ngộ cũng nơi mình. Sau là nói nhìn ra ngoài biết rành xưa nay, nghĩa là thấy biết tất cả mà không dính hai bên có không, hiền ngu mê ngộ, người đó cũng gọi là Tổ.
Huyễn Chi lại thưa: Đệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật tổ? Tổ vì ông nói kệ:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng ném mê mà về ngộ.
Đạt đạo lớn chữ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai.
Vượt lên, gọi đó là Tổ.
Ý bài kệ Tổ dạy người tu không nên dính mắc hai bên. Nghĩa là không nên thấy việc ác sanh tâm hiềm khích chê bai, không nên thấy những việc lành mà hâm mộ ưa thích, cũng không nên bỏ trí gần ngu, bỏ mê cầu ngộ. Trong bốn câu này, chúng ta thấy Tổ dạy ông Huyễn Chi không nên mắc kẹt hai bên thiện ác, trí ngu, mê ngộ, người vượt ra ngoài những đối đãi mới có thể gần đạo.
Ý bốn câu kệ kế. Người không mắc kẹt hai bên là người thấy được đạo lớn, vượt hơn tất cả, thấu suốt tâm Phật, không còn dùng ngôn ngữ để diễn bày. Chẳng cùng phàm thánh đồng triền vai nghĩa là không còn mắc kẹt trong đối đãi phàm thánh, người vượt lên được, đó gọi là Tổ.
Tóm kết ý bài kệ Tổ dạy muốn gần Phật tổ thì phải bỏ hết những cái thấy hai bên, vì còn thấy hai bên là còn xa đạo. Người không thấy hai bên là người đạt đạo thành Tổ.
Huyễn Chi nghe dạy hoan hỷ đảnh lễ, lại thưa:
– Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh.
Ngài bảo:
– Đời mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người.
– Từ Thầy tới đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ, con sẽ sắp xếp.
– Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy. Đâu cam hại người để mình được vui.
Huyễn Chi nài nỉ thưa:
– Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi.
Ngài bất đắc dĩ nói bài kệ:
Giang tra phân ngọc lãng,
Quản cự khai kim tỏa.
Ngũ khẩu tương cộng hành,
Cửu thập vô bị ngã.
Dịch:
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng.
Năm miệng đồng cùng đi,
Chín, mười không ta người.
Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ ngài lui ra.
Huyễn Chi nghe Tổ dạy vui vẻ đảnh lễ, lại thưa: Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh. Tổ bảo: Đời mạt pháp kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người. Bởi vì chúng sanh thấy Tổ được nhiều người kính trọng, nên họ sanh tâm đố kỵ, mưu hại cách này không được thì bằng cách khác. Tổ không sợ họ hại mà sợ họ mang tội, cho nên đi sớm. Huyễn Chi là người phàm tình, có quyền thế trong tay, nghe nói có người mưu hại Tổ thì nóng ruột nên thưa: Ai thường hại Thầy xin Thầy chỉ, con sẽ sắp xếp. Sắp xếp nghĩa là trừng trị, chứ không thể để họ hại thầy mãi.
Tổ bảo: Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy, đâu cam hại người để mình được vui. Tổ từ bi đáo để, thà ra đi chứ không nói để người khác mang họa tội nghiệp. Huyễn Chi nài nỉ thưa: Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi. Tổ bất đắc dĩ nói bài kệ:
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng.
Năm miệng đồng cùng đi,
Chín, mười không ta người.
Qua ý nghĩa bài kệ, Tổ không nói người nào hại mình, chỉ nói chuyện sắp ra đi mà thôi. Đi ngày nào tháng nào, bởi năn nỉ nên nói như vậy. Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Tổ lui ra.
Ở đây đúng ba hôm, ngài ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là ngày mùng chín tháng mười năm Mậu Thân, nhằm niên hiệu Đại Thông năm thứ hai nhà Lương (528 TL). Đến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của ngài nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.
Sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp ngài tại núi Thông Lãnh, thấy ngài tay xách một chiếc dép, một mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
– Thầy đi đâu?
Ngài đáp: – Về Ấn Độ.
Ngài lại nói thêm:
– Chủ ông đã chán đời rồi.
Tống Vân ngẩn ngơ, từ giã ngài về triều. Đến triều thì vua Minh Đế đã băng. Hiếu Trang Đế lên ngôi. Ông đem việc ấy tâu lại, vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (727 TL) môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Vua phong ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán.
Tập Thiếu Thất Lục Môn là tác phẩm của ngài.
Đúng như vậy, ngày mùng chín tháng mười năm Mậu Thân, niên hiệu Đại Thông năm thứ hai nhà Lương, Tổ ngồi an nhiên thị tịch. Đến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân Tổ nhập tháp tại chùa Định Lâm núi Hùng Nhĩ. Như vậy Tổ đi đâu, về Ấn Độ hay nhập tháp? Điều này còn nhiều nghi vấn, đa số người thấy Tổ đã được nhập tháp, nhưng đọc đoạn sử sau thì thấy Tổ về Ấn Độ.
Vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp Tổ tại núi Thông Lãnh, thấy ngài tay xách một chiếc dép, đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi: Thầy đi đâu? Tổ đáp: Về Ấn Độ. Tổ lại nói thêm: Chủ ông đã chán đời rồi. Tống Vân ngẩn ngơ từ giã Tổ về triều.
Đến triều thì vua Minh Đế đã băng hà. Hiếu Trang Đế lên ngôi, ông đem việc ấy tâu lại, vua ra lệnh mở cửa tháp giở nắp quan tài, quả nhiên trong quan tài chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm, môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Đọc qua đoạn này chúng ta có thể tin không? Thử đặt câu hỏi Tổ về Ấn Độ hay nhập tháp? Nếu theo đoạn sử trên thì Tổ thị tịch, nhập tháp có chỗ nơi đàng hoàng. Nhưng theo đoạn sử dưới thì Tống Vân gặp Tổ quảy chiếc dép về Ấn Độ. Vua Trang Đế cho giở nắp quan tài, thấy chỉ còn một chiếc dép là thực hay hư? Nếu hư thì tại sao sách sử còn ghi? Có lẽ rằng khi mở cửa tháp giở nắp quan tài, thường dân không dám chen vô xem, chỉ có vua quan thôi. Thành ra khi đậy nắp lại thì những vị ấy nói sao họ nghe vậy, rồi y đó truyền với nhau. Đây là vấn đề không đơn giản.
Về sau ngài Thường Chiếu, một thiền sư Việt Nam phủ nhận không tin. Khi ngài sắp tịch, đệ tử là Thần Nghi hỏi rằng: Mọi người đến thời tiết này vì sao đều theo thế tục mà chết? Ngài Thường Chiếu hỏi: Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục? Thần Nghi thưa: Một mình tổ Đạt-ma. Ngài Thường Chiếu hỏi có gì đặc biệt. Thần Nghi thưa: Một mình đạp trên sóng về Tây. Tức là người ta thấy Tổ một mình đứng trên cành lau vượt sóng, quảy chiếc dép về Ân Độ. Nếu Tổ không về Ấn Độ, tại sao Tống Vân gặp ngài? Ngài Thường Chiếu nói: Một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo. Tại sao ngài dám nói như thế, có lỗi phạm thượng hay không?
Chúng ta học sử bị lệ thuộc vào sử, nghe sao tin vậy. Nhưng ngài Thường Chiếu dám nói câu trên vì ngài không lệ thuộc vào sử mà xét theo lẽ thật. Nếu tổ Đạt-ma không chết thì có lỗi gì? Thứ nhất là tổ Đạt-ma hơn Phật. Đức Phật tám mươi tuổi nhập Niết-bàn tại rừng Câu-thi-na, dưới hai cây sa-la. Phật nhập Niết-bàn, nhưng Tổ không tịch thì có hợp đạo lý không? Thứ hai trong kinh Phật nói có sanh thì phải có tử, có hợp thì phải có tan. Nếu một vị Tổ trong đạo Phật mà không tử thì trái đạo lý, trái với chánh pháp. Thứ ba nếu Tổ không tịch mà về Ấn Độ, thì từ đó tới giờ có ai gặp Tổ không? Nếu không chết thì có người gặp, nhưng không nghe nói tổ Đạt-ma về Ấn Độ ở chỗ nào. Không tịch mà không ai gặp tức là tịch rồi. Nói không tịch là trái với lẽ thật, trái với chánh pháp. Câu chuyện trên không đúng lẽ thật, không hợp với chánh pháp, mà chúng ta tin thì có trái với lời Phật dạy không?
Do đó trong kinh A-hàm có đoạn Phật dạy: Đừng tin một điều gì dù điều đó do sách vở từ ngàn xưa để lại. Đừng tin một điều gì, dù điều đó từ miệng ông thầy nói ra. Đừng tin một điều gì, dù điều đó do một người đủ quyền lực nói lại. Đừng tin một điều gì, dù do nhiều người nói lại v.v… Khi xét đúng sự thật hợp chân lý, lợi ích cho mình cho người thì điều đó mới nên tin.
Ngài Thường Chiếu dám nhìn tường tận sự thật, điều gì đáng tin điều gì không đáng tin, dù sử sách ghi mà không đúng ngài cũng không tin, thật là can đảm. Tôi rất quý phục tinh thần của ngài, cho nên khi cất thiền viện này tôi để tên Thường Chiếu, là lấy gương của một thiền sư Việt Nam có bản lãnh, đáng cho chúng ta ghi nhớ.
Tại sao bây giờ các chùa lại thờ hình ảnh Tổ quảy cây gậy trên vai, trên đầu gậy có máng một chiếc dép, đứng trên một cành lau rẽ sóng về Ấn Độ. Qua hình ảnh này chúng ta thấy có gì đặc biệt? Hình ảnh Tổ quảy chiếc dép về Ấn Độ mang một ý nghĩa rất thâm trầm của nhà Phật hay của Thiền tông, cũng nói lên đầy đủ tinh thần của tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền pháp. Bởi vì theo tinh thần của nhà thiền, thì không cho mắc kẹt hai bên. Nếu còn mắc kẹt hai bên thì chưa gọi là Tổ. Dép là một đôi tức là hai bên, bây giờ Tổ vượt qua đối đãi hai bên. Ngài truyền bá giáo pháp Tối thượng thừa cho chúng sanh, tượng trưng bằng hình ảnh một chiếc dép duy nhất.
Thờ hình ảnh biểu trưng này để nhắc chúng ta tu, chứ không phải là hình ảnh theo lịch sử. Người nào tu hành tâm vượt khỏi đối đãi, chỉ sống bằng tánh viên giác thì có năng lực mầu nhiệm phi thường. Cành lau cũng biến thành con thuyền đưa người qua biển.
Về sau vua phong ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán. Thiếu Thất Lục Môn là tác phẩm của ngài.