(Haklena)
Ngài dòng Bà-la-môn sanh tại nước Nguyệt Chi, cha hiệu Thiên Thắng, mẹ là Kim Quang.
Ông Thiên Thắng đã lớn tuổi mà không con. Một hôm, ông đến trước Kim Tràng thờ bảy đức Phật dâng hương lễ bái cầu con. Sau đó bà Kim Quang nằm mộng thấy một vị thần đứng trên ngọn núi Tu-di tay cầm vòng ngọc nói với bà: “Ta lại đây.” Khi thức giấc, bà biết có thai.
Khi ngài được bảy tuổi đi chơi trong xóm, thấy một ngôi miếu thờ thần, dân gian hằng ngày giết các súc vật đến dâng cúng. Ngài đi thẳng vào miếu quở:
– Khéo bày đặt sự họa phước mà lừa gạt dân chúng, hằng năm làm hao phí của nhân dân, tổn hại sanh mạng loại vật quá nhiều!
Ngài quở xong, ngôi miếu bị sụp đổ. Dân chúng trong làng gọi ngài là ông Thánh con.
Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, sanh tại nước Nguyệt Chi, cha mẹ ngài lớn tuổi mà chưa có con nên mới đến các nơi thờ Phật để cầu con. Thuở xưa gọi chỗ thờ Phật là kim tràng. Kim là vàng, tràng là đạo tràng. Kim tràng là ngôi điện báu thường gọi là bảo điện. Gọi như thế song thật ra chỗ thờ Phật cũng xây bằng xi-măng bằng gạch, chứ không phải bằng ngọc ngà, nhưng vì Phật là đấng cao quý nên chúng ta quý chỗ thờ ngài, gọi là bảo điện hay kim tràng.
Một hôm mẹ ngài nằm mộng thấy một vị thần đứng trên ngọn núi Tu-di, cầm vòng ngọc nói với bà: Ta lại đây! Nghĩa là đến đúng như sở nguyện của bà. Từ đó bà mang thai, sau mới sanh ra ngài. Lên bảy tuổi ngài đi chơi trong xóm thấy miếu thờ thần, dân chúng thường cúng heo gà vịt… Thấy vậy ngài đi thẳng tới quở: Khéo bày đặt sự họa phước mà lừa gạt dân chúng, hằng năm làm hao phí của nhân dân, tổn hại sanh mạng loài vật quá nhiều! Ngài quở xong miếu liền sụp đổ. Lúc đó dân chúng trong làng gọi ngài là ông Thánh con.
Ngài có oai đức nên quở miếu sụp đổ, còn chúng ta thử quở coi có sụp đổ không? Hay là gặp miếu cũng bắt chước người ta cúng vái? Người đời cho rằng cúng quỷ thần để cầu phước. Nhưng quỷ thần có ban phước cho mình không? Đức Phật từng nói: Ta không thể ban phước cho ai, ta chỉ là người thầy dẫn đường để chúng sanh biết hướng đi mà tiến tới đạo giải thoát. Đức Phật không ban phước cho ai, thì quỷ thần rất ít phước làm sao ban phước cho mình được.
Hai mươi tuổi, ngài xuất gia tu theo Phật giáo. Ngài ở ẩn trong đám rừng xanh ngót chín năm, chỉ làm bạn với bầy hạc và chuyên tụng kinh Đại Bát-nhã. Năm ba mươi tuổi, ngài gặp tổ Ma-noa-la và được truyền tâm ấn.
Ngài dẫn chúng du hóa miền Trung Ấn. Vua xứ này tên Vô Úy Hải rất sùng mộ Phật giáo nên thỉnh ngài vào cung thuyết pháp. Vua nghe ngài thuyết pháp xong rất hoan hỷ.
Ngài có đệ tử ưu tú nhất là Long Tử. Long Tử rất thông minh mà mạng yểu. Long Tử mất, cha mẹ và anh là Sư Tử đến làm lễ hỏa táng, song dời quan tài không được. Sư Tử lấy làm lạ hỏi ngài:
– Toàn chúng tận lực giở lên, tại sao không nổi?
Ngài đáp:
– Lỗi tại nơi ngươi vậy.
Sư Tử hỏi:
– Tôi có lỗi gì? Xin Tôn giả nói cho tôi biết.
Ngài bảo:
– Ngươi xưa theo Bà-la-môn, em ngươi đi xuất gia, hai bên xa cách. Em ngươi hai năm ngày đêm nhớ thương, muốn làm phước giúp cho ngươi, bảo thầy ngươi đắp một tượng Phật, đã lâu mà chưa hoàn bị. Ngươi vì ghét nên đem tượng Phật ném xuống đất. Bây giờ, ngươi đi về thỉnh tượng Phật để trên bàn lại, thì quan tài sẽ dời được.
Sư Tử làm y như ngài dạy, quả nhiên quan tài dời đi dễ dàng.
Đến hai mươi tuổi, ngài xuất gia tu theo Phật giáo, khi đi tu ngài rất chân thành. Ngài ở ẩn trong rừng xanh ngót chín năm, chỉ làm bạn với bầy hạc và chuyên tụng kinh Đại Bát-nhã. Năm ba mươi tuổi ngài gặp tổ Ma-noa-la, rồi sau đó được truyền tâm ấn.
Ngài đi giáo hóa đến miền Trung Ấn, vua xứ này tên Vô Úy Hải rất sùng mộ Phật giáo. Vua thỉnh ngài vào cung thuyết pháp, nghe xong vua rất hoan hỷ.
Ngài có đệ tử ưu tú là Long Tử, người này rất thông minh, nhưng mạng yếu chết sớm. Long Tử theo đạo Phật, nhưng có người anh tên Sư Tử theo đạo Bà-la-môn, trớ trêu như vậy. Long Tử mất, cha mẹ và anh làm lễ hỏa táng, song dời quan tài không được.
Sư Tử lấy làm lạ hỏi ngài: Tại sao mọi người tận lực mà không giở nổi quan tài? Tổ đáp: Lỗi tại nơi ngươi vậy. Sư Tử hỏi: Tôi có lỗi gì, xin Tôn giả nói cho tôi biết. Tổ bảo: Ngươi theo đạo Bà-la-môn, em ngươi xuất gia theo đạo Phật. Hai bên xa cách, ngày đêm nhớ thương muốn làm phước cho ngươi, bảo thầy ngươi đắp một tượng Phật đã lâu chưa hoàn bị. Vì ngươi không thích đạo Phật nên đem tượng Phật ném xuống đất. Bây giờ ngươi đi về thỉnh tượng Phật để trên bàn, thì quan tài sẽ dời được. Người em muốn độ người anh, nên khi nhắm mắt cũng tạo duyên để người anh thức tỉnh.
Sư Tử nghe vậy liền làm đúng như lời Tổ dạy. Làm xong trở lại khiêng quan tài lên được và dời đi dễ dàng.
Chúng ta đọc đoạn này thấy có vẻ hơi huyền bí, nhưng không biết do công đức vô lượng của Tổ muốn độ Sư Tử, hay là do cái duyên Phật của Sư Tử đối với người em mà xảy ra như vậy. Tổ biết Sư Tử là một nhân vật có pháp khí đại thừa, khả dĩ thay thế ngài, có lẽ một phần do ngài dụng ý khiến cho Sư Tử phải nể phục nên mới có việc lạ đó.
Kế đến thầy của Sư Tử tịch. Ông cảm thấy buồn bã, nghiệm lại lời ngài nói, bèn đến xin xuất gia làm đệ tử ngài.
Sư Tử hỏi ngài:
– Bạch Thầy! Con muốn dụng tâm cầu đạo, phải dụng tâm nào?
Ngài đáp:
– Không có chỗ dụng tâm.
– Đã không dụng tâm làm sao làm Phật sự?
– Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Cho nên kinh nói: “Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm.”
Sư Tử nghe nói liền phát sanh trí tuệ Phật. Ngài chỉ hướng đông bắc hỏi Sư Tử:
– Ngươi thấy gì chăng?
Sư Tử thưa:
– Con thấy.
– Ngươi thấy cái gì?
– Con thấy hơi trắng xông lên giống như cái mống bao khắp trời đất, lại có hơi đen năm lần xẹt như cây thang lên trời Đao-lợi.
– Ngươi thấy hơi ấy, có biết ứng điềm gì chăng?
– Con không biết ứng điềm gì, xin Thầy dạy cho.
– Năm mươi năm sau khi ta diệt độ, tai nạn sẽ phát khởi ở Bắc Ấn, ngươi nên biết đó.
Sư Tử thưa:
– Con muốn du phương, thỉnh Thầy chỉ dạy.
Ngài bảo:
– Nay ta đã già, giờ Niết-bàn sắp đến, đại pháp nhãn tạng của Như Lai giao lại cho ngươi, ngươi đến nước khác. Song nước ấy có tai nạn mà liên hệ đến thân ngươi. Ngươi phải dè dặt, truyền trao sớm chớ để đoạn mất. Nghe ta nói kệ:
Nhận đắc tâm tánh thời,
Khả thuyết bất tư nghì.
Liễu liễu vô khả đắc,
Đắc thời bất thuyết tri.
Dịch:
Khi nhận được tâm tánh,
Mới nói chẳng nghĩ bàn.
Rõ ràng không chỗ được,
Khi được không nói biết.
Truyền pháp xong, ngài phi thân lên hư không làm mười tám pháp thần biến, rồi trở lại chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch.
Khi Sư Tử phát tâm tu, liền xin làm đệ tử xuất gia với Tổ. Sư Tử hỏi: Bạch Thầy, con muốn dụng tâm cầu đạo, phải dụng tâm nào? Một câu hỏi rất là bình thường của người học đạo. Bởi vì theo quan niệm của người biết tu, nghe mình có nhiều tâm, nào là tâm thiện, tâm ác… Bây giờ muốn cầu đạo không biết phải dùng tâm nào để ứng dụng cho hợp lý.
Tổ đáp: Không có chỗ dụng tâm. Tại sao không có chỗ dụng tâm gọi là cầu đạo? Chữ đạo ở đây là chỉ cho tâm. Vừa dấy một niệm cầu thì mất đạo. Như vậy đạo nghĩa là vô tâm hay vô tâm là đạo, nếu vừa dấy niệm dụng tâm thì đã mất đạo rồi. Cho nên nói không có chỗ dụng tâm, chính đó mới là đạo nhiệm mầu.
Sư Tử hỏi: Đã không dụng tâm, làm sao làm Phật sự? Tổ đáp: Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Cho nên trong kinh nói: Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm. Nếu ngươi có dụng thì chẳng phải công đức, câu này còn dễ hiểu. Bởi vì có dụng tâm là sanh diệt, chỉ có phước đức chứ không có công đức.
Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Câu này nghe hơi khó hiểu. Không làm là ngồi không, sao nói làm Phật sự? Ở đây không làm mà làm tất cả, nghĩa là làm mà không nghĩ mình làm, chứ không phải không làm là ngồi chơi suông. Câu không làm mà làm, phù hợp với câu Lão Tử nói: “Vô vi nhi vô bất vi”, nghĩa là không làm mà làm. Hay nói ngược lại, làm tất cả mà không thấy mình làm, đó mới là Phật sự.
Đây dẫn kinh làm chứng: Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm. Câu này làm rõ ý nghĩa câu trước, ta ra làm tất cả công đức mà không thấy có ta làm, nói không làm tức là không có cái ta. Nhưng làm tất cả công đức như vậy mới thật là Phật sự.
Chúng ta chịu khó kiểm điểm lại coi có làm Phật sự chưa? Nếu đang làm hoặc đã làm những Phật sự mà thấy có ta làm thì chưa phải là công đức. Nhưng Phật tử làm một Phật sự gì thì chư tăng thường khen ngợi được công đức vô lượng vô biên, như vậy có mâu thuẫn không? Không có mâu thuẫn. Bởi vì ở đây Tổ là người trở về tự tánh, thành ra nói công đức tánh, công đức từ tự tánh mà phát khởi, chứ không phải nói công đức hữu dư hữu lậu. Nhưng trên phương diện hữu dư mà nói, thì làm việc lành đều có phước. Thành ra chư tăng nói làm Phật sự có công đức vô lượng vô biên là căn cứ vào cái sanh diệt mà nói. Tổ nói không có công đức là căn cứ vào cái vô sanh mà nói, do đó hai bên khác nhau nhưng không mâu thuẫn.
Sư Tử nghe tới đó liền phát sanh trí tuệ Phật, nhận ra được lý của tự tánh.
Sư Tử thưa: Con muốn du phương thỉnh Thầy chỉ dạy!
Tổ bảo: Nay ta đã già, giờ Niết-bàn sắp đến, đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao lại cho ngươi, ngươi đến nước khác hoằng hóa. Song nước ấy có tai nạn mà liên hệ đến thân ngươi. Ngươi phải dè dặt, truyền trao sớm chớ để đoạn dứt.
Tổ truyền y pháp cho Sư Tử qua bài kệ:
Khi nhận được tâm tánh,
Mới nói chẳng nghĩ bàn.
Rõ ràng không chỗ được,
Khi được không nói biết.
Nhận được tâm tánh thì không thể nghĩ bàn, không có sở đắc. Tại sao? Nếu còn sở đắc thì còn năng còn sở thì làm sao nhận được chân tánh. Kinh Viên Giác nói nếu còn thấy có chứng đắc là còn bệnh. Khi nhận được tâm tánh rồi thì không nói biết. Tại sao? Khi nhận ra tâm tánh thì không thể nói mình biết tâm tánh, nếu nói như thế thì tâm tánh là cái bị biết, mình là cái hay biết, tự nhiên thành hai. Như con mắt thấy sự vật bên ngoài, không thể thấy được con mắt, nếu thấy được con mắt thì không phải là con mắt của mình, mà là con mắt của người khác.
Chúng ta thường lầm lẫn văn tự chữ nghĩa. Trong nhà thiền nói tu hành phải kiến tánh, chữ kiến tánh ở đây không phải thấy bằng mắt, nếu thấy bằng mắt là có vật bị thấy và con mắt hay thấy, là có đối tượng để mình thấy. Kiến tánh là nhận ra tâm tánh bằng trí tuệ và sống thật với chân tánh. Khi được không nói biết, vì khi nhận ra và sống được thì không nói nó là cái bị mình biết, mà chỉ biết mình hiện đang sống thôi.
Truyền pháp xong, Tổ phi thân lên hư không làm mười tám pháp thần biến, rồi trở lại chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch.