(Simhabodhi)
Ngài dòng Bà-la-môn người Trung Ấn. Thuở nhỏ ngài rất thông minh, tài hùng biện xuất chúng. Ngài có người em tên Long Tử cũng thông minh như thế. Trước ngài thọ giáo với thầy Bà-la-môn, em ngài lại xuất gia tu theo Phật giáo. Khi Long Tử tịch, ngài có cơ hội gặp tổ Hạc-lặc-na và hồi đầu thọ giáo với Tổ. Khi Tổ sắp tịch truyền tâm pháp lại cho ngài.
Ngài dòng Bà-la-môn người Trung Ấn. Thuở nhỏ rất thông minh có tài hùng biện xuất chúng. Trước thọ giáo với thầy Bà-la-môn, sau gặp tổ Hạc-lặc-na hồi đầu thọ giáo với Tổ tu theo Phật. Khi Tổ sắp tịch truyền tâm pháp lại cho ngài. Việc sanh tử của ngài lạ hơn các vị khác.
Ngài sang nước Kế-tân hoằng hóa. Trong nước này trước có vị Sa-môn tên Bà-lợi-ca chuyên tập thiền quán của tiểu thừa. Môn đồ của Bà-lợi-ca, sau lại chia làm năm phái: 1- Thiền định, 2- Tri kiến, 3- Chấp tướng, 4- Xả tướng, 5- Tịnh khẩu. Họ tranh nhau giành phần hơn. Ngài đến các phái ấy, dùng biện tài vô ngại chiết phục được bốn phái. Duy phái Thiền định người cầm đầu là Đạt-ma-đạt hay tin này tức giận tìm đến cật nạn ngài. Vừa gặp ngài, Đạt-ma-đạt nói:
– Muốn gặp nhau vấn nạn mới đến đây.
Ngài hỏi:
– Nhân giả tập định sao lại đến đây? Nếu có đến đây thì đâu phải thường tập định?
Ma-đạt nói:
– Tôi đến chỗ này mà tâm cũng không loạn, định tùy người tập đâu phải tại chỗ nơi.
Ngài hỏi:
– Nhân giả lại đây thì cái tập kia cũng đến. Đã không phải chỗ nơi thì đâu tại người tập?
Ma-đạt nói:
– Vì định tập người, chẳng phải người tập định. Tuy tôi có đi lại mà cái định ấy vẫn thường tập.
Ngài hỏi:
– Người chẳng tập định, vì định tập người. Vậy chính khi người đi lại, thì cái định ấy tập ai?
Ma-đạt nói:
– Như hạt minh châu sạch, trong ngoài không bị che, nếu định được thông đạt cũng lại như thế.
Ngài bảo:
– Nếu định thông đạt giống như hạt minh châu. Nay thấy nhân giả không thể sánh được với hạt minh châu.
Ma-đạt nói:
– Hạt châu kia sáng suốt trong ngoài đều định. Tâm tôi không loạn ví như hạt châu ấy.
Ngài bảo:
– Châu kia không có trong ngoài, nhân giả làm sao hay định? Vật như chẳng dao động, định này chẳng phải sạch.
Đạt-ma-đạt biết nghĩa mình bị bẻ gãy, càng kính phục, đảnh lễ bạch ngài:
– Con học đạo còn sơ thiển, nếu không được lời chỉ dạy của Tôn giả làm sao biết được chỗ tột. Cúi xin Tôn giả thương xót nhận con làm học trò.
Ngài sang nước Kế-tân hoằng hóa. Trong nước này có năm phái thiền. Ngài dùng biện tài vô ngại chiết phục được bốn phái. Người cầm đầu phái Thiền định là Đạt-ma-đạt, hay tin này tức giận tìm đến vấn nạn.
Người tu thiền mà tỏ vẻ bực bội tới phỏng vấn, tức nhiên trong tâm có cái gì rồi. Cho nên vừa gặp ngài,
Đạt-ma-đạt nói: Muốn gặp nhau vấn nạn nên mới đến đây. Tu thiền mà gặp nhau để vấn nạn thì tâm không định.
Tổ hỏi: Nhân giả tập định, sao lại đến đây? Nếu có đến đây thì đâu phải thường tập định? Nghĩa là nhân giả khởi ý niệm đến gặp tôi vấn nạn thì đã mất định rồi.
Ma-đạt cãi lý: Tôi tới đây hay đi đâu cũng vẫn định như thường, vì định tùy người đâu phải tùy chỗ nơi. Tổ bẻ lại: Nhân giả đi đâu thì tập định theo đó, như vậy nhân giả là một, tập định là hai. Nhân giả đi tới đây thì tập định cũng đi theo tới đây, mà đã nói không phải chỗ nơi thì đâu tại người tập.
Đã không có chỗ nơi thì cũng không có người, vì xứ sở lệ thuộc vào người, như nhân và quả không rời nhau. Ví dụ khi nói tới tôi, thì phải nói tới chỗ ở của tôi. Như vậy năng sở không rời nhau. Nếu nói tới tôi mà không nói tới chỗ tôi ở thì có người mà không có cảnh, có năng mà không có sở, năng sở rời nhau thật vô lý!
Nếu ngài chấp nhận có cảnh thì phải có người, cho nên nói đã không phải chỗ nơi, thì đâu tại người tập? Nghĩa là nếu ông nói không chỗ nơi, thì ông phải chấp nhận là không có người, mà ông đã chấp nhận có người tập, thì tức nhiên phải chấp nhận có chỗ nơi.
Ma-đạt nói: Vì định tập người chẳng phải người tập định, tuy tôi có đi lại mà định ấy vẫn thường tập. Ông trả lời định tập người, chứ không phải người tập định, đó là ngụy biện. Nhưng nói vậy để chi? Để lấy cớ tuy có đi mà vẫn còn định hoài.
Tổ hỏi: Người chẳng tập định, vì định tập người. Vậy chính khi người đi lại, thì định ấy tập ai? Vì định tập người, khi người đi lại cái định mất, vậy định tập ai? Lý của Ma-đạt coi như bị bẻ gãy rồi, nhưng ông còn gượng gạo dùng ví dụ: Như hạt minh châu sạch, trong ngoài không bị che, nếu định được thông đạt, cũng lại như thế. Tôi cũng như hạt minh châu trong sạch, trong ngoài đều không bị dơ bẩn che khuất, cho nên đi đâu làm gì cũng định.
Ngài bảo: Nếu định thông đạt giống như hạt minh châu. Nay thấy nhân giả không thể sánh được với hạt minh châu. Tại sao Tổ nói câu đó? Vì ông đi tới đây để cật vấn tôi thì trong tâm đã có bợn nhơ rồi, không thể trong sạch như hạt minh châu.
Ma-đạt nói: Hạt châu kia sáng suốt trong ngoài đều định. Tâm tôi không loạn ví như hạt châu ấy. Ông nói hạt minh châu sáng suốt trong ngoài đều định, nhưng quên rằng hạt minh châu không có trong ngoài. Cho nên kẹt hai chữ trong ngoài mà ông thua cuộc. Nếu còn thấy có trong ngoài là thấy có hai vật, vì vậy Tổ bảo: Châu kia không có trong ngoài, nhân giả làm sao hay định? Nhân giả còn thấy có trong ngoài, tức là tâm chưa định.
Tổ nói tiếp: Vật như chẳng dao động, định này chẳng phải sạch. Bởi vì ông nói cái định sáng suốt trong sạch như hạt minh châu, Tổ mới nói người nhập định không còn thấy trong ngoài như sạch, nhơ tới cũng chẳng động, sạch tới cũng chẳng định, như vậy
mới thật là đại định. Nếu còn thấy hai bên thì tâm chưa định. Ông Đạt-ma-đạt biết nghĩa lý của mình bị bẻ gãy, từ đó mới kính phục xin xuất gia làm đệ tử Tổ.
Ngài dạy thêm:
– Thiền định của chư Phật không có sở đắc. Giác đạo của chư Phật không có sở chứng. Không đắc không chứng là chân giải thoát. Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, ở trong pháp này (chân giải thoát) ắt chẳng như thế. Ngươi nếu tập định nên tập như vậy.
Đạt-ma-đạt vui vẻ vâng lời dạy.
Tổ dạy thêm: Thiền định của chư Phật không có sở đắc. Giác đạo của chư Phật không có sở chứng. Không đắc không chứng là chân giải thoát. Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, ở trong pháp này ắt chẳng như thế. Ngươi nếu tập định nên tập như vậy.
Đoạn này tuy ngắn nhưng dạy rất rõ ràng. Thiền thì không có sở đắc, giác thì không có sở chứng. Không sở đắc sở chứng mới được giải thoát. Người thể nhập tánh Viên Giác không còn thấy có người hay đắc, có pháp để đắc. Nếu thấy có chứng đắc là bệnh. Ngã và pháp hoàn toàn sạch hết, chỉ thuần một tánh Viên Giác, mới gọi là chân giải thoát. Nếu còn thấy có ngã hay được, có pháp để được thì còn bốn tướng nên không được chân giải thoát.
Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, chứ không phải ở trong đạo giải thoát. Đã giải thoát thì không thấy đền nhân trả quả gì hết. Cho nên Phật nói đền nhân trả quả là căn cứ trên pháp sanh diệt của thế gian. Nói không đền nhân trả quả là căn cứ trong chỗ cứu cánh giải thoát. Chúng ta phải hiểu cho tường tận lời Phật dạy thì không còn nghi ngờ. Nghe được lời này, Ma-đạt vui vẻ vâng lời dạy của Tổ.
Một hôm, có ông trưởng giả dẫn đứa con đến yết kiến ngài. Trưởng giả thưa:
– Con tôi tên là Tư-đa, từ khi sanh ra cho đến nay hai mươi tuổi mà bàn tay trái vẫn nắm chặt lại chưa từng mở ra. Xin Tôn giả từ bị nói rõ nhân đời trước của nó cho tôi hiểu.
– Ngài nhìn thẳng vào mặt Tư-đa rồi đưa tay bảo:
Trả hạt châu lại cho ta!
Tư-đa liền xòe tay dâng hạt châu cho ngài. Trưởng giả và đồ chúng thấy thế đều ngạc nhiên. Ngài giải thích:
– Thuở quá khứ ta làm vị Tỳ-kheo thường được Long vương thỉnh xuống Long cung tụng kinh. Khi ấy, Tư-đa cũng theo ta xuất gia, tên Bà-xá. Một hôm, Long vương thỉnh ta đi tụng kinh, Bà-xá theo làm thị giả. Tụng kinh xong, Long vương cúng hạt châu đáp lễ. Ta nhận trao cho thị giả giữ trong tay. Ta tịch, sanh nơi đây, vì nhân duyên thầy trò chưa hết, nên lại gặp nhau tại hội này.
Trưởng giả nghe được tiền duyên của con mình, hoan hỷ cho Tư-đa theo ngài xuất gia.
Ngài xét duyên xưa và nay nên hợp hai tên lại đặt là Bà-xá-tư-đa. Nhận Bà-xá-tư-đa rồi, ngài triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới.
Sau đó, ngài gọi Bà-xá-tư-đa lại bảo:
– Nơi nước này sắp có tai nạn đến cho ta, nhưng tuổi ta đã già yếu đâu mong lánh thoát làm gì. Ta đã được truyền đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên phụng trì, mau đi khỏi nước này, lấy sự giáo hóa làm nhiệm vụ. Nếu có người nghi ngờ nên trình y Tăng-già-lê của ta đây làm tin. Nghe ta nói kệ:
Chánh thuyết tri kiến thời,
Tri kiến câu thị tâm.
Đương tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức vu kim.
Dịch:
Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm.
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức hiện nay.
Bà-xá-tư-đa nhận lãnh tuân hành, ngay hôm ấy đi nơi khác.
Một hôm, có ông trưởng giả dẫn đứa con đến yết kiến Tổ, thưa: Con tôi tên là Tư-đa, từ khi sanh ra cho đến nay hai mươi tuổi, bàn tay trái vẫn nắm chặt chưa từng mở ra. Xin Tôn giả từ bị nói rõ nhân đời trước của nó cho tôi hiểu.
Ngài nhìn thẳng vào mặt Tư-đa, rồi đưa tay bảo: Trả hạt châu lại cho ta! Tư-đa liền xòe tay dâng hạt châu cho ngài. Trưởng giả và đồ chúng đều ngạc nhiên. Tổ liền nói nhân duyên đời trước. Trưởng giả nghe xong hoan hỷ cho Tư-đa xuất gia theo Tổ.
Tổ xét duyên xưa và nay, hợp hai tên lại đặt là Bà-xá-tư-đa và triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới. Sau đó, Tổ gọi Bà-xá-tư-đa bảo: Nước này sắp có tai nạn đến cho ta, tuổi ta già yếu đâu mong lánh thoát làm gì. Ta đã được truyền đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay trao lại cho ngươi, ngươi nên phụng trì, mau đi khỏi nước này lấy sự giáo hóa làm nhiệm vụ. Nếu có người nghi ngờ nên trình y Tăng-già-lê của ta đây để làm tin. Nghe ta nói kệ:
Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm.
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức hiện nay.
Chính khi nói tri kiến, tri kiến ấy đều là tâm. Tại sao ở đây nói tri kiến đều là tâm, có chỗ nói tri kiến không phải tâm? Muốn hiểu rõ chỗ này chúng ta căn cứ vào câu Phật nói trong kinh Lăng-nghiêm: Tri kiến lập tri, tức vô minh bản; tri kiến vô kiến, tư tức Niết-bàn. Thấy biết mà lập thấy biết là gốc vô minh; thấy biết không lập thấy biết là gốc Niết-bàn.
Thế nào thấy biết là gốc vô minh? Như khi nhìn hoa hồng trên bàn, chúng ta phân tích hoa này màu hường đẹp hơn hoa khác v.v… Khi thấy biết mà chúng ta thêm vọng tưởng để suy nghĩ phân tích về đối tượng mình thấy, đó là gốc vô minh.
Thế nào thấy biết là gốc Niết-bàn? Như nhìn hoa hồng ở trên bàn, chúng ta chỉ nhìn thôi, không suy nghĩ phân biệt đẹp xấu… đó là gốc của Niết-bàn. Nếu thấy biết mà không suy nghĩ về đối tượng, cũng như cái gương sáng trung thực phản ảnh những vật bên ngoài, mà không thêm gì cả. Chúng ta học Phật thì phải buông bỏ tri kiến vô minh, tập sống theo tri kiến Niết-bàn, tri kiến đó tức là tâm.
Chính tâm tức tri kiến, tri kiến tức hiện nay. Vì tâm là cái biết cho nên nói là tri kiến. Tri kiến này chỉ tâm ngay hiện tại, là tâm chưa khởi vọng thức phân biệt. Còn tri kiến cộng với phân biệt là thuộc về ý thức phân biệt.
Ý bài kệ này Tổ chỉ ngay tri kiến hiện hữu của chúng ta khi chưa có phân biệt chính là tâm. Tâm đó chỉ trong sát-na hiện tại, không bị lệch qua vọng tưởng phân biệt quá khứ hay tương lai. Bà-xá-tư-đa nghe rồi nhận lãnh tuân hành.
Lúc ấy, trong nước Kế-tân có hai người ngoại đạo giỏi pháp huyễn thuật mưu đồ ám sát nhà vua. Nhưng còn ngại bại lộ cơ mưu, nên chúng đổi hình Tỳ-kheo đi làm việc gian ác ấy. Quả nhiên bị quân bắt được. Vua Di-la-quật hay việc này nổi cơn phẫn nộ, ra lệnh triệt hạ chùa chiền, bắt nhốt tăng chúng. Vua trách:
– Lâu nay ta sùng kính Phật giáo, quý trọng Tỳ-kheo mà nay họ lại manh tâm ám hại ta, vậy còn đạo đức chỗ nào?
Bởi sự tức giận ấy, nhà vua đích thân cầm gươm báu đến chỗ ngài Sư Tử hỏi:
– Thầy được không tướng chưa?
Ngài đáp:
– Đã được.
– Đã được thì còn sợ sống chết chăng?
– Đã lìa sống chết thì đâu có sợ.
– Chẳng sợ có thể cho ta cái đầu chăng?
– Thân chẳng phải của ta, huống nữa là đầu.
Vua liền chặt đầu ngài rơi xuống đất. Nơi cổ sữa trắng phun lên cao chừng một trượng. Cánh tay mặt của vua Di-la-quật cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng.
Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và thỉnh chúng tăng cúng dường sám hối. Tăng chúng lo xây tháp thờ ngài.
Chúng ta nhìn theo quan niệm thông thường của mình thì trách nhà vua nông nổi. Nếu nhìn xa hơn nữa thì giữa nhà vua và Tổ có nhân quả tiền kiếp lưu lại chứ không phải là chuyện ngẫu nhiên. Khi nhà vua bắt được những người mưu hại mình là Tỳ-kheo rồi, tổ Sư Tử là người lãnh đạo chư tăng thời đó ở tại nước này, nên vua mới tức giận, xách gươm báu đi thẳng đến chỗ Tổ hỏi: Thầy được không tướng chưa? Câu hỏi nghe mạnh mẽ quá.
Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Đã được, thì còn sợ sống chết chăng? Tổ đáp: Đã lìa sống chết thì đâu có sợ.
Vua nói: Ông không sợ sống chết thì cho ta cái đầu được chăng? Nếu chúng ta nghe hỏi câu đó thì khiếp sợ và van xin cho tôi sống để tu ít năm nữa. Nhưng Tổ trả lời một cách mạnh mẽ: Thân chẳng phải của ta, huống nữa là cái đầu. Nghĩa là thân ngũ uẩn không phải ta, huống nữa cái đầu sao không cho được.
Vua liền chặt đầu Tổ rơi xuống đất. Nơi cổ phun lên sữa trắng cao chừng một trượng. Cánh tay mặt của vua cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng hà.
Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và thỉnh chúng tăng cúng dường sám hối. Tăng chúng lo xây tháp thờ ngài.
Đọc đến đây chúng ta thấy có đau buồn không? Tổ đã đắc đạo mà sao còn quả báo bị nhà vua chặt đầu! Nhưng đối với Tổ đền nhân trả quả là pháp thế gian, chỗ cứu cánh thì thoát ngoài nhân quả. Tổ đã sống bằng tánh viên giác nên thấy thân như bọt bóng không quan trọng. Sự còn mất của thân này đối với Tổ như trò chơi, nợ trước sẵn sàng trả không có gì lo sợ. Thấy thân chẳng phải của ta, nên khi bị chặt đầu, Tổ không thấy cái đầu là của mình, do đó không thấy có người chặt đầu mình. Người tu đến chỗ cao siêu, thì chết cách nào cũng vui vẻ tự tại.
Chúng ta vì không sống được bằng tánh viên giác, nhìn theo con mắt nghiệp của thế gian, thấy có nhân quả rõ ràng, cho thân là thật đầu này thật là của mình, nên mới thấy có người ta chặt đầu. Vì vậy khi bị giết cảm thấy lo sợ bất an, bởi thấy sự còn mất của thân là tối quan trọng. Chúng ta phải tu học nhiều hơn, xả bản ngã để được an ổn khi bị ai làm tổn thương.