Vasumitra
Ngài họ Phả-la-đọa sanh trưởng tại miền Bắc Ấn. Khi còn tại gia, ngài thường mặc đồ sạch sẽ, tay cầm bầu rượu, đi dạo chơi trong xóm làng, có khi ngài ngâm thơ thổi sáo, người thường không sao hiểu nổi, họ bảo ngài là người điên.
Sau khi gặp tổ Di-dá-ca nói lại lời huyền ký của Như Lai, ngài liền tỉnh ngộ tiền duyên, ném bầu rượu phát nguyện xuất gia. Theo Tổ tu hành, ngài ngộ được tâm tông.
Một hôm, tổ Di-dá-ca gọi ngài căn dặn:
– Công hạnh của ta gần viên mãn, Chánh pháp nhãn tạng này trao lại cho ngươi, ngươi phải ân cần gìn giữ chớ để đoạn diệt. Hãy nghe kệ đây:
Vô tâm vô khả đắc,
Thuyết đắc bất danh pháp.
Nhược liễu tâm phi tâm,
Thủy giải tâm tâm pháp.
Dịch:
Không tâm không thể được,
Nói được chẳng gọi pháp.
Nếu rõ tâm phi tâm,
Mới hiểu tâm tâm pháp.
Người ưa uống rượu ngâm thơ thổi sáo là người thích ăn chơi, chứ không phải ưa đạo đức. Thế mà khi gặp tổ Di-dá-ca, chỉ cần nhắc lại câu chuyện thuở quá khứ ngài liền tỉnh ngộ. Để thấy rằng dù cho người đang say mê theo thế tình dục lạc, mà có trí tuệ thì khi nhắc tới liền thức tỉnh, chứ không phải chỉ có người nghiêm chỉnh tu hành mới dễ thức tỉnh.
Đây là trường hợp của ngài Bà-tu-mật, ngài là người thích uống rượu đi dạo chơi trong xóm làng, ưa ngâm thơ thổi sáo. Có người hiểu lầm bảo ngài là người điên, nhưng khi gặp tổ Di-dá-ca thuật lời huyền ký, nghe rồi liền tỉnh ngộ duyên xưa, bỏ hết sở thích của mình, ném bầu rượu phát nguyện xuất gia theo Tổ tu hạnh giải thoát, ngộ được tâm tông và được Tổ truyền trao chánh pháp làm Tổ thứ bảy. Sau đây là bài kệ truyền pháp:
Không tâm không thể được,
Nói được chẳng gọi pháp.
Nếu rõ tâm phi tâm,
Mới hiểu tâm tâm pháp.
Không tâm không thể được, nói được chẳng gọi pháp. Tại sao truyền tâm mà lại nói vô tâm, rồi lại nói không thể được? Cái gì nói được thì không phải pháp, hay nói cách khác là không phải tâm. Tại sao? Ngôn ngữ chúng ta nói ra chỉ là những biểu tượng để diễn đạt, chứ không phải là thật thể. Ví dụ tôi nói cái đồng hồ là lời nói, còn cái đồng hồ là đồng hồ, chứ không phải tôi nói cái đồng hồ rồi lời nói biến thành đồng hồ. Vì vậy mà nói: pháp nói ra được không phải là pháp.
Nếu rõ tâm phi tâm, mới hiểu tâm tâm pháp. Chúng ta thường nói tâm, nhưng sự thật hỏi tâm là gì thì mình sẽ lúng túng. Tâm nói theo nghĩa dễ hiểu nhất là cái biết, cái biết có hai loại, biết sanh diệt và biết không sanh diệt. Như suy nghĩ mà biết là biết theo sanh diệt, không suy nghĩ mà biết là biết không sanh diệt. Chúng ta thường lầm lẫn hai cái biết này cho nên ở đây nói: Nếu rõ cái biết chân thật, không phải cái biết sanh diệt thì mới hiểu tâm tâm pháp, người thấu suốt điều đó mới nhận ra được bản tâm.
Sau khi tổ Di-dá-ca nhập Niết-bàn, ngài đi hoằng hóa khắp nơi tuyên dương Chánh pháp. Khi đến nước Ca-ma-la, ngài lên pháp tòa giảng đạo, có một trí sĩ đến dưới tòa lớn tiếng tự xưng:
– Tôi là Phật-đà-nan-đề, hôm nay quyết luận nghĩa với Thầy!
Ngài bảo:
– Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận.
Nan-đề biết đây là người nói nghĩa thù thắng, khởi tâm kính phục thưa rằng:
– Con nguyện cầu đạo, được thưởng thức vị cam lồ.
Ngài thương xót liền cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề.
Tổ đi hoằng hóa khắp nơi, khi đến nước Ca-ma-la, lên pháp tòa giảng đạo. Có một trí sĩ đứng dưới tòa lớn tiếng tự xưng:
– Tôi là Phật-đà-nan-đề, hôm nay quyết luận nghĩa với Thầy.
Nghe như thế ngài đáp:
– Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa trọn chẳng phải nghĩa luận.
Tại sao? Vì chữ nghĩa ở đây là chỉ cho chân lý bất sanh bất diệt, nếu luận để tìm ra chân lý bất sanh bất diệt thì không bao giờ đến được chân lý, nên nói nếu luận thì chẳng phải nghĩa. Đứng về mặt chân lý không thể nói bàn, vì dùng ngôn ngữ nói bàn không tới, cho nên ông vừa nghĩ luận nghĩa thì không có nghĩa để cho ông luận rồi, nên nói nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Phật-đà-nan-đề nghe Tổ đáp biết đây là bậc phi thường, lòng hết sức kính phục, liền lãnh hội ý chỉ cầu xin xuất gia tu hành.
Chúng ta thấy người xưa khi đến với đạo không phải là tin đạo, mà có ý muốn tìm hiểu cho tường tận, nếu người có khả năng chinh phục được họ thì họ mới theo, chứ không như mình bây giờ nghe nói là tin liền. Người xưa khó tin nhưng tin rồi thì tin rất sâu, hiểu tới nơi tới chốn. Do đó đầu tiên mới gặp Tổ, Phật-đà-nan-đề nói chuyện ngang ngang coi như đối thủ, nhưng khi biết được người đó hơn mình liền phủ phục xin làm đệ tử.
Tổ thương xót chấp nhận cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề.
Đã có người thừa kế, ngài dự định vào Niết-bàn, liền nhập Từ tam-muội để vào tịch định. Lúc đó Đế-thích, Phạm vương cùng chư thiên đồng đến đảnh lễ, nói kệ:
Hiền kiếp thánh chúng Tổ,
Nhi đương đệ thất vị.
Tôn giả ai niệm ngã,
Thỉnh vị tuyên Phật địa.
Dịch:
Hiền kiếp các thánh Tổ,
Ngài là vị thứ bảy.
Tôn giả thương xót con,
Thỉnh vì nói Phật địa.
Ngài xuất định và nói với họ rằng:
– Pháp ta đã được là không phải có. Nếu muốn biết Phật địa phải lìa có và không.
Nói xong, ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn. Chư thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời, đảnh lễ. Nan-đề cùng đồ chúng trà-tỳ thân ngài, rồi lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Khi có người thừa kế, Tổ sắp Niết-bàn có Đế-thích, Phạm vương cùng chư thiên đồng đến đảnh lễ, nói kệ tán thán cầu xin nói về nghĩa Phật địa. Ngài liền nói pháp ta đã được là không phải có, nếu muốn biết Phật địa phải lìa có và không. Khi nói tới Phật địa tức là Trung đạo đệ nhất nghĩa đế, chỗ đó không còn mắc kẹt ở hai bên là có và không, nếu còn mắc kẹt bên có bên không thì chưa đến đệ nhất nghĩa đế.
Dạy xong, chư thiên nghe rồi hoan hỷ tán hoa trời đảnh lễ cúng dường. Ngài vào tịch định thị hiện tướng Niết-bàn, Nan-đề cùng đồ chúng trà-tỳ lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.