Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

6.Tổ Di-Dá-Ca (Đầu thế kỷ thứ III sau Phật Niết-bàn)



Miccaka

Ngài người Trung Ấn, không rõ họ gì. Ngài cùng chúng tiên thọ giáo xuất gia với tổ Đề-đa-ca. Sau đó, ngài tu chứng được quả thánh. 

Khi sắp tịch, tổ Đề-đa-ca gọi ngài lại bảo: 

– Xưa Như Lai thầm trao đại pháp nhãn cho Đại Ca-diếp lần lượt truyền trao đến ta, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải giữ gìn truyền trao chớ dứt. Nghe ta nói kệ: 

Thông đạt bản tâm pháp, 

Vô pháp vô phi pháp.

Ngộ liễu đồng vị ngộ, 

Vô tâm diệc vô pháp. 

Dịch: 

Thông đạt pháp bản tâm, 

Không pháp không phi pháp. 

Ngộ rồi đồng chưa ngộ, 

Không tâm cũng không pháp. 

Tổ thứ sáu là Di-dá-ca, người Trung An không rõ tên họ xứ sở, chỉ biết ngài đã chứng quả tiên nhưng khi tổ Đề-đa-ca giáo hóa, ngài theo tổ tu hạnh giải thoát chứng quả thánh và được tổ truyền trao một bài kệ:

Thông đạt pháp bản tâm,

Không pháp không phi pháp.

Ngộ rồi đồng chưa ngộ, 

Không tâm cũng không pháp.

Người nào thấu suốt được tâm gốc, tâm ấy không phải pháp mà cũng không phải phi pháp. Tại sao? Vì tâm gốc không phải có cũng không phải không. Nếu ngộ được rồi thì cũng như lúc chưa ngộ. Sao vậy? Bởi vì tâm ấy không tăng không giảm, không sanh không diệt. Lâu rồi chúng ta quên, bây giờ Phật tổ thiện tri thức chỉ cho nhận ra tâm sẵn có nơi mình. Như vậy ngộ là ngộ cái sẵn có, nên khi ngộ rồi giống như chưa ngộ. Vì sao? Vì ngộ cái sẵn có, không có gì mới cả.

Ví dụ mình có một món đồ quý cất ở trong tủ, quên lửng không lấy ra xài, rồi đi tới đi lui tìm kiếm. Có người anh em trong nhà, biết mình cất chỗ đó chỉ cho liền lấy ra xài thì gọi là mới được. Nói mới được mà sự thật không phải được cái gì lạ, mà lấy lại món đồ cũ của mình đã để quên. Cũng vậy, ngộ là ngộ bản tâm sẵn có lâu nay mình bỏ quên, chứ sự thật thì không có gì khác lạ. Cho nên nói ngộ rồi đồng chưa ngộ.

Không tâm cũng không pháp là tâm và pháp cả hai đều không.

Ý bài kệ này nói người thấu suốt được bản tâm, biết bản tâm không phải có cũng không phải không, nên ngộ rồi cũng như chưa ngộ vì tâm và pháp cả hai đều không.

Sau khi được pháp, ngài du hóa các nơi tùy căn cơ giáo hóa chúng sanh. Một hôm, ngài đến Bắc Ấn chợt thấy trên thành có vầng mây màu vàng. Ngài ngó sang những người bên cạnh bảo: 

– Đây là vượng khí Đại thừa. Trong thành này có bậc chí nhân nối pháp cho ta. 

Khi đi vào trong thành đến chợ, quả gặp người tay ôm bầu rượu, đón ngài hỏi: 

– Tôn giả từ phương nào đến, muốn đi về đâu? 

Ngài đáp: 

 Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ. 

– Tôn giả biết vật trong tay tôi chăng? 

– Đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh. 

– Tôn giả biết tôi chăng? 

– Tôi thì chẳng biết, biết thì chẳng tôi. 

Ngài lại bảo: 

– Ngươi hãy nói tên họ ra, ta sẽ chỉ nhân đời trước cho ngươi. 

Người ấy bèn nói kệ: 

Ngã kim sanh thử quốc, 

Phục ức tích thời nhật. 

Bản tánh Phả-la-đọa, 

Danh tự Bà-tu-mật. 

Dịch: 

Nay tôi sanh nước này, 

Lại nhớ ngày xa xưa. 

Dòng họ Phả-la-đọa, 

Tên là Bà-tu-mật. 

Ngài nghe rồi nhớ lại duyên trước, bèn bảo Bà-tu-mật: 

Thầy ta là Đề-đa-ca thường nói: “Xưa kia Như Lai du hóa Bắc Ấn có bảo A-nan: “Sau khi ta diệt độ khoảng ba trăm năm, ở nước này sẽ có vị thánh nhân ra đời, họ Phả-la-đọa tên Bà-tu-mật, làm vị Tổ thứ bảy của Thiền tông.” Đây là Như Lai thọ ký cho ngươi, ngươi nên xuất gia. 

Bà-tu-mật liền để bầu rượu xuống đảnh lễ ngài. Đảnh lễ xong, đứng qua một bên thưa: 

 Con nhớ lại kiếp xưa thường làm thí chủ cúng dường Phật một bảo tòa. Như Lai thọ ký cho con rằng: “Ngươi ở hiền kiếp sẽ được Phật pháp làm Tổ thứ bảy.” Nay gặp gỡ đây là cái duyên trước vậy, cuối xin Tôn giả đại từ thương xót độ thoát cho con. 

Ngài liền vì ông cạo tóc xuất gia và cho thọ đầy đủ giới pháp. 

Thấy tuổi đã già và cơ duyên hóa độ cũng xong, ngài truyền Chánh pháp lại cho Bà-tu-mật. Truyền xong, ngài thâu thần tịch diệt, Bà-tu-mật và môn đồ lượm xá-lợi để vào bình báu, xây tháp cao tôn thờ trên tầng chót để mọi người cúng dường. 

Trong nhà Phật thỉnh thoảng có những việc hy hữu. Chúng ta tưởng rằng người nào muốn tu là trước phải ăn chay, tinh tấn niệm Phật rồi sau mới ngộ đạo và được truyền pháp, ngược lại vị này đang say rượu mà gặp cơ duyên liền ngộ đạo được làm Tổ sư.

Một hôm ngài Di-dá-ca đi đến Bắc An gặp một người ôm bầu rượu ở trong chợ đi ra mà không biết tên, đón ngài hỏi:

– Tôn giả từ phương nào đến, muốn đi về đâu? Ngài đáp: – Ta từ tâm mình đến, muốn đi không chỗ.

Tổ nói rằng ta từ tâm đến, đi cũng không có chỗ chỉ trở về tâm thôi, đến không chỗ đến mà đi cũng không chỗ đi, đến đi đều không ngoài tâm.

Nghe Tổ đáp không hiểu mà còn hỏi lại:

Tôn giả biết vật trong tay tôi chăng?

Ngài đáp: 

Đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh.

Rượu uống vô thì làm tâm rối loạn mất thanh tịnh, cho nên ngài nói đây là đồ đựng vật làm mất thanh tịnh. Ông hỏi:

Tôn giả biết tôi chăng?

Tổ đáp:

Tôi thì chẳng biết, biết thì chẳng tôi.

Câu trả lời này nghe rất thú vị. Tôi tức là ngã, nếu còn có ngã thì không biết, không biết tức là không giác, nên nói tôi thì chẳng biết. Nếu có giác thì không còn chấp ngã là phá được ngã chấp nên nói biết thì chẳng tôi.

Nghe Tổ đáp như thế, người này cũng là hàng đại căn cho nên có phần tỉnh. Tổ bảo: Ngươi hãy nói tên họ ra để ta chỉ nhân đời trước của ngươi. Ông liền nói bài kệ:

Nay tôi sanh nước này, 

Lại nhớ ngày xa xưa.

Dòng họ Phả-la-đọa,

Tên là Bà-tu-mật.

Nghe ông trả lời Tổ liền nói nhân duyên đời trước, Bà-tu-mật để bầu rượu xuống, đảnh lễ Tổ cầu xin xuất gia. Tổ vì ông cạo tóc xuất gia và cho thọ đầy đủ giới pháp, thọ ký làm Tổ thứ bảy.

Khi cơ duyên hóa độ đã mãn, Tổ truyền chánh pháp cho Bà-tu-mật. Truyền xong ngài thâu thần tịch diệt, Bà-tu-mật và môn đồ xây tháp tôn thờ xá-lợi trên tầng chót để mọi người cúng dường.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.