Sư nói: Ngộ đạo tu thiền chẳng phải là việc nhỏ. Những loại ma trong, ma ngoài làm não loạn chánh định, một chút không chủ tể, liền tham trước cảnh ái. Do cảnh kích động mà rơi vào lưới ma, vốn là nhân lành mà trở lại chuốc quả ác. Kẻ sơ học đời sau hãy cẩn thận và đề phòng vậy.
Ngộ đạo tu thiền là đại sự chứ không phải tiểu sự. Những loại ma trong, ma ngoài làm não loạn chánh định, nếu việc lạ hiện ra mà mình không làm chủ được một chút nào thì có thể sanh tham trước cảnh ái. Do cảnh đó lôi rơi vào trong lưới ma, vốn là nhân lành mà trở lại chuốc quả ác.
Trước đây tôi có viết bài “nhân hoa mà quả cỏ” cũng với ý này. Nhiều người dốc lòng tu nhưng không khéo nên lạc vào ma, bị ma dẫn đi. Như vậy, nhân lành mà quả dữ. Ngài nhắc, kẻ sơ học đời sau hãy cẩn thận và đề phòng, phải cố gìn giữ đừng cho lơi lỏng. Mười thứ ma làm loạn chánh định này, chúng ta thử kiểm điểm lại coi mình có mấy thứ, nếu có thứ nào thì ráng nỗ lực mà trừ dẹp.
Tôi xin nêu ra mười điều để biện biệt về nghĩa ma. Tự soi tự xét về thiên ma và tâm ma. Dùng tuệ quán chiếu tiêu diệt ma nghiệp. Tâm cấu nếu tịnh các chướng tự nhiên dứt, sợ gì thiên ma nào dám làm loạn chánh định?
Nay đem mười loại ma mà thuật rõ ràng ở sau: Một là ma túc oan, hai là ma ngoại hoặc, ba là ma phiền não, bốn là ma sở tri, năm là ma tà kiến, sáu là ma vọng tưởng, bảy là ma khẩu nghiệp, tám là ma bệnh khổ, chín là ma hôn trầm, mười là thiên ma.
Mười loại ma chướng này hay làm nhiễu loạn người tu hành chân chánh, người mộ đạo nên thận trọng đó.
Nếu những trần cấu trong tâm hết thì các ma chướng cũng tự nhiên dứt, không đáng sợ.
Hỏi: Thế nào là ma túc oan?
Đáp: Ma túc oan gọi là nghiệp chướng. Từ những kiếp lâu xa cho đến đời này, sanh ra trong kiếp phàm phu, bất trung bất hiếu, bất nhân bất nghĩa, sát sanh, trộm cắp, dâm dục, vọng ngữ, tham lam, giận dữ và si ái. Kết nhiều oan gia ngày nay gặp gỡ, muốn học đạo lớn bị chúng xâm nhiễu chẳng an, hay làm chướng việc thánh, chẳng được thành tựu. Phải sanh tàm quý, chí thành sám hối, tha thiết cầu Tam bảo đem sức thần gia hộ. Tất cả những nghiệp từ trước tự tiêu tự diệt, tất cả oan gia tự lui hay tan mất. Lại phát bốn thệ nguyện lớn, làm lợi ích khắp chúng sanh, mau được vô lậu, chóng chứng Bồ-đề.
Người tham thiền phải tự sám hối đó.
Ma túc oan là nghiệp chướng oan trái của thuở quá khứ. Muốn làm việc đạo thì bị nghiệp chướng, mắc cái này, kẹt cái kia, làm cho hư hỏng Phật sự. Thí dụ chúng ta dự định ba tháng nữa nhập thất tu, tới lúc gần nhập thất thì bị đau, nằm ỳ đó tu không được. Hoặc như bữa nay là ngày học đạo mà có chuyện nhà làm chướng, đi không được. Đó là ma túc oan làm cho chướng ngại, nên việc tu học không suông sẻ như người khác. Người tu mà gặp chướng nhiều thì biết đó là ma túc oan làm trở ngại mình.
Biết thì phải làm sao? Phải sanh tàm quý, chí thành sám hối, chứ đừng giận, đừng tức. Hổ thẹn xưa sao mình làm nhiều việc ác, bây giờ gặp nhiều nghiệp chướng tu hành không được. Trong tâm hổ thẹn sám hối, ngoài thì tha thiết đảnh lễ Tam bảo cầu gia hộ cho nghiệp chướng được tiêu trừ.
Chí thành sám hối cho nghiệp chướng tiêu trừ rồi, còn phải phát bốn thệ nguyện lớn, chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành. Nguyện làm lợi ích khắp chúng sanh, mau được vô lậu, chóng chứng Bồ-đề.
Hỏi: Thế nào là ma ngoại hoặc?
Đáp: Ma ngoại hoặc gọi là nhân chướng. Kẻ tiểu nhân không có căn lành, sang hèn chẳng đồng, làm não loạn định tâm chẳng được an ổn.
Ma ngoại hoặc là nhân chướng, tức là ở bên ngoài làm chướng ngại mình. Như kẻ tiểu nhân khi thấy mình sang họ hèn, đâm ra tức ghét kiếm chuyện làm cho não loạn. Hoặc họ sang mình hèn, họ ỷ thế lấn hiếp mình v.v… Những việc đó đều là chướng làm cho không được an ổn.
Việc này không riêng một cớ nào, tất cả đều do thiếu quyền biến, hoặc kém lễ nghi, hoặc do tự cao, hoặc tự ngã mạn, hoặc nói thẳng, hoặc hạnh thô, hoặc nương thế lực, hoặc khoe tài, hoặc nói ác, hoặc khen mình, hoặc chê người, hoặc thiếu vẻ ôn hòa, hoặc không cung kính, hoặc độ lượng không rộng rãi, hoặc thiếu nhẫn nại. Cho nên chuốc cái chẳng tin mà hoặc loạn sự tu hành, sanh tâm động niệm, che lấp bản minh. Kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải thấp xuống mà lui về nuôi đức, mới khỏi được nhân chướng.
Kẻ hậu học đời sau phải khoan tâm và nhẫn nại đó.
Sở dĩ người khác làm chướng mình là tại vì mình không khéo quyền biến, hoặc thiếu lễ độ, tự cao ngã mạn khiến người tức ghét. Hoặc vì nói thẳng, việc đó người ta không ưa mà mình nói thẳng vô mặt người ta. Hoặc do hạnh của mình thô làm cho người ta khi dễ. Hoặc mình nương thế lực bà con dòng họ làm quan quyền, rồi lấn hiếp người. Hoặc chê người, khoe tài, cho mình là hay khiến họ đố kỵ. Hoặc nói lời ác, lời dữ cho người ta phát tức nên họ chướng lại, làm mình phiền não.
Nói tóm lại, tất cả việc người ta làm cho phiền não, gốc tại nơi mình. Do mình có những tánh xấu, làm cho người ta không tin. Cho nên họ làm hoặc loạn sự tu hành, khiến mình sanh tâm động niệm, phải buồn phiền, phải giận tức v.v… Bởi sanh tâm động niệm nên che lấp bản minh của mình. Cho nên kẻ hậu học đời sau phải khoan tâm, mở tâm rộng rãi ra. Lỡ có làm cho người khác phiền não họ gây chướng lại, phải mở tâm ra và ráng nhẫn nhịn. Nếu chống cự lại thì chướng càng thêm chướng.
Loại ma chướng ngoại hoặc này chắc nhiều người bị lắm, cả tôi cũng bị chướng này. Tôi thấy rõ ràng, tất cả ma chướng đều gốc từ mình mà ra. Tại mình khinh thường người, tại vì không hài lòng, rồi ỷ mình làm thầy là trên thiên hạ, nên cái gì cũng rầy được, tới chừng người ta tức quá họ chướng lên cự lại thì phiền não. Nếu chúng ta biết suy nghĩ, ăn nói hiền hòa, lúc nào cũng nhẫn nại, rộng rãi, cung kính mọi người… thì đâu đến nỗi nào, chắc không bị ai ghét. Tại mình có những bệnh này bệnh kia, làm người bất mãn nên họ mới ghét, mới làm chướng ngại lại.
Vì vậy kẻ sĩ mộ đạo cần yếu phải hạ thấp xuống, thấp chừng nào là càng hay chừng nấy. Lui về nuôi đức, im giữ cái đức của mình mới khỏi bị người khác làm chướng ngại. Nếu cứ hiu hiu tự đắc, nói năng như tạt nước lạnh vô mặt người ta, tất nhiên thiên hạ chướng, rồi sanh ra chuyện này chuyện nọ, làm mình tu không được.
Đó là ma chướng thuộc về ngoại hoặc.
Hỏi: Thế nào gọi là ma phiền não?
Đáp: Ma phiền não gọi là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ hay làm lộn xộn việc chánh tu. Thế nào là phiền? Thế nào là não? Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, não thì sanh ở nội tâm. Người tu thiền nhất định phải đoạn phiền não, phiền não chẳng trừ sạch, tánh định khó hiện.
Thấy người nữ mà sanh tâm, là dâm tâm phiền não. Thấy sự giết hại mà sanh tâm, là ác tâm phiền não. Thấy tài lợi mà sanh tâm, là đạo tâm phiền não. Thấy vật mà sanh tâm, là tham tâm phiền não. Thấy người sanh khinh thường, là ngã tướng phiền não. Thấy kẻ thấp sanh kiêu ngạo, là tự đại phiền não. Thấy nghịch cảnh sanh sân, là khuể tâm phiền não. Thấy thuận cảnh sanh vui, là tùy hỷ phiền não. Thấy kẻ oán sanh tâm ghét, là hận tâm phiền não. Thấy người thân sanh thương, là tư tâm phiền não.
Tất cả những cái thấy bên ngoài, mà bên trong sanh thủ xả, đều là phiền não, không thể nào mà nói ra cho hết được. Kẻ tham thiền nhất định phải trừ sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không, làm não loạn chánh định. Người học đời sau tại sao không đoạn nó?
Ma phiền não là sự chướng. Sự chướng nếu chẳng trừ hay làm lộn xộn việc chánh tu. Phiền não là sao? Phiền thì đuổi theo ngoại cảnh, nên bứt rứt, rối rắm. Não thì sanh ở nội tâm, nên trong tâm lộn xộn. Người tu thiền nhất định phải đoạn phiền não, nếu không thì tánh định khó hiện.
Ngài kể qua những loại phiền não đơn giản, như thấy người nữ mà sanh tâm là dâm tâm phiền não. Do thấy sắc bên ngoài mà trong tâm dấy động, gọi là dâm tâm phiền não.
Thấy sự giết hại mà sanh tâm gọi là ác tâm phiền não. Thí dụ mình đi ra bãi biển, thấy người ta kéo lưới được con cá lớn nó giãy đành đạch, mình vui thích chạy lại coi, đó thuộc về ác tâm phiền não.
Thấy tài lợi mà sanh tâm gọi là đạo tâm phiền não. Thấy người nào đó nhiều của mình ham thích, hoặc thấy lợi lộc đến mình sanh tâm tham muốn, là phiền não do tâm trộm v.v…
Những thứ phiền não này rất nhiều, không thể nào mà nói ra cho hết được. Cho nên người tu thiền, làm sao khi đối cảnh mà tâm được như như, được mất hay dở gì cũng vậy, thì mới dứt được phiền não chướng.
Hỏi: Thế nào gọi là ma sở tri?
Đáp: Ma sở tri gọi là lý chướng. Lý chướng nếu chẳng trừ hay làm loạn chánh định.
Ma phiền não là sự chướng, vì cảnh bên ngoài làm cho động tâm, nên gọi là sự chướng. Còn ma sở tri là lý chướng, vì chấp ngay trên sự đắc đạo và ngộ lý nơi mình. Lý chướng nếu chẳng trừ hay làm loạn chánh định. Cho rằng mình ngộ rồi khinh thường người khác, đó là chướng rồi.
Sở tri là thế nào mà lỗi như thế? Biết ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý, biết ta học nhiều, biết ta hiểu nhiều, biết ta trì giới nghiêm túc, biết ta được định, biết ta phát tuệ, biết ta chứng không, biết ta tự tại, biết ta vô ngại, biết ta được thần thông, biết ta được lẽ mầu, biết ta chứng đạo, biết ta thành Phật, muôn ngàn điều biết gọi là lý chướng.
Ma sở tri chỗ khác gọi là sở tri chướng. Trong kinh Viên Giác nói rất rõ việc này. Nếu thấy mình có chứng đắc, có liễu đạt là bệnh. Thấy mình được cái gì cũng là bệnh hết. Tại sao? Bởi vì nếu bám vào chỗ chứng của mình để coi thường kẻ khác, đó là bệnh ngã mạn. Cho nên chứng mà không chấp mình chứng, biết mà không chấp cái biết của mình hơn người, tâm vẫn như như thì không bệnh.
Biết ta được ngộ, biết ta thông thiền, biết ta rõ giáo, biết ta hội lý… Chia chẻ bệnh chấp tế nhị như vậy, huống nữa là tự xưng mình chứng thánh. Chấp có chứng là đã bị ma rồi, vậy mà bây giờ có nhiều người xưng mình là Di-lặc, hoặc chứng thế này thế kia, thiên hạ kéo nhau đến lạy. Nên biết, đó là ma lừa ma, thảy đều là yêu quái, không phải đạo lý. Tôi thường nói, ai xưng chứng thánh hay thành Phật thì mình bái ba bái rồi chạy đi, chứ đừng đến gần nguy hiểm.
Lý chướng nếu chẳng trừ pháp chấp chẳng quên. Pháp chấp chẳng quên thì chân tâm chẳng hiện. Người tu thiền định nhất định phải dứt trừ lý chướng.
Thấy mình chứng được quả gì rồi cố bám vào đó, là bị pháp chấp. Pháp chấp còn thì chân tâm chẳng hiện, cho nên phải dứt trừ lý chướng. Lý chướng rất là tế nhị.
Hỏi: Thế nào là ma tà kiến?
Đáp: Ma tà kiến là chấp chướng, chấp chướng chẳng trừ ắt rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào mà loạn chánh định như vậy? Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến. Chấp tánh vốn không, gọi sự chấp ấy là vô kiến. Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp theo khí mà diệt, gọi sự chấp ấy là đoạn kiến. Chấp từ không sanh ra có, là tự nhiên kiến. Chấp từ khí hóa ra hình, là tà nhân kiến.
Ma tà kiến là chấp chướng, chấp chướng thì rơi vào định tà. Tà kiến như thế nào?
Chấp tánh chẳng hoại, gọi sự chấp ấy là hữu kiến. Hữu kiến tức là chấp có. Thế nào là chấp tánh chẳng hoại? Như nói, Phật tánh thường còn bất hoại, có phải là chấp tánh chẳng hoại không? Điểm này phải giản trạch cho kỹ, không khéo dễ lầm.
Chấp tánh chẳng hoại là lối chấp có thần ngã bất sanh bất diệt, còn nói Phật tánh không hoại là vì tánh đó không có hình tướng. Tuy không hoại mà tùy duyên ứng hiện. Khi ứng hiện là có hình tướng, mà hình tướng thì có hoại, còn cái không hình tướng thì không hoại, nên không thể chấp thiên lệch một bên. Nói Phật tánh bất sanh bất diệt đó, không phải nằm trong kiến chấp này.
Chấp tánh vốn không, gọi sự chấp ấy là vô kiến. Chấp tự tánh của mình là không có, chết rồi là mất hẳn không còn gì. Chấp như vậy gọi là vô kiến. Trên là chấp hữu, đây là chấp vô.
Chấp vốn không chết, gọi sự chấp ấy là thường kiến. Chấp mình tu thành tiên thì không còn chết, đó là thường kiến.
Chấp theo khí mà diệt là sự chấp, ấy là đoạn kiến. Nghĩa là chấp con người do tinh khí mà thành, khi chết rồi thì khí theo gió mà mất, người không còn gì, đó thuộc về đoạn kiến.
Chấp từ không sanh ra có, là tự nhiên kiến. Chấp có đó là bỗng dưng mà có, không do nhân nào làm thành, ấy là tự nhiên kiến.
Chấp từ khí hóa ra hình, là tà nhân kiến. Do hơi mà sanh ra, như nói hà hơi sanh ra con người v.v…
Tự như như chẳng có chẳng không, tức có tức không. Tất cả những tà chấp, tà kiến nhân duyên tự nhiên… đều chẳng lìa không hữu, đoạn thường hai đầu. Tự chướng bản lý đến rơi vào đường tẽ. Người tham thiền phải biết mà ngộ lẽ này.
Nói tóm lại, tất cả những chấp thuộc về hai bên đều là tà chấp. Người tu theo Phật giáo không thấy hai bên, cũng không thiên lệch một bên. Nghĩa là không thấy thường, không thấy đoạn… Nếu thấy có thường, có đoạn đều là bệnh. Như nói chết rồi hết, là đoạn kiến. Nói linh hồn còn hoài, là thường kiến…
Chúng ta tu phải thấy cho tường tận. Căn cứ vào bản thể thì bất sanh bất diệt, nên không mắc vào đoạn kiến. Trên diệu dụng thì sanh diệt vô thường, nên không mắc vào thường kiến. Thường hay đoạn đều nằm sẵn trong đó, không có riêng một bên. Nên nói, sự vật tánh là không mà duyên khởi huyễn có. Cái huyễn có là vô thường, mà tánh không là thường. Như vậy, trong vô thường có thường, trong thường có vô thường, chứ không phải bên này khác, bên kia khác.
Hỏi: Thế nào là ma vọng tưởng?
Đáp: Ma vọng tưởng gọi là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì sanh diệt chẳng dừng, điên đảo tán loạn, che chướng bản tâm. Người tham thiền cần phải làm cho rỗng không cái chướng này. Nay nêu ra một hai điều, để làm sáng tỏ cái vọng chướng như: Vọng tưởng ngộ đạo, vọng tưởng đắc định, vọng tưởng phát tuệ, vọng tưởng nhiều hiểu biết, vọng tưởng hay làm văn, vọng tưởng về danh đạt, vọng tưởng về sự cúng dường nhiều, vọng tưởng làm thầy, vọng tưởng chư tăng quy hướng, vọng tưởng tiếp nối tổ vị, vọng tưởng trụ một ngôi chùa, vọng tưởng hoằng đạo, vọng tưởng về tác phẩm lưu truyền, vọng tưởng về kẻ nối dòng, vọng tưởng về sự nhập tháp, vọng tưởng về thần thông, vọng tưởng về huyền diệu, vọng tưởng về kỳ đặc, vọng tưởng về quái lạ, vọng tưởng trường sanh, vọng tưởng hoàn đồng, vọng tưởng bay lên, vọng tưởng thành Phật…
Các vọng chẳng không, động niệm làm trái với lẽ chân. Người mới học mộ đạo, dứt vọng làm gốc.
Ma vọng tưởng gọi là tự chướng, tức là tự mình làm chướng cho mình. Tự chướng như thế nào?
Ngồi lại vọng tưởng mong mình ngộ đạo. Vọng tưởng tu sao cho mau chứng. Ngồi thiền chừng nào đắc định. Vọng tưởng mong mau phát tuệ. Vọng tưởng được biết nhiều. Vọng tưởng viết văn sao cho hay. Vọng tưởng mình được nổi tiếng. Vọng tưởng trong Phật tử đem tới cúng dường nhiều. Vọng tưởng làm thầy thiên hạ, có đồ chúng đông đảo, hết lớp này tới lớp kia quy hướng. Vọng tưởng mình được kế vị tổ. Vọng tưởng làm trụ trì. Vọng tưởng mai kia ra hoằng hóa phải làm sao, tổ chức cách nào? Vọng tưởng viết những tác phẩm để lại cho đời sau. Vọng tưởng lựa chọn người nào kế vị? Vọng tưởng mai kia mình già phải xây tháp ra sao, nhập tháp thế nào? Vọng tưởng tu cho có thần thông, biết bay hoặc nghe được tiếng ở xa, vọng tưởng những điều huyền diệu. Vọng tưởng có những thứ kỳ đặc, quái lạ. Vọng tưởng trường sanh, ước được sống lâu. Vọng tưởng phản lão hoàn đồng. Vọng tưởng thành Phật. Vọng tưởng thế này thế kia v.v..
Tất cả những niệm đó đều là vọng tưởng, cho đến mong thành Phật cũng thuộc về vọng tưởng. Có người nào không mắc mấy thứ vọng tưởng này không? Nếu không mắc hết, chắc cũng có phân nửa. Phải vậy không? Thí dụ như tôi có mấy tác phẩm, cũng là vọng tưởng. Rồi nghĩ khóa tới chư tăng đông, phải có người cúng dường nhiều chứ ít ăn không đủ… cũng là vọng tưởng, đều làm chướng động tâm thức. Tuy nó thuộc về thiện, nhưng với người thường thì được, còn với người muốn cho bản tánh được sáng rỡ thì vọng tưởng nào cũng là chướng cho sự tu. Nên nói, ác cũng bỏ mà thiện cũng phải dứt là vậy. Thành ra trong chúng ta đây, người nào cũng bị ma, hoặc bị nhiều hoặc bị ít, chứ không ai là hoàn toàn không có. Bởi có vọng tưởng tức là trái với lẽ chân thật, cho nên người mới học đạo phải cố mà dứt vọng.
Hỏi: Thế nào là ma khẩu nghiệp?
Đáp: Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng. Nếu chẳng dè dặt lời nói mà buông ý lắm mồm, thì tán tâm loạn niệm chẳng được định tâm. Khẩu nghiệp do đâu mà lỗi nó quá nhiều? Bởi ưa bàn huyền nói diệu, giảng kinh nói thiền. Tự khoe rằng đã được ngộ, chê kẻ khác ngu mê. Luận về sở trường sở đoản của người, nói sự phải quấy của người. Ngâm thơ vịnh phú, mở miệng xướng càn. Bình luận chuyện xưa nay, bàn chuyện đất nước hưng phế, xưa kia là người hiền kẻ ngu, nay là kẻ ác người thiện. Chẳng quan hệ đến việc ta mà rống lời tranh luận chuyện được mất của người, vô cớ chê khen. Nói những cảnh dục khiến người sanh yêu, nói những chuyện bất bình khiến người sanh giận, chê sau lưng khen trước mặt. Tất cả những lời nói lợi hại khiến người quên mất chánh niệm.
Người tham thiền cần yếu phải gắng gìn giữ, chẳng những ít lời nuôi đức mà lại khiến tâm chẳng loạn. Kẻ sơ cơ tu hành cẩn thận và kiêng giữ việc này.
Ma khẩu nghiệp gọi là cuồng chướng, tức là điên cuồng. Nếu chẳng dè dặt lời nói, buông ý lắm mồm thì tán tâm loạn niệm, chẳng được định tâm. Bởi ngồi lại thì ưa bàn huyền nói diệu, cái này hay cái kia cao, giảng kinh nói thiền, tự cho rằng đã được ngộ, chê kẻ khác ngu mê. Luận sở trường sở đoản, nói việc phải quấy của người. Ngâm thơ vịnh phú, mở miệng xướng càng bình luận chuyện xưa nay v.v… Chúng ta cứ đem chuyện thiên hạ ra bàn, thành ra mình ngu si quá đỗi, toàn là những lời nói bậy, làm cho mất chánh niệm. Vì vậy ngài Nham Đầu bảo “bịt lỗ đít lại”. Đây là chỗ phải khéo cẩn thận, vì đó là chướng lớn.
Đúng tinh thần tu thiền là ít nói chừng nào tốt chừng nấy, ngoại trừ cần nói đạo lý thì ráng nói, còn bàn luận hay dở, khen chê, phải quấy của thiên hạ có ích lợi gì? Mình đâu phải bình luận gia, đâu ai mời mình? Vậy mà ăn ở không cứ bàn nói hoài, thật là tội lỗi, phải nên hổ thẹn!
Người tu thiền phải nên im lặng như cái bình đậy nút không có kẽ hở, không ai biết trong đó chứa cái gì, được vậy thì tốt. Chúng ta lâu nay quen tật lắm mồm, như tôi xưa kia tập nghiệp giảng sư lắm mồm quen rồi, bây giờ kìm lại thật khó. Người nào chưa từng nói thì ráng tập ít nói, nói nhiều chỉ tổn đức lao thần, hai cái đều bất lợi. Cho nên người muốn tu tiến nên ngồi riêng một mình, để không có cơ hội bàn nói. Nếu đến chỗ đông thì bàn chuyện này nói chuyện kia, khui chuyện nọ. Không khui ra thì thôi, mà khui ra rồi thì chuyện kéo dài mấy tiếng đồng hồ, bình qua luận lại. Lúc đầu nói chuyện đạo, một hồi thành chuyện đời, mất biết bao thời giờ, lại còn làm cho tâm mình tâm người rối loạn nữa. Vì vậy người tu phải ráng mà cố gắng!
Hỏi: Thế nào là ma bệnh khổ?
Đáp: Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều tật bệnh đều do nghiệp đời trước, hoặc do mất sự điều hòa mà biến sanh trăm thứ bệnh, chẳng được thọ dụng, làm cho người học đạo có sự chướng ngại. Nay tôi nêu lên mấy điều phải tự đề phòng.
Ma bệnh khổ gọi là khổ chướng. Thân nhiều bệnh hoạn do túc nghiệp, hoặc do không điều hòa mà sanh bệnh, làm chướng ngại việc tu đạo. Ở đây ngài nêu ra những việc để chúng ta biết mà tự điều hòa.
Điều hòa tỳ vị, tiết chế và chọn thức ăn uống, ít đắm mùi vị nồng hậu, lại phải cữ vật sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, lúc no chớ gánh vác nặng. Sau khi ăn chớ ngủ, tối cữ ăn no. Thích ăn đồ thối nát, ưa ăn đồ chiên xào, thích ăn ngũ vị, dùng nhiều vật quấy.
Tỳ vị tức là bao tử và ruột. Cần tiết chế sự ăn uống cho phù hợp, phải bớt những thức ăn sống và lạnh. Khi đói chớ đọc tụng, nhiều chùa chiều không cho ăn, tối còn phải tụng kinh, dễ khiến cho bị bệnh. Khi no đừng gánh vác nặng, buổi sáng chúng ta thường làm công tác nên ăn vừa vừa thôi, ăn no quá ra làm công tác bụng bị phát ách. Sau khi ăn chớ ngủ, ăn rồi nằm ngủ liền hay bị chướng bụng. Nhất là buổi tối đừng ăn no, những đồ hư thúi rồi mà ăn cũng không tốt. Những thức ăn chiên xào nên bớt đi, đừng xào thường, tri khố lâu lâu nên thay bằng món luộc thì tốt hơn. Đừng thích ăn ngũ vị tân và những món ăn bậy bạ. Đó là điều hòa về việc ăn uống.
Tọa thiền nơi đất ẩm, ngủ nơi chỗ gió, đang ra mồ hôi mà nhảy vào nước, thích ấm tham mát, đang lúc gió mà tắm rửa, nằm trần ngoài trời, đói quá no quá, vui quá giận quá, lạnh quá nóng quá, mưa lớn sương nhiều.
Bệnh nội thương ngoại cảm, tất cả đều do mất sự điều hòa, nên sanh những bệnh hoạn, làm cho thân chẳng được yên. Kẻ hậu học phải biết mà dự phòng và tránh bệnh.
Đó là những việc không tốt cho sức khỏe. Nếu biết đề phòng thì ít bệnh.
Hỏi: Thế nào là ma hôn trầm?
Đáp: Ma hôn trầm gọi là thùy chướng. Thùy chướng chẳng luyện trừ, hôn trầm quá nặng, chân tâm chẳng sáng, tuệ tánh chẳng phát khởi, rơi vào chỗ mờ tối của núi đen và hang ma.
Nguyên nhân của bệnh hôn trầm kia như thế nào? Sự hôn chướng này phần lớn do ăn nhiều, tham nhiều vị ngon, nói nhiều làm tán khí, hình lao tỳ yếu, tinh thần chẳng trong lặng, trược khí hỗn loạn, ngu si nhiều giận tức, lười biếng buông lung, chẳng nhớ nghĩ việc sanh tử chỉ tham an lạc. Kẻ hậu học khi dụng công nên phát tinh tấn, mang dùi chích thịt, cho đầu chạm vào cột, lễ Phật đốt đèn, đứng nơi nguy hiểm đi kinh hành, khổ thân mài luyện ma ngủ mới nhẹ.
Nếu chẳng như vậy mặc tình ngủ nghỉ thì chân tâm chẳng sáng. Người tham thiền nên dũng mãnh hàng phục ma ngủ.
Ma hôn trầm gọi là thùy chướng, là chướng do sự ngủ nghỉ. Bởi vì lúc hôn trầm mờ mờ không sáng, cho nên trong nhà thiền thường gọi là núi đen, là hang ma.
Nguyên nhân của bệnh hôn trầm, phần lớn là do ăn nhiều. Nếu buổi chiều mà ăn nhiều thì ngồi thiền ngủ mê. Hoặc khi nào nói nhiều quá, mệt tối ngồi cũng bị hôn trầm. Việc này tôi có kinh nghiệm cụ thể, hôm nào tôi giảng nhiều, tối ngồi thiền dễ bị gục, đó là do tán khí. Khi thân thể nhọc nhằn người yếu, tinh thần lờ mờ chẳng sáng, trược khí xông lên làm cho hỗn loạn dễ bị hôn trầm. Hoặc ngu si, giận tức, lười biếng, chỉ thích nằm chường ra ngủ cho ngon, mà không nhớ việc sanh tử…
Đó là những nguyên nhân gây ra hôn trầm, làm chướng ngại việc tu. Vì vậy kẻ hậu học khi dụng công phải phát đại tinh tấn, dùng đủ phương tiện để trị hôn trầm, hàng phục ma ngủ.
Hỏi: Thế nào là đại thiên ma?
Đáp: Đại thiên ma chẳng đồng với các chướng. Bởi do tu hành đúng đắn, sắp chứng đạo quả, tâm tinh thuần thông suốt, lặng yên chẳng động, làm kinh động thiên ma và cung điện của quỷ thần đều sụp đổ, cõi đất rung động, ma chúa kinh hãi, loài yêu quái ở cây, ở đá cũng hoảng sợ. Tất cả loài ma mị đều có ngũ thông đồng đến não loạn, chẳng cho người vào thánh vị. Chúng biến ra những điều quái lạ, hóa ra những cảnh dục để làm loạn thiền định của người tu. Người tu nếu tâm sanh ra thủ hay xả, ma liền được tiện lợi mà người tu thì thọ hại, tự phát điên cuồng, cho là đã thành Phật. Còn sống thì bị hãm vào nạn vua, lúc chết đọa vào vô gián ngục.
Thông thường chúng ta hay nghĩ, tại sao người tu mà bị ma phá? Ma phá người tu hành là đại thiên ma, chứ không phải những loại ma thường. Bởi vì khi có người gần đắc đạo thì các cung điện của ma rung động, nên ma hoảng kinh tới để ngăn trở. Chúng biến ra những điều quái lạ, hoặc biến các cảnh dục để làm loạn thiền định.
Người tu nếu tâm sanh ra thủ hay xả, ma liền được tiện lợi mà người tu thì thọ hại. Thí dụ chúng kéo cả bầy, mang cung tên, gươm giáo, súng ống. đứng bao quanh mình, thì lúc đó mình làm gì? Thủ xả đều là bệnh. Thấy như vậy rồi hoảng kinh lên, hay đứng dậy chạy là thua rồi. Lúc đó vẫn giữ tâm nhất như, hoặc là quán thân không cảnh không, thì ma không hại được. Nó không thấy mình đâu nữa, tự nhiên nó lui. Chỗ này thiền sư Hương Hải có gặp, sau này học kỹ sẽ thấy.
Kẻ sĩ tham thiền chánh niệm rõ ràng, trí tuệ chiếu sáng, một lòng chẳng động, mặc tình chúng tác quái ta chẳng thèm thấy nghe, dùng chánh định hàng phục, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải cẩn thận và tự phân biệt cho rành rõ ma sự này.
Mặc cho ma muốn làm gì thì làm, mình vẫn thấy thân này là không, dù chúng làm cho chết mình cũng không sợ, tâm vẫn an nhiên trong định. Đây là dùng chánh định hàng phục, ma tự nhiên tiêu diệt. Kẻ tu học đời sau phải biết cho thật tường tận ma sự này.
Ở trên đã lược nêu lên mấy điều ma sự, nếu muốn hiểu cho khúc chiết rõ ràng, nên xem kinh Lăng-nghiêm nói về ma nghiệt trong ngoài. Tất cả những dị kiến mỗi mỗi đều rõ ràng, khi hạ thủ dụng công chẳng rơi vào lưới ma mà chứng thẳng quả Phật.
Việc tu không phải khó, cũng chẳng phải không khó. Nếu nỗ lực tu hành tâm được nhất như thì không ma chướng nào làm hại được. Tâm còn thủ xả, trong khi tu nhiều ma chướng nổi dậy, không thắng được nó thì bị nó xỏ mũi. Như hiện giờ có người tu năm bảy năm rồi phát điên, nói gặp linh khí Phật, đó là bị ma xỏ mũi. Cho nên người biết tu, khi ngồi thiền thấy cảnh gì hiện ra cũng vẫn coi thường, không sợ sệt. Biết thân này là huyễn, cảnh đó là huyễn, tất cả cái huyễn đều không thật, tâm nhất như bất động, ma làm gì mặc nó. Kinh nói: “Kiến quái bất kiến quái, kỳ quái tự hoại”, gặp ma quái mà không khởi tâm kinh sợ thì ma tự lui. Đó là chỗ thiết yếu.