Vạn Pháp Quy Tâm Lục giảng giải

Chương 7. Năm Tông Phái Thiền



Tăng hỏi: Ngài Đạt-ma từ Ấn sang chỉ thẳng nhất tâm, do đâu từ đời Lục Tổ về sau lại chia làm năm phái, mỗi nhà riêng lập môn đình và bày ra những tướng lạ sai khác nhau? 

Đáp: Như vàng làm ra đồ vật, mỗi vật đều là vàng. Giống như lửa chia các đèn, nhưng mỗi đèn đều là lửa. Tuy cành sung lá thạnh, nhưng mà rễ nó vốn một thể. Nếu mắt trí ông rỗng sáng thì tự nhiên rõ pháp không hai. 

Phần này là toát yếu năm tông phái thiền. Năm tông là: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn.

Thiền tông chia nhiều tông phái, có hai mặt dở và hay. Mặt dở là làm cho cái chính yếu bị chia chẻ vụn vặt, mặt hay là chính sự phân chia tông phái làm cho Phật giáo thịnh hành.

Mỗi tông phái có sở trường riêng, cái khéo đó được chia ra nhiều chừng nào thì mở mang rộng chừng nấy, cho nên lúc chia ra nhiều tông phái cũng là lúc Phật giáo được truyền bá rộng rãi. Nhưng do mỗi người lập theo tông phái riêng của mình cho nên lâu dần thành tệ, thành mất gốc. Vì vậy, lợi thì lợi lớn mà hại cũng hại to. Đối với người đạt thì thấy không hai không khác, còn với người chấp thì thấy cái này khác cái kia, rồi chống đối nhau thành bệnh.

  1. TÔNG LÂM TẾ 

Hỏi: Chủ trương tông Lâm Tế như thế nào? 

Đáp: Lâm Tế gia phong, 

Bạch niêm thủ đoạn. 

Thế như sơn băng, 

Cơ tự điện quyển. 

Xích thủ sát nhân,

Độc quyền truy mạng.

Bổng hát giao trì, 

Chiếu dụng tề hành. 

Tân chủ lịch nhiên, 

Nhân cảnh tung đoạt. 

Nhất thiết sai biệt danh tướng, 

Bất ly hướng thượng nhất trước. 

Dịch: 

Thói nhà Lâm Tế, 

Thủ đoạn tài tình.

Thế như núi lở, 

Cơ như điện chớp. 

Tay không giết người

Tay độc tìm mạng.

Gậy hét lẫn dùng,

Chiếu dụng đều hành

Chủ khách rõ ràng,

Người cảnh đều dẹp. 

Tất cả danh tướng sai khác, 

Không lìa một lối hướng thượng

Lâm Tế gia phong, bạch niêm thủ đoạn. Thế như sơn băng, cơ tợ điện quyển. Gia phong của Lâm Tế, thủ đoạn tài tình, căn cơ lanh lẹ giống như núi lở, điện chớp.

Xích thủ sát nhân, độc quyền truy mạng. Xích thủ là tay không, giết người bằng tay không, chứ không cần gươm đao. Độc quyền là tay độc, tát một quyền là giết được mạng.

Bổng hát giao trì, chiếu dụng tề hành. Bổng là gậy, hát là hét. Vừa gậy vừa hét, hai thứ xen nhau. Chiếu và dụng đồng hành.

Tân chủ lịch nhiên, nhân cảnh tung đoạt. Khách chủ rõ ràng, người cảnh đều trừ.

Nhất thiết sai biệt danh tướng, bất ly hướng thượng nhất trước. Tất cả sự sai biệt về danh và tướng không lìa một đường hướng thượng, tức là những phương tiện đó đều nhằm đưa người tiến lên.

Đó là nói tổng quát, kế đến mới đặt ra từng câu hỏi về tám loại gậy của tông Lâm Tế.

Hỏi: Thế nào là tám loại gậy? 

Đáp: Gậy thưởng, gậy phạt, gậy tung, gậy đoạt, gậy ngu si, gậy hàng ma, gậy tảo tích, gậy vô tình. 

Hỏi: Thế nào là gậy thưởng? 

Đáp: Khi người học hỏi một câu, lời rất thân thiết và khế hợp với đạo, sư liền đánh, gọi là gậy thưởng. 

Khi người học tới ngài hỏi một câu, người học đáp đúng ngài đánh cho một gậy, gọi là gậy thưởng. An gậy mà là gậy thưởng. Cho nên nhiều khi nói đúng mà vẫn ăn gậy, mình lấy làm lạ. Không biết tại sao mà ăn gậy, không dè đó chính là gậy thưởng.

Hỏi: Thế nào là gậy phạt? 

Đáp: Khi người học cùng thầy hỏi đáp, tùy ý nói loạn, xúc phạm người, sư liền đánh gọi là gậy phạt.

Người học tùy ý nói loạn, không trúng đâu hết cho nên đánh phạt.

Hỏi: Thế nào là gậy tung? 

Đáp: Người học được “nhất tri bán giải”. Nói một câu có một chút tương ưng, sư liền đánh gọi là gậy tung. 

Người học biết được chút phần, trong câu nói có chút tương ưng, sư liền đánh gọi là gậy tung, tức là mở tung ra.

Hỏi: Thế nào là gậy đoạt? 

Đáp: Người học bị “tạp độc nhập tâm”, nói câu hợp đầu, cho là đắc ý, sư liền đánh, gọi là gậy đoạt. 

Tạp độc nhập tâm, tức là tâm bị nhiễm độc, nói ra có vẻ phù hợp rồi đắc ý cho mình ngộ đạo, sư liền đánh, gọi là gậy đoạt.

Hỏi: Thế nào là gậy ngu si? 

Đáp: Người học chủ khách không phân, tà chánh không rõ, mở miệng nói bướng, sư liền đánh, gọi là gậy ngu si. 

Người học không phân biệt được chủ khách tà chánh, nói năng càn bướng sư đánh cho một gậy, gọi là gậy ngu si.

Hỏi: Thế nào gọi là gậy hàng ma? 

Đáp: Người học nhận cảnh giới ma, nói lời ma quỷ điên cuồng cho là chứng đạo, sư liền đánh mạnh, gọi là gậy hàng ma. 

Hỏi: Thế nào gọi là gậy tảo tích? 

Đáp: Người học chẳng rơi vào phàm tình mà kẹt vào thánh giải, chẳng lìa hang ổ, sư liền đánh, gọi là gậy tảo tích. 

Gậy tảo tích là gậy quét dấu vết. Đúng ra ở mỗi câu này đều phải dẫn ra một thí dụ cho dễ hiểu, nhưng tông Lâm Tế có nhiều thứ quá, tôi không nhớ hết.

Hỏi: Thế nào là gậy vô tình? 

Đáp: Nói phải cũng đánh, nói chẳng phải cũng đánh, mở miệng cũng đánh, không mở miệng cũng đánh, tất cả đều chẳng còn, gọi là gậy vô tình. 

Đến hỏi là đánh, không hỏi đứng đó cũng đánh, phải quấy gì đều đánh. Như ngài Đức Sơn nói, hỏi hay không hỏi cũng cho ăn ba mươi gậy. Người hỏi bị đánh phải rồi, còn người chưa hỏi vì sao ngài cũng đánh? Đợi hỏi là đã muộn rồi. Lối đánh đó gọi là gậy vô tình.

Hỏi: Dưới gậy chuyển thân được đạo lý gì? 

Đáp: Bổ ngay đầu một gậy toàn thân rơi thoát, ý thức tan tành, chân thường bày lộ một mình. Hàng lợi cơ thì chuyển thân, kẻ căn độn thì điểm trán. Vừa trải qua sự suy nghĩ, liền thành một loạt ma mi. 

Lợi cơ chuyển thân là sao? Tức là người học đạo đến, sư đánh cho một gậy bao nhiêu ý thức chấp trước đều tan rã hết, liền nhận ra chân thường hiện bày, là chuyển thân. Còn bị đánh mà chỉ khổ sở thôi chứ không hiểu gì hết, tức bị điểm trán.

Đánh mà không cho suy nghĩ, cho nên ăn gậy mới có hiệu dụng. Tổ Lâm Tế nhờ ăn gậy nơi Hoàng Bá mà ngộ, nên sau này ngài chủ trương gậy hét. Chúng ta thấy lối giáo hóa trong nhà thiền dữ dằn như vậy, nhưng chính nhờ đánh hét đó mà Phật giáo Thiền tông thịnh hành.

Hỏi: Thế nào là bốn loại hét? 

Đáp: Một hét như bảo kiếm Kim Cang Vương. Một hét như sư tử ngồi xổm. Một hét như sào dò, bóng cỏ. Một hét mà không có công dụng của hét. 

Hỏi: Thế nào là bảo kiếm vua Kim Cang? 

Đáp: Hay chém ý thức, tình phàm thánh đều hết, lẽ chân thường riêng chiếu. 

Hết gậy rồi bây giờ tới hét, trước đánh sau nạt, toàn là thứ dữ.

Người học do tình thức cố chấp đến hỏi, ngài hét cho một cái, tình thức rã rời nhận được lý chân thường, đó là hét như bảo kiếm Kim Cang Vương.

Hỏi: Thế nào là sư tử ngồi xổm? 

Đáp: Hai kiến chấp đoạn thường cùng tất cả sấm lậu, ngồi rống một tiếng làm cho ngói bể băng tiêu.

Người hỏi có tánh cách chấp đoạn chấp thường, hoặc toàn những thứ huyễn hoặc, ngài hét cho một tiếng, bao nhiêu chấp trước rã hết, như ngói bể băng tiêu.

Hỏi: Thế nào là sào dò, bóng cỏ? 

Đáp: Như gương chiếu hình tượng đẹp xấu, chân ngụy, tự nhiên bày mặt thật.

Sào dò bóng cỏ là tiếng hét để dọ coi người hỏi hiểu chưa, nên nói như gương chiếu hình tượng đẹp xấu, chân ngụy tự nhiên bày mặt thật. Hét một tiếng, thấy ngẩn ngơ không hiểu thì biết là chưa có gì, còn hét một tiếng mà có phản ứng lại thì biết là đã hiểu.

Hỏi: Thế nào là không công dụng của tiếng hét? 

Đáp: Ý thức vừa khởi động, một tiếng hét làm cho tan nát. Chuyển tìm lại tiếng hét, tiếng hét cũng chẳng dùng. 

Đó là hét mà không có công dụng của tiếng hét.

Hỏi: Dưới tiếng hét lãnh ngộ được ý chỉ gì? 

Đáp: Ra oai hét một tiếng chẳng có chẳng không, khởi vốn không khởi, rơi vốn không rơi, hội được như vậy, gượng gọi là Chánh giác. 

Diệu dụng của tiếng hét có lợi ích cho người như thế nào? Ra oai hét một tiếng chẳng có chẳng không, tức là hét một tiếng người học không còn mắc kẹt bên có bên không, đang khởi hay đang không khởi, ngay đó hội được lý trung đạo, tạm gọi là thành bậc Chánh giác. Chỉ là tiếng hét mà có thể làm cho người thành Phật.

Đó là bốn loại hét, tới đây hỏi về chiếu và dụng.

Hỏi: Thế nào là bốn loại chiếu dụng? 

Đáp: Một là trước chiếu sau dụng. Hai trước dụng sau chiếu. Ba là chiếu dụng đồng thời. Bốn chiếu dụng chẳng đồng thời. 

Hỏi: Thế nào là trước chiếu sau dụng? 

Đáp: Trong tự chứng phần, dùng trí ứng vật, dùng tuệ phân biệt tà chánh. Trước bảo “nói mau Đợi suy nghĩ liền hét. 

Trong tự chứng phần, tức là trong phần tự chứng của mình, dùng trí ứng vật là chiếu, dùng tuệ phân biệt tà chánh là dụng, đó gọi là trước chiếu sau dụng. Trí là chiếu, tuệ là dụng.

Như trước bảo “nói mau!” Đợi suy nghĩ liền hét. Bảo nói mau là dùng trí, nghe bảo nói mau vừa đứng suy nghĩ để nói, liền hét lên một tiếng, đó là dụng, tức là dùng tuệ.

Khi nào chúng ta có đến các thiền viện của tông Lâm Tế, nghe các ngài bảo “nói mau!” thì biết đó là trước chiếu sau dụng.

Hỏi: Thế nào là trước dụng sau chiếu? 

Đáp: Trong tự chứng phần, trước dùng tuệ phân biệt, sau dùng trí dứt hết. Trước dựng lên một ngón tay, lại hỏi hội không? 

Trước dùng tuệ, nên gọi là trước dụng; sau dùng trí dứt hết, gọi là sau chiếu. Thí dụ dựng một ngón tay, lại hỏi hội chăng? Ngón tay là dụng, đưa lên ngón tay rồi sau mới hỏi lại, hội không? Đó là trí. Như vậy đưa ngón tay hay tiếng hét, đều là dụng. Còn câu nói, “nói mau” hay là “hội không?” là thuộc về trí.

Hỏi: Thế nào là chiếu dụng đồng thời? 

Đáp: Trong tự chứng phần, trí chẳng lìa tuệ, tuệ chẳng lìa trí. Đánh cho một gậy lại hỏi: Biết đau nhức chăng? 

Đánh một gậy đó là dụng, hỏi biết đau nhức chăng là trí. Đây là chiếu dụng đồng thời.

Hỏi: Thế nào là chiếu dụng chẳng đồng thời? 

Đáp: Trong tự chứng phần, trí là trí giám, tuệ là tuệ dụng. Sư yên lặng giây lâu, tăng suy nghĩ, sư bèn trở về phương trượng. 

Chiếu dụng chẳng đồng thời. Trước hết sư im lặng giây lâu, tăng suy nghĩ, sư bèn trở về phương trượng. Đó là trước chiếu sau dụng, hai cái không đồng thời, gọi là chiếu dụng chẳng đồng thời.

Đó là nói qua về bốn thứ chiếu dụng, bây giờ là nói về bốn loại chủ khách của tông Lâm Tế.

Hỏi: Thế nào là bốn loại chủ khách? 

Đáp: Một là khách trong khách, hai là chủ trong khách, ba là khách trong chủ, bốn là chủ trong chủ. 

Hỏi: Thế nào là khách trong khách? 

Đáp: Hướng vào sự, trái lại với lý, tự mê muội bản chân. 

Hỏi: Thế nào là chủ trong khách? 

Đáp: Sự chẳng lìa lý, nhậm vận toàn chân. 

Hỏi: Thế nào là khách trong chủ? 

Đáp: Lý hay thành sự, chẳng rơi vào thiên không. 

Hỏi: Thế nào là chủ trong chủ? 

Đáp: Bỏ sự hướng lý, chỉ nhắm vào bổn chân. 

Chủ là chỉ cho lý, khách là chỉ cho sự. Người nặng về sự bỏ quên lý, tự mê muội bản chân, gọi là khách trong khách.

Nhận rõ sự không rời lý, nhậm vận bình thường mà trọn hiện bày chân thể, gọi là chủ trong khách.

Do lý làm thành việc, chẳng rơi vào thiên không, gọi là khách trong chủ.

Không kẹt nơi sự, nhắm thẳng vào lý để thể nhập bản chân, gọi là chủ trong chủ.

Hỏi: Thế nào là chủ khách gặp nhau, phân biệt chánh tà. 

Đáp: Thầy cùng người học, thêm một lớp khóa vàng. Người học khen thiện gọi là khách xem khách. Nếu làm thầy người, mắt mình chẳng trong, bị người hiểu khinh lờn, gọi là khách xem chủ. Mắt thầy trong sáng hay cướp món ăn của người đói, cùng nhổ gốc bệnh cho người, gọi là chủ xem khách. Thầy nghiệm xét người, người học nêu cảnh, chủ biện rõ bất động, gọi là chủ xem chủ. 

Thầy, tức chỉ cho thiền sư. Khi thiền sinh lại hỏi, thầy trò thêm một lớp mù mịt không biết gì mà người học trò lại khen. Thầy trò cả hai đều không thông đạt đạo lý, đó gọi là khách xem khách.

Làm thầy người mà mắt mình chẳng trong, bị người tới hỏi thông hiểu hơn nên họ khinh lờn, gọi là khách xem chủ.

Nếu thầy giỏi, gặp người học tới hỏi gì, thầy cũng làm cho người đó dứt hết những suy tư, để đạt được chân thường, như vậy gọi là chủ xem khách.

Thầy nghiệm xét, người học nêu cảnh, thầy biện rõ bất động. Đây là thầy trò cân xứng nhau, gọi là chủ xem chủ.

Đó là nói về bốn loại chủ khách, tiếp đến là Tứ liệu giản, tức là bốn pháp tu của các trình độ sai biệt.

Hỏi: Thế nào là Bốn liệu giản? 

Đáp: Một là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh. Hai là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân. Ba là nhân cảnh đoạt cả hai. Bốn là nhân cảnh đều chẳng đoạt. 

Hỏi: Thế nào là đoạt nhân chẳng đoạt cảnh? 

Đáp: Chỉ tự tâm mình không, ngại gì ngoại cảnh. Kẻ hạ căn bậc hạ đến, đoạt pháp chẳng đoạt cảnh. 

Chỉ cần giữ tâm rộng khắp, không cần quán ngoại cảnh. Những người căn cơ bậc thấp nên áp dụng pháp

này tu, đoạt pháp chẳng đoạt cảnh, hay đoạt nhân chẳng đoạt cảnh.

Hỏi: Thế nào là đoạt cảnh chẳng đoạt nhân 

Đáp: Chẳng trụ vào cảnh bên ngoài, chỉ tâm chiếu soi một mình. Kẻ hạ căn bậc trung đến, đoạt cảnh chẳng đoạt pháp.

Hai lối này phần nhiều chúng ta tu đều áp dụng. Như khi đi đứng nằm ngồi, cảnh sờ sờ trước mắt mà không cần quán chiếu, chỉ vọng khởi lên liền biết không theo, đó là đoạt nhân không đoạt cảnh. Hoặc có người không cần để ý đến vọng niệm, khi gặp cảnh, vọng dấy lên thì liền quán cảnh đó không thật, tâm rỗng rang không còn dính mắc, đó gọi là đoạt cảnh không đoạt nhân.

Hỏi: Thế nào là nhân cảnh đoạt cả hai? 

Đáp: Tâm và cảnh đều không thì vọng từ đâu mà có? Hàng trung căn bậc thượng đến, cảnh pháp nhân đều đoạt.

Nhìn thấy ngoại cảnh biết là duyên khởi, tự tánh là không; nội tâm vọng niệm dấy khởi cũng biết là huyễn hóa không thật. Tâm cảnh đều không, đó là nhân cảnh đều đoạt. Hàng trung căn bậc thượng, cảnh pháp và nhân đều đoạt.

Hỏi: Thế nào là nhân cảnh đều chẳng đoạt? 

Đáp: Tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh. Hàng thượng căn bậc thượng đến, cảnh pháp đều chẳng đoạt. 

Tâm cảnh như như. Tâm tự trụ tâm, cảnh tự trụ cảnh, không dính mắc vào cái nào nên không còn đoạt nữa, đó là hàng thượng căn bậc thượng, cảnh pháp đều chẳng đoạt.

Hỏi: Thế nào là câu thứ nhất tiến được, kham làm thầy Phật tổ? 

Đáp: Một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không lặng. 

Hỏi: Thế nào là câu thứ hai tiến được, kham làm thầy trời người? 

Đáp: Một niệm do duyên mà khởi lên, chẳng tiếp tục hai niệm. 

Hỏi: Thế nào là câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong? 

Đáp: Niệm phân biệt vừa sanh khởi, tánh tròn sáng tự mờ. 

Sao gọi là câu thứ nhất tiến được là làm thầy Phật tổ? Đó là một niệm chẳng sanh, muôn duyên đều không lặng.

Câu thứ hai tiến được làm thầy trời người, là sao? Một niệm dấy lên không cho suy nghĩ tiếp, mà dừng ngang đó. Nếu dừng được niệm thứ hai thì làm thầy trời người. Câu thứ nhất mình làm không nổi rồi, đến câu thứ hai này chắc mình có thể dùng được.

Câu thứ ba tiến được tự cứu chẳng xong, là sao? Niệm cứ sanh khởi hoài làm cho tánh tròn sáng bị mờ, đó là tự cứu không xong.

Hỏi: Thế nào gọi là đệ nhất huyền? 

Đáp: Bản tánh rỗng lặng. 

Hỏi: Thế nào là đệ nhị huyền? 

Đáp: Chơn trí lặng lẽ mà chiếu soi. 

Hỏi: Thế nào là đệ tam huyền? 

Đáp: Diệu dụng không ngại. 

Phần này là nói về Tam huyền Tam yếu của tông Lâm Tế.

Tam huyền chỉ cho thể, tướng, dụng. Bản tánh không lặng, là thể. Chơn trí lặng lẽ mà chiếu soi, là tướng. Diệu dụng không ngại, là dụng.

Hỏi: Thế nào là thể trung huyền, cú trung huyền, huyền trung huyền? 

Đáp: Thể trung huyền là bản tánh rỗng lặng. Cú trung huyền là trong lời mà không lời. Huyền trung huyền là vượt ngoài mọi suy nghĩ. 

Trong lời mà không lời, tức là nói mà không để cho suy nghĩ.

Hỏi: Thế nào là đệ nhất yếu? 

Đáp: Chân thể dứt tuyệt dấu vết. 

Hỏi: Thế nào là đệ nhị yếu? 

Đáp: Dụng lớn không ngắn. 

Hỏi: Thế nào là đệ tam yếu? 

Đáp: Một bên cùng ở giữa đều chẳng lập. 

Tam yếu tức không còn mắc kẹt ba chỗ, bên này, bên kia và chặng giữa.

Hỏi: Thế nào là Mười trí đồng chân? 

Sư ra oai hét một tiếng, hỏi rằng: Đấy là trí thứ mấy? 

Thập trí đồng chân là do cháu chắt của tông Lâm Tế lập ra. Khi hỏi về mười trí đồng chân, thầy hét một tiếng, hỏi là trí thứ mấy? Đó là đáp bằng tiếng hét.

Hỏi: Thế nào là một, đồng nhất chất? 

Đáp: Tất cả sum la vạn tượng do sự ấn định của một pháp. 

Hỏi: Thế nào là hai, đồng đại sự? 

Đáp: Trong ánh sáng của tịch chiếu không thiếu cũng không thừa. 

Hỏi: Thế nào là ba, tổng đồng tham? 

Đáp: Loài hữu tình, loài vô tình đều đồng một pháp giới. 

Hỏi: Thế nào là bốn, đồng chân trí? 

Đáp: Các pháp đều bình đẳng, vật và ngã đều nhất như. 

Hỏi: Thế nào là năm, đồng biến phổ? 

Đáp: Lớn thì bao trùm pháp giới, nhỏ thì chẳng chứa mũi kim. 

Hỏi: Thế nào là sáu, đồng cụ túc? 

Đáp: Trăm ngàn pháp môn chẳng lìa tấc vuông. 

Hỏi: Thế nào là bảy, đồng đắc thất? 

Đáp: Nơi thánh chẳng được, ở phàm chẳng mất. 

Hỏi: Thế nào là tám, đồng sanh sát? 

Đáp: Rải ra muôn vật đều phát sanh. Thu vào thì lấp cảnh bít hang. 

Hỏi: Thế nào là chín, đồng âm hẩu? 

Đáp: Nói khéo hay nói vụng đều trở về đệ nhất nghĩa. 

Hỏi: Thế nào là mười, đồng đắc nhập? 

Đáp: Muôn pháp nhất tâm, đồng trở về bất nhị. 

Tiếp theo đó ngài xòe hai tay ra nói: Một trí này cùng cái mâm kia bưng ra. 

Trong câu hỏi chín, thế nào là đồng âm hẩu? Ngài đáp, nói khéo hay nói vụng đều trở về đệ nhất nghĩa. Tức là, dù cho lời nói bay bướm hay lời nói vụng về, cùng để hiển bày đệ nhất nghĩa. Cho nên khi cần, các ngài cũng nói những câu hết sức thô tục.

Câu thứ mười, đồng đắc nhập. Ngài xòe tay nghĩa là sao? Xòe hai tay ra tức là đủ mười ngón, là thập trí đồng chơn. Một trí này cùng cái mâm kia bưng ra, tức muôn pháp nhất tâm đồng về chỗ không hai.

Hỏi: Thế nào là đệ nhất quyết của Phần Dương? 

Đáp: Tánh thể vốn lặng. 

Hỏi: Thế nào là đệ nhị quyết? 

Đáp: Trí dụng riêng chiếu. 

Hỏi: Thế nào là đệ tam quyết? 

Đáp: Tịch chiếu không hai. 

Các ngài lập ra những phương tiện nói đi nói lại cũng không ngoài thể, tướng, dụng.

Hỏi: Thế nào là cửu đới của Phù Sơn? 

Đáp: Đới là cột, bó lại, nghĩa là bao gồm. 

Hỏi: Thế nào là Chánh pháp nhãn tạng đới? 

Đáp: Pháp hội Linh Sơn Phật chưa nói một chữ, cuối cùng Phật đưa cành hoa, ngài Ca-diếp nhận gánh vác. 

Hỏi: Thế nào là Phật pháp tạng đới? 

Đáp: Ba tạng giáo điển cùng năm tông phái thiền, đều phát xuất từ nhất tâm.

Hỏi: Thế nào là Lý quán đới? 

Đáp: Không kiếp trở về trước, mượn gọi là chánh vị. 

Hỏi: Thế nào là Sự quán đới? 

Đáp: Theo dòng đời được diệu, ứng với muôn vật mà được toàn chơn. 

Hỏi: Thế nào là Lý sự tung hoành đới? 

Đáp: Tùy duyên mà không hề biến đổi, chẳng biến đổi mà tùy duyên. 

Đưa một cành hoa lên mà ngộ đạo, lãnh trách nhiệm hoằng dương, gọi là Chánh pháp nhãn tạng đới.

Ba tạng kinh cùng năm tông phái thiền, đều phát xuất từ nhất tâm, gọi là Phật pháp tạng đới? 

Chánh vị là thể bất sanh bất diệt trước không kiếp, cũng gọi là Lý quán đới.

Tùy duyên giáo hóa chúng sanh, lợi ích muôn vật mà không nhiễm, gọi là Sự quán đới.

Chẳng biến đổi chỉ cho lý, tùy duyên chỉ cho sự. Lý sự dung thông không kẹt, gọi là Lý sự tung hoành đới.

Hỏi: Thế nào là Khuất khúc thùy đới? 

Đáp: Chẳng trụ vô vi, chẳng bỏ hết hữu vi, đi trong phi đạo mà thông đạt Phật đạo. 

Không kẹt vô vi, không mắc hữu vi, hai bên đều thông suốt. Đi trong phi đạo mà thông đạt Phật đạo, như hòa thượng Bố Đại, hoặc các vị thiền sư, họ ngao du ở đời làm những chuyện giống kẻ điên, nhưng mỗi mỗi hành động đều hiển bày lý đạo.

Hỏi: Thế nào là Diệu hiệp kiêm đới? 

Đáp: Đại dụng hiện tiền, chẳng câu chấp nơi tiểu tiết, muôn sự muôn vật đều là diệu trí. 

Hỏi: Thế nào là Kim châm song tỏa đới? 

Đáp: Mở mang Phật sự mà chẳng nhờ tạo tác, tự tại vô ngại chẳng ràng chẳng buộc. 

Diệu hiệp kiêm đới, tức là được diệu dụng hiện tiền, làm việc gì cũng phù hợp với đạo, không câu nệ vụng vặt. Kim châm song tỏa đới, là làm tất cả Phật sự đều từ nhất tâm khởi, không nhờ tạo tác bên ngoài.

Hỏi: Thế nào là Bình hoài thường thật đới? 

Đáp: Không thánh có thể cầu, không phàm có thể xả. Một tâm thản nhiên lặng lẽ tự hết. 

Sư dựng một ngón tay lên nói: “Một đới này xem mặt trình nhau.” 

Bình hoài thường thật đới, tức là tâm bình thường lặng lẽ, dứt cả thánh phàm. Nên nói, không thánh có thể cầu, không phàm có thể xả. Sư dựng một ngón tay lên nói: Một đới này xem mặt trình nhau.” Đó là những thủ thuật trong nhà thiền, cốt gây sự nhận định không bao giờ quên nơi người.

  1. TÔNG TÀO ĐỘNG 

Hỏi: Chủ trương tông Tào Động như thế nào? 

Đáp: Tào Động gia phong, 

Đạo xu miên mật. 

Ứng cơ tiếp vật, 

Ngữ kỵ thập thành. 

Kim châm song tỏa, 

Ngọc tuyến ám xuyên.

Chánh thiên hồi hỗ,

Ngũ vị công huân.

Nội ngoại thiệu đẳng,

Tam chủng sấm lậu.

Nhất thiết sai biệt, 

Bất ly bổn phận. 

Dịch: 

Thói nhà Tào Động, 

Then đạo khít khao

Ứng cơ tiếp vật

Rất kiêng nói hết

Kim vàng hai khóa,

Chỉ ngọc thầm xuyên.

Chánh thiên hồi hỗ

Năm vị công huân

Trong ngoài tiếp nối

Ba loại sấm lậu

Hết thảy sai biệt, 

Chẳng lìa bổn phận

Đây là những danh từ chuyên môn của tông Tào Động, chúng ta nghe lạ tai. Nếu không nhờ giải thích ở đây thì khi đọc vào, chúng ta cũng không hiểu nổi.

Tào động gia phong, đạo khu miên mật. Ứng cơ tiếp vật, ngữ kỵ thập thành. Gia phong của tông Tào Động, mé đạo nghiêm mật, khít khao lắm. Khi gặp người thì ứng cơ tiếp vật một cách lanh lẹ. Ngữ kỵ thập thành là không được nói trắng ra.

Kim châm song tỏa, ngọc tuyến ám xuyên. Chánh thiên hồi hỗ, ngũ vị công huân. Kim châm song tỏa, ngọc tuyến ám xuyên, là kim vàng xỏ qua hai khoen, chỉ ngọc thầm xuyên theo. Chánh thiên hồi hỗ, ngũ vị công huân. Đây là những danh từ chuyên môn của tông Tào Động.

Nội ngoại thiệu đẳng, tam chủng sấm lậu. Nhất thiết sai biệt, bất ly bổn phận. Trong ngoài đồng tiếp nối, ba thứ sấm lậu, tất cả sai biệt không lìa bổn phận, tức là không lìa chân tâm.

Lối nói của tông Lâm Tế ở trước, kết luận lại cũng không rời hướng thượng. Tông Tào Động thì chẳng lìa bổn phận, đều là quy về một gốc, nhưng phương tiện lập ra có khác nhau.

Hỏi: Thế nào là Chánh trung thiên? 

Đáp: Lý hay thành sự.

Hỏi: Thế nào là Thiên trung chánh? 

Đáp: Sự chẳng lìa lý. 

Hỏi: Thế nào là Chánh trung lai? 

Đáp: Lý vốn không tịch. 

Hỏi: Thế nào là Thiên trung chí? 

Đáp: Sự dụng không dấu vết.

Hỏi: Thế nào là Kiêm trung đáo? 

Đáp: Sự lý đều mất. 

Chánh chỉ cho lý, thiên chỉ cho sự. Chánh trung thiên là lý mà hay thành sự. Thiên trung chánh là sự chẳng lìa lý. Chánh trung lại là lý vốn không tịch. Thiên trung chí là sự và dụng không còn dấu vết. Kiêm trung đáo là vị chót, đến đây thì sự và lý đều bặt. Lý là chỉ cho thể tánh, sự là chỉ cho sự vật hiện có hình tướng. Khi còn dụng công tu thì lập sự lập lý, nương nơi sự vật hoặc nương nơi lý tánh nên thấy có hai, đến lúc ngộ rốt ráo rồi thì sự và lý đều bặt.

Hỏi: Năm vị công huân như thế nào? 

Đáp: Năm vị công huân là Hướng, Phụng, Công, Cộng công, Công công. 

Hỏi: Thế nào là Hướng? 

Đáp: Hướng đến việc này không cho gián đoạn.

Hỏi: Thế nào là Phụng? 

Đáp: Như kính bậc trưởng thượng, thừa sự phụng hành không lúc nào dừng. 

Năm vị công huân là nói về sự tu.

Hướng là hướng đến việc này không cho gián đoạn. Việc này là việc gì? Nói theo Khởi Tín luận là giữ chân như không cho gián đoạn, gọi là chân như tam-muội.

Phụng là lúc nào cũng cung kính, tin theo cái đó không lúc nào dừng.

Hỏi: Thế nào là Công? 

Đáp: Có dụng hay không dụng đều gọi là công huân cả. 

Hỏi: Thế nào là Cộng công? 

Đáp: Khi dụng thì không dụng, không dụng tức là dụng. 

Hỏi: Thế nào là Công công? 

Đáp: Đã không công dụng được đại giải thoát. 

Đến đây tuy dụng công mà không thấy có dụng công, cho nên được đại giải thoát.

Hỏi: Thế nào là chuyển công tựu vị? 

Đáp: Dụng chẳng lìa thể gọi là chuyển công tựu vị. 

Vị là chỉ cho thể, công là chỉ cho dụng. Chuyển công tựu vị tức là chuyển cái dụng trở về thể, nên nói dụng chẳng lìa thể.

Hỏi: Thế nào là chuyển vị tựu công? 

Đáp: Thể hay phát dụng. 

Hỏi: Thế nào là công vị tề thí? 

Đáp: Thể dụng đều bày.

Hỏi: Thế nào là công vị câu ẩn? 

Đáp: Thể dụng đều mất. 

Đây nói Vị Công giống như tông Lâm Tế nói Chánh Thiên. Chánh thì đây dùng là chữ Vị, Thiên đây dùng chữ Công. Lối lập chữ có khác, còn về ý thì năm thứ công huân này, cũng giống như năm thứ hồi hỗ ở trên.

Hỏi: Thế nào là Đản sanh vương tử? 

Đáp: Căn bản đại trí vốn tự hiện thành.

Đản sanh vương tử là như ngài Văn-thù giáo hóa Thiện Tài.

Hỏi: Thế nào là Triệu sanh vương tử? 

Đáp: Không nhờ tu chứng, làm sao về gốc? 

Phải nhờ tới công tu, như Đồng tử Thiện Tài bắt đầu đi tham vấn.

Hỏi: Thế nào là Mạt sanh vương tử? 

Đáp: Có tu có chứng chẳng phạm công huân.

Thiện Tài sắp bước vào lâu đài của ngài Di-lặc.

Hỏi: Thế nào là Hóa sanh vương tử? 

Đáp: Đại dụng hiện tiền ai dám đương đầu? 

Thiện Tài thể nhập vào hạnh Phổ Hiền, chun vào trong lỗ chân lông của ngài Phổ Hiền.

Hỏi: Thế nào là Nội sanh vương tử? 

Đáp: Đạt bản hoàn nguyên, chân như pháp giới.

Chúng ta thấy lối giải thích này lạ, mà thật ra là chỉ cho từng giai đoạn tu hành từ thủy đến chung.

Hỏi: Thế nào gọi là ba thứ đọa? 

Đáp: Một là mang lông đội sừng, gọi là Loại đọa. Hai là chẳng đoạn thanh sắc, gọi là Tùy đọa. Ba là chẳng thọ thực, gọi Tôn quý đọa. 

Thông thường nghe nói đọa, chúng ta tưởng là rơi xuống địa ngục hay đọa làm súc sanh. Nhưng đây không phải ý đó, ba loại đọa này rất lạ lùng, sẽ giải thích.

Hỏi: Thế nào là mang lông đội sừng đọa? 

Đáp: Chẳng mặc áo bản lai, cần đi trong dị loại.

Nghe nói mang lông đội sừng đọa, đừng tưởng là xuống địa ngục, mà là không an trú nơi pháp thân thanh tịnh, khởi bi nguyện độ sanh.

Hỏi: Thế nào là chẳng đoạn thanh sắc đọa? 

Đáp: Sáu trần không chán, vẫn đồng Chánh giác. 

Tâm cảnh như như.

Hỏi: Thế nào là chẳng thọ thực? 

Đáp: Lý còn chẳng giữ, huống là việc khác. 

Lý còn không giữ, tức là không chấp vào lý; cái thanh tịnh bản nhiên còn không giữ thì những cái khác đâu dính dáng. Lý sự đều buông.

Hỏi: Thế nào gọi là ba loại sấm lậu? 

Đáp: Một là Kiến sấm lậu, hai là Tình sấm lậu, ba là Ngữ sấm lậu. 

Sấm lậu là rỉ chảy. Ba thứ sấm lậu tức là ba thứ bệnh, còn ba thứ đọa ở trên là phần lợi ích chúng sanh của bậc giác ngộ.

Hỏi: Thế nào là Kiến sấm lậu? 

Đáp: Không đổi chánh vị, rơi tại nhất sắc. 

Không đổi chánh vị là không chuyển được thể mà lại kẹt trên dụng, trên sự. Nhất sắc là chỉ cho dụng hay sự. Kiến sấm lậu tức là mắc kẹt một bên.

Hỏi: Thế nào là Tình sấm lậu? 

Đáp: Mắc kẹt hai bên, sóng thức trôi đi.

Tình sấm lậu là kẹt cả hai bên, nên bị sóng thức trôi đi trong luân hồi.

Hỏi: Thế nào là Ngữ sấm lậu? 

Đáp: Thể diệu chẳng tròn, thốt ra lời ám muội.

Không ngộ nên nói ra lời gì cũng không đến đâu, đây gọi là Ngữ sấm lậu.

Hỏi: Thế nào là ba đường tiếp người? 

Đáp: Ba đường tiếp người là Điểu đạo, Huyền lộ và Triển thủ. 

Hỏi: Thế nào là Điểu đạo? 

Đáp: Hư không không vui không giận. 

Hỏi: Thế nào là Huyền lộ? 

Đáp: Chữ bát thiếu hai phết. 

Hỏi: Thế nào là Triển thủ? 

Đáp: Chữ nhất hai đầu rũ. 

Ba con đường tiếp người của tông Tào Động là Điểu đạo, Huyền lộ và Triển thủ.

Điểu đạo là đường chim. Đi đường chim là chỉ chỗ tâm rỗng rang không dấy niệm vui buồn thương ghét.

Huyền lộ là gì? Chữ bát thiếu hai phết. Chữ bát mà thiếu hai phết thì thành chữ gì? Chữ bát gồm hai nét, bên đây một nét, bên kia một nét hợp lại thành chữ bát, nếu mất hai nét thì không thể thành chữ bát. Cho nên nói là Huyền lộ, tức là không còn hình dáng để chấp trước kẹt mắc.

Thế nào là triển thủ? Chữ nhất hai đầu rũ, tức là rũ tay mà đi. Như vậy, huyền lộ là thể nhập được bản thể pháp thân, còn triển thủ là khởi dụng để độ sanh.

Ba con đường tiếp người của tông Tào Động thật là cao siêu. Đường thứ nhất Điểu đạo, là không vui không giận, tâm rỗng rang như hư không. Đường thứ hai Huyền lộ, tức là thể nhập được pháp tánh chân không. Đường thứ ba Triển thủ, là khởi lên diệu hữu, nhập thế lợi ích chúng sanh.

Hỏi: Thế nào là Chánh vị nhất sắc? 

Đáp: Diệu thể vô hình. 

Hỏi: Thế nào là Đại công nhất sắc? 

Đáp: Chân trí không phân. 

Hỏi: Thế nào là Kim thời nhất sắc? 

Đáp: Dụng lớn không ngắn. 

Chánh vị là chỉ cho lý. Lý thể đó không hình tướng, nên gọi là Chánh vị nhất sắc.

Đại công nhất sắc, tức là trí chân thật không có phân chia.

Kim thời nhất sắc là chỉ cho dụng lớn không có ngần mé.

Hỏi: Thế nào là Tá công minh vị? 

Đáp: Sóng vốn là nước. 

Hỏi: Thế nào là Tả vị minh công? 

Đáp: Nước hay dậy sóng. 

Hỏi: Thế nào là Tá tá bất tá tá? 

Đáp: Sóng và nước chẳng hai. 

Hỏi: Thế nào là Toàn siêu bất tá tá? 

Đáp: Sóng và nước đều là trong lặng. 

Công là sự, vị là lý. Tá công minh vị là từ nơi sự mà rõ được lý, nên nói sóng vốn là nước. Nước dụ cho lý, vị. Sóng dụ cho sự, công.

Tá vị minh công là nương nơi vị mà rõ được công, nương nơi thể mà rõ được dụng.

Tá tá bất tá tá là nương nương mà chẳng nương nương. Đến đây là nương mà không nương, biết sóng và nước thể không hai, ngay sóng mà biết nước, ngay nước mà biết sóng.

Toàn siêu bất tá tá là hoàn toàn không còn nương, sóng và nước đều trong lặng.

Những chủ trương này cao siêu vô cùng, mà dùng chữ thật là khó hiểu, cho nên chỉ đọc mà không được giải thích. Vì ở đây với tính cách học để tu, cho nên tôi cũng làm biếng nghiên cứu, chỉ nói đại khái cho hiểu tu mà thôi, chứ đúng ra dạy học thì mỗi câu là phải dẫn một câu chuyện. Như ở trước nói về gậy thưởng, gậy phạt của ngài Lâm Tế, thì phải dẫn chuyện các vị đến hỏi câu gì và ngài đánh thế nào, để biết rằng đó là gậy thưởng hay gậy phạt. Nhưng tôi đang cố tình quên không muốn kiếm nhiều chuyện, làm đầu óc lộn xộn. Buông mà, nên rồi thôi kệ. Sau này nếu ai đọc hành trạng hay trong sử các thiền sư, gặp những sự việc như đây thì sẽ tự biết đó là trường hợp nào.

  1. TÔNG VÂN MÔN 

Hỏi: Chủ trương tông Vân Môn như thế nào? 

Đáp: Vân Môn gia phong, 

Cô nguy tủng tuấn. 

Cách ngoại đề tê, 

Tiễn trừ tình kiến. 

Tam cú quan kiện,

Nhất tự cơ phong. 

Bắc đẩu tàng thân, 

Kim phong thể lộ. 

Trụ trượng bột khiêu,

Phật tổ thoái hậu.

Trản tử thuyết pháp, 

Ma ngoại tiềm hình.

Nhất thiết ngữ ngôn, 

Tổng quy hướng thượng. 

Dịch: 

Thói nhà Vân Môn, 

Vòi vọi cao vót

Dạy người xuất cách, 

Cắt trừ tình kiến. 

Ba câu then chốt

Cơ phong một chữ. 

Bắc Đẩu ẩn thân

Thể lộ gió thu

Trụ trượng nhảy vọt

Phật tổ lui sau

Chung trà nói pháp, 

Ma ngoại ẩn hình

Hết thảy ngôn ngữ, 

Gồm về hướng thượng. 

Vân Môn gia phong, cô nguy tủng tuấn. Cách ngoại đề tê, tiễn trừ tình kiến. Gia phong Vân Môn vòi vọi mà cao vót. Dạy người xuất cách, dẹp sạch những tình kiến.

Tam củ quan kiện, nhất tự cơ phong. Bắc đẩu tàng thân, kim phong thể lộ. Ba câu then chốt, cơ phong một chữ. Thông thường có người đến hỏi, ngài đều đáp một chữ, không nói thêm tiếng thứ hai. Đó gọi là nhất tự cơ phong, còn những câu bắc đẩu lý tàng thân, kim phong thể lộ… ngài rất hay dùng, ở sau có giải thích.

Trụ trượng bột khiêu, Phật tổ thoái hậu. Trận tử thuyết pháp, ma ngoại tiềm hình. Nhất thiết ngữ ngôn, tổng quy hướng thượng. Trụ trượng bột khiêu là cây gậy nhảy vọt. Phật tổ thoái hậu là Phật tổ thối lui. Trản tử là chung trà, đưa chung trà lên nói pháp. Ma ngoại tiềm hình là chúng ma và ngoại đạo đều ẩn mình. Rốt ráo tất cả ngữ ngôn thảy trở về hướng thượng.

Đó là nói toát yếu về tông môn, kế đây là hỏi về ba câu.

Hỏi: Thế nào là câu bao trùm càn khôn. 

Đáp: Bao trùm thái hư, ngang suốt ba mé. 

Ba câu này cũng tương tự như Tam huyền, Tam yếu của ngài Lâm Tế nói.

Câu bao trùm càn khôn, tức là Hàm cái càn khôn cú. Bao trùm thái hư, ngang suốt ba mé, chỉ cho thể của pháp thân.

Hỏi: Thế nào là câu cắt đứt các dòng? 

Đáp: Một niệm chẳng sanh, muôn pháp tự dứt. 

Câu cắt đứt các dòng, tức là tiệt đoạn chúng lưu cú. Một niệm chẳng sanh, muôn pháp tự dứt. Nếu trong tâm mình dứt hết không còn một niệm thì các pháp cũng theo đó mà dứt.

Hỏi: Thế nào là câu theo nước đuổi sóng? 

Đáp: Theo dòng được diệu, ứng vật toàn chân. 

Câu theo nước đuổi sóng, tức là tùy ba trục lãng cú. Theo dòng được diệu, ứng vật toàn chân. Khởi ra diệu dụng từ thô cho tế, mà luôn luôn không rời bản thể chân thật.

Như vậy trong ba câu, câu trước là nói về thể trùm khắp mười phương, suốt cả ba đời. Câu thứ hai là chỉ cho lúc tâm cảnh nhất như, một niệm không sanh các pháp đều dứt. Câu thứ ba là khởi diệu dụng để tùy cơ ứng hóa, nhưng không mất cái chân thật.

Hỏi: Thế nào là nhất tự quan. 

Đáp rằng: Vượt ngoài sự suy nghĩ chẳng rơi vào hang ổ. 

Nhất tự quan là cửa một chữ. Tại sao ngài chỉ đáp có một chữ? Bởi vì ngài nói mà không để cho mình suy nghĩ được. Thí dụ có người hỏi: “Thế nào là đại ý Phật pháp?” Ngài đáp: “Quan.” Câu đáp này đâu khác gì tiếng hét của Lâm Tế, đó là chỗ bặt suy nghĩ, vừa khởi suy nghĩ là trật rồi.

Hỏi: Thế nào là tông Đề-bà? 

Đáp: Hiện bày trâu trắng, đông xúc tây chạm. 

Tông Đề-bà là để chỉ cho các pháp không cố định, tùy theo chỗ dùng. Hỏi thế nào tông Đề-bà? Ngài đáp, hiện bày trâu trắng, đông xúc tây chạm. Tức là khi tâm thể đã hiện bày, dù xúc bên đông hay chạm bên tây gì, cũng không ngăn ngại.

Hỏi: Thế nào là Xuy mao kiếm? 

Đáp: Muôn sự muôn vật, ngói bể băng tiêu. 

Xuy mao kiếm là cây kiếm rất bén, thổi sợi lông qua là đứt liền. Nên khi hỏi về Xuy mao kiếm, ngài nói muôn sự muôn vật, ngói bể băng tiêu. Đối với muôn sự vật đều tan hết tình chấp, chẳng khác nào như ngói bể băng tiêu vậy.

Hỏi: Ý tổ, ý kinh là đồng hay khác? 

Ngài đáp: Chạm chẳng được mà trái cũng chẳng được. 

Chạm chẳng được tức là không phải một, trái chẳng được là không phải hai. Không phải một vì kinh khác, tổ khác. Tổ chỉ thẳng tâm, còn kinh thì nói rõ ràng có thứ lớp theo văn tự, nên nói chạm chẳng được. Tất cả kinh đều chỉ cho tâm, chư tổ cũng chỉ thẳng tâm, thành ra không hai, nên nói trái chẳng được. Ngôn ngữ trong nhà thiền dùng chúng ta phải khéo hiểu.

Hỏi: Thế nào là Bắc đẩu lý tàng thân? 

Đáp: Không dấu vết. 

Bắc đẩu lý tàng thân, tức là ẩn thân trong sao bắc đẩu. An thân trong sao bắc đẩu thì đâu còn thấy hình tướng gì nữa. Đó là chỉ cho khi xét lại tâm mình, thì thấy tướng của nó là không, không có dấu vết.

Hỏi: Thế nào là Thể lộ gió thu? 

Ngài đáp: Toàn thân hiện. 

Thể lộ gió thu, tức là thể lộ kim phong. Đây chỉ cho thể không hình tướng, không dấu vết nhưng lúc nào tánh giác cũng bày rõ trước mắt, nên nói toàn thân hiện.

Tóm lại, câu Bắc đẩu lý tàng thân, hay câu Thể lộ kim phong của ngài Vân Môn, cũng không gì khác hơn là chỉ cho thấy tâm không có hình dáng, không có tông tích; nhưng tánh giác sờ sờ không bao giờ mất, cho nên toàn thân hiện.

  1. TÔNG QUY NGƯỠNG 

Hỏi: Chủ trương tông Quy Ngưỡng thế nào? 

Đáp: Quy ngưỡng gia phong, 

Cơ dụng viên dung. 

Thất trung nghiệm nhân, 

Cú năng hãm hổ. 

Viên tướng sai biệt, 

Minh lai ám hợp. 

Cảnh xuất tam sanh, 

Lưỡng khẩu nhất thiệt. 

Phụ tử hòa xướng, 

Đạo truyền thiên cổ. 

Dịch: 

Thói nhà Quy Ngưỡng

Cơ dụng viên dung

Trong thất nghiệm người

Câu hay hãm hổ

Tướng tròn sai khác, 

Sáng đến hợp tối

Gương hiện ba sanh

Một lưỡi hai miệng

Cha con đồng xướng

Đạo truyền thiên cổ

Quy ngưỡng gia phong, cơ dụng viên dung. Thất trung nghiệm nhân, củ năng hãm hổ. Gia phong của tông Quy Ngưỡng, cơ dụng viên dung, ở trong thất hay nghiệm người, một câu có thể giam cọp.

Viên tướng sai biệt, minh lai ám hợp. Cảnh xuất tam sanh, lưỡng khẩu nhất thiệt. Phụ tử hòa xướng, đạo truyền thiên cổ. Tam sanh là ba loại sanh, ở sau sẽ nói. Lưỡng khẩu nhất thiệt là chỉ cho ngài Quy Sơn và Ngưỡng Sơn, hai thầy trò mà cùng một lưỡi. Cha con cùng hòa xướng, đạo truyền đến muôn đời.

Hỏi: Thế nào là ba loại sanh? 

Đáp: Ba loại sanh là Tưởng sanh, Tướng sanh 

và Lưu chú sanh. 

Hỏi: Thế nào là Tưởng sanh? 

Đáp: Ý thức bên trong. 

Hỏi: Thế nào là Tướng sanh? 

Đáp: Trần cảnh bên ngoài. 

Hỏi: Thế nào là Lưu chú sanh? 

Đáp: Không gián đoạn. 

Ba loại sanh: Tưởng sanh, Tướng sanh và Lưu chú sanh, là riêng của tông Quy Ngưỡng.

Tưởng sanh là đang sống với ý thức. Tướng sanh là còn thấy có tướng bên ngoài. Lưu chú sanh là bên trong vọng tâm nối nhau liên miên không dứt. Ba thứ này là gốc của luân hồi.

Hỏi: Sao gọi là mật nghĩa của viên tướng? 

Đáp: Mật nghĩa của viên tướng có sáu loại. 

Hỏi: Thế nào là sáu loại? 

Đáp: Một là viên tướng, hai là ám cơ, ba là nghĩa hải, bốn là tự hải, năm là ý hải, sáu là mặc luận. 

Viên tướng là tướng tròn. Ám cơ là thầm hợp với căn cơ. Nghĩa hải là nghĩa rộng như biển. Tự hải là trùm hết những văn tự. Ý hải là gồm hết các ý. Mặc luận là thầm bàn luận.

Hỏi: Lấy gì làm thể? 

Đáp: Vẽ một hình tròn, đấy là thể.

Khi nào hỏi mà ngài vẽ một vòng tròn để đáp, tức là dùng thể mà đáp.

Hỏi: Lấy gì làm dụng? 

Đáp: Vẽ một hình tròn, vẽ xuống một đường thẳng từ trên xuống dưới, đấy là dụng.

Hỏi câu gì mà ngài vẽ vòng tròn, rồi gạch một đường thẳng từ trên xuống, thì biết đó là dụng. Thí dụ thầy vẽ một vòng tròn, trò đáp lại phải gạch một gạch giữa, tức là thầy nói thể thì trò phải lấy dụng mà đáp, gọi là ám cơ thầm mật.

Hỏi: Lấy gì làm trí? 

Đáp: Vẽ hình tròn ở giữa có chữ sơn, đấy là trí. 

Thầy trò nói chuyện nhau toàn bằng hình. Đối đáp bằng hình vẽ gọi là ám cơ. Trong này có rất nhiều hình, mà vì ngài Huệ Trung Nghĩa Sư truyền có một cuốn sách, nên ở đây chỉ có những hình vẽ đơn giản và ít chữ mà thôi.

Hỏi: Trong tướng tròn viết chữ ngưu (牛), chữ Phật (佛), chữ nhân (人), chữ tiên (仙), chữ thập (十), chữ vạn (萬), một điểm, một nét, bán nguyệt, khuyết nguyệt v.v… chẳng nhất định, đấy là ý chỉ gì? 

Đáp: Đưa tay tiếp người, nêu rõ hay ngầm, chẳng lìa thể dụng, lý sự chủ khách, sanh sát buông hay nắm, quyền thật ẩn hiển, đồng dị tổng biệt, ngầm ấn bản tâm, đấy gọi là mật nghĩa của tam-muội ẩn thân. Phải là người thật tỏ ngộ mới hiểu suốt được cái cơ này, bọn môn đồ của nghĩa giải khó mà hiểu được liền. 

Đây chỉ những người tỏ ngộ mới hiểu nhau, cho nên thầy vẽ cái gì đó, thì trò đáp lại cái gì đó, nghĩa là thầy trò thầm hiểu nhau. Chúng ta thấy những hình vẽ này giống như mấy đứa trẻ nhỏ ưa chơi vậy. Đứa đưa tay ra dấu làm cái kéo, đứa xòe tay ra làm cái bao… để đối lại. Các ngài muốn dùng những hình ảnh để đối đáp nhau, chứ không nói ra lời.

Hỏi: Thế nào là mở mắt ngước nhìn? 

Đáp: Chạm chẳng được mà trái chẳng được. 

Mở mắt ngước nhìn đó là chỗ chạm chẳng được, trái chẳng được, tức không phải một cũng chẳng phải hai.

Hỏi: Thế nào một lưỡi hai miệng? 

Đáp: Chẳng được có lời, chẳng được không lời. 

Bởi vì có lời và không lời là thành hai rồi.

Hỏi: Thế nào là trước Nhiên Đăng? 

Đáp: Thể tịch. 

Hỏi: Thế nào là sau Nhiên Đăng? 

Đáp: Dụng chiếu. 

Hỏi: Thế nào là chánh Nhiên Đăng? 

Đáp: Tịch chiếu. 

Trước đức Phật Nhiên Đăng là chỉ cho bản thể tịch nhiên, sau Nhiên Đăng là dụng chiếu soi, chánh Nhiên Đăng là bản thể không tịch mà hiện ra chiếu soi, tức là từ thể khởi dụng. Tịch là thể, chiếu là dụng. Những câu nói của các ngài đều có hàm ý trong đó.

  1. TÔNG PHÁP NHÃN 

Hỏi: Chủ trương của tông Pháp Nhãn thế nào? 

Đáp: Pháp Nhãn gia phong, 

Đối chứng thí dược. 

Thùy cơ tấn lợi, 

Tảo trừ tình giải. 

Lục tướng nghĩa môn, 

Hội quy tánh địa. 

Vạn tượng chi trung, 

Toàn thân độc lộ. 

Tam giới duy tâm,

Vạn pháp duy thức.

Trực siêu dị kiến, 

Viên dung chân tế. 

Dịch: 

Thói nhà Pháp Nhãn, 

Đối bệnh cho thuốc. 

Phương tiện bén nhạy

Quét sạch tình giải

Sáu tướng nghĩa môn,

Gom về tánh địa

Ở trong muôn tượng

Toàn thân một đường. 

Ba cõi duy tâm, 

Muôn pháp duy thức

Vượt thẳng dị kiến, 

Chan hòa chân tế. 

Pháp Nhãn gia phong, đối chứng thí dược. Thùy cơ tấn lợi, tảo trừ tình giải. Gia phong của tông Pháp Nhãn là đối bệnh mà cho thuốc. Lập bày những phương tiện nhanh lẹ để dẹp sạch hết hiểu biết của tình chấp.

Lục tướng nghĩa môn, hội quy tánh địa. Vạn tượng chi trung, toàn thân độc lộ. Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Trực siêu dị kiến, viên dung chân tế. Sáu tướng của nghĩa môn, đều trở về đất tánh. Đến chỗ đó rồi vượt khỏi các dị kiến, viên dung được chân tế. Vạn tượng chi trung, toàn thân độc lộ. Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức. Đó là những câu mà ngài Pháp Nhãn ngộ, nên ngài thường dùng làm sở trường của ngài.

Hỏi: Thế nào là nghĩa sáu tướng? 

Đáp: Tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại. 

Đây là nghĩa sáu tướng của tông Pháp Nhãn.

Sáu tướng là: Tổng tướng, biệt tướng, đồng tướng, dị tướng, thành tướng và hoại tướng.

Hỏi: Thế nào là tổng? 

Đáp: Nhất tâm chân như gồm nhiếp các pháp. 

Hỏi: Thế nào là biệt? 

Đáp: Tâm sanh các pháp nhưng các pháp không phải một. 

Hỏi: Thế nào là đồng? 

Đáp: Pháp do tâm sanh, tâm pháp không hai. 

Hỏi: Thế nào là dị? 

Đáp: Pháp là pháp tướng, tâm là tâm lý. 

Hỏi: Thế nào là thành? 

Đáp: Tâm sanh các pháp, pháp hay thành sự. 

Hỏi: Thế nào là hoại tướng? 

Đáp: Gom pháp về tâm, tâm không pháp mất. 

Biệt tướng, tức nhiều tướng sai khác. Đồng tướng, tuy các pháp có muôn ngàn sai biệt, nhưng gốc đều từ tâm. Dị tướng, chia ra pháp ở bên ngoài, tâm ở bên trong, nên gọi là dị. Thành tướng, do tâm tạo ra các pháp, rồi các pháp ấy lại làm thành hình của sự vật. Hoại tướng, các pháp đều trở về tâm, khi các pháp trở về tâm rồi, tâm không còn tướng của tâm, pháp cũng không còn tướng của pháp, đều là không tịch.

Hỏi: Tứ liệu giản của Thiều quốc sư như thế nào? 

Đáp: Văn văn, văn bất văn, bất văn văn, bất văn bất văn. 

Tứ liệu giản của tông Pháp Nhãn là do quốc sư Đức Thiều đặt ra, nên gọi Tứ liệu giản của Thiều quốc sư, ngài là đệ tử của thiền sư Pháp Nhãn.

Hỏi: Thế nào là văn văn? 

Đáp: Lặng lẽ nhưng mà thường hay chiếu soi. 

Hỏi: Thế nào là văn bất văn? 

Đáp: Chiếu soi nhưng mà thường lặng lẽ. 

Hỏi: Thế nào là bất văn văn? 

Đáp: Tịch chiếu không hai, gọi là bất văn văn. 

Hỏi: Thế nào là bất văn bất văn? 

Đáp: Tịch chiếu đều mất. 

Văn văn, thể của tâm là thanh tịnh lặng lẽ mà tướng của nó thường chiếu soi.

Văn bất văn, tướng hằng chiếu soi nhưng thể luôn lặng lẽ.

Bất văn văn, thể và dụng không rời nhau.

Bất văn bất văn, không còn chia thể và dụng riêng biệt.

Sư nói thêm, giáo ngoại biệt truyền. Tông chỉ hướng thượng, quả như vậy ư? Nếu chỉ như thế, có thể gọi là khẩu truyền, có gì kỳ đặc? Nếu chẳng như thế lại làm sao sanh? Hãy tham! 

Từ trước đến đây ngài giải thích như vậy là thuộc về khẩu truyền rồi, có gì là kỳ đặc? Cái gì là giáo ngoại biệt truyền, tông chỉ hướng thượng? Thử tìm xem, đó là cái gì?


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.