Trung Luận giảng giải

Phẩm 27: Quán Tà Kiến



Chánh văn: 

Hỏi: Đã nghe pháp Đại thừa phá tà kiến, nay muốn nghe pháp Thanh văn phá tà kiến. 

Đáp:

Ngã ở đời quá khứ, 

Là có, không, ấy không,

Kiến chấp thế gian thường.

Đều y đời quá khứ. 

Ngã ở đời vị lai, 

Là tạo, là không tạo, 

Các kiến chấp hữu biên… 

Đều y đời vị lai. 

Nay ngã ở đời quá khứ là có, là không, là có không, là chẳng phải có chẳng phải không, tức gọi là các kiến chấp thường v.v… y theo đời quá khứ. Ngã ở đời vị lai là tạo tác, là không tạo tác, là tạo tác không tạo tác, là chẳng phải tạo tác chẳng phải không tạo tác, ấy gọi là các tà kiến hữu biên, vô biên v.v… y nơi đời vị lai. Những tà kiến như thế vì nhân duyên gì mà gọi là tà kiến? Việc ấy nay sẽ nói. 

Đời quá khứ có ngã, 

Việc ấy không thể được,

Ngã trong đời quá khứ,

Không tạo ngã hiện nay.

Nếu bảo ngã tức là, 

Mà thân có tướng khác.

Nếu sẽ lìa nơi thân, 

Chỗ nào riêng có ngã?

Lìa thân không có ngã,

Việc ấy là đã thành,

Nếu bảo thân tức ngã,

Hoặc trọn không có ngã.

Nhưng thân không là ngã,

Vì thân tướng sanh diệt, 

Làm sao sẽ do thọ,

Mà tạo ra thọ giả?

Nếu lìa thân có ngã,

Việc ấy ắt không đúng.

Không thọ mà có ngã, 

Mà thật không thể được. 

Nay ngã chẳng lìa thọ,

Cũng chẳng tức là thọ, 

Chẳng không thọ chẳng không (không thọ), 

Đây tức nghĩa quyết định. 

Ngã ở đời quá khứ mà có thì việc ấy ắt không đúng. Vì cớ sao? Ngã trong đời trước không phải tức là ngã hiện nay, vì có lỗi thường. Nếu thường thì có vô lượng lỗi. Vì cớ sao? Như người do nhân duyên tu phước nên làm trời rồi sau làm người. Nếu ngã đời trước tức là ngã đời nay thì trời tức là người. Lại người do nhân duyên tội nghiệp nên làm Chiên-đà-la, sau làm Bà-la-môn. Nếu ngã đời trước tức là ngã đời nay thì Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn. Thí dụ như người Bà-la-môn ở nước Xá-vệ tên là Đề-đạt đến thành Vương Xá cũng tên Đề-đạt, không do đến thành Vương Xá nên đổi tên khác. Nếu trước là trời, sau làm người thì trời tức là người, Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn, nhưng việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Trời không tức là người, Chiên-đà-la không tức là Bà-la-môn, vì có những lỗi thường như thế. Hoặc bảo ngã đời trước không làm ngã hiện nay, như người khi giặt y gọi là người giặt y, khi cắt cỏ gọi là người cắt cỏ, mà người giặt y cùng người cắt cỏ tuy không khác nhưng người giặt y không tức là người cắt cỏ. Như thế ngã thọ thân trời gọi là trời, ngã thọ thân người gọi là người, ngã không khác mà thân có khác, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu tức là người thì không nên nói trời làm người. Nay người giặt y với người cắt cỏ là khác hay là chẳng khác? Nếu chẳng khác thì người giặt y nên tức là người cắt cỏ. Như thế đời trước trời tức là người, Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn, ngã cũng có lỗi thường. Nếu khác thì người giặt y tức không phải là người cắt cỏ, như thế trời chẳng làm người, ngã cũng vô thường. Vô thường thì không có tướng ngã, thế nên không được nói tức là. 

Hỏi: Ngã tức là nhưng vì nhân thọ mà phân biệt là trời, là người. Thọ gọi là thân năm ấm, vì nhân duyên nghiệp nên phân biệt là trời, là người, là Chiên-đà-la, là Bà-la-môn, mà ngã thật không phải trời, không phải người, không phải Chiên-đà-la, không phải Bà-la-môn. Thế nên không có lỗi như thế. 

Đáp: Việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu thân làm trời, làm người, làm Chiên-đà-la, làm Bà-la-môn không phải là ngã thì lìa thân riêng có ngã. Nay tội phước, sanh tử qua lại đều là thân chứ không phải là ngã. Vì nhân duyên tội nên đọa vào ba đường ác. Vì nhân duyên phước nên sanh trong ba đường lành. Nếu khổ vui, giận mừng, buồn sợ v.v… đều là thân chẳng phải ngã thì dùng ngã làm gì? Như trị tội người thế tục không can dự đến người xuất gia. Vì nhân duyên tương tục của năm ấm, tội phước không mất nên có giải thoát. Nếu đều là thân không phải ngã thì dùng ngã làm gì? 

Hỏi: Tội phước v.v… là y nơi ngã, ngã có hiểu biết, thân không hiểu biết. Biết đó nên là ngã

Nhân duyên khởi nghiệp tội phước là pháp tạo tác thì phải biết nên có tác giả. Tác giả là ngã. Thân là sử dụng của ngã, cũng là chỗ ở của ngã. Thí dụ như ông chủ nhà dùng cỏ, nước, bùn, ngói v.v… xây nhà, tự vì thân nên tùy chỗ dùng xây nhà có tốt, xấu. Ngã cũng như thế, tùy sự tạo tác thiện ác v.v… mà được thân đẹp xấu. Trong lục đạo sanh tử đều do ngã tạo, thế nên thân tội phước đều thuộc ngã. Thí như cái nhà chỉ thuộc ông chủ, không thuộc người khác. 

Đáp: Dụ ấy không đúng. Vì cớ sao? Ông chủ nhà có hình, có xúc chạm, có sức lực nên hay gìn giữ được nhà. Ngã ông nói không có hình, không có xúc chạm nên không có sức tạo tác, tự không sức tạo tác cũng không thể khiến cái khác tạo tác. Nếu thế gian có một pháp không hình, không xúc chạm mà hay có tạo tác thì ngã ắt có thể tin nhận, biết có tác giả, nhưng việc ấy không đúng. Nếu ngã là tác giả ắt người không nên tự tạo việc khổ, nếu là niệm giả có thể ưa việc vui không nên quên mất. Nếu ngã không tạo khổ mà khổ vẫn đến, thì tất cả cái khác đều cũng tự sanh, không phải ngã tạo. Nếu kiến giả là ngã, mắt hay thấy sắc, mắt nên là ngã. Nếu mắt thấy mà không phải ngã thì trái với lời trước nói kiến giả là ngã, Nếu kiến giả là ngã, ngã ắt không nên nghe tiếng các trần được, v.v… Vì cớ sao? Mắt là kiến giả thì không thể nghe tiếng các trần được, v.v.., thế nên ngã là kiến giả, việc ấy không đúng. Nếu bảo như người cắt cỏ dùng liềm cắt cỏ, ngã cũng như thế, dùng tay v.v… hay có tạo tác, dụ ấy không đúng. Vì cớ sao? Nay rời liềm riêng có người cắt cỏ, mà lìa thân tâm, các căn không riêng có tác giả. Nếu bảo tác giả tuy không phải là sở đắc của mắt, tai v.v… cũng có tác giả ắt thạch nữ hay có tạo tác, như thế tất cả các căn đều nên vô ngã. Nếu bảo mắt phải thấy vật mà mắt trái biết, nên biết riêng có kiến giả, việc ấy không đúng. Nay tay phải quen làm, tay trái không có thể làm, thế nên không riêng có tác giả. Nếu riêng có tác giả thì điều mà tay phải quen làm thì tay trái cũng nên làm được, mà thật không có thể (làm được), thế nên lại không có tác giả. 

Lại nữa, có ngã là tác giả thì nói thấy người khác ăn trái cây, trong miệng nước miếng chảy ra, ấy là tướng ngã, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Vì niệm lực ấy không phải là sức của ngã, lại cũng tức là nhân duyên phá ngã. Người ở trong chỗ đông người thì hổ thẹn khi nước miếng chảy ra, mà nước miếng vẫn chảy, không được tự tại, thì nên biết là không có ngã. 

Lại nữa, nếu có người mắc tội lỗi điên đảo đời trước là cha, đời nay làm con, cha con ấy ngã là một, nhưng thân có khác. Như từ một nhà đến một nhà, cha nên là cha, chẳng do vào nhà khác liền có khác. Nếu có ngã, hai ấy nên là một, như thế ắt có lỗi lớn. Nếu bảo vô ngã trong năm ấm tương tục cũng có lỗi ấy, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Năm ấm tuy tương tục, hoặc khi có dùng, hoặc khi không dùng, như nước nho người giữ giới nên uống, rượu nho không nên uống, nếu biến làm rượu thuốc lại có thể uống được. Năm ấm tương tục cũng như thế, có dùng hay không dùng hoặc trước sau một ngã thì có lỗi như thế. Năm ấm tương tục không có lỗi như thế. Nhưng năm ấm hòa hợp nên giả danh là ngã, không có quyết định; như kèo, đòn tay hòa hợp mà có nhà, lìa kèo, đòn tay không riêng có nhà. Như thế năm ấm hòa hợp nên có ngã, nếu lìa năm ấm thật không riêng có ngã, thế nên ngã chỉ có giả danh, không có sự thật.

Trước ông nói lìa thọ riêng có thọ giả, do thọ phân biệt thọ giả là trời, là người, ấy đều không đúng, nên biết chỉ có thọ, không riêng có thọ giả. Nếu bảo lìa thọ riêng có ngã, việc ấy không đúng. Nếu lìa thọ có ngã, làm sao có thể được nói là tướng ngã? Nếu không tướng có thể nói thì lìa thọ không có ngã. Nếu bảo lìa thân không có ngã, chỉ thân là ngã, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Thân có tướng sanh diệt, ngã thì không phải vậy, 

Lại nữa, làm sao cho thọ tức gọi là thọ giả? Nếu bảo lìa thọ có thọ giả, việc ấy cũng không đúng. Nếu chẳng thọ năm ấm mà có thọ giả thì nên lìa năm ấm riêng có thọ giả, căn mắt v.v… có thể được, mà thật không thể được. Thế nên ngã chẳng lìa thọ, chẳng tức là thọ, cũng chẳng phải không thọ, cũng lại chẳng phải không (không thọ). Đây là nghĩa quyết định, thế nên phải biết đời quá khứ có ngã, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? 

Ngã quá khứ không tạo,

Việc ấy ắt không đúng, 

Ngã trong đời quá khứ, 

Khác (đời) nay cũng không đúng. 

Nếu bảo có khác thì 

Lìa kia nên có nay.

Ngã ở đời quá khứ,

Mà nay ngã tự sanh,

Như thế ắt đoạn diệt, 

Mất đi nghiệp quả báo. 

Kia tạo mà đây thọ,

Có những lỗi như thế.

Trước không mà nay có,

Trong đây cũng có lỗi. 

Ngã là pháp tạo tác, 

Cũng là không có nhân.

Ngã trong đời quá khứ không tạo ngã đời nay, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Ngã trong đời quá khứ cùng ngã đời nay không khác. Nếu ngã đời nay với ngã đời quá khứ khác thì nên lìa ngã kia mà có ngã đời nay. Lại ngã trong đời quá khứ cũng nên ở trong đời quá khứ, còn thân này tự lại sanh, nếu vậy tức rơi vào bên đoạn, mất các nghiệp quả báo. Lại người kia làm tội mà người này thọ báo, có những lỗi vô lượng như thế. Lại ngã ấy nên trước không mà nay có, ấy cũng có lỗi, ngã ắt là pháp tạo tác, cũng là không nhân mà sanh. Thế nên ngã đời quá khứ không tạo ngã đời nay, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Như trong đời quá khứ, 

Chấp có ngã, không ngã, 

Hoặc chung, hoặc không chung, 

Việc ấy đều không đúng. 

Như thế suy tìm tà kiến trong đời quá khứ có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không, những tà kiến ấy vì trước nói nhân duyên lỗi lầm, ấy đều không đúng. 

Ngã trong đời vị lai, 

Là tạo, là không tạo, 

Những kiến chấp như thế, 

Đều đồng đời quá khứ. 

Ngã trong đời vị lai là tạo tác, là không tạo tác, như thế bốn câu, như lỗi trong đời quá khứ nên ở đây nói. 

Lại nữa: 

Nếu trời tức là người,

Ắt rơi vào bên thường, 

Trời ắt là không sanh,

Vì pháp thường không sanh. 

Nếu trời tức là người, ấy ắt là thường. Nếu trời không sanh trong người, làm sao gọi là người? Vì pháp thường không sanh, thế nên thường cũng không đúng. 

Lại nữa: 

Nếu trời khác với người,

Ấy tức là vô thường.

Nếu trời khác với người, 

Ấy ắt không tương tục. 

Nếu trời với người khác, ắt là vô thường, vô thường ắt bị lỗi đoạn diệt v.v… như lỗi trước nói. Nếu trời với người khác ắt không có tương tục. Nếu có tương tục không được nói khác. 

Lại nữa: 

Nếu nửa trời nửa người, 

Ắt rơi vào hai bên, 

Thường cùng với vô thường, 

Việc ấy ắt không đúng. 

Nếu chúng sanh nửa thân là trời nửa thân là người, nếu vậy ắt là thường, vô thường, nửa trời là thường, nửa người là vô thường, nhưng việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Vì lỗi một thân có hai tướng. 

Lại nữa: 

Nếu thường và vô thường,

Hai pháp ấy đều thành,

Như thế ắt nên thành, 

Chẳng thường chẳng vô thường.

Nếu thường vô thường cả hai đều thành, rồi sau thành chẳng phải thường chẳng phải vô thường, vì cùng thường, vô thường trái nhau nên nay thật thường vô thường không thành. Thế nên chẳng phải thường chẳng phải vô thường cũng chẳng thành. Lại nữa, nay sanh tử vô thủy, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? 

Pháp nếu định có đến, 

Và quyết định có đi, 

Sanh tử ắt vô thủy, 

Mà thật không việc này. 

Nếu pháp quyết định có chỗ từ đâu đến, có chỗ từ đâu đi thì sanh tử ắt nên vô thủy. Pháp ấy dùng trí tuệ suy tìm không được có chỗ từ đâu đến, có chỗ từ đâu đi, thế nên sanh tử vô thủy, việc ấy không đúng. 

Lại nữa: 

Nay nếu không có thường, 

Làm sao có vô thường, 

Cũng thường cũng vô thường, 

Chẳng thường chẳng vô thường? 

Nếu vậy dùng trí tuệ suy tìm, không pháp có thể được thường thì cái gì sẽ có vô thường? 

Vì nhân thường có vô thường. Nếu cả hai đều không, làm sao có cũng hữu thường cũng vô thường? Nếu không hữu thường vô thường, làm sao có chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường? Nhân cũng hữu thường cũng vô thường nên có chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường. Thế nên y chỉ đời quá khứ, bốn câu thường v.v… không thể được. Bốn câu hữu biên vô biên v.v… y chỉ đời vị lai, việc ấy không thể được, nay sẽ nói. Vì cớ sao? 

Nếu thế gian hữu biên, 

Làm sao có đời sau? 

Nếu thế gian vô biên, 

Làm sao có đời sau? 

Nếu thế gian hữu biên không nên có đời sau, mà nay thật có đời sau, thế nên thế gian hữu biên không đúng. Nếu thế gian vô biên cũng không nên có đời sau, mà thật có đời sau, thế nên thế gian vô biên cũng không đúng. 

Lại nữa, hai bên ấy không thể được. Vì cớ sao? 

Năm ấm thường tương tục, 

Ví như ngọn đèn cháy, 

Do đó nên thế gian, 

Không hữu biên, vô biên. 

Từ năm ấm lại sanh năm ấm, năm ấm ấy thứ lớp tương tục như các duyên hòa hợp có ngọn đèn cháy. Nếu các duyên không hết, ngọn đèn ắt chẳng tắt. Nếu hết thì tắt, thế nên không được nói thế gian hữu biên, vô biên. 

Lại nữa: 

Nếu năm ấm trước hoại, 

Không nhân năm ấm ấy, 

Lại sanh năm ấm sau, 

Thế gian ắt hữu biên.

Nếu ấm trước không hoại, 

Cũng chẳng nhân ấm ấy,

Mà sanh năm ấm sau, 

Thế gian ắt vô biên. 

Nếu năm ấm trước hoại, không nhân năm ấm ấy lại sanh năm ấm sau, như thế ắt thế gian hữu biên. Nếu năm ấm trước diệt rồi lại chẳng sanh năm ấm khác, ấy gọi là biên, biên gọi là thân rốt sau. Nếu năm ấm trước không hoại, chẳng nhân năm ấm ấy mà sanh năm ấm sau, thế gian ắt là vô biên, ấy ắt là thường mà thật không phải vậy. Thế nên thế gian vô biên, việc ấy không đúng, Thế gian có hai thứ: quốc độ thế gian, chúng sanh thế gian. Đây là chúng sanh thế gian. 

Lại nữa, như trong Tứ bách quán nói: 

Chân pháp và người nói, 

Người nghe vì khó được, 

Như thế ắt sanh tử, 

Không hữu biên, vô biên. 

Vì nhân duyên không được chân pháp, sanh tử qua lại không có ngằn mé. Hoặc khi được nghe chân pháp rồi đắc đạo thì không được nói vô biên. 

Nay sẽ lại phá cũng hữu biên cũng vô biên: 

Thế gian nửa hữu biên, 

Thế gian nửa vô biên, 

Ấy ắt cũng hữu biên 

Cũng vô biên, không đúng. 

Nếu thế gian phân nửa hữu biên phân nửa vô biên ắt nên là cũng hữu biên cũng vô biên. Nếu vậy ắt một pháp có hai tướng, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? 

Kia khi thọ năm ấm,

Làm sao một phần phá,

Một phần mà không phá?

Việc ấy ắt không đúng. 

Thọ cũng lại như thế,

Làm sao một phần phá, 

Một phần mà không phá? 

Việc ấy ắt không đúng. 

Thọ năm ấm làm sao một phần phá, một phần không phá? Việc ấy không được cũng thường cũng vô thường. Thọ cũng như thế, làm sao một phần phá, một phần không phá vì có lỗi thường, vô thường hai tướng. Thế nên thế gian cũng hữu biên cũng vô biên, ấy ắt không đúng. Nay sẽ phá kiến chấp chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên: 

Nếu cũng hữu vô biên,

Hai việc ấy được thành.

Chẳng hữu chẳng vô biên,

Ấy ắt cũng nên thành.

Trái với hữu biên nên có vô biên, như trái với dài có ngắn. Trái với có, không ắt có cũng có cũng không, trái với cũng có cũng không nên có chẳng phải có chẳng phải không. Nếu cũng hữu biên cũng vô biên quyết định thành thì nên có chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Vì cớ sao? Vì nhân đối đãi nhau. Trước đã phá cũng hữu biên cũng vô biên câu thứ ba, nay làm sao sẽ có chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên do vì không đối đãi nhau? Như thế suy tìm, y chỉ đời vị lai bốn kiến chấp hữu biên, vô biên v.v.. đều không thể được. 

Lại nữa: 

Vì tất cả pháp Không, 

Kiến chấp thế gian thường… 

Chỗ nào và khi nào, 

Ai khởi các chấp ấy? 

Trước đã dùng pháp Thanh văn phá các kiến chấp, nay trong pháp Đại thừa này nói các pháp từ trước đến nay cứu cánh là tánh Không. Trong pháp tánh Không như thế không người, không pháp, không nên sanh tà kiến, chánh kiến. Xứ gọi là chỗ nơi, thời gọi là số ngày, tháng, năm, ai gọi là người, ấy gọi là thể các kiến chấp. Nếu có kiến chấp quyết định thường vô thường v.v… thì nên sẽ có người sanh ra kiến chấp này. Vì phá ngã nên không có người, sanh kiến chấp ấy nên có chỗ nơi, sắc pháp hiện thấy còn có thể phá huống là thời, phương. Nếu có các kiến chấp nên có quyết định thật, nếu quyết định thì không nên phá. Từ trước đến đây đã dùng các thứ nhân duyên để phá, thế nên phải biết kiến chấp không có cái thể quyết định, làm sao được sanh, như bài kệ nói chỗ nào, khi nào, ai khởi kiến chấp ấy. 

Cù-đàm bậc Đại thánh, 

Thương xót nói pháp ấy,

Đoạn tất cả kiến chấp, 

Con nay cúi đầu lễ. 

Tất cả kiến chấp lược nói thì có năm thứ kiến chấp, nói rộng thì có sáu mươi hai kiến chấp. Vì đoạn những kiến chấp ấy nên nói pháp. Đức Đại thánh chủ Cù-đàm là bậc trí tuệ vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, thế nên con cúi đầu đảnh lễ. 

Giảng:

Phần tà kiến từ trước đến đây cũng đã phá, nhưng ngài Luận chủ lặp lại để phá chấp về ngã, hữu biên vô biên, thường vô thường v.v… để không còn sót một kiến chấp nào nữa, và thấy rõ được lý vô ngã.

Hỏi: Đã nghe pháp Đại thừa phá tà kiến, nay muốn nghe pháp Thanh văn phá tà kiến. Phần pháp Đại thừa phá tà kiến thì tôi thông rồi, còn pháp Thanh văn phá tà kiến cách nào xin ngài nói cho tôi rõ.

Đáp:

Ngã ở đời quá khứ, 

Là có, không, ấy không, 

Kiến chấp thế gian thường… 

Đều y đời quá khứ. 

Nếu chấp ngã ở đời quá khứ là có, là không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không là thuộc thường kiến ở thế gian theo thời quá khứ.

Ngã ở đời vị lai, 

Là tạo, là không tạo, 

Các kiến chấp hữu biên… 

Đều y đời vị lai. 

Đây nói về chấp ngã của đời vị lai.

Nay ngã ở đời quá khứ là có, là không, là có không, là chẳng phải có chẳng phải không, tức gọi là các kiến chấp thường v.v… y theo đời quá khứ. Ngã ở đời vị lai là tạo tác, là không tạo tác, là tạo tác không tạo tác, là chẳng phải tạo tác chẳng phải không tạo tác, ấy gọi là các tà kiến hữu biên, vô biên v.v… y nơi đời vị lai. Những tà kiến như thế vì nhân duyên gì mà gọi là tà kiến? Việc ấy nay sẽ nói. Nếu xác định đời quá khứ có ngã, không ngã, cũng có cũng không hay chẳng phải có chẳng phải không thì thuộc về thường kiến. Đến ngã đời vị lai là có tạo tác, không tạo tác… thuộc về kiến chấp hữu biên, vô biên. Đây là nêu lên đại khái, phần sau sẽ giải thích kỹ.

Đời quá khứ có ngã,

Việc ấy không thể được,

Ngã trong đời quá khứ, 

Không tạo ngã hiện nay. 

Nói đời quá khứ có ngã, việc ấy không thể được vì nếu ngã đời quá khứ thật có mới tạo thành ngã đời hiện tại, mà ngã đời quá khứ không tạo được ngã đời hiện tại nên không thật có.

Nếu bảo ngã tức là, 

Mà thân có tướng khác. 

Nếu sẽ lìa nơi thân, 

Chỗ nào riêng có ngã? 

Đây nói ngã tức là thân và ngã lìa thân.

Lìa thân không có ngã, 

Việc ấy là đã thành. 

Nếu bảo thân tức ngã, 

Hoặc trọn không có ngã. 

Bốn câu kệ này nói lìa thân thì không có ngã, vì cả hai riêng rẽ, không có liên hệ nhau. Còn nếu bảo thân tức là ngã thì trọn không có ngã vì thân vô thường nên ngã cũng là không.

Nhưng thân không là ngã, 

Vì thân tướng sanh diệt, 

Làm sao sẽ do thọ, 

Mà tạo ra thọ giả? 

Thọ tức là ngũ ấm thân thọ, thọ giả là ngã. Thân là vô thường sanh diệt, làm sao tạo ra ngã thường được? Vì theo chấp của Ấn Độ thời xưa là ngã còn mãi.

Nếu lìa thân có ngã, 

Việc ấy ắt không đúng,

Không thọ mà có ngã, 

Mà thật không thể được. 

Có thân mới có cảm thọ, lìa thân thì không có cảm thọ, vậy làm sao có ngã?

Nay ngã chẳng lìa thọ, 

Cũng chẳng tức là thọ, 

Chẳng không thọ chẳng không (không thọ), 

Đây tức nghĩa quyết định. 

Giải thích:

Ngã ở đời quá khứ mà có thì việc ấy ắt không đúng. Vì cớ sao? Ngã trong đời trước không phải tức là ngã hiện nay, vì có lỗi thường. Ngã đời trước là ngã đời nay, việc đó không được, vì nó đổi thay nên bị lỗi thường.

Nếu thường thì có vô lượng lỗi. Vì cớ sao? Như người do nhân duyên tu phước nên làm trời rồi sau làm người. Nếu ngã đời trước tức là ngã đời nay thì trời tức là người. Trời là trời, người là người, nếu trời tức là người thì có trời không có người, có người không có trời, đó là lỗi.

Lại người do nhân duyên tội nghiệp nên làm Chiên-đà-la, sau làm Bà-la-môn. Nếu ngã đời trước tức là ngã đời nay thì Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn. Ở Ấn Độ, Chiên-đà-la là dòng hạ tiện, Bà-la-môn là dòng sang quý. Người tạo tội làm Chiên-đà-la, hết tội có phước được làm Bà-la-môn, vậy Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn, việc đó không thể được.

Thí dụ như người Bà-la-môn ở nước Xá-vệ tên là Đề-đạt đến thành Vương Xá cũng tên Đề-đạt, không do đến thành Vương Xá nên đổi tên khác. Nghĩa là một người ở thành này đến thành khác vẫn cùng một tên chứ không thể ở thành này tên này, đến thành khác tên khác.

Nếu trước là trời, sau làm người thì trời tức là người, Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn, nhưng việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Trời không tức là người, Chiên-đà-la không tức là Bà-la-môn, vì có những lỗi thường như thế. Như vậy người nào là người nấy không thể tức là được, trời là trời, người là người, Bà-la-môn là Bà-la-môn, Chiên-đà-la là Chiên-đà-la. Như trước có phước được sanh cõi trời, nay hết phước xuống làm người thì lúc đó không thấy trời, chỉ thấy người, làm sao nói tức là được? Do đó ngã đời quá khứ không thể tạo thành ngã đời nay.

Hoặc bảo ngã đời trước không làm ngã hiện nay, như người khi giặt y gọi là người giặt y, khi cắt cỏ gọi là người cắt cỏ, mà người giặt y cùng người cắt cỏ tuy không khác nhưng người giặt y không tức là người cắt cỏ. Như thế ngã thọ thân trời gọi là trời, ngã thọ thân người gọi là người, ngã không khác mà thân có khác, việc ấy không đúng. Như vậy cái này tức là cái kia không được, cái này khác cái kia cũng không được.

Vì cớ sao? Nếu tức là người thì không nên nói trời làm người. Nếu trời tức là người thì không nói trời làm người vì trời khác rồi làm ra người khác.

Nay người giặt y với người cắt cỏ là khác hay là chẳng khác? Nếu chẳng khác thì người giặt y nên tức là người cắt cỏ. Như thế đời trước trời tức là người, Chiên-đà-la tức là Bà-la-môn, ngã cũng có lỗi thường. Ngã đời trước và ngã đời nay là tức không được, mà khác cũng không được. Như một người khi cắt cỏ khi giặt áo, khi cắt cỏ gọi là người cắt cỏ, khi giặt áo gọi là người giặt áo, không thể nói người giặt áo là người cắt cỏ vì hành động trong mỗi hoàn cảnh khác nhau.

Nếu khác thì người giặt y tức không phải là người cắt cỏ, như thế trời chẳng làm người, ngã cũng vô thường. Vô thường thì không có tướng ngã, thế nên không được nói tức là. Đây là phá nghĩa tức.

Hỏi: Ngã tức là nhưng vì nhân thọ mà phân biệt là trời, là người. Thọ gọi là thân năm ấm. Vì nhân duyên nghiệp nên phân biệt là trời, là người, là Chiên-đà-la, là Bà-la-môn, mà ngã thật không phải trời, không phải người, không phải Chiên-đà-la, không phải Bà-la-môn. Thế nên không có lỗi như thế. Ngã khi thọ thì khác nhau nhưng ngã chỉ là một không khác, mà không khác thì tức là. Hành động khác thì cảm thọ khác nhưng bản chất ở trong không khác, vậy tức là là đúng, không có lỗi.

Đáp: Việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Nếu thân làm trời, làm người, làm Chiên-đà-la, làm Bà-la-môn không phải là ngã thì lìa thân riêng có ngã. Nay tội phước, sanh tử qua lại đều là thân chứ không phải là ngã. Vì nhân duyên tội nên đọa vào ba đường ác. Vì nhân duyên phước nên sanh trong ba đường lành. Nếu khổ vui, giận mừng, buồn sợ v.v… đều là thân chẳng phải ngã thì dùng ngã làm gì? Như trị tội người thế tục không can dự đến người xuất gia. Vì nhân duyên tương tục của năm ấm, tội phước không mất nên có giải thoát. Nếu đều là thân không phải ngã thì dùng ngã làm gì? Thân này do nhân duyên tụ hội, rồi có cảm thọ khổ vui v.v… Dầu cho thân người, thân trời, thân Bà-la-môn, thân Chiên-đà-la…, thân có sai biệt nhưng ngã chỉ là một. Tất cả khổ vui đều từ thân mà có, vậy ngã dùng để làm gì?

Hỏi: Tội phước v.v… là y nơi ngã, ngã có hiểu biết, thân không hiểu biết. Biết đó nên là ngã. Nhân duyên khởi nghiệp tội phước là pháp tạo tác thì phải biết nên có tác giả. Tác giả là ngã. Thân là sử dụng của ngã, cũng là chỗ ở của ngã. Thí dụ như ông chủ nhà dùng cỏ, nước, bùn, ngói v.v.. xây nhà, tự vì thân nên tùy chỗ dùng xây nhà có tốt, xấu. Ngã cũng như thế, tùy sự tạo tác thiện ác v.v… mà được thân đẹp xấu. Trong lục đạo sanh tử đều do ngã tạo, thế nên thân tội phước đều thuộc ngã. Thí như cái nhà chỉ thuộc ông chủ, không thuộc người khác. 

Đoạn trước nói tất cả thọ khổ, thọ vui, buồn thương giận ghét… là thuộc về thân thì ngã có để làm gì mà nói ngã đời trước, đời sau xuyên suốt? Đây cứu lại thân là vô tri mà ngã là hữu tri, bởi hữu tri nên mới tạo tội, tạo phước rồi thọ thân xấu, thân tốt. Như người chủ dùng phương tiện xây nhà thì nhà là chỗ ở của người chủ. Tạo nhà tốt, nhà xấu là quyền người chủ, không thuộc cái nhà; chúng ta cũng chấp tương tự như vậy. Quan niệm thông thường là ai cũng nghĩ mình đời trước và đời này hình như là một vì linh hồn đời trước và đời sau liên tục.

Đáp: Dụ ấy không đúng. Vì cớ sao? Ông chủ nhà có hình, có xúc chạm, có sức lực nên hay gìn giữ được nhà, Ngã ông nói không có hình, không có xúc chạm nên không có sức tạo tác, tự không sức tạo tác cũng không thể khiến cái khác tạo tác. Nếu thế gian có một pháp không hình, không xúc chạm mà hay có tạo tác thì ngã ắt có thể tin nhận, biết có tác giả, nhưng việc ấy không đúng. Ngã thí dụ như ông chủ nhà. Ông chủ nhà có hình tướng, có xúc chạm, có sức lực nên mới tạo được nhà, còn ngã không hình tướng, không xúc chạm, làm sao tin được mà nói là có?

Nếu ngã là tác giả ắt người không nên tự tạo việc khổ. Nếu ngã là chủ tạo tác thì lẽ ra không nên tạo khổ cho mình. Nếu là niệm giả có thể ưa việc vui không nên quên mất. Tác giả là người làm, niệm giả là người nhớ nghĩ, mình làm, mình nghĩ đều không muốn mình khổ, đều thích việc vui, không nên quên.

Nếu ngã không tạo khổ mà khổ vẫn đến, thì tất cả cái khác đều cũng tự sanh, không phải ngã tạo. Ông nói ngã là chủ tạo khổ tạo vui nhưng có ai muốn khổ đâu mà sao vẫn khổ? Ngã luôn luôn muốn vui, không muốn khổ, vậy khổ vẫn đến là do ai tạo? Khổ tự đến không phải do ngã tạo.

Nếu kiến giả là ngã, mắt hay thấy sắc, mắt nên là ngã. Nếu mắt thấy mà không phải ngã thì trái với lời trước nói kiến giả là ngã. Ông nói kiến giả là ngã, vậy mắt hay thấy sắc là ngã thấy. Còn nếu mắt thấy sắc không phải là ngã thì trái với trước ông nói cái thấy (kiến giả) là ngã.

Nếu kiến giả là ngã, ngã ắt không nên nghe tiếng các trần được, v.U… Vì cớ sao? Mắt là kiến giả thì không thể nghe tiếng các trần được, v.v… thế nên ngã là kiến giả, việc ấy không đúng. Nếu chấp mắt thấy là ngã, ngã là một đang ở mắt thì tai đâu có nghe được, mũi đâu có ngửi được vì ngã thuộc mắt rồi. Nếu tai vẫn nghe, mũi vẫn ngửi thì có nhiều ngã sao? Như vậy ngã là cái thấy thì không đúng.

Nếu bảo như người cắt cỏ dùng liềm cắt cỏ, ngã cũng như thế, dùng tay v.v… hay có tạo tác, dụ ấy không đúng. Vì cớ sao? Nay rời liềm riêng có người cắt cỏ, mà lìa thân tâm, các căn không riêng có tác giả. Nếu ngã dùng tay chân để làm thì rời tay chân có ngã không? Người cắt cỏ và liềm thì lìa được. Như vậy không thể nói ngã ở trong sử dụng tay chân giống như người cắt cỏ sử dụng liềm.

Nếu bảo tác giả tuy không phải là sở đắc của mắt, tai v.v… cũng có tác giả ắt thạch nữ hay có tạo tác. Thạch nữ không bao giờ sanh con, mà nói thạch nữ tạo tác là chuyện nói rỗng như nói lông rùa sừng thỏ. Như thế tất cả các căn đều nên vô ngã. Căn nào cũng tự hoạt động, không có ngã trong đó.

Nếu bảo mắt phải thấy vật mà mắt trái biết, nên biết riêng có kiến giả, mắt này thấy mắt kia cũng biết, như vậy có người ở trong để dung hòa hai mắt, việc ấy không đúng. 

Nay tay phải quen làm, tay trái không có thể làm, thế nên không riêng có tác giả. Nếu riêng có tác giả thì điều mà tay phải quen làm thì tay trái cũng nên làm được, mà thật không có thể (làm được), thế nên lại không có tác giả. Thí dụ chúng ta quen cầm đũa tay phải, nếu tay phải bệnh thì tay trái không cầm được. Nếu có ngã thì mắt kia tuy không nhìn mà mắt này thấy thì mắt kia cũng thấy nhờ có ông chủ ở trong điều khiển, vậy tay này làm thì tay kia cũng phải biết vì có ông chủ ở trong điều khiển. Nhưng tại sao tay này quen làm, tay kia không làm được? Vậy thì không có ông chủ ở trong.

Lại nữa, có ngã là tác giả thì nói thấy người khác ăn trái cây chua như me…, trong miệng nước miếng chảy ra, ấy là tướng ngã, mắt thấy, nước miếng chảy, đó là có ngã ở trong, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Vì niệm lực ấy không phải là sức của ngã, niệm lực làm chảy nước miếng, không phải là tướng của ngã, lại cũng tức là nhân duyên phá ngã. Người ở trong chỗ đông người thì hổ thẹn khi nước miếng chảy ra, mà nước miếng vẫn chảy, không được tự tại, nếu có ngã thì ngã xấu hổ kìm không cho nước miếng chảy mà nước miếng vẫn chảy, thì nên biết là không có ngã. 

Lại nữa, nếu có người mắc tội lỗi điên đảo đời trước là cha, đời nay làm con. Do tội lỗi điên đảo nên đời trước là cha đời này làm con. Đạo Phật hay răn người lớn tuổi đừng thương luyến con cháu quá độ, đến khi ra đi, đi không được, trở lại sanh trong nhà đó làm con, làm cháu.

Cha con ấy ngã là một, nhưng thân có khác. Như từ một nhà đến một nhà, cha nên là cha, chẳng do vào nhà khác liền có khác. Nếu có tội điên đảo thì cha trở lại làm con, cha tức là con, nhưng không thể gọi con là cha được. Nếu nói đời trước đời sau liên hệ là một như từ nhà này đến nhà kia thì cha vẫn là cha, không do vào nhà khác mà thành người khác, vậy con không thể khác cha.

Nếu có ngã, hai ấy nên là một. Nếu có ngã nhất định thì hai thân đời trước, đời sau là một, như thế ắt có lỗi lớn. 

Nếu bảo vô ngã trong năm ấm tương tục cũng có lỗi ấy, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Năm ấm tuy tương tục, hoặc khi có dùng, hoặc khi không dùng, như nước nho người giữ giới nên uống, rượu nho không nên uống, nếu biến làm rượu thuốc lại có thể uống được. Năm ấm tương tục cũng như thế, có dùng hay không dùng hoặc trước sau một ngã thì có lỗi như thế. Năm ấm tương tục không có lỗi như thế. 

Người ta có thể hiểu lầm nếu ngã đời trước ngã đời sau là một thì cha tức là con, con tức là cha, như thế bị lỗi đời trước là cha, đời sau làm con không thể là một được. Như vậy lý vô ngã có tương tục có bị lỗi như thế không? Đây giải thích lý vô ngã tuy có tương tục mà không có lỗi giống như vậy. Tại sao? Vì có sự thay đổi chứ không phải đời trước đời sau là một. Như nước nho người giữ giới uống được, nhưng khi làm thành rượu nho thì không được uống, trái lại khi chế ra thuốc để trị bệnh thì uống được. Như vậy có sự biến đổi, không cố định trước sau là một thì không có lỗi.

Nhưng năm ấm hòa hợp nên giả danh là ngã, không có quyết định; như kèo, đòn tay hòa hợp mà có nhà, lìa kèo, đòn tay không riêng có nhà, Như thế năm ấm hòa hợp nên có ngã, nếu lìa năm ẩm thật không riêng có ngã, thế nên ngã chỉ có giả danh, không có sự thật. Như vậy thuyết vô ngã có tương tục thì ngã là giả danh, không cố định thật như ông chấp có thật ngã trước sau là một.

Trước ông nói lìa thọ riêng có thọ giả, do thọ phân biệt thọ giả là trời, là người, hay đây là đẹp, đây là xấu thì tính chất phân biệt đó thuộc về thọ giả, thọ giả đó là ngã, ấy đều không đúng, nên biết chỉ có thọ, không riêng có thọ giả. Chỉ có thọ của sáu căn, không riêng có thọ giả. 

Nếu bảo lìa thọ riêng có ngã tức là thọ giả, việc ấy không đúng. Nếu lìa thọ có ngã, làm sao có thể được nói là tướng ngã? Ngã là cái biết, nhưng lìa thọ ra thì sáu căn nào tiếp xúc sáu trần mà có các cảm thọ khổ vui v.v…? Vậy là không có tướng ngã.

Nếu không tướng có thể nói thì lìa thọ không có ngã. Nếu bảo lìa thân không có ngã, chỉ thân là ngã, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? Thân có tướng sanh diệt, ngã thì không phải vậy. Ông nói ngã thường còn, đời này đời sau tiếp tục luôn, mà thân thì sanh diệt, tan hoại, vậy thân không phải ngã.

Lại nữa, làm sao cho thọ tức gọi là thọ giả? Nếu bảo lìa thọ có thọ giả, việc ấy cũng không đúng. Nếu chẳng thọ năm ấm mà có thọ giả thì nên lìa năm ấm riêng có thọ giả. Thường nói thọ là thọ của năm ấm, nếu lìa năm ấm thì không có thọ. Nay nói lìa năm ấm có thọ giả, điều đó không đúng. Căn mắt v.v… thể được, mà thật không thể được.

Thế nên ngã chẳng lìa thọ, chẳng tức là thọ, cũng chẳng phải không thọ, cũng lại chẳng phải không (không thọ). Đây là nghĩa quyết định, thế nên phải biết đời quá khứ có ngã, việc ấy không đúng. Nếu ông nói rời thọ của năm ấm riêng có ngã, vậy mỗi căn đều có thọ giả, nhưng rời thọ của năm ấm không có ngã riêng, làm sao nói sáu căn có thọ giả được? Như vậy là phá được đời trước và đời sau, tức không được mà lìa cũng không được.

Tôi nhắc lại, chúng ta quen nói mình đời này, đời trước và đời sau là một, vậy là chấp ngã thường. Nếu đời trước vô phước sanh ở địa ngục, đời này hết tội được làm người, đời này biết làm phước, đời sau được sanh cõi trời. Người địa ngục bị hành phạt, người cõi người được thong thả hơn, người cõi trời hưởng đầy đủ dục lạc thì làm sao là một được? Cho nên nếu nói ngã là một thì không được, mà lìa thân này có ngã cũng không được. Trong đạo Phật, lý vô ngã là không có ngã từ thủy chí chung là một đó, nhưng có giả ngã trong mỗi giai đoạn, nên nói là giả danh. Giả ngã liên hệ tương tục từ trước đến sau nhưng không phải là một. Nếu nói tôi là giả danh của thân tứ đại duyên hợp thì không có lỗi, còn nói tôi là ngã thật muôn đời thì có lỗi. Như vậy vô ngã không phải là không có gì, vô ngã mà vẫn có sự liên tục từ đời này đến đời kia.

Vì cớ sao? 

Ngã quá khứ không tạo, 

Việc ấy ắt không đúng, 

Ngã trong đời quá khứ, 

Khác (đời) nay cũng không đúng. 

Ngã đời quá khứ không tạo ngã đời nay và ngã đời quá khứ khác với ngã đời nay, cả hai trường hợp đều không đúng.

Nếu bảo có khác thì 

Lìa kia nên có nay. 

Ngã ở đời quá khứ, 

Mà nay ngã tự sanh. 

Nếu nói khác thì ngã đời quá khứ là ngã đời quá khứ, ngã đời nay là ngã đời nay, không có liên hệ, ngã đời nay tự sanh.

Như thế ắt đoạn diệt, 

Mất đi nghiệp quả báo. 

Kia tạo mà đây thọ, 

Có những lỗi như thế.

Trước không mà nay có,

Trong đây cũng có lỗi.

Ngã là pháp tạo tác, 

Cũng là không có nhân. 

Cha mẹ sanh thân chứ không sanh ngã (linh hồn), như vậy là ngầm tưởng ngã đời trước đời sau là một, không do ai tạo ra. Nếu ngã đời trước khác, đời nay khác thì ngã đời nay ai tạo ra? Mà tạo ra thì vô thường, cũng không có nhân đời trước nên có đời nay.

Ngã trong đời quá khứ không tạo ngã đời nay, việc ấy không đúng. Đoạn trước nói ngã đời trước và đời sau là một không đúng. Đây nói ngã đời trước và đời nay không liên hệ cũng không đúng, vì đời trước làm tội thì đời nay chịu khổ, nếu không liên hệ thì người này làm người kia chịu sao? Như vậy thì có liên hệ chứ không phải không.

Vì cớ sao? Ngã trong đời quá khứ cùng ngã đời nay không khác. Nếu ngã đời nay với ngã đời quá khứ khác thì nên lìa ngã kia mà có ngã đời nay. Lại ngã trong đời quá khứ cũng nên ở trong đời quá khứ, còn thân này tự lại sanh, nếu vậy tức rơi vào bên đoạn, tức là chết rồi là hết, đời trước không liên hệ đời này, đời này không liên hệ đời sau, mất các nghiệp quả báo.

Lại người kia làm tội mà người này thọ báo, người đời trước làm tội, người đời sau thọ quả báo, hai người không liên hệ mà người kia làm người này chịu, vậy nói đời trước và đời sau không liên hệ là không được, có những lỗi vô lượng như thế 

Lại ngã ấy nên trước không mà nay có, ấy cũng có lỗi, ngã ắt là pháp tạo tác, cũng là không nhân mà sanh. Thế nên ngã đời quá khứ không tạo ngã đời nay, việc ấy không đúng. Nghe bác ngã đời quá khứ không phải ngã đời nay nên tưởng đời quá khứ và đời nay không liên hệ, nếu hiểu nghĩa không liên hệ cũng sai.

Lại nữa: 

Như trong đời quá khứ, 

Chấp có ngã, không ngã, 

Hoặc chung, hoặc không chung, 

Việc ấy đều không đúng, 

Như thế suy tìm tà kiến trong đời quá khứ có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không, những tà kiến ấy vì trước nói nhân duyên lỗi lầm, ấy đều không đúng. Trong đời trước ngã là có, là không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không, những tà kiến đó trước đã dùng nhân duyên để phá, những việc đó đều không đúng.

Ngã trong đời vị lai, 

Là tạo, là không tạo,

Những kiến chấp như thế, 

Đều đồng đời quá khứ. 

Ngã trong đời vị lai là tạo tác, là không tạo tác, như thế bốn câu, như lỗi trong đời quá khứ nên ở đây nói. Chúng ta biết đời trước và đời này không phải một, không phải khác, đời này và đời sau cũng như vậy, hiểu đời trước thì hiểu được đời sau, nên đây không cần giải thích nữa. Vì vậy mà nói bốn câu như thế như những lỗi lầm đời quá khứ.

Lại nữa: 

Nếu trời tức là người, 

Ắt rơi vào bên thường, 

Trời ắt là không sanh, 

Vì pháp thường không sanh. 

Nếu trời tức là người, ấy ắt là thường. Nếu trời không sanh trong người, làm sao gọi là người? Vì pháp thường không sanh, thế nên thường cũng không đúng. Nói trời tức là người, đó là thuộc chấp thường, trời vẫn còn là trời không sanh người, làm sao nói trời tức là người được? Vậy nghĩa đó không đúng.

Lại nữa: 

Nếu trời khác với người,

Ấy tức là vô thường. 

Nếu trời khác với người, 

Ấy ắt không tương tục. 

Nếu trời với người khác, ắt là vô thường, vô thường ắt bị lỗi đoạn diệt v.v… như lỗi trước nói. Nếu trời với người khác ắt không có tương tục. Nếu có tương tục không được nói khác. Nếu trời khác, người khác thì không có liên hệ mà đây tương tục tức là liên hệ, liên hệ thì không thể nói khác.

Lại nữa: 

Nếu nửa trời nửa người, 

Ắt rơi vào hai bên, 

Thường cùng với vô thường, 

Việc ấy ắt không đúng. 

Nếu chúng sanh nửa thân là trời nửa thân là người, nếu vậy ắt là thường, vô thường, nửa trời là thường, nửa người là vô thường, nhưng việc ấy không đúng. Vì cớ sao? Vì lỗi một thân có hai tướng. Trời tức là người thì phân nửa là trời phân nửa là người. Như vậy là hai bên, hai bên là phân nửa thường phân nửa vô thường, nên không đúng.

Lại nữa: 

Nếu thường và vô thường, 

Hai pháp ấy đều thành, 

Như thế ắt nên thành, 

Chẳng thường chẳng vô thường. 

Nếu thường vô thường cả hai đều thành, rồi sau thành chẳng phải thường chẳng phải vô thường, vì cùng thường, vô thường trái nhau nên nay thật thường vô thường không thành. Thế nên chẳng phải thường chẳng phải vô thường cũng chẳng thành. 

Lại nữa, nay sanh tử vô thủy, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao? 

Pháp nếu định có đến, 

Và quyết định có đi, 

Sanh tử ắt vô thủy, 

Mà thật không việc này. 

Nếu pháp quyết định có chỗ từ đâu đến, có chỗ từ đâu đi thì sanh tử ắt nên vô thủy. Pháp ấy dùng trí tuệ suy tìm không được có chỗ từ đâu đến, có chỗ từ đâu đi, thế nên sanh tử vô thủy, việc ấy không đúng. Có đến có đi là từ xa xưa nào đến không biết nên nói là vô thủy, rồi đi mãi không biết tới đâu nên nói là vô chung. Vô thủy vô chung là có mà không biết từ đâu, rồi đi về đâu. Trên lý này không có một pháp thật, làm sao có đến có đi? Đến đi không có, làm sao nói sanh tử vô thủy?

Lại nữa:

Nay nếu không có thường, 

Làm sao có vô thường, 

Cũng thường cũng vô thường,

Chẳng thường chẳng vô thường? 

Nếu vậy dùng trí tuệ suy tìm, không pháp có thể được thường thì cái gì sẽ có vô thường?  Có thường mới nói có vô thường vì hai pháp đối đãi nhau.

Vì nhân thường có vô thường. Nếu cả hai đều không, làm sao có cũng hữu thường cũng vô thường? Nếu không hữu thường vô thường, làm sao có chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường? Nhân cũng hữu thường cũng vô thường nên có chẳng phải hữu thường chẳng phải vô thường. Thế nên y chỉ đời quá khứ, bốn câu thường v.v… không thể được, Bốn câu hữu biên vô biên v.v… y chỉ đời vị lai, việc ấy không thể được, nay sẽ nói. Vì cớ sao? 

Nếu thế gian hữu biên, 

Làm sao có đời sau? 

Nếu thế gian vô biên, 

Làm sao có đời sau? 

Thế gian là chỉ cho thân năm ấm. Hữu biên là có chừng hạn, nếu thân năm ấm hữu biên, làm sao có đời sau? Vô biên là không có ngằn mé lấy đâu làm giới hạn mà có đời trước, đời sau? Như vậy hữu biên không được, vô biên cũng không được.

Nếu thế gian hữu biên không nên có đời sau, mà nay thật có đời sau, thế nên thế gian hữu biên không đúng. Nếu thế gian vô biên cũng không nên có đời sau, mà thật có đời sau, thế nên thế gian vô biên cũng không đúng. 

Lại nữa, hai bên ấy không thể được. Vì cớ sao? 

Năm ấm thường tương tục, 

Ví như ngọn đèn cháy. 

Do đó nên thế gian, 

Không hữu biên, vô biên. 

Đây nói sự tương tục không dứt nên không có giới hạn hữu biên, vô biên.

Từ năm ấm lại sanh năm ấm, năm ấm ấy thứ lớp tương tục như các duyên hòa hợp có ngọn đèn cháy. Nếu các duyên không hết, ngọn đèn ắt chẳng tắt. Nếu hết thì tắt, thế nên không được nói thế gian hữu biên, vô biên. Năm ấm là một dòng tương tục tùy theo duyên. Nếu còn tạo duyên, tạo nghiệp thì giống như ngọn đèn còn dầu tiếp tục cháy. Nếu không còn tạo nghiệp để có đời sau thì ngang đó nó tắt. Nếu tạo nghiệp hoài thì cứ đi mãi, làm sao nói hữu biên? Nếu dừng nghiệp thì dứt, làm sao nói vô biên? Thế nên cả hai đều không được.

Lại nữa: 

Nếu năm ấm trước hoại,

Không nhân năm ấm ấy, 

Lại sanh năm ấm sau,

Thế gian ắt hữu biên.

Nếu ấm trước không hoại, 

Cũng chẳng nhân ấm ấy, 

Mà sanh năm ấm sau, 

Thế gian ắt vô biên. 

Năm ấm này dứt rồi mà không nhân đó sanh năm ấm khác thì gọi là hữu biên. Năm ấm này không hoại mà không nhân đó có năm ấm sau thì gọi là vô biên.

Nếu năm ấm trước hoại, không nhân năm ấm ấy lại sanh năm ấm sau, như thế ắt thế gian hữu biên. Nếu năm ấm trước diệt rồi lại chẳng sanh năm ấm khác, ấy gọi là biên, biên gọi là thân rốt sau. Nếu năm ẩm trước không hoại, chẳng nhân năm ấm ấy mà sanh năm ấm sau, thế gian ắt là vô biên, ấy ắt là thường mà thật không phải vậy. Thế nên thế gian vô biên, việc ấy không đúng. Thế gian có hai thứ: quốc độ thế gian, chúng sanh thế gian. Quốc độ thế gian cũng gọi là khí thế gian, chúng sanh thế gian gọi là hữu tình thế gian. Đây là chúng sanh thế gian. 

Lại nữa, như trong Tứ bách quán nói: 

Chân pháp và người nói, 

Người nghe vì khó được, 

Như thế ắt sanh tử, 

Không hữu biên, vô biên. 

Tứ bách quán là bốn trăm cách quán, dẫn trong luận nào không rõ. Pháp chân thật như pháp tứ đế, người nói người nghe nếu không ai thâm nhập được thì dòng sanh tử không có hữu biên, không có vô biên.

Vì nhân duyên không được chân pháp, sanh tử qua lại không có ngằn mé. Hoặc khi được nghe chân pháp rồi đắc đạo thì không được nói vô biên. Nếu không thâm nhập chân pháp thì không có hữu biên, còn nếu nghe pháp đắc đạo thì không có vô biên.

Nay sẽ lại phá cũng hữu biên cũng vô biên: 

Thế gian nửa hữu biên, 

Thế gian nửa vô biên, 

Ấy ắt cũng hữu biên 

Cũng vô biên, không đúng. 

Nếu thế gian phân nửa hữu biên phân nửa vô biên ắt nên là cũng hữu biên cũng vô biên. Nếu vậy ắt một pháp có hai tướng, việc ấy không đúng. Vì cớ sao? 

Kia khi thọ năm ấm, 

Làm sao một phần phá,

Một phần mà không phá 

Việc ấy ắt không đúng. 

Một phần phá là hữu biên, một phần không phá là vô biên.

Thọ cũng lại như thế, 

Làm sao một phần phá, 

Một phần mà không phá? 

Việc ấy ắt không đúng. 

Thọ năm ẩm làm sao một phần phá, một phần không phá? Việc ấy không được cũng thường cũng vô thường. Hữu biên là vô thường, vô biên là thường.

Thọ cũng như thế, làm sao một phần phá, một phần không phá vì có lỗi thường, vô thường hai tướng trái nhau.

Thế nên thế gian cũng hữu biên cũng vô biên, ấy ắt không đúng. Nay sẽ phá kiến chấp chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên: 

Nếu cũng hữu vô biên, 

Hai việc ấy được thành. 

Chẳng hữu chẳng vô biên, 

Ấy ắt cũng nên thành. 

Trái với hữu biên nên có vô biên, như trái với dài có ngắn, Trái với có, không ắt có cũng có cũng không, trái với cũng có cũng không nên có chẳng phải có chẳng phải không. Nếu cũng hữu biên cũng vô biên quyết định thành thì nên có chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên. Vì cớ sao? Vì nhân đối đãi nhau. Trước đã phá cũng hữu biên cũng vô biên câu thứ ba, nay làm sao sẽ có chẳng phải hữu biên chẳng phải vô biên do vì không đối đãi nhau? Như thế suy tìm, y chỉ đời vị lai bốn kiến chấp hữu biên vô biên v.v… đều không thể được. 

Lại nữa: 

Vì tất cả pháp Không, 

Kiến chấp thế gian thường… 

Chỗ nào và khi nào, 

Ai khởi các chấp ấy? 

Trước đã dùng pháp Thanh văn phá các kiến chấp, nay trong pháp Đại thừa này nói các pháp từ trước đến nay cứu cánh là tánh Không. Trong pháp tánh Không như thế không người, không pháp, không nên sanh tà kiến, chánh kiến. Xứ gọi là chỗ nơi, thời gọi là số ngày, tháng, năm, ai gọi là người, ấy gọi là thể các kiến chấp. Nếu có kiến chấp quyết định thường vô thường v.v… thì nên sẽ có người sanh ra kiến chấp này. Vì phá ngã nên không có người, sanh kiến chấp ấy nên có chỗ nơi, sắc pháp hiện thấy còn có thể phá huống là thời, phương, tức là sáu kiến chấp của Thắng luận sư. Nếu có các kiến chấp nên có quyết định thật, nếu quyết định thì không nên phá. Từ trước đến đây đã dùng các thứ nhân duyên để phá, thế nên phải biết kiến chấp không có cái thể quyết định, làm sao được sanh, như bài kệ nói chỗ nào, khi nào, ai khởi kiến chấp ấy. 

Đoạn này chủ yếu nói tất cả pháp Không thì không có ngã thật, không có chỗ nơi thật, không có thời gian thật. Cả ba đều không thật thì chỗ nào, thời gian nào, người nào mà khởi chấp? Vậy kiến chấp không thể được.

Cù-đàm bậc Đại thánh, 

Đầu Thương xót nói pháp ấy, 

Đoạn tất cả kiến chấp, 

Con nay cúi đầu lễ, 

Làm luận đến cuối thì có bài tụng đảnh lễ Phật.

Tất cả kiến chấp lược nói thì có năm thứ kiến chấp, nói rộng thì có sáu mươi hai kiến chấp. Vì đoạn những kiến chấp ấy nên nói pháp. Đức Đại thánh chủ Cù-đàm là bậc trí tuệ vô lượng vô biên không thể nghĩ bàn, thế nên con cúi đầu đảnh lễ. 

Bài này cho chúng ta thấy các chấp thông thường của con người. Theo giáo lý đạo Phật, nhất là giáo lý Tiểu thừa thì các pháp và con người là vô ngã. Ở Ấn Độ chấp thần ngã, ở Việt Nam chấp linh hồn. Linh hồn và thần ngã khác nhau nhưng kiến chấp tương tự. Xưa nay ông bà mình hay nói mình có linh hồn, Đời trước là A bây giờ sanh là B thì A, B hai đời khác nhau mà linh hồn là một. B chết sanh thành C, B và C khác nhau nhưng linh hồn cũng là một. Như vậy chỉ có một linh hồn từ thủy chí chung, xuyên suốt bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp dầu xuống địa ngục, lên thiên đường, ở cõi người, hay cõi nào khác. Linh hồn là một đó, trong đạo Phật nói theo danh từ Ấn Độ là ngã. Đời trước có phước làm trời, đời sau thiếu phước làm người, trước và sau khác nhau, không phải là một. Một không thể được, nhưng nói không phải một, không có xuyên suốt thì mỗi đời riêng, không liên hệ nhau, vậy người đời trước tạo tội, người đời này đâu có chịu. Đời trước và đời sau không liên hệ là lối chấp đoạn, còn nếu là một là lối chấp thường. Hai lối chấp đều nguy hiểm như nhau.

Thế nên đây mới đưa chánh lý của Phật giáo Nguyên thủy là không phải thường cũng không phải đoạn, mà là một dòng liên tục nhưng đổi thay. Đời trước liên hệ đến đời này, đời này liên hệ đến đời sau mà đời trước khác, đời này khác, đời sau cũng khác. Như vậy thì quá khứ, hiện tại, vị lai liên hệ chằng chịt, thân này làm ác, thân sau có thể phải khổ, phải chịu quả báo của thân này. Mỗi thân sanh ra ở mỗi cõi có những nghiệp thức riêng biệt, thân cõi trời thấy biết theo cõi trời, thân cõi người thấy biết theo cõi người. Không thể là một nhưng có liên hệ. Như vậy lý vô ngã của đạo Phật là các đời liên hệ mà không có người chủ duy nhất là ngã, là linh hồn; nó biến đổi luôn mà không mất. Vậy phải hiểu cho kỹ vô ngã không phải là không ngơ, mỗi đời có một tên là trời, là người…, tên trời, người đó tạm gọi là ngã, đó chỉ là giả danh không có thật, chấp thủy chung là một thì không được.

Phần cuối phẩm này Luận chủ nói tất cả pháp là tánh Không. Tánh Không thì có gì là người, là chỗ nơi, là thời gian? Cả ba đều không thật thì căn cứ vào đâu mà chấp?

Kết thúc lại, chúng ta thấy trọng tâm của bộ Trung Quán là bát Bất ở đầu quyển. Một là Bất sanh, hai là Bất diệt, ba là Bất thường, bốn là Bất đoạn, năm là Bất nhất, sáu là Bất dị, bảy là Bất khứ, tám là Bất lai.

Tám Bất này đại diện cho tất cả chấp của chúng ta. Sanh diệt, thường đoạn, nhất dị, khứ lai, bốn đôi đó đều nằm trong đối đãi. Phàm những gì đối đãi đều không cố định, không chủ thể, là tánh Không. Không chủ thể nên không thể nói cố định, thành ra tất cả đối đãi đều không thật thì chúng ta y cứ vào đâu mà chấp? Đối đãi là hai bên: có không, phải quấy, trắng đen v.v… Có hai bên là có đối địch, là điên đảo, là gốc của tranh đấu, tạo nghiệp đưa tới khổ đau, luân hồi sanh tử. Nay biết tất cả không thật thì không chấp. Không chấp thì không thọ, không thọ thì nội tâm tịch diệt, nội tâm tịch diệt là Niết-bàn. Trọng tâm tu là chỗ đó.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.