Chánh văn:
Hỏi: Phá bốn điên đảo, thông suốt tứ đế, được bốn quả Sa-môn.
Nếu tất cả đều không,
Không sanh cũng không diệt,
Như thế ắt không có,
Cái pháp tứ thánh đế,
Vì không có tứ đế,
Kiến khổ với đoạn tập,
Chứng diệt và tu đạo,
Việc như thế đều không.
Do vì việc ấy không,
Ắt không có bốn quả,
Vì không có bốn quả,
Thì Đắc, Hướng cũng không.
Nếu không tám hiền thánh,
Thì không có Tăng bảo,
Vì không có tứ đế,
Cũng không có Pháp bảo.
Vì không Pháp, Tăng bảo,
Cũng không có Phật bảo,
Như thế nói nghĩa Không,
Ấy là phá Tam bảo.
Nếu tất cả thế gian đều không, không có gì tức nên không sanh không diệt. Do vì không sanh không diệt nên không có tứ thánh đế. Vì cớ sao? Từ tập đế sanh khổ đế, tập đế là nhân, khổ đế là quả. Diệt khổ tập đế gọi là diệt đế, đến được diệt đế gọi là đạo đế, đạo đế là nhân, diệt đế là quả. Như thế tứ đế có nhân có quả. Nếu không sanh không diệt thì không có tứ đế. Vì không có tứ đế thì không kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Vì kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo không thì không có bốn quả Sa-môn. Vì bốn quả Sa-môn không thì không có bốn Hướng, bốn Đắc. Nếu không có tám bậc hiền thánh này thì không có Tăng bảo. Lại vì tứ thánh đế không nên Pháp bảo cũng không. Nếu không Pháp bảo, Tăng bảo, làm sao có Phật? Đắc pháp gọi là Phật, không pháp sao là Phật? Ông nói các pháp đều không ắt là phá hoại Tam bảo.
Lại nữa:
Pháp Không hoại nhân quả,
Cũng hoại cả tội phước,
Cũng thảy đều hủy hoại,
Tất cả pháp thế tục.
Nếu nhận pháp Không ắt phá tội phước và quả báo tội phước, cũng phá pháp thế tục. Vì có những lỗi như thế nên các pháp chẳng nên Không.
Đáp:
Nay ông thật không thể
Biết Không, nhân duyên Không,
Và biết được nghĩa Không,
Thế nên tự sanh não.
Ông không hiểu thế nào là tướng Không, do nhân duyên gì mà nói Không, cũng không hiểu nghĩa Không. Vì không thể biết như thật mới sanh nghi nạn như thế.
Lại nữa:
Chư Phật y nhị đế,
Vì chúng sanh nói pháp,
Một là thế tục đế,
Hai (là) đệ nhất nghĩa đế,
Nếu người không thể biết,
Phân biệt được hai đế,
Đối pháp Phật sâu xa,
Không biết nghĩa chân thật.
Thế tục đế là tất cả pháp tánh Không mà thế gian điên đảo nên sanh pháp hư vọng nơi thế gian cho là thật. Các hiền thánh thật biết tánh điên đảo nên biết tất cả pháp đều Không, không sanh, nơi thánh nhân là đệ nhất nghĩa đế gọi là thật. Chư Phật y hai đế ấy mà vì chúng sanh nói pháp. Nếu người không thể như thật phân biệt hai đế ắt đối với pháp Phật sâu xa không biết nghĩa chân thật. Nếu bảo tất cả pháp chẳng sanh là đệ nhất nghĩa đế, không cần có đệ nhị thế tục đế, ấy cũng không đúng. Vì cớ sao?
Nếu không y tục đế,
Không được đệ nhất nghĩa.
Không được đệ nhất nghĩa,
Thì không được Niết-bàn.
Đệ nhất nghĩa đều nhân ngôn thuyết. Ngôn thuyết là thế tục. Thế nên nếu chẳng y thế tục thì đệ nhất nghĩa ắt không thể nói. Nếu không được đệ nhất nghĩa, làm sao được đến Niết-bàn? Thế nên các pháp tuy không sanh mà có hai đế.
Lại nữa:
Không khéo chánh quán Không,
Độn căn ắt tự hại,
Như không giỏi chú thuật,
Không giỏi bắt rắn độc.
Nếu người độn căn không khéo hiểu pháp Không, nơi pháp Không có lỗi mà sanh tà kiến. Như vì lợi mà bắt rắn độc, không giỏi bắt (rắn) trở lại bị hại. Lại như dùng chú thuật muốn làm hại người,
không thể khéo thành tựu ắt trở lại tự hại. Kẻ độn căn quán pháp Không cũng lại như thế.
Lại nữa:
Thế Tôn biết pháp ấy,
Tướng sâu xa vi diệu,
Độn căn không hiểu đến,
Thế nên không muốn nói.
Thế Tôn do pháp sâu xa vi diệu, chẳng phải kẻ độn căn hiểu đến, thế nên không muốn nói.
Lại nữa:
Ông bảo tôi chấp Không,
Mà là tôi sanh lỗi,
Nay ông nói lỗi đó,
Nơi Không ắt không có,
Ông bảo vì tôi chấp Không là tôi sanh lỗi. Tôi nói tánh Không, Không cũng không, không có lỗi như thế.
Lại nữa:
Do vì có nghĩa Không,
Tất cả pháp được thành.
Nếu không có nghĩa Không,
Tất cả (pháp) ắt chẳng thành.
Do vì có nghĩa Không nên tất cả pháp thế gian, xuất thế gian thảy đều thành tựu. Nếu không có nghĩa Không ắt đều không thành tựu.
Lại nữa:
Nay ông tự có lỗi,
Mà xoay trở về tôi,
Ví như người cưỡi ngựa,
Tự quên ngựa mình cưỡi.
Ông ở trong pháp Có có lỗi, không thể tự biết mà ở trong pháp Không thấy lỗi, như người cưỡi ngựa mà quên ngựa mình cưỡi. Vì cớ sao?
Nếu ông thấy các pháp,
Quyết định là có tánh,
Tức là thấy các pháp,
Không nhân cũng không duyên.
Ông nói các pháp có tánh quyết định, nếu vậy thì thấy các pháp không nhân, không duyên. Vì cớ sao? Nếu pháp quyết định có tánh thì nên chẳng sanh, chẳng diệt. Pháp như thế đâu dùng nhân duyên. Nếu các pháp từ nhân duyên sanh thì không có tánh, thế nên các pháp quyết định có tánh ắt không nhân duyên. Nếu bảo các pháp quyết định trụ tự tánh, ấy ắt không đúng. Vì cớ sao?
Tức là phá nhân quả,
Tác, tác giả, tác pháp,
Cũng lại hoại tất cả,
Sanh diệt của vạn vật.
Các pháp có tánh quyết định ắt không các việc nhân quả v.v… Như kệ nói:
Pháp do các duyên sanh,
Ta nói tức là Không,
Cũng gọi là Giả danh,
Cũng là nghĩa Trung đạo.
Chưa từng có một pháp,
Chẳng từ nhân duyên sanh,
Thế nên tất cả pháp,
Cả thảy đều là Không.
Pháp do các nhân duyên sanh, tôi nói tức là Không. Vì cớ sao? Các duyên đầy đủ hòa hợp mà vật được sanh. Vật ấy thuộc các nhân duyên nên không tự tánh, không tự tánh nên Không, Không cũng lại không. Chỉ vì dẫn đường chúng sanh nên dùng giả danh nói. Lìa hai bên có không nên gọi là Trung đạo. Vì pháp ấy không tánh nên không được nói có, cũng vì không Không, nên không được nói không. Nếu pháp có tánh tướng thì không đợi các duyên mà có. Nếu chẳng đợi các duyên thì không có pháp, thế nên không có pháp chẳng Không, Trước ông nói pháp Không có lỗi, lỗi này nay trở về ông. Vì cớ sao?
Nếu tất cả chẳng Không,
Ắt không có sanh diệt,
Như thế ắt không có,
Cái pháp tứ thánh đế.
Nếu tất cả pháp mỗi pháp có tự tánh, chẳng Không ắt không có sanh diệt. Vì không sanh diệt thì không có pháp tử thánh đế. Vì cớ sao?
Nếu chẳng từ duyên sanh,
Làm sao sẽ có khổ?
Vô thường là nghĩa khổ,
Tánh (quyết) định không vô thường.
Nếu không từ duyên sanh thì không có khổ. Vì cớ sao? Kinh nói vô thường là nghĩa khổ. Nếu khổ có tánh quyết định làm sao có vô thường vì chẳng bỏ tự tánh?
Lại nữa:
Nếu khổ có tánh (quyết) định,
Cớ sao từ tập sanh?
Thế nên không có tập,
Do vì phá nghĩa Không.
Nếu khổ quyết định có tánh thì không nên lại sanh vì trước đã có. Nếu vậy thì không có tập đế, vì phá hoại nghĩa Không.
Lại nữa:
Khổ nếu có định tánh,
Ắt không nên có diệt.
Ông chấp tánh quyết định,
Tức là phá diệt đế.
Nếu khổ có tánh quyết định thì không nên diệt. Vì cớ sao? Vì tánh ắt không mất.
Lại nữa:
Nếu khổ có định tánh,
Thì không có tu đạo.
Đạo có thể tu tập,
Tức không có định tánh
Nếu pháp quyết định có ắt không có tu đạo. Vì cớ sao? Nếu pháp thật ắt là thường, thường thì không thể tăng trưởng. Nếu đạo có thể tu, đạo ắt không có tánh quyết định.
Lại nữa:
Nếu không có khổ đế,
Và không tập, diệt đế,
Đạo có thể diệt khổ,
Trọn đi đến chỗ nào?
Các pháp nếu trước quyết định có tánh thì không có khổ tập diệt đế, nay đạo diệt khổ trọn là đến chỗ diệt khổ nào?
Lại nữa:
Nếu khổ (quyết) định có tánh,
Từ trước không có thấy,
Hiện nay làm sao thấy?
Vì tánh nó không khác.
Nếu trước, khi là phàm phu không thể thấy tánh khổ, thì nay cũng không nên thấy. Vì cớ sao? Vì chẳng thấy tánh quyết định.
Lại nữa:
Như kiến khổ không đúng,
Đoạn tập và chứng diệt,
Tu đạo và tứ quả,
Ấy cũng đều không đúng.
Như tánh khổ đế trước chẳng thể thấy, sau cũng không nên thấy. Như thế cũng chẳng nên có đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Vì cớ sao? Tánh tập ấy từ trước đến giờ không đoạn, nay cũng không nên đoạn vì tánh không thể đoạn. Diệt từ trước đến giờ không chứng, nay cũng không nên chứng vì từ trước đến giờ không chứng. Đạo từ trước đến giờ không tu, nay cũng không nên tu vì từ trước đến giờ không tu. Thế nên tứ thánh đế, kiến đoạn chứng tu bốn thứ hạnh đều không nên có. Vì bốn thứ hạnh không, nên bốn đạo quả cũng không. Vì cớ sao?
Tánh bốn đạo quả ấy,
Từ trước không thể được,
Tánh các pháp nếu (quyết) định,
Nay sao có thể được?
Các pháp nếu có tánh quyết định, bốn quả Sa-môn từ trước đến giờ chưa được, nay làm sao có thể được? Nếu có thể được thì tánh không quyết định.
Lại nữa:
Nếu không có bốn quả,
Thì không có Đắc, Hướng,
Vì không có tám thánh,
Ắt không có Tăng bảo.
Vì không có bốn quả Sa-môn thì không có Đắc quả, Hướng quả. Vì không có tám bậc hiền thánh thì không có Tăng bảo, mà kinh nói tám bậc hiền thánh gọi là Tăng bảo.
Lại nữa:
Vì không tứ thánh đế,
Cũng không có Pháp bảo,
Không Pháp bảo, Tăng bảo,
Làm sao có Phật bảo?
Hành tứ thánh đế được pháp Niết-bàn. Nếu không tứ đế thì không Pháp bảo, nếu không hai bảo, làm sao sẽ có Phật bảo? Ông do nhân duyên như thế nói các pháp có tánh quyết định, ắt phá hoại Tam bảo.
Hỏi: Ông tuy phá các pháp nhưng đạo cứu cánh A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề nên có. Vì nhân đạo ấy nên gọi là Phật.
Đáp:
Ông nói ắt không phải
Bồ-đề mà có Phật,
Cũng lại chẳng nhân Phật,
Mà lại có Bồ-đề.
Ông nói các pháp có tánh quyết định ắt chẳng nên nhân Bồ-đề có Phật, nhân Phật đạo có Bồ-đề, vì hai tánh ấy thường quyết định.
Lại nữa:
Tuy lại siêng tinh tấn,
Tu hành đạo Bồ-đề,
Nếu trước không tánh Phật,
Không nên được thành Phật.
Do trước không có tánh như sắt không tánh vàng, tuy dùng các cách luyện lọc trọn không thành vàng.
Lại nữa:
Nếu các pháp chẳng Không,
Không người tạo tội phước,
Chẳng không làm sao tạo?
Vì tánh nó quyết định,
Nếu các pháp chẳng Không trọn không có người tạo tội phước. Vì cớ sao? Vì tánh tội phước trước đã có, lại không có tạo, người tạo.
Lại nữa:
Ông ở trong tội phước,
Chẳng sanh ra quả báo,
Ấy là lìa tội phước,
Mà có các quả báo.
Ông ở trong nhân duyên tội phước đều không có quả báo thì nên lìa nhân duyên tội phước mà có quả báo. Vì cớ sao? Vì quả báo không đợi nhân mà có.
Hỏi: Lìa tội phước có thể không có quả báo thiện ác, nhưng từ tội phước có quả báo thiện ác.
Đáp:
Nếu bảo từ tội phước,
Mà sanh ra quả báo,
Quả từ tội phước sanh,
Làm sao nói chẳng Không?
Nếu lìa tội phước không có quả báo thiện ác, làm sao nói quả chẳng Không? Nếu vậy lìa tác, tác giả thì không tội phước. Trước ông nói các pháp chẳng không, việc ấy không đúng.
Lại nữa:
Ông phá tất cả pháp,
Các nhân duyên nghĩa Không,
Ắt là phá thế tục,
Tất cả pháp Có khác.
Nếu ông phá pháp các nhân duyên đệ nhất nghĩa Không, ắt phá tất cả pháp thế tục. Vì cớ sao?
Nếu phá cái nghĩa Không,
Tức nên không sở tác,
Không tạo mà có tạo,
Không tạo gọi tác giả.
Nếu phá nghĩa Không thì tất cả quả đều không tạo, không nhân. Lại chẳng tạo mà tạo, lại tất cả tác giả không nên có sở tác. Lại lìa tác giả nên có nghiệp, có quả báo, có thọ giả, nhưng việc ấy đều không đúng, thế nên chẳng nên phá Không.
Lại nữa:
Nếu có tánh quyết định,
Tất cả tướng thế gian,
Ắt chẳng sanh, chẳng diệt,
Thường trụ mà chẳng hoại.
Nếu các pháp có tánh quyết định thì các thứ tướng ở thế gian, trời, người, súc sanh, muôn vật đều nên chẳng sanh chẳng diệt, thường trụ không hoại. Vì cớ sao? Vì có tánh thật không thể đổi khác, mà hiện thấy muôn vật mỗi loại đều có tướng đổi khác, sanh diệt đổi dời, thế nên chẳng nên có tánh quyết định.
Lại nữa:
Nếu không có pháp Không,
Chưa được chẳng nên được,
Cũng không đoạn phiền não,
Cũng không việc hết khổ.
Nếu không có pháp Không thì thế gian, xuất thế gian có các công đức chưa được đều không nên được, cũng không nên có người đoạn phiền não, cũng không có hết khổ. Vì cớ sao? Vì tánh quyết định.
Thế nên trong kinh nói:
Nếu thấy pháp nhân duyên,
Ắt là hay thấy Phật,
Thấy khổ tập diệt đạo.
Nếu người thấy tất cả pháp từ các duyên sanh, người ấy ắt hay thấy pháp thân Phật, tăng trưởng trí tuệ, hay thấy tứ thánh đế khổ tập diệt đạo. Thấy tứ thánh đế được tứ quả, diệt các khổ não, thế nên không nên phá nghĩa Không. Nếu phá nghĩa Không ắt phá pháp nhân duyên. Phá pháp nhân duyên ắt phá hoại Tam bảo. Nếu phá hoại Tam bảo ắt là tự phá.
Giảng:
Phẩm trước cho chúng ta hiểu thế nào là điên đảo, điên đảo là phiền não của chúng sanh. Trái với điên đảo là tứ thánh đế. Điên đảo không thật thì tứ thánh đế có thật không?
Hỏi: Phá bốn điên đảo, thông suốt tứ đế, được bốn quả Sa-môn.
Nếu tất cả đều không,
Không sanh cũng không diệt,
Như thế ắt không có,
Cái pháp tứ thánh đế
Nếu ông cho tất cả pháp đều không, không sanh không diệt thì không có pháp tứ thánh đế.
Vì không có tứ đế,
Kiến khổ với đoạn tập,
Chứng diệt và tu đạo,
Việc như thế đều không.
Do vì việc ấy không,
Ắt không có bốn quả,
Vì không có bốn quả,
Thì Đắc, Hướng cũng không.
Đắc là chỉ cho đắc Tu-đà-hoàn tới đắc A-la-hán. Hướng là hướng Tu-đà-hoàn tới hướng A-la-hán.
Nếu không tám hiền thánh,
Thì không có Tăng bảo,
Vì không có tứ đế,
Cũng không có Pháp bảo.
Vì không Pháp, Tăng bảo,
Cũng không có Phật bảo,
Như thế nói nghĩa Không,
Ấy là phá Tam bảo.
Ngoại nhân kết tội: Nếu ông cho tất cả pháp không tự tánh, không sanh không diệt thì không có tứ đế. Không pháp tứ đế thì không có Pháp bảo, không có tám bậc hiền thánh là Tăng bảo. Không Pháp bảo, không Tăng bảo thì không có Phật bảo. Vậy là ông phá Tam bảo. Tội phá Tam bảo là tội đọa địa ngục.
Đây giải thích:
Nếu tất cả thế gian đều không, không có gì tức nên không sanh không diệt. Do vì không sanh không diệt nên không có tứ thánh đế. Vì cớ sao? Từ tập đế sanh khổ đế, tập đế là nhân, khổ đế là quả. Diệt khổ tập đế gọi là diệt đế, đến được diệt đế gọi là đạo đế, đạo đế là nhân, diệt đế là quả. Khổ đế có là từ nhân tập đế, bây giờ diệt tập đế tức là diệt khổ tập đế.
Như thế tứ đế có nhân có quả. Nếu không sanh không diệt thì không có tứ đế. Vì không có tứ đế thì không kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Vì kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo không thì không có bốn quả Sa-môn. Vì bốn quả Sa-môn không thì không có bốn Hướng, bốn Đắc. Nếu không có tám bậc hiền thánh này thì không có Tăng bảo. Lại vì tứ thánh đế không nên Pháp bảo cũng không. Nếu không Pháp bảo, Tăng bảo, làm sao có Phật? Đắc pháp gọi là Phật, không pháp sao là Phật? Như vậy Pháp bảo, Tăng bảo có thì mới có Phật bảo vì Tam bảo không thể rời nhau.
Ông nói các pháp đều không ắt là phá hoại Tam bảo. Không những phá hoại Tam bảo mà còn phá hoại các pháp khác nữa.
Lại nữa:
Pháp Không hoại nhân quả,
Cũng hoại cả tội phước,
Cũng thảy đều hủy hoại,
Tất cả pháp thế tục.
Nếu nhận pháp Không ắt phá tội phước và quả báo tội phước, cũng phá pháp thế tục. Vì có những lỗi như thế nên các pháp chẳng nên Không. Trước trong thuyết Không có nói không tự tánh nên không sanh không diệt. Trong bát bất nói: bất sanh bất diệt v.v… không sanh không diệt thì làm gì có pháp tứ đế? Không tứ đế thì không Tam bảo. Chẳng những không Tam bảo mà không cả tội phước thế gian v.v… Như vậy đã vô tình phá hoại Tam bảo, phá hoại tất cả pháp thế gian, tội đó rất nặng.
Đáp:
Nay ông thật không thể
Biết Không, nhân duyên Không,
Và biết được nghĩa Không,
Thế nên tự sanh não.
Một là ông không biết tướng Không, hai là không biết nhân duyên Không, ba là không biết nghĩa Không. Ông sanh bực bội là tại không biết ba thứ này.
Ông không hiểu thế nào là tướng Không, do nhân duyên gì mà nói Không, cũng không hiểu nghĩa Không. Vì không thể biết như thật mới sanh nghi nạn như thế.
Lại nữa:
Chư Phật y nhị đế,
Vì chúng sanh nói pháp,
Một là thế tục đế,
Hai (là) đệ nhất nghĩa đế.
Nếu người không thể biết,
Phân biệt được hai đế,
Đối pháp Phật sâu xa,
Không biết nghĩa chân thật.
Phật nói pháp là y cứ hai đế: thế tục đế và đệ nhất nghĩa đế. Người nào không hiểu được hai đế này rành rẽ thì người đó không thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của Phật pháp. Ông bác tôi vì ông không hiểu hai đế, tức là không hiểu được nghĩa sâu của Phật pháp.
Thế tục đế là tất cả pháp tánh Không mà thế gian điên đảo nên sanh pháp hư vọng nơi thế gian cho là thật. Tánh tất cả pháp là Không mà người thế gian do điên đảo, chấp các pháp thế gian hư dối cho là thật, đó là thế tục đế.
Các hiền thánh thật biết tánh điên đảo nên biết tất cả pháp đều Không, không sanh, nơi thánh nhân là đệ nhất nghĩa đế gọi là thật. Tất cả pháp tánh Không là đệ nhất nghĩa đế, thánh nhân cho là thật. Còn thế gian cho pháp hư vọng là thật gọi là thế tục đế. Như vậy ai biết tất cả pháp đều là duyên hợp tánh Không, người đó là thánh nhân. Nếu thấy các pháp thế gian hư dối mà cho là thật, đó là phàm phu. Như thấy hoa cho là thật, là đẹp, đó là phàm phu, hay cho lời nói là thật cũng là phàm phu.
Chư Phật y hai đế ấy mà vì chúng sanh nói pháp. Nếu người không thể như thật phân biệt hai để ắt đối với pháp Phật sâu xa không biết nghĩa chân thật. Nếu bảo tất cả pháp chẳng sanh là đệ nhất nghĩa đế, không cần có đệ nhị thế tục đế, ấy cũng không đúng. Nếu chỉ nói đệ nhất nghĩa đế là cao, là đủ rồi, không cần thế tục đế, điều đó không đúng.
Vì cớ sao?
Nếu không y tục đế,
Không được đệ nhất nghĩa.
Không được đệ nhất nghĩa,
Thì không được Niết-bàn.
Đệ nhất nghĩa đều nhân ngôn thuyết. Ngôn thuyết là thế tục. Thế nên nếu chẳng y thế tục thì đệ nhất nghĩa ắt không thể nói. Nếu không được đệ nhất nghĩa, làm sao được đến Niết-bàn? Thế nên các pháp tuy không sanh mà có hai đế. Thế tục đế là ngôn ngữ theo thế tục như bàn, đồng hồ, nhà v.v… Muốn biết đệ nhất nghĩa thì cũng y cứ ngôn ngữ thế tục, thế gian gọi cái bàn, mình cũng nói cái bàn, nhưng phân tích cái bàn không thật, do duyên hợp không tự tánh, đó là đệ nhất nghĩa đế. Như vậy từ thế tục đế bước sang đệ nhất nghĩa đế, điều đó hết sức rõ ràng. Hai đế này là căn bản để Phật hướng dẫn chúng sanh đến chỗ giác ngộ, đến được Niết-bàn.
Trước chúng ta không thấy đường đi nên sụp hầm, té hố. Nay Phật cho ngọn đuốc, mắt sáng có hướng đi, mà không chịu đi ngay đường thẳng lối thì lọt hầm sụp hố, như vậy lỗi tại ai? Bây giờ muốn biết rõ đường đi đến Niết-bàn, chỉ cần thấy tất cả pháp duyên hợp không tự tánh, không thật nên không còn mê chấp, không còn đấu tranh hơn thua phải quấy. Từ đó dẹp hết mọi phiền não, tiến tới Niết-bàn dễ dàng.
Lại nữa:
Không khéo chánh quán Không,
Độn căn ắt tự hại,
Như không giỏi chú thuật,
Không giỏi bắt rắn độc.
Ngài Luận chủ quở: Ông giống như người không biết bắt rắn mà bắt chước bắt rắn là tự hại. Đến đây ngài vẫn chưa giải những nghi nạn về phá Tam bảo, phá pháp thế gian…
Nếu người độn căn không khéo hiểu pháp Không, nơi pháp Không có lỗi mà sanh tà kiến. Như vì lợi mà bắt rắn độc, không giỏi bắt (rắn) trở lại bị hại. Lại như dùng chú thuật muốn làm hại người, không thể khéo thành tựu ắt trở lại tự hại. Kẻ độn căn quán pháp Không cũng lại như thế. Kẻ độn căn nghe nói pháp Không tưởng là không ngơ, là không đối với có nên chấp một bên, gọi là tà kiến. Nói Không đây là nói các pháp tự tánh Không, không có một pháp quyết định. Không này vượt lên trên, không phải là cái không nghiêng bên có và bên không.
Lại nữa:
Thế Tôn biết pháp ấy,
Tướng sâu xa vi diệu,
Độn căn không hiểu đến,
Thế nên không muốn nói.
Thế Tôn do pháp sâu xa vi diệu, chẳng phải kẻ độn căn hiểu đến, thế nên không muốn nói. Vì vậy mà ban đầu Phật không nói pháp này.
Lại nữa:
Ông bảo tôi chấp Không,
Mà là tôi sanh lỗi.
Nay ông nói lỗi đó,
Nơi Không ắt không có.
Ông bảo tôi chấp Không là tôi có lỗi, nhưng nơi lý Không không có lỗi như thế.
Ông bảo vì tôi chấp Không là tôi sanh lỗi. Tôi nói tánh Không, Không cũng không, không có lỗi như thế.
Lại nữa:
Do vì có nghĩa Không,
Tất cả pháp được thành.
Nếu không có nghĩa Không,
Tất cả (pháp) ắt chẳng thành.
Do vì có nghĩa Không nên tất cả pháp thế gian, xuất thế gian thảy đều thành tựu. Nếu không có nghĩa Không ắt đều không thành tựu. Đến đây Luận chủ bắt đầu giải thích, nhưng trước khi giải thích ngài nói tầm vóc quan trọng của nghĩa Không. Do có nghĩa Không nên tất cả pháp được thành. Nếu không có nghĩa Không thì tất cả pháp không được thành.
Lại nữa:
Nay ông tự có lỗi,
Mà xoay trở về tôi,
Ví như người cưỡi ngựa,
Tự quên ngựa mình cưỡi.
Ông ở trong pháp Có có lỗi, không thể tự biết mà ở trong pháp Không thấy lỗi, như người cưỡi ngựa mà quên ngựa mình cưỡi. Ngay nơi pháp Có ông đã bị lỗi mà không thấy, lại nhìn qua pháp Không của người rồi nói người có lỗi, như người cưỡi ngựa quên ngựa mình cưỡi.
Vì cớ sao?
Nếu ông thấy các pháp,
Quyết định là có tánh,
Tức là thấy các pháp,
Không nhân cũng không duyên.
Nếu quyết định các pháp có tự tánh thì không nhân không duyên, như vậy là ông có lỗi.
Ông nói các pháp có tánh quyết định, nếu vậy thì thấy các pháp không nhân, không duyên. Vì cớ sao? Nếu pháp quyết định có tánh thì nên chẳng sanh, chẳng diệt. Pháp như thế đâu dùng nhân duyên. Nếu các pháp từ nhân duyên sanh thì không có tánh, thể nên các pháp quyết định có tánh ắt không nhân duyên. Nếu bảo các pháp quyết định trụ tự tánh, ấy ắt không đúng. Vì cớ sao?
Tức là phả nhân quả,
Tác, tác giả, tác pháp,
Cũng lại hoại tất cả,
Sanh diệt của vạn vật.
Nếu ông nói tất cả pháp có tánh cố định là phá nhân duyên, phá nhân duyên là phá nhân quả. Phá nhân duyên, nhân quả thì phá tác, tác giả, tác pháp. Như cái bàn nếu cố định sẵn có thì không đợi làm, không người làm và cũng không phải pháp do làm mà thành. Pháp cố định thì không đổi thay tức là không sanh diệt, vậy là hoại tất cả sanh diệt của muôn vật thế gian.
Các pháp có tánh quyết định ắt không các việc nhân quả v.v… Như kệ nói:
Pháp do các duyên sanh,
Ta nói tức là Không,
Cũng gọi là Giả danh,
Cũng là nghĩa Trung đạo.
Nguyên bản chữ Hán là:
Chúng nhân duyên sanh pháp,
Ngã thuyết tức thị Không,
Diệc vi thị Giả danh,
Diệc thị Trung đạo nghĩa.
Chỗ khác ghi:
Nhân duyên sở sanh pháp,
Ngã thuyết tức thị Không,
Diệc danh vi Giả danh,
Diệc danh Trung đạo nghĩa.
Bài kệ này có tầm vóc hết sức quan trọng. Tông Thiên Thai Giáo Quán được thành lập, vị tổ đầu tiên là ngài Huệ Văn, tổ thứ hai là ngài Huệ Tư, tổ thứ ba là ngài Trí Khải, thường được gọi là Trí Giả đại sư. Ngài Huệ Tư khi đọc Trung Quán đến bốn câu kệ này lãnh hội được, từ đó lập ra pháp tu Nhất tâm tam quán là:
Chỉ bốn câu kệ mà thành một pháp tu. Pháp tu này là y cứ chánh pháp của Phật nói về lý nhân duyên. Từ lý nhân duyên mà khai thác thành hai pháp quán: quán Không và quán Giả. Nhờ quán Không, quán Giả nên tâm vượt lên trên cả có không, đó là Trung đạo. Thấy đồng hồ, tâm trụ nơi đồng hồ nên kẹt vào đó. Nếu không kẹt vào vật nào hết thì tâm thênh thang.
Thế nên Trung đạo là một tâm thể trùm khắp, vượt trên có không, chứ không phải ở giữa có và không.
Chưa từng có một pháp,
Chẳng từ nhân duyên sanh,
Thế nên tất cả pháp,
Cả thảy đều là Không.
Không là không tự tánh. Nhờ nghĩa Không này chúng ta biết rõ lối tu tiến thẳng tới Niết-bàn, Trung đạo vượt lên có không, không còn sanh diệt, nên có thể gọi là Niết-bàn.
Giải thích:
Pháp do các nhân duyên sanh, tôi nói tức là Không. Vì cớ sao? Các duyên đầy đủ hòa hợp mà vật được sanh. Vật ấy thuộc các nhân duyên nên không tự tánh, không tự tánh nên Không, Không cũng lại không. Chỉ vì dẫn đường chúng sanh nên dùng giả danh nói. Lìa hai bên có không nên gọi là Trung đạo. Vì pháp ấy không tánh nên không được nói có, cũng vì không Không, nên không được nói không. Nếu pháp có tánh tướng thì không đợi các duyên mà có. Nếu chẳng đợi các duyên thì không có pháp, thế nên không có pháp chẳng Không. Trước ông nói pháp Không có lỗi, lỗi này nay trở về ông. Vì cớ sao?
Nếu tất cả chẳng Không,
Ắt không có sanh diệt,
Như thế ắt không có,
Cái pháp tứ thánh đế.
Nếu tất cả pháp mỗi pháp có tự tánh, chẳng Không ắt không có sanh diệt. Vì không sanh diệt thì không có pháp tứ thánh đế. Vì cớ sao?
Nếu chẳng từ duyên sanh,
Làm sao sẽ có khổ?
Vô thường là nghĩa khổ,
Tánh (quyết) định không vô thường.
Vô thường gọi là khổ. Sanh lão bệnh tử là tướng vô thường của con người, tức là tướng của khổ đế.
Nếu không từ duyên sanh thì không có khổ. Vì cớ sao? Kinh nói vô thường là nghĩa khổ. Nếu khổ có tánh quyết định làm sao có vô thường vì chẳng bỏ tự tánh?
Chẳng bỏ tự tánh là tánh nguyên vẹn không bỏ, mà không bỏ sao gọi là vô thường?
Lại nữa:
Nếu khổ có tánh (quyết) định,
Cớ sao từ tập sanh?
Thế nên không có tập,
Do vì phá nghĩa Không.
Khổ có tánh cố định thì không có vô thường, tức không có nghĩa khổ thì không có khổ đế. Khổ có tánh cố định thì không đợi duyên hợp, cũng không có tập đế.
Nếu khổ quyết định có tánh thì không nên lại sanh vì trước đã có. Nếu vậy thì không có tập đế, vì phá hoại nghĩa Không.
Lại nữa:
Khổ nếu có định tánh,
Ắt không nên có diệt.
Ông chấp tánh quyết định,
Tức là phá diệt đế.
Diệt là trước có khổ rồi sau tiêu diệt. Nếu khổ có tánh quyết định thì không diệt được nên không có diệt đế.
Nếu khổ có tánh quyết định thì không nên diệt. Vì cớ sao? Vì tánh ắt không mất.
Lại nữa:
Nếu khổ có định tánh,
Thì không có tu đạo.
Đạo có thể tu tập,
Tức không có định tánh.
Tu là sửa, là dẹp bỏ, đổi thay. Nếu khổ có tánh quyết định, làm sao dẹp bỏ, làm sao đổi thay, làm sao có thể tu?
Nếu pháp quyết định có ắt không có tu đạo. Vì cớ sao? Nếu pháp thật ắt là thường, thường thì không thể tăng trưởng. Nếu đạo có thể tu, thì đạo ắt không có tánh quyết định. Vì không quyết định cho nên sửa được.
Lại nữa:
Nếu không có khổ đế,
Và không tập, diệt đế,
Đạo có thể diệt khổ,
Trọn đi đến chỗ nào?
Đạo diệt khổ là đưa đến Niết-bàn. Nếu không có khổ, tập, diệt thì đạo diệt khổ sẽ đi đến chỗ nào?
Các pháp nếu trước quyết định có tánh thì không có khổ tập diệt đế, nay đạo diệt khổ trọn là đến chỗ diệt khổ nào?
Lại nữa:
Nếu khổ (quyết) định có tánh,
Từ trước không có thấy,
Hiện nay làm sao thấy?
Vì tánh nó không khác.
Các bậc hiền thánh từ kiến khổ, đoạn tập, chứng diệt, tu đạo mà được Niết-bàn. Hiện nay chúng ta là phàm phu chỉ thấy khổ là thiếu cơm, thiếu áo, chưa thấy được lý khổ chân thật là vô thường nên gọi là chưa thấy. Người tu thấy được lý khổ, vậy khổ không có tánh quyết định. Cho nên đây nói: Nếu khổ quyết định có tánh, thì trước không thấy, nay làm sao thấy vì tánh nó không đổi?
Nếu trước, khi là phàm phu không thể thấy tánh khổ, thì nay cũng không nên thấy. Vì cớ sao? Vì chẳng thấy tánh quyết định.
Lại nữa:
Như kiến khổ không đúng,
Đoạn tập và chứng diệt,
Tu đạo và tứ quả,
Ấy cũng đều không đúng.
Nếu khổ có tánh cố định, trước không thấy mà nay thấy là không đúng. Cũng vậy nếu tập cố định làm sao đoạn được? Vậy đoạn tập không đúng. Chứng diệt cũng vậy, pháp cố định làm sao diệt được, nên chứng diệt cũng không đúng. Nếu pháp cố định mà nói tu cũng không đúng. Cho nên nói: Nếu thấy khổ không đúng thì đoạn tập và chứng diệt, tu đạo và tứ quả cũng đều không đúng.
Như tánh khổ đế trước chẳng thể thấy, sau cũng không nên thấy. Như thế cũng chẳng nên có đoạn tập, chứng diệt, tu đạo. Vì cớ sao? Tánh tập ấy từ trước đến giờ không đoạn, nay cũng không nên đoạn vì tánh không thể đoạn. Diệt từ trước đến giờ không chứng, nay cũng không nên chứng vì từ trước đến giờ không chứng. Đạo từ trước đến giờ không tu, nay cũng không nên tu vì từ trước đến giờ không tu. Thế nên tứ thánh đế, kiến đoạn chứng tu bốn thứ hạnh đều không nên có. Vì bốn thứ hạnh không, nên bốn đạo quả cũng không. Vì cớ sao?
Tánh bốn đạo quả ấy,
Từ trước không thể được,
Tánh các pháp nếu (quyết) định
Nay sao có thể được?
Trước không đắc không chứng, nay làm sao đắc chứng, vì tánh là quyết định?
Các pháp nếu có tánh quyết định, bốn quả Sa môn từ trước đến giờ chưa được, nay làm sao có thể được? Nếu có thể được thì tánh không quyết định.
Lại nữa:
Nếu không có bốn quả,
Thì không có Đắc, Hướng,
Vì không có tám thánh,
Ắt không có Tăng bảo.
Vì không có bốn quả Sa-môn thì không có Đắc quả, Hướng quả. Vì không có tám bậc hiền thánh thì không có Tăng bảo, mà kinh nói tám bậc hiền thánh gọi là Tăng bảo. Hiện nay chúng ta tu có dám xưng là Tăng bảo đúng như kinh nói không? Trong kinh A-hàm có nhiều ông trưởng giả ăn thịt uống rượu, thê thiếp đầy đủ mà nghe Phật nói pháp tứ đế, rồi có lòng tin không lay chuyển, dù ai lý luận cách nào cũng không bị rúng động liền chứng Tu-đà-hoàn. Tu-đà-hoàn còn gọi là Dự lưu tức là dự vào dòng thánh. Còn chúng ta tu ăn chay, ở chùa mấy mươi năm mà không được gì hết, thật là buồn!
Nếu chúng ta có lòng tin không lay chuyển giống như vậy thì cũng chứng được quả Dự lưu hay ít ra cũng hướng Dự lưu, đó là bắt đầu bước vào dòng thánh, được dự vào hàng Tăng bảo. Chỉ là thấy được pháp tứ đế, nhận được lẽ thật, lòng tin chắc chắn không nghi ngờ, chưa nói hết tham sân si, đó là đã bước vào hàng hiền thánh. Cho nên giai đoạn đầu là kiến khổ, từ từ mới đến đoạn tập, chứng diệt và tu đạo.
Lại nữa:
Vì không tứ thánh đế,
Cũng không có Pháp bảo,
Không Pháp bảo,Tăng bảo,
Làm sao có Phật bảo?
Hành tứ thánh đế được pháp Niết-bàn. Nếu không tứ đế thì không Pháp bảo, nếu không hai bảo làm sao sẽ có Phật bảo? Ông do nhân duyên như thế nói các pháp có tánh quyết định, ắt phá hoại Tam bảo. Khi trước ông kết tội tôi phá hoại Tam bảo, bây giờ chính ông là người phá hoại Tam bảo.
Hỏi: Ông tuy phá các pháp nhưng đạo cứu cánh A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề nên có. Vì nhân đạo ấy nên gọi là Phật. Nhân đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác mà được gọi là Phật, như vậy đạo đó nên có.
Đáp:
Ông nói ắt không phải
Bồ-đề mà có Phật,
Cũng lại chẳng nhân Phật,
Mà lại có Bồ-đề.
Ông nói các pháp có tánh quyết định ắt chẳng nên nhân Bồ-đề có Phật, nhân Phật đạo có Bồ-đề, vì hai tánh ấy thường quyết định. Nếu ông chấp các pháp có tánh cố định mà ông nói nhân pháp Bồ-đề có Phật là không đúng. Nếu cố định thì Bồ-đề là Bồ-đề, Phật là Phật, không thể nhân pháp này có pháp kia.
Lại nữa:
Tuy lại siêng tinh tấn,
Tu hành đạo Bồ-đề,
Nếu trước không tánh Phật,
Không nên được thành Phật.
Do trước không có tánh như sắt không tánh vàng, tuy dùng các cách luyện lọc trọn không thành vàng. Trong sắt không có vàng, dù có rèn đúc, luyện lọc cũng không thành vàng vì tánh nó cố định. Còn nghĩa Phật tánh của Phật nói là ngay nơi thân phàm phu có Phật tánh, tức là ngay trong mê có giác, giác mê không hai. Nếu nói cố định thì không đúng.
Lại nữa:
Nếu các pháp chẳng Không,
Không người tạo tội phước,
Chẳng không làm sao tạo?
Vì tánh nó quyết định.
Chẳng Không là có, có quyết định tức là có sẵn thì làm sao tạo?
Nếu các pháp chẳng Không trọn không có người tạo tội phước. Vì cớ sao? Vì tánh tội phước trước đã có, lại không có tạo, người tạo.
Lại nữa:
Ông ở trong tội phước,
Chẳng sanh ra quả báo,
Ấy là lìa tội phước,
Mà có các quả báo.
Nếu tánh quyết định thì không có tội phước quả báo thiện ác, vì quả báo là từ nhân, nếu quyết định thì không có nhân, không nhân làm sao có quả?
Ông ở trong nhân duyên tội phước đều không có quả báo thì nên lìa nhân duyên tội phước mà có quả báo. Vì cớ sao? Vì quả báo không đợi nhân mà có.
Hỏi: Lìa tội phước có thể không có quả báo thiện ác, nhưng từ tội phước có quả báo thiện ác.
Đáp:
Nếu bảo từ tội phước,
Mà sanh ra quả báo,
Quả từ tội phước sanh,
Làm sao nói chẳng Không?
Các pháp không có tự tánh nên mới từ tội phước sanh ra quả báo, nếu có tự tánh thì không được.
Nếu lìa tội phước không có quả báo thiện ác, làm sao nói quả chẳng Không? Nếu vậy lìa tác, tác giả thì không tội phước. Trước ông nói các pháp chẳng không tức là quyết định, việc ấy không đúng.
Lại nữa:
Ông phá tất cả pháp,
Các nhân duyên nghĩa Không,
Ắt là phá thế tục,
Tất cả pháp Có khác.
Ông kết tội những người nói nghĩa Không là phá Tam bảo và phá luôn tội phước thế gian, nhưng ngược lại ông nói các pháp có tự tánh là chính ông phá hoại Tam bảo và luôn cả pháp thế gian.
Nếu ông phá pháp các nhân duyên đệ nhất nghĩa Không, ắt phá tất cả pháp thế tục. Vì cớ sao?
Nếu phá cái nghĩa Không,
Tức nên không sở tác,
Không tạo mà có tạo,
Không tạo gọi tác giả.
Không tạo mà có tạo, có tự tánh tức là cố định sẵn có thì không có tạo tác, không tạo tác mà có nên nói là có tạo. Không tạo gọi tác giả, nghĩa là không làm cũng gọi là tác giả. Thường thì có làm mới gọi người làm là tác giả, nhưng nếu sẵn có thì đâu đợi làm?
Nếu phá nghĩa Không thì tất cả quả đều không tạo, không nhân. Lại chẳng tạo mà tạo, vì đã có sẵn nên không làm mà có làm. Lại tất cả tác giả không nên có sở tác, cũng vì có sẵn nên không đợi tác giả làm. Lại lìa tác giả nên có nghiệp, có quả báo, có thọ giả. Vì các việc đó đã có sẵn.
Nhưng việc ấy đều không đúng, thế nên chẳng nên phá Không
Lại nữa:
Nếu có tánh quyết định,
Tất cả tướng thế gian,
Ắt chẳng sanh, chẳng diệt,
Thường trụ mà chẳng hoại.
Nếu các pháp có tánh quyết định thì các thứ tướng ở thế gian, trời, người, súc sanh, muôn vật đều nên chẳng sanh chẳng diệt, thường trụ không hoại. Vì cớ sao? Vì có tánh thật không thể đổi khác, mà hiện thấy muôn vật mỗi loại đều có tướng đổi khác, sanh diệt đổi dời, thế nên chẳng nên có tánh quyết định. Thực tế muôn vật là đổi dời mà ông nói có quyết định là sai.
Lại nữa:
Nếu không có pháp Không,
Chưa được chẳng nên được,
Cũng không đoạn phiền não,
Cũng không việc hết khổ.
Nếu không có pháp Không thì thế gian, xuất thế gian có các công đức chưa được đều không nên được, cũng không nên có người đoạn phiền não, cũng không có hết khổ. Vì cớ sao? Vì tánh quyết định.
Thế nên trong kinh nói:
Nếu thấy pháp nhân duyên,
Ắt là hay thấy Phật,
Thấy khổ tập diệt đạo.
Nếu người thấy tất cả pháp từ các duyên sanh, người ấy ắt hay thấy pháp thân Phật, tăng trưởng trí tuệ, hay thấy tứ thánh đế khổ tập diệt đạo. Thấy tứ thánh đế được tứ quả, diệt các khổ não, thế nên không nên phá nghĩa Không. Nếu phá nghĩa Không ắt phá pháp nhân duyên. Phá pháp nhân duyên ắt phá hoại Tam bảo. Nếu phá hoại Tam bảo ắt là tự phá.
Bài kệ trên trích trong kinh Trung A-hàm. Phật nói: Người nào thấy được lý nhân duyên thì người đó thấy Phật, cũng thấy pháp tứ đế. Tại sao? Thấy các pháp do nhân duyên sanh là thấy được lẽ thật, thấy được chân lý, đó là giác tức là thấy Phật, cũng thấy được pháp tứ đế vì tứ đế là bốn lẽ thật. Vậy chúng ta tìm giác ở đâu? Lục Tổ đã nói:
Phật pháp tại thế gian,
Bất ly thế gian giác.
Tất cả pháp thế gian là do nhân duyên hợp, không tự tánh, biết như vậy là giác ngộ, không cần tìm đâu xa; chứ không phải ngồi thiền xuất hồn đợi được điểm đạo, tụng kinh mong ước Phật xoa đầu, thọ ký v.v…
Ai cũng biết mọi sự vật ở thế gian này đều do nhiều duyên hợp lại, không có vật gì tự thành. Biết như vậy mà tại sao không hằng thấy như vậy? Như cái bàn do gỗ, đinh, thợ mộc… hợp lại thành. Nếu không hiểu lý nhân duyên, chỉ nhìn sự việc qua một khía cạnh, cho ý kiến của mình là đúng, bắt người khác phải theo ý mình rồi sanh tranh cãi, đó là sai lẽ thật, là không biết bảo tồn chân lý theo lời Phật dạy.
Học Trung Luận chúng ta thấy lý Trung quán có một nền tảng vững chắc, giữa Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa có sự liên hệ. Lý nhân duyên là từ Phật nói trong kinh A-hàm mà khai triển sâu hơn, rộng hơn thành quán Không, quán Giả, quán Trung. Đó là từ lý căn bản Phật pháp mà khai triển ra chứ Đại thừa và Tiểu thừa đâu có khác. Như vậy tinh thần Phật pháp Đại thừa là lập cước ngay nơi giáo lý Nguyên thủy chứ không có ở ngoài, không riêng một bên.