Thiền Tông Vĩnh Gia Tập

Phần Luận



CHƯƠNG I

NGHI THỨC LẬP CHÍ MỘ ĐẠO

Trước tiên phi quán ba cõi để sanh tâm nhàm lìa. Kế gn bn lành cu đường gii thoát. Đối vi Sư trưởng, sm thăm ti viếng luôn gìn l độ. Xét k trái thun thế nào để biết hu h dưỡng nuôi. Hi điu phi làm để biết phng s. Chiêm ngưỡng không lười vì sanh lòng ân cn kính trng. Luôn luôn ly s quyết liu tâm yếu làm vic chánh tu. Theo s hiu biết trình bày để rõ tà chánh. Nghim theo khí lc để biết sng chín. Thy bnh sanh nghi phi dùng thuc hay điu tr. Suy nghĩ tt cùng vì cu chân lý. Ngày đêm chuyên cn, s duyên sai s. Chuyên tâm mt hnh để thành đạo nghip. Vì pháp quên thân là do lòng biết ân. Như lòng tin ca mình còn yếu kém, ý chí không chuyên, hnh thô hiu cn, phóng túng theo cơ, chm vic thì nhân vic sanh tâm, duyên không thì y theo không mà dt nim. Đã chng phi bình đẳng quán v động tnh thì thun theo s đắc tht ca có không. Nhưng đạo không có cp bc, tùy theo công phu mà có v th.

★★★

CHƯƠNG II

RĂN Ý KIÊU SA

Cơm áo có ra là do trng lúa nuôi tm. Khn đất đào mương, luc nu kén tm, nu chín làm ra tn thương sanh mng, chúng phi chu chết để giúp thân ta. Ch s đói lnh, chng biết chết là kh, n giết hi loài khác để cung cp cho mình. Ôi, đau đớn thay! Công người nông phu tích cha sc lc sâu dày, đâu riêng gì loài hàm thc thit mng, cũng còn là ca tín thí khó tiêu. Tuy đã xut gia nào có đức gì? Ch mun th nhn ca tín thí để nuôi thân, đâu biết xét suy đức mình so vi công y. Lun T-ni nói: “Th nhn ca tín thí dùng không đúng pháp, buông lung tâm ý, b phế s tu đạo nghip, s b đọa vào tam đồ th s kh nng.”

Phàm mun vượt ra ba cõi mà chưa có hnh tuyt trn, ung làm thân nam t không có chí trượng phu. Nhưng vì sut ngày chn rn, ti li hôn mê, đạo đức chưa tu, cơm áo lãng phí. Trên thì trái đại đạo, dưới thì thiếu li sanh, gia thì ph bn ân, tht đáng h thn! Do đó, người trí phi khá xét suy, thà có pháp mà chết còn hơn không pháp mà sng, đâu nên lung t si mê quý thân khinh pháp.

★★★

CHƯƠNG III

TỊNH TU BA NGHIỆP

Tham, sân, tà kiến thuc ý nghip. Nói hư di, nói thêu dt, nói hai lưỡi, nói hung ác thuc khu nghip. Sát sanh, trm cp, dâm dc thuc thân nghip.

Phàm người có chí mun cu đại đạo, trước tiên cn phi tu ba nghip cho thanh tnh. V sau, trong bn oai nghi ln lượt vào đạo, nhn đến khi sáu căn đối trn tùy duyên liu đạt, c hai cnh trí đều lng thm hp vi ý ch diu huyn.

  1. Thế nào là tnh tu thân nghip?

T xét sâu xa trong bn oai nghi đi, đứng, ngi, nm, kìm thúc ba ti không cho sơ tht. T bi nuôi nng chng hi mng sng, tt c loài hàm thc trên không dưới nước, không k ln nh đều thương yêu bo bc cho đến loài bò bay máy ca cũng không làm tn hi. Gp k nguy nan ân cn cu tế, dùng phương tin độ khiến cho gii thoát.

Đối vi tin bc ca ci người khác không cho thì không ly, nhn đến vt ca qu thn làm ch, dù là cây kim ngn c vn không c phm. Gp người ăn xin nghèo khó, tùy theo tin ca mình có, dùng lòng cung kính b thí khiến cho h được an n, còn mình không cu s báo ân.

Suy nghĩ như vy: Chư Pht quá kh tri vô lượng kiếp, thc hành b thí cho c voi nga by báu, đầu mt não ty nhn đến x b thân mng, không chút nui tiếc. Nay ta cũng vy, tùy theo kh năng b thí, hoan h cúng dường, tâm không ln tiếc.

Đối vi n sc tâm không nhim trước. Phàm phu điên đảo b dc làm say, đam mê phóng túng, không biết li lm ca s dâm dc, như vin cành hoa không biết có n rn độc. Người trí xem dc như ming rn độc, móng vut gu hùm, la bùng st nóng cũng chng d được. Ct đồng giường st cháy lưng chín rut, máu tht by nhy, đau thu tâm ty. Quán sát như thế ch kh không vui. Túi da đựng phn tích cha máu m, b ngoài gi di gii phn thoa hương, bên trong mt mùi hôi thúi, dơ bn chy ra làm ch nương ca giòi nhng, thúi tha đến l cu xí cũng không bì kp. Người trí xét đó, ch thy lông tóc, móng răng, da mng da dày, máu tht, m hôi nước mt, nước dãi, nước miếng, m m, gân mch não mô, đàm vàng đàm trng, gan mt ct ty, phi thn, lá lách, d dày, tim, m nước, bàng quang, rut già rut non, sanh tng thc tng, các đường tiu tin. Nhng vt như thế đều không có ngã, mà do gió thc c động hư vng sanh ra, ngôn ng di trá, nói làm người bn thân, k tht oán gin ghét ghen làm cho hư đức chướng đạo, đó là ti li nng nht phi nên xa lìa như tránh gic oán. Bi thế, người trí xem đó tưởng như rn độc, thà gn rn độc, chng gn n sc. Vì sao? Rn độc hi người ch chết mt đời, n sc trói buc trăm ngàn muôn kiếp b các độc hi kh đau vô cùng, phi nên xét nghĩ ch nên gn gũi.

Vì thế người trí cn phi kim đim ba li, cha b li lm, trái ác theo thin, chng giết chng trm, phóng sanh b thí, không làm vic dâm dc bn thu, thường tu hnh thanh tnh. Ngày đêm chuyên cn hành đạo l bái, nương v Tam bo, chí cu gii thoát, đối vi thân mng ca ci phi tu ba pháp kiên c. Biết thân hư huyn không có t tánh, sc tc là không cái gì là ngã? Tt c các pháp ch có gi danh không có nht định. Thân này ca ta, bn đại năm un mi mi đều chng phi ngã, hp li cũng không, vô minh không rõ, chp lm là ngã.

Sát sanh, trm cp, dâm dc phóng túng, sut ngày ln đêm không ngng to nghip. Dù không chân tht nhưng thin ác báo ng vn như bóng tùy hình. Lúc quán như thế, chng cu s bt chánh để nuôi thân mng, phi t quán thân tưởng như rn độc, vì để tr bnh nên nhn bn s cúng dường.

Thân mc y phc như che gh l. Ming ăn thc ngon như bnh ung thuc. Tiết kim thân ming không sanh s xa hoa thái quá, nghe nói ít mun rt thích tu hành. Cho nên kinh nói: “Bc đầu-đà ít mun khéo biết va biết đủ, người y có th vào đạo hin thánh.” Vì sao? Chúng sanh trong đường ác tri vô lượng kiếp thiếu thn áo cơm, kêu la thm thiết, đói lnh kh s, xương da dính nhau. Nay ta tm thiếu chút đỉnh chưa phi là kh. Thế nên người trí quý pháp khinh thân, siêng năng cu pháp chí đạo, đến thân mng cũng chng đoái hoài, đây gi là tnh tu thân nghip.

  1. Thế nào là tnh tu khu nghip?

T xét sâu xa bn li ca ming là căn bn sanh t, tăng trưởng điu ác, che lp muôn hnh, gây chuyn th phi. Thế nên, người trí mun nh sch gc sanh t, dt tr hư vng, phi tu bn như tht ng, đó là các li ngay thng, du dàng, hòa hp và như tht. Bn tht ng này là hnh ca người trí. Vì sao? Li ngay thng hay tr li thêu dt, li du dàng hay tr li hung ác, li hòa hp hay tr li hai lưỡi, li như tht hay tr li hư di.

Li ngay thng có hai th: Mt là nói đúng pháp khiến cho người nghe tin hiu rõ ràng. Hai là nói đúng lý khiến cho người nghe tr hết nghi lm.

Li du dàng cũng có hai: Mt là li an i khiến cho người nghe vui v gn gũi. Hai là tiếng cung thương thanh nhã khiến cho người nghe yêu thích tu tp.

Li hòa hp cũng có hai: Mt là s hòa hp, nghĩa là thy người đấu tranh, can gián khuyên nên x b, chng t khen mình, trái li nhún nhường kính vt. Hai là lý hòa hp, nghĩa là thy người thi tâm Bđề ân cn khuyên tn, khéo léo phân bit Bđề phin não, bình đẳng nht tướng. Nếu tâm hành gi lui st thì dùng đức độ để v v, siêng năng đến trước người y khéo nói v vic mê ng.

Li đúng như tht cũng có hai th: Mt là s tht, nghĩa là có thì nói có, không thì nói không, phi thì nói phi, quy thì nói quy. Hai là lý tht, nghĩa là tt c chúng sanh đều có Pht tánh, Niết-bàn Như Lai thường tr bt biến.

Thế nên người trí thc hành bn tht ng y, quán sát chúng sanh nhiu kiếp đến nay vì bn li này làm cho điên đảo trôi chìm sanh t khó được xut ly. Nay ta mun nh gc r ca nó, quan sát khu nghip kia do môi răng, tiếng vang ca yết hu cung rn, gió thc kích động phát ra tiếng nói. Do tâm làm nhân duyên sanh hai th hư tht khác nhau, tht thì li ích, hư thì tn mt. Tht là khi gc lành, hư là sanh ci ác. Ci gc thin ác là do li nói nơi ca ming, nói li thin là t chánh, nói li ác là t tà. Tà thì b kh, chánh thì được vui. Thin là duyên tr đạo, ác là gc hư đạo. Thế nên người chánh phi có tâm h trì vic chánh, dùng li tht để lp thân, tng kinh nim Pht quán sát tht tướng ca li nói vn không tn ti, nói nín bình đẳng. Đấy gi là tnh tu khu nghip.

  1. Thế nào là tnh tu ý nghip?

Do nim tà làm nhân duyên hay sanh ra muôn điu ác. Nh chánh quán làm nhân duyên hay khi lên vn điu thin. Cho nên kinh nói: “Ba cõi không có pháp riêng, ch do nht tâm to tác”, nên biết tâm là căn bn ca vn pháp vy.

Thế nào là tà nim? Vô minh chng rõ chp lm là ngã, ngã kiến kiên c tham sân tà kiến chp càn ngoi cnh sanh ra các th đắm nhim. Nên kinh nói: “Nhân vì có ngã bèn có ngã s. Nhân vì ngã s khi ra sáu mươi hai kiến chp đon thường, chín mươi tám s, kiến tư tương tc gây nên sanh t luân hi trong ba cõi chng thôi.” Phi biết tà nim là gc ca các điu ác, thế nên người trí phi chế ng mà không theo nó.

Thế nào là chánh quán? Ta người không khác, sc tâm chng hai; Bđề phin não bn tánh không khác, sanh t Niết-bàn bình đẳng nht chiếu. Do đó, kinh nói: “Lìa ngã, ngã s, quán pháp bình đẳng, ngã và Niết-bàn c hai đều không.” Phi biết các pháp ch có danh t. Cho nên kinh nói: “Cho đến Niết-bàn cũng ch có danh t.” Li nói: “Văn t tánh ly, danh t cũng không.” Vì sao? Pháp chng t có tên, gi đặt tên để gi pháp, pháp đã chng phi pháp, danh cũng chng phi danh, danh chng đúng vi pháp, pháp chng đúng vi danh, danh pháp không đúng, tt c không tch. Cho nên kinh nói: “Pháp không có danh t vì ngôn ng dt.” Thế nên diu tướng thì bt danh, chân danh thì chng phi t. Vì sao? Vô vi tch dit vi diu tt cùng bt tướng lìa danh, đường tâm ngôn dt. Phi biết đó là đim quan yếu ca s v ngun chánh quán. Vì thế người trí dùng chánh quán làm nhân duyên để muôn hoc đều tr, cnh trí đều quên, ngun tâm thanh tnh. Đấy gi là tnh tu ý nghip.

Các điu k trên đây, trong bn oai nghi lúc sáu căn đối vi trn cnh phi tùy duyên liu đạt để theo th lp mà vào đạo vy.

★★★

CHƯƠNG IV

BÀI TỤNG VỀ XA-MA-THA (CHỈ)

Khéo khéo lúc dng tâm,

Khéo khéo không tâm dng,

Không tâm khéo khéo dng,

Thường dng khéo khéo không.

Phàm nim chng quên thì trn chng dt, trn chng dt thì nim chng quên. Trn quên là do dt nim mà quên, nim dt là do quên trn mà dt. Quên trn mà dt nên dt mà không có cái hay dt (năng tc), dt nim mà quên nên quên mà không có cái b quên (s vong).

Quên mà không có cái b quên nên trn b khin tr chng phi là đối tượng b biết, dt mà không có cái hay dt nên nim dit chng phi là ch th hay biết.

Cái biết dit mt, cái đối tượng cũng b khin tr thì mt b vng lng.

Diu tánh thiên nhiên lng yên không nương gá, như la đốt hư không thì la t tt. Hư không d cho diu tánh chng phi tướng, la tt d cho vng nim chng sanh.

Có li rng:

Quên duyên ri thì lng lng

Tánh linh tri hin rõ ràng

Vô ký mê m t

Hp chân vn không rành rành.

Tỉnh tỉnh lặng lặng phải,

Vô ký lặng lặng sai.

Lặng lặng tỉnh tỉnh phải,

Loạn tưởng tỉnh tỉnh sai.

Nếu lấy biết, biết lặng,

Chẳng phải biết không duyên,

Như tay cầm như ý,

Chẳng phải tay không vật.

Nếu lấy tự biết biết,

Chẳng phải biết không duyên,

Như tay tự làm nắm,

Chẳng phải tay không nắm.

Cũng chẳng biết biết lặng,

Cũng chẳng tự biết biết,

Không thể là không biết,

Vì tánh rõ ràng vậy.

Chẳng đồng như gỗ đá,

Như tay chẳng cầm vật,

Cũng chẳng tự làm nắm,

Không thể là không tay.

Bởi tay an nhiên vậy,

Chẳng đồng với sừng thỏ.

Li na, th t tu tâm là h dùng cái biết để biết vt thì vt còn, cái biết cũng còn. Nếu dùng cái biết để biết cái biết, biết được cái biết thì lìa được vt, vt tuy lìa được nhưng cái biết hãy còn. Khi lên cái biết để biết cái biết, lúc cái biết sau sanh thì cái biết trước đã dit. C hai cái biết chng cùng mt lượt, h lúc cái biết trước dit thì cái ch dit y là cnh ca cái biết, nên năng s đều chng phi chân. Cái biết trước dit, cái dit y dn theo cái biết sau, cái biết sau y li tiếp tc dit, sanh dit ni nhau t đó là no luân hi.

Nay nói biết đó, là chng cn biết cái biết, ch cn biết mà thôi, thì cái biết trước chng tiếp tc dit, cái biết sau chng dn khi, trước sau đứt đon, khong gia t b cô lp. Đương th chng nh đến, đúng lúc lin tiêu dit, biết th đã dit ri thì rng rang như nm bt hư không, phút chc vng lng ch có cái giác vô s đắc tc là không giác mà giác, giác mà không giác, khác hn g đá. Đây là ch bt đầu dng tâm cn phi dt bt tư l, cht đồng như người chết, năng s lin quên, my may đều sch. Vng lng t không biết mà biết, tánh ca cái không biết y khác vi g đá. Đây là ch người sơ tâm khó lãnh hi được.

Người mi phát tâm chng nên có ba th:

Ác, nghĩa là nghĩ tưởng đến các nhân duyên như ngũ dc thế gian v.v…

Thin, nghĩa là nghĩ tưởng đến các vic tp thin thế gian v.v…

Vô ký, nghĩa là chng nghĩ đến thin ác, li rơi vào hôn trm.

Trong Gii cn phi đủ ba th:

Nhiếp lut nghi gii, nghĩa là dt tt c các điu ác.

Nhiếp thin pháp gii, nghĩa là tu tt c các điu thin.

Nhiêu ích hu tình gii, nghĩa là th độ tt c chúng sanh.

Trong Định cn phi phân bit ba th:

An tr định, nghĩa là diu tánh thiên nhiên vn chng phi động.

Dn khi định, nghĩa là lóng lòng dt vng trí tu phát sáng.

Bin s định, nghĩa là nước định lóng trong soi t muôn tượng.

Trong Tu cũng cn phi phân bit ba th:

Nhân không tu, nghĩa là rõ năm m chng phi ngã, tc là trong mi m không có ngã như lông rùa sng th.

Pháp không tu, nghĩa là rõ các pháp như m v.v… duyên gi chng phi tht, như bóng trong gương như trăng đáy nước.

Không không tu, nghĩa là rõ cnh và trí đều không, cái không y cũng không.

Trong Kiến cn phi biết ba th:

Không kiến, nghĩa là thy không mà cái thy chng phi không.

Bt không kiến, nghĩa là thy chng không mà cái thy chng phi chng không.

Tánh không kiến, nghĩa là thy t tánh mà cái thy chng phi tánh.

Trong Thiên cn phi la ra ba th:

  1. Có pháp thân, không có Bát-nhã và gii thoát.
  2. Có Bát-nhã, không có gii thoát và pháp thân.
  3. Có gii thoát, không có pháp thân và Bát-nhã.

Có mt thiếu hai là chng viên, chng viên nên chng phi tánh.

Li na trong Thiên cn phi la ra ba th:

  1. Có pháp thân và Bát-nhã, không có gii thoát.
  2. Có Bát-nhã và gii thoát, không có pháp thân.
  3. Có gii thoát và pháp thân, không có Bát-nhã.

Có hai thiếu mt là chng viên, chng viên nên chng phi tánh.

Trong Viên cn phi có đủ ba th:

  1. Pháp thân chng si tc Bát-nhã. Bát-nhã không chp tc gii thoát. Gii thoát tch dit tc pháp thân.

Bát-nhã không chp tc gii thoát. Gii thoát tch dit tc pháp thân. Pháp thân chng si tc Bát-nhã.

Gii thoát tch dit tc pháp thân. Pháp thân chng si tc Bát-nhã. Bát-nhã không chp tc gii thoát.

Nêu lên mt, tc đủ c ba; nói ba th tc là mt. Đây là ba đức trong nhân chng phi ba đức trên qu. Mun biết ba đức trên qu: Pháp thân có đon đức, do vì dt hoc để bày đức, nên gi là đon đức. T th dng thân có trí đức, vì đầy đủ công đức chân tht ca bn trí. Tha th dng thân và hóa thân có đại ân đức, vì tha th dng thân ban ân đức cho hàng Thp địa B-tát, vì ba th hóa thân đối vi các hàng B-tát, Nh tha và loài d sanh có ân đức.

Ba đế, bn trí, ngoi tr Thành s tác trí duyên tc đế. Nhưng pháp không có cn sâu mà chiếu thì có sáng ti, tâm không phi nhơ sch mà gii thì có mê ng… K sơ tâm mê đâu chng phi cn, cui cùng khế ng viên lý, đạt mi biết đâu chng phi sâu. Mê thì mt lý mà t sai, ng thì hết sai mà tc lý. Mê ng thì đồng lý y, cho nên mi có danh t tim th.

Li na người mi tu tâm sau khi nhp môn cn phi biết năm nim:

1/ C khi.

2/ Quán tp.

3/ Tiếp tc.

4/ Bit sanh.

5/ Tc tnh.

Nim c khi, nghĩa là khi tâm nghĩ đến ngũ dc thế gian và các vic tp thin.

Nim quán tp, nghĩa là vô tâm c nh, cht nghĩ, nghĩ đến các vic thin ác v.v…

Nim tiếp tc, nghĩa là tp quán cht khi, biết tâm giong rui tán lon mà chng chế ng cho nó dng li, trái li còn tiếp tc nghĩ tưởng theo nim trước.

Nim bit sanh, nghĩa là biết nim trước là tán lon lin sanh tâm h thn ci hi.

Nim tc tnh, nghĩa là lúc mi ngi chng nghĩ đến các vic thin ác, vô ký thế gian. Dng công ngay ch này nên nói là tc tnh.

Người sơ tâm phn nhiu có mt nim quán tp. Người gii đãi có hai nim tiếp tc và c khi. Người hay h thn phn nhiu có mt nim bit sanh. Người tinh tn thường có mt nim tc tnh.

Bn nim quán tp, tiếp tc, c khi và bit sanh là bnh. Mt nim tc tnh là thuc. Tuy thuc và bnh có khác nhưng đều gi chung là nim.

Lúc năm nim này ngng dt gi là nht nim tương ưng. Nht nim nghĩa là t tánh linh tri. Nhưng năm nim y là chi nhánh ca nht nim, nht nim là căn bn ca năm nim.

Li na, nếu lúc nht nim tương ưng, cn phi biết sáu khoa liu gin:

1/ Biết bnh.

2/ Biết thuc.

3/ Biết đối tr.

4/ Biết li sanh.

5/ Biết th phi.

6/ Biết chánh tr.

  1. Bnh có hai th: Mt là duyên l, hai là vô ký. Duyên l là hai nim thin ác, tuy khác nhau nhưng đều chng phi gii thoát nên đều gi chung là duyên l. Vô ký là tuy chng duyên các vic thin ác v.v… nhưng cũng chng phi chân tâm ch là hôn trm. Hai th này đều là bnh.

Thuc cũng có hai: Mt là lng lng, hai là tnh tnh. Lng lng là chng nghĩ đến các vic thin ác v.v… ca ngoi cnh. Tnh tnh là chng sanh các tướng hôn trm vô ký. Hai th này gi là thuc.

Đối tr, nghĩa là dùng lng lng tr duyên l, dùng tnh tnh tr hôn trm. Dùng hai th thuc này để tr hai chng bnh kia cho nên gi là đối tr.

Li sanh, nghĩa là lng lng lâu thì sanh hôn trm, tnh tnh lâu thì sanh duyên l, nhân vì thuc mà sanh bnh nên nói là li sanh.

Biết th phi, nghĩa là lng lng mà chng tnh tnh thì s hôn trm, tnh tnh mà chng lng lng thì s duyên l. Chng tnh tnh, chng lng lng thì chng nhng duyên l mà còn hôn trm. Va lng lng va tnh tnh, chng nhng sáng sut mà còn yên lng, đó là tr v ngun diu tánh vy. Trong bn câu này, ba câu trước là phi (sai), mt câu chót là th (phi), cho nên nói là biết th phi.

  1. Chánh tr, nghĩa là dùng tnh tnh làm chánh, lng lng làm tr. Hai vic này th không ri nhau ging như người bnh nh gy mà đi được, ly s đi là chánh, ly cây gy làm tr. Phàm người bnh mun đi, trước tiên cn phi cm gy ri sau mi đi được. Người tu tâm cũng vy, đầu tiên cn phi dt duyên l khiến tâm lng lng, kế đó phi tnh tnh chng để hôn trm khiến tâm sáng sut, sáng sut mà vng lng, hai tên đồng thi mt th. Ví như người bnh mun đi, thiếu gy không th đi được, lúc đang đi nh gy mi đi được. Người dng công tu cũng vy, sáng sut và lng l chng được khác thi, tuy có hai tên mà th ca chúng không khác.

Li nói: Lon tưởng là bnh, vô ký cũng là bnh. Lng lng là thuc, tnh tnh cũng là thuc. Lng lng phá lon tưởng, tnh tnh tr vô ký. Lng lng sanh vô ký, tnh tnh sanh lon tưởng. Lng lng tuy có th tr lon tưởng mà li sanh vô ký, tnh tnh tuy có th tr vô ký mà li khi lon tưởng.

Do đó nói:

Tnh tnh lng lng phi,

Vô ký lng lng sai;

Lng lng tnh tnh phi,

Lon tưởng tnh tnh sai.

Lng lng là tr, tnh tnh là chánh. Hãy suy nghĩ k!

Li na, sau khoa liu gin cn phi biết rõ năm m trong nht nim. Nghĩa là dùng thc tương ưng phân bit rõ ràng gi là thc m, lãnh np ti tâm tc là th m, tâm duyên lý này tc là tưởng m, hành dng lý này tc là hành m, ô uế chân tánh tc là sc m.

Năm m này lun v th tc là nht nim, nht nim này nói v th thì toàn là năm m. Thy rõ ràng trong nht nim này không có ch t tc là nhân không tu, thy như huyn như hóa tc là pháp không tu.

Thế nên cn phi biết năm nim và sáu khoa liu gin này xin ch nghi ng. Như mun ly vàng tht phi biết rõ cái nào là gch ngói và vàng gi, ch cn la b riêng ra hết, du không biết vàng tht, vàng tht cũng t hin ra, lo gì chng được.

★★★

CHƯƠNG V

BÀI TỤNG VỀ TỲ-BÀ-XÁ-NA (QUÁN)

Phàm chng phi trí thì chng biết cnh, nếu chng có cnh thì trí chng sanh. Trí sanh là biết cnh mà sanh, biết cnh là do trí sanh mà biết.

Trí sanh mà biết thì biết không có cái b biết (s liu). Biết cnh mà sanh nên sanh không có cái hay sanh (năng sanh). Sanh không có cái hay sanh, tuy trí mà chng phi có.

Biết mà không có cái b biết, tuy cnh mà chng phi không. Không tc chng không, có tc chng có, có không đều chiếu c hai thì diu ng hin nhiên.

Như la được ci càng thêm cháy mnh, ci d như cnh để phát sanh trí, la d cho diu trí biết cnh.

Có li rng:

Đạt tánh không, chng trói buc,

Tuy duyên gi, không đắm trước,

Hai cnh có không đồng soi,

Mt tâm trung quán siêu vượt.

Nếu trí biết nơi cnh tc là trí biết cnh không, như mt thy hoa không là mt biết hoa không.

Nếu trí biết nơi trí, tc là trí biết trí không, như mt thy mt không là mt biết mt không.

Trí tuy biết cnh không và biết trí không, nhưng chng phi không trí biết cnh.

Cnh không trí vn có. Trí biết cnh không và trí không, nên không có cnh nào trí chng biết, như con mt biết hoa không và biết mt không, nhưng chng phi không có mt thy hoa. Hoa không, mt vn có. Mt biết hoa không và mt không, nên có hoa nào mà mt chng biết.

Li na, tt c các pháp đều là nhân duyên gi di, vì nhân duyên sanh nên đều không t tánh. Mt pháp đã vy, muôn pháp cũng vy.

Cnh trí theo nhau thì đâu chng lng. Vì sao? Vì pháp nhân duyên tánh không sai bit. Nay đây ba cõi luân hi, sáu đường lên xung, tnh uế kh lc, phàm thánh sai khác đều do ba nghip, bn nghi[1] sáu căn đối cnh. Theo tình to nghip, qu báo chng đồng, thin thì hưởng lc, ác thì th kh. Cho nên kinh nói: “Thin ác là nhân, kh lc là qu.”

Phi biết pháp không có tướng nht định, tùy duyên tp hp cu thành, duyên chng phi là có ngã, cho nên gi là tánh không.

Không nên chng phi khác, do đó muôn pháp đều Như.

Vì thế kinh nói: “Sc tc là không, bn m kia cũng vy.” Như vy, đâu riêng gì loài phàm tc có duyên sanh, mà hàng Tam tha thánh qu cũng t duyên có. Thế nên kinh nói: “Pht chng t duyên khi.”

Do đó muôn cơ t hp, người đạt thì không đâu chng phi đạo tràng; sc tượng vô biên, người ng ri thì không có gì chng phi Bát-nhã.

Cho nên kinh nói: “Vì sc vô biên nên biết Bát-nhã cũng vô biên.” Vì sao? Vì cnh chng phi trí thì chng biết, trí chng phi cnh thì chng sanh. Trí sanh thì biết cnh mà sanh, biết cnh thì trí sanh mà biết.

Trí sanh mà biết, biết không có cái b biết (s liu). Biết cnh mà sanh, sanh không có cái hay sanh (năng sanh).

Sanh không có cái hay sanh thì ni trí lng lng. Biết không có cái b biết thì ngoi cnh như như. Như và lng không sai khác thì cnh và trí hp nht, muôn ly đều hết, diu ch hãy còn.

Cho nên kinh nói: “Bát-nhã không biết mà không cái gì chng biết.” Như vy diu ch chng phi biết, không biết mà biết vy.

★★★

CHƯƠNG VI

BÀI TỤNG VỀ ƯU-TẤT-XOA (THIỀN)

Phàm định lon đôi đường nhưng ngun động tnh không hai, ngu tu trái no mà gc sáng ti chng khác. Bn mê theo ti phn sáng, b tnh cu động. Người ng trái động theo tnh, b ti cu sáng. Sáng sanh thì chuyn ngu thành tu, tnh lp thì dt lon thành định. Định lp là do trái động, tu sanh là do b ti.

Ti và động liên h trong lng phin não, tnh và sáng hướng v nơi vt biu l.

Vt không th làm ngu là do công ca tu, phin não không th làm lon là do công ca định.

Định tu li giúp cho s lng yên sáng sut, ngu lon buc nhau chn ti tăm, diêu động.

Động mà hay tnh tc là lon mà định; ti mà hay sáng tc là ngu mà tu vy.

Như thế, gc ca ti và động không khác, sáng và tnh do đây hp đạo.

Ngun ca ngu và lon chng khác, định và tu do đó đồng tông.

Tông đồng thì vô duyên t, định tu thì tch mà thường chiếu. Tch mà thường chiếu thì song d (c hai đều cho), vô duyên t thì song đot (c hai đều cướp). Song đot thì Ưu-tt-xoa (thin), song d thì T-bà (quán) và Xa-ma (ch). Vì Xa-ma-tha (ch) tuy tch mà thường chiếu, vì T-bà-xá-na (quán) tuy chiếu mà thường tch, vì Ưu-tt-xoa (thin) chng phi chiếu chng phi tch.

Vì chiếu mà thường tch nên nói tc mà tc chân, vì tch mà thường chiếu nên nói chân mà tc tc, chng phi tch chng phi chiếu nên ngm ming T-da.

Li na còn có mười môn quán tâm:

1/ Nói v pháp nhĩ.

2/ Nêu ra quán th.

3/ Nói v s tương ưng.

4/ Cnh tnh s thượng mn.

5/ Răn s biếng lười, xao lãng.

6/ Nêu li quán th.

7/ Nói v th phi.

8/ Chn la thuyên ch.

9/ Chm cnh thành quán.

10/ Khéo hp vi ngun huyn.

  1. Nói v pháp nhĩ: Lun v tâm tánh thì rng rang thông sut, ngun động tnh không hai, chân như tuyt l cùng nim duyên chp trước cũng chng khác. Hoc kiến lăng xăng, cùng tt ch là nht tch.

Ngun linh không hình, soi vào thì có thiên sai (ngàn th sai khác). Thiên sai chng đồng nên t lp ra cái tên Pháp nhãn. Nht tch không khác nên cái hiu Tu nhãn vn còn. C hai lý và lượng đều tiêu thì công năng Pht nhãn tròn đủ.

Vì vy tam đế nht cnh nên lý Pháp thân hng thanh tnh.

Tam trí nht tâm nên ánh Bát-nhã thường soi chiếu.

Cnh trí thm hp nên gii thoát tùy cơ, chng phi dc chng phi ngang mà đạo tròn đủ . . như ch y ( . ) gp g nhau mt cách nhim mu.

Cho nên biết diu tánh ca tam đức rõ ràng không trái, nht tâm sâu rng khó lường đâu có cái gì chng phi là đường gii thoát. Do đó, tc tâm là đạo, có th nói là ln theo dòng mà đến được ngun vy.

  1. Nêu ra quán th: Ch cn biết nht tâm tc không mà chng không, chng không mà chng phi chng không.
  2. Nói v s tương ưng: Tâm tương ưng vi Không thì khen chê đâu có mng lo. Thân tương ưng vi Không thì dao ct hay hương xoa cũng đâu có kh sướng. Y báo tương ưng vi Không thì thí cho hay cướp đot cũng đâu có được mt.

Tâm cùng “không mà chng không” tương ưng thì ái kiến đều quên, t bi cu khp tt c.

Thân cùng “không mà chng không” tương ưng thì bên trong đồng vi cây khô, bên ngoài hin đủ oai nghi.

Y báo cùng “không mà chng không” tương ưng thì vĩnh vin dt s tham cu mà đem tin ca giúp người.

Tâm cùng “không mà chng không, chng không mà chng phi chng không” tương ưng thì tht tướng mi t, m tri kiến Pht.

Thân cùng “không mà chng không, chng không mà chng phi chng không” tương ưng thì mt trn nhp chánh th, các trn tam-mui khi. Y báo cùng “không mà chng không, chng không mà chng phi chng không” tương ưng thì hóa sanh đài hương, lu báu, cõi nước trang nghiêm.

Cnh tnh s thượng mn: Nếu chưa được như trên thì chưa tương ưng.

Răn s biếng lười xao lãng: Như qua bin cn phi lên thuyn, không nh thuyn thì làm sao qua được. Tu tâm cn phi nhp quán, chng có quán thì ly gì để minh tâm. Tâm còn chưa minh thì ngày nào tương ưng. Hãy nên suy xét k, ch nên t th.

Nêu li quán th: Ch biết nht nim tc không bt không, phi hu phi vô. Chng biết tc nim tc không bt không, phi phi hu phi phi vô.

Nói v th phi: Tâm chng phi hu, tâm chng phi vô, tâm chng phi phi hu, tâm chng phi phi vô. Là hu là vô tc là sa vào th, phi hu phi vô tc là rơi vào phi. Như vy, ch là cái phi (sai) ca th và phi, chưa phi là cái th (phi) ca phi th và phi phi. Nay dùng hai cái phi để phá hai cái th, th phá phi th vn còn là phi. Li dùng hai cái phi để phá hai cái phi, phi phá phi phi tc là th. Như vy, ch là cái th ca phi th và phi phi, chưa phi là bt phi bt bt phi, bt th bt bt th. Cái lm v th phi nh nhim rt khó thy, phi để tinh thn sáng sut, tư l lng yên hu nghiên cu k lưỡng.

  1. Chn la thuyên ch: Nhưng mà chí lý thì không li, mượn văn ngôn để nói v ý ch ca lý. Ý ch và tông thú chng phi là quán, nh tu quán để hi được tông thú. Nếu ý ch chưa minh thì li chưa đúng; nếu tông thú chưa hi thì quán chưa sâu.

Quán sâu mi hi được tông thú, li đúng mi rõ được ý ch. Ý ch và tông thú đã hiu rõ ri thì li nói và quán đâu còn tn ti na.

Chm cnh thành quán: Phàm din li ngôn t, nêu li quán th là mun nói v tông thú và ý ch không khác. Li nói và quán tùy nơi mà di đổi. Đổi li thì ngôn và lý không sai, đổi quán thì quán và ý ch không khác. Ý ch không khác tc là lý, lý không sai tc là tông. Tông thú và ý ch là mt nhưng hai tên, mà li nói và quán là phương tin dn dt.

Khéo hp vi ngun huyn: Phàm người ng tâm đâu chp quán mà mê ý ch, người đạt giáo há tr li mà lm lý. Lý t thì đường ngôn ng dt, li nào có th nói bàn. Ý ch hi thì ch tâm hành dit, quán nào có th nghĩ ngi. Tâm ngôn chng th nghĩ bàn, tht đáng là “diu khế hoàn trung” vy.

★★★

CHƯƠNG VII

CẤP BẬC LẦN LƯỢT CỦA BA THỪA

Phàm đại đạo mu nhim thì vi tế sâu xa, lý bt s biu hin ca danh tướng. Chí chân rng rang vng lng, lượng vượt ra ngoài các s, mà có th khi lòng t vô duyên tùy cơ cm ng. Ch thú bt nh tùy theo căn tánh để phân chia. Thun vt quên mình nên làm mà không làm, sut ngày dy bo mà chng khác gì không nói, lp giáo nhiu đường mà chng trái mt đạo. Vì vy, Đại thánh t bi ng cơ li vt, gom v ch sâu kín thì muôn kinh chng khác. Hàng trung h quán T đế, Thp nh nhân duyên mà t thành tiu, bc cao thượng tu Lc độ mà thành đại.

Do đó, hng ngu mê không th t hiu, hoc nhân nghe nói mà ng gii nên hiu là Thanh văn, nguyên vì ch tu ly T đế làm bn hnh. Quán vô thường mà sanh s, nghĩ không tch để cu an, s luân hi trong lc đạo, ghét sanh t ca tam gii. Thy kh thường ôm lòng chán lìa, dt tp hng s nó sanh, chng dit riêng khế hp vi vô vi, tu đạo ch lun đến t độ. Tâm đại th chưa khp, đạo nhiếp hóa không thc hành. Lc hòa kính([2]) rng không, lòng thương ba cõi chng vn dng, nhân trái vn hnh, qu thiếu viên thường, lc độ chưa tu, chng phi Tiu tha thì là gì? Đó là đạo Thanh văn vy.

Hoc có người chng nhân người khác nói mà t ng vô thường, ngu nhiên duyên tán mà th hi được chân lý nên gi đó là Duyên giác. Nguyên ch tu tp ca các ngài ly thp nh nhân duyên làm bn hnh. Quán vô minh mà tc không, đạt các hành mà vô tác. Hai nhân[3] đã chng phi nghip thì năm qu[4] đâu còn báo. Ái th hu không còn t vết thì lão t cũng đâu còn ràng buc, nên có th tc thì mt mình gii thoát.

yên ch vng v yên lng quán vn vt biến hóa mà ng lý vô thường, thy thu tàn mà vào chân đạo. Bn oai nghi nghiêm ngh, nhiếp tâm l để an vui, tánh thích mt mình, ưa nghĩ ngơi nơi rng vng. Chng ưa thuyết pháp, ch hin sc thn thông để hóa độ người. Vào lúc không có Pht xut thế, các ngài làm ngn la tiếp ni Pht đăng.

Thân ch ưa vng lng, ý thích trong sch rng rang, mt mình trên đỉnh núi hoang liêu quán các duyên tan mt. Chng làm li ích khp cho mi người, t li cũng chưa viên mãn. Đối vi bc h thì có phn hơn, còn so vi bc thượng thì chưa đủ, c hai đều chng phi phm loi ca các ngài, mà địa v Trung tha, đấy là đạo Bích-chi Pht vy.

Như người căn tánh vn sáng, công đức cha nhóm nhiu đời, hc chng bác thip mà vn t sanh được s hiu biết. Tâm không duyên bt c ch nào mà hay li vt; t bi rt ln, chng b ái kiến câu thúc, sut ngày cu độ chúng sanh chng thy có chúng sanh được độ. Nht và d đều đồng diu ch, gii và hoc đồng ngun, nhân và pháp đều không, cho nên gi là B-tát.

Nguyên vì hnh tu ca các ngài ly lc độ làm chánh nhân. Thc hành b thí thì b thân hết ca; trì gii thì kiết-la (gii nh) cũng không phm; nhn nhc thì thu rõ vô ngã, ct thân nào hi gì, an nhn s khen chê bát phong chng động; tinh tn thì siêng năng cu pháp chí đạo như cu la cháy đầu, s tu hành và giáo hóa người trong khong sát-na cũng không gián đon; thin-na thì thân tâm yên lng, an-ban[5] vi tế, trong tch định để t nuôi thân, dùng bn oai nghi để li vt; trí tu thì rõ biết duyên khi t tánh vô sanh, muôn pháp đều Như, ngun tâm vng lng.

Tuy biết phin não không th x b, Bđề không th nm ly mà có th chng chng vô vi, độ chúng sanh trong nhiu kiếp, rng tu vn hnh, bình đẳng quan sát các loài, dưới đến T đế, Thp nh nhân duyên, trên gm c pháp Bt cng. Tâm đại th trùm khp, đạo T nhiếp gm thâu, ly ba cõi làm nhà, bn loài sanh làm con. Vn dng hai th bi trí, hai th phước tu trang nghiêm siêu vit Nh tha, riêng bc thượng, đó là đạo Đại tha vy.

Vì vy, lý nht chân theo căn tánh mà có th bc sai khác, được s li ích tùy cơ nên nói đủ c ba tha. Nhưng mà chí lý hư huyn cùng tn đến ch vi diu thì mt còn chng có, hung là nói đến ba. Ba mà chng ba nên nói là ba, mt mà chng mt nên nói là mt. Chng phi ba mà mt, ba còn chng ba thì mt mà ba, mt cũng đâu có mt. Mt chng mt t chng phi ba, ba chng ba t chng phi mt. Chng phi mt, mt chng phi thì ba không còn. Chng phi ba, ba chng phi thì mt chng lp. Mt chng lp vn chng phi ba, ba không còn vn không có mt. Mt ba vn không, cái không này cũng không, cái không không đó không có gc nên diu tuyt. Như vy thì mt đâu b phân, ba đâu được hp, hp phân là t nơi người vy, lý nào có khác vi li ư! Ví như có ba con thú qua sông, con sông vn mt, đâu có vì ba con thú mà hp. Li đâu riêng gì con sông chng phi vì thú mà hp, mà thú cũng chng phi do sông mà phân. Sông còn chng thành ba con sông, đâu được ly sông để hp ba con thú. Thú còn chng thành mt con thú, há được ly thú mà thành sông. Sông chng phi thú nên đâu th ba, thú chng phi sông nên đâu th mt. Ch mt con sông bao c ba con thú mà sông chưa tng ba, ba con thú qua mt con sông mà thú chưa tng mt. Thú chng phi mt con để biết chân ca chúng có ngn dài, sông chng phi ba để rõ nước kia không có sâu cn. Nước không có sâu cn ví như pháp không có sai khác, chân có dài ngn là d cho trí ca mi bc có sáng ti khác nhau. Như vy pháp vn không có ba mà người t có ba hng vy.

Nay đây đim khi đầu ca ba tha thì T đế được nêu lên trước hết. Pháp vn đã không có sai khác, thì T đế cũng đâu chng phi Đại, mà nói rng hàng Thanh văn quán nó địa v li bc Tiu. Thế mi biết T đế t như sông, người ví như thú. Hàng Thanh văn kém nht d như th tuy li qua sông mà chân không đến đáy, nên chưa có th biết được ch sâu tt, địa v các ngài còn bc thp, đâu phi tt c nhng người quán T đế đều thành Tiu. Như người trí chiếu cao minh, lượng bng voi ln thì có th đến cùng ngun tn mé, hin nhiên thành Đại. Cho nên biết k h trí quán thì được qu Thanh văn, người trung trí quán thì được qu Duyên giác, bc thượng trí quán thì được qu B-tát. Biết tông rõ ràng há cho toan tính ư!

Vì thế Thanh văn thy kh mà dt tp, Duyên giác ng tp tan rã mà quán ly, B-tát thu rõ ngun chân biết tp vn không hòa hp. Ba người cùng quán T đế nhưng chng qu có khác nhau, bi do quán có cn sâu, đối chiếu hn có cao thp.

Vì vy, H tha tu bc h, chưa tu điu ca bc trung và thượng, Thượng tha tu bc thượng mà gm tu c trung h. Bc Trung tu trung h, chng tu được bc thượng. Thượng trung h do người, chng phi T đế khiến người có Đại, Tiu.

Nhưng ba tha dù khác mà cùng đồng mt đim trng yếu là thoát kh.

Thanh văn tuy Tiu, hoc ái kiến đã tr nên đối vi ba cõi không còn lo âu, thân phn đon dit vy.

Ba minh[6] chiếu sáng t tường nên vic trong tám vn kiếp hin tin, sáu thông[7] mc ý vô vi nên có th đi xuyên qua vách núi. Có lúc đi đứng trên không hoc an nhiên ngi nm, đi trên nước nh như lông hng, bước trên đất như đi trên nước, công năng cu định đầy đủ, mười tám th biến hóa tùy tâm.

Nhưng trong ba tng nói Pht là nhìn trên địa v sáu căn thanh tnh, nên có bng có kém, ch bng là cùng tr t tr[8], nếu hàng phc vô minh, ba tng là kém, Pht còn là kém, Nh tha khá biết.

Nhìn lên đon và phc tuy khác, dưới có s cách bit ng và mê. Như vy, Nh tha có li gì mà chng mun tu!

Đức Như Lai vì đối vi hàng đại căn mun dn h v bo s, khiến tu chng trí đồng khế hp . . vi ch y ( . ) viên mãn, đương thi hoc có khen hay chê, đề cao hay h thp.

Hng phàm phu chng biết, ri li s b qu, nhưng h đâu biết mình ái kiến hãy còn nên còn cách hàng Nh tha xa lm.

Tuy cũng nói đến tu đạo nhưng các hoc s chưa b, chng nhng thân và ming chưa đoan chánh cũng là do tâm sim khúc. Kiến sanh t nơi ý nên gii trái vi chân thuyên, chng y theo Thánh giáo, chưa tng hc hi bc minh sư.

Căn duyên chng phi ch huân tp t đời trước, kiến gii chưa d vào hàng sanh tri, mà có kh năng thế trí bin thông đàm lun sut ngày, có lúc ly li trong kinh b cong theo cái hiu ca mình, luông tung nói by để di k ngu, bài bác nhân qu ti phước. Thun tình tha thích sanh yêu, nghch ý bc bi ôm gin, hình trng ca ba th còn nguyên mà t xưng địa v đồng hàng B-tát. Các li đã trình bày chương đầu chưa dt thì chúng hãy còn trói buc người. Pháp Đại tha chưa tu mà dám chê bc Tiu hc, nói cho sướng mm mt lúc, cái ha chê bai đành rành, ba đường kh luân chu báo nhiu kiếp. Ôi! Tht đáng thương thay! Nói đến lòng thêm chua xót.

Nhưng mà người đạt tánh đối cnh càng thêm soi chiếu, bc quên tâm cùng vi điu thin chng có bn lòng, hung chi li lm sái quy ca ba nghip đâu để trong tâm mt đim trn.

Vì vy bc đã soi thy đạo huyn thì ba th đã sch ngun tâm, hàng ty uế đã to tr by chi ca thân ming.

Đối vi loi vô tình thì không phm ht bi chiếc lá, đối vi loài hu thc thì không phin đến b đến sâu, khe sâu chưa đủ trong để sánh vi các ngài, tuyết bay chng đủ sch để so vi các bc y.

Mến đức như chim tung cánh mun bay cao tt đến trăng sao, b ác như cá s câu ln sâu tn đáy sông đáy bin.

Ánh sáng huyn diu ca mt tri cũng h vi s chiếu xa ca trí, thượng gii thn cùng ba cõi duyên tiêu.

Cnh trí hp để rng không tròn đầy, định tu quân bình để ngang nhau mt cách mu nhim.

Rung dâu du đổi nhưng tâm vn không di, núi bin có di nhưng chí vn không đổi, mà có th ch huyên náo ngưng thn soi chiếu, ngun tâm sáng sch tu gii vô cùng.

Quán pháp tánh để được chân như, xem li Pht để y theo liu nghĩa. Như vy, trong nht nim pháp môn nào chng đủ.

Bng như người diu tu chưa bày, tâm không chun đích, gii chng hp lý, hnh thiếu siêu trn, trái pháp tánh mà thun phàm tình, b viên thuyên mà chp quyn thuyết. Thế nên theo th lp tùy cơ, đối căn mà lp giáo.

Chương này ch nói đến ging mi, còn nhng chi tiết khác b qua chưa bàn đến. Đường li tông môn có cn có sâu, nay ch nói sơ lược v ch thú ca nó, cái hc ca ba tha có nh hưởng là cho biết được phn v ca nó vy.

★★★

CHƯƠNG VIII

SỰ LÝ KHÔNG HAI

Phàm diu ng thông đường thì núi sông chng lp, mê danh tr tướng thì my lông cũng thành cách ngăn.

Nhưng bn nguyên ca vn pháp t nơi tht tướng mà ra, trn sa hoc đến ngun là chân tông.

Cho nên vn tượng không b, Bát-nhã không bến, vì pháp tánh y vn chân, liu đạt thành trí.

Ví như người đi biết đường thì muôn dm có th hy vng đến nơi. Như người chm vt, thông ngòi[9] thì sut ngày b giam trong gii hn, vì h chng biết vt có cái b vô hình, ngòi có cái mé rng không cùng tt.

Vì vy, hc Trung đạo mi hy vng được tht tướng, như người chp hu tr vô thì rt cuc quy v biên kiến, vì h chng biết cái tướng có, có chng phi có, cái tht không có, chng phi không.

Nay đây sc tượng lăng xăng, xét đến cùng thì nó chng phi tướng, âm thanh gm thét xem cho k thì không có tiếng. Mê thì nói là có hình có tiếng, ng thì biết là vng lng.

Như vy thì chân đế chng trái vi s lý, tc th ca s lý vn là chân; diu trí chng khác vi liu tri, tc tánh ca liu tri vn là trí.

Nhưng mà diu ch bt li nh văn ngôn thuyên ch; chân tông chng phi tướng, mượn danh tướng để nêu tông. Như voi chng phi là núi Tuyết mà mượn núi Tuyết để ví cho voi[10]. Đây là ly cái có th so sánh vi nó, há cho rng núi Tuyết là voi được ư?

Nay đây pháp chng phi thường mà chp là hu, nên nh phi hu để phá thường. Tánh chng phi đon mà chp là vô, nên dùng phi vô để phá đon. Cũng như sch s chng phi là nước tro mà nh nước tro nên ra sch, đây là ly cái công năng hay ra, há ly nước tro mà làm sch ư?

Do đó biết Trung đạo chng thiên, nh nh biên mà bin chánh, đon thường chng phi, da vào vô và hu để rõ ch sai.

Hoc hu hoc vô nói đã sai, chng phi hu chng phi vô cũng đâu là phi.

Tin biết người diu đạt ngun huyn chng phi hng thường tình có th lường được. Vì sao? Phàm vng chng phi do ngu sanh, chân chng phi do trí được, đạt vng gi là chân, mê chân gi là vng, há có vng tùy theo ngu biến, chân theo trí tr v, chân vng chng sai, ngu trí t khác.

H mun thu t huyn tông trước tiên cn phi xét k v ngu trí.

Nếu mun xét k v ngu trí phi khéo rõ biết v chân vng. Nếu mun rõ biết v chân vng li cn phi nghiên cu đến danh th, danh th nếu phân thì chân vng t bin. Chân vng đã bin thì ngu trí rõ ràng.

Vì vy, k ngu không có kh năng liu trí, người trí có tht cht đạt ngu. Nên biết chng phi trí thì không do đâu để rõ chân vng, chng phi trí thì đâu th phân bit danh th.

Vì sao? Hoc có danh mà không th, hoc nhân th mà lp danh, danh th xen ln tht khó nghiên cu đến cùng được. Thế nên, th chng phi danh thì chng bin, danh chng phi th thì chng lp. Nói th cn phi nh đến danh, nói danh cn phi da vào th.

Nay đây ngoài th lp danh, đó ch là danh mà không th, há có cái th thích ng vi danh ư? Ví như th không có sng mà đặt ra danh t sng th, đây là có tên gi mà tht không sng, há có sng để thích ng vi tên ư?

Không có th mà lp danh thì danh không tht danh, danh không tht danh thì cái được gi tên (s danh) là không vy. Cái được gi tên (s danh) đã không thì cái hay gi (năng danh) cũng không. Vì sao? Vì đặt danh để gi cái th ca nó, không có th thì ly gì để thích ng vi danh. Nói th là th ct để thích ng vi danh, không danh ly gì để thích ng vi th, th không thích ng thì không phi th, danh không danh thì chng phi danh. Vy thì đâu riêng gì th mi nguyên hư mà danh cũng là bn tch, nhưng mà không có th thích ng vi danh do li như thế. Danh th thích ng thì gi là gì?

Phàm th thì chng t có danh, mượn cái danh khác để gi ngã th, danh chng phi t thành lp mà nh cái th khác để đặt ngã danh. Nếu th chưa có hình thì danh đâu được gi. Nếu danh chưa lp thì th đâu được rõ. Nhưng rõ được th tuy nh danh, chng phi vì không có danh mà không có th. Lp danh vn cn phi do th, không th thì danh đó vn không. Như vy, th chng phi do danh sanh mà danh sanh nơi th vy. Nay đây th trước danh, danh theo sau th để phân bit. Như thế thì lp danh để gi tên cái th, cho nên biết th là ngun ca danh thì nguyên do ca danh là duyên khi t nơi th.

Vy đầu mi ca th y c vào đâu?

Phàm th thì chng có hình dng ca ngã, nh duyên hi hp mà thành th. Duyên chng phi t ngã hi, nhân hi th mà thành duyên. Nếu th chưa có hình thì duyên hi ch nào? Nếu duyên chưa hi thì th thành hình nơi đâu?

Th thành hình là duyên hi để thành hình, duyên hi là th thành hình để mà hi. Th thành hình mà hi thì rõ hình không riêng hi, hình không riêng hi thì hi vn không vy.

Duyên hi mà thành hình thì biết hi không có riêng hình, hi không có riêng hình thì hình vn không vy. Do đó, vn pháp t duyên sanh không t th. Không t th nên gi là tánh không.

Tánh đã không tuy duyên hi mà chng phi có, duyên đã hi tuy tánh không mà chng phi không. Vì vy, có ca duyên hi, có mà chng phi có. Không ca tánh không, không mà chng phi không. Vì sao? Hi tc tánh không, nên nói chng phi có; không tc duyên hi nên gi chng phi không.

Nay nói chng phi có chng phi không, chng phi ngoài cái có riêng có mt cái không, cũng chng phi lìa cái không riêng có mt cái có.

Như vy thì rõ pháp chng phi có không, nên ly tên là chng phi có chng phi không. Chng nhng chng phi có chng phi không, đã chng phi có không, li chng phi chng có chng phi chng không. Như vy, đâu riêng gì đường ngôn ng dt mà cũng là ch tâm hành dit vy.

★★★

CHƯƠNG IX

THƯ KHUYÊN BẠN HỮU

Thư mi Đại sư v núi ca thin sư Huyn Lãng núi Tá Khê, huyn Ph Dương, V Châu.

T bui đến Linh Khê, tâm ý thnh thơi, thường chng gy rong chơi trên đỉnh non cao thp, phi sch tht đá hang núi ngi yên. Trông ra muôn dm tùng xanh h biếc, trăng sáng t sanh gió đùa mây trng. Hoa đẹp c thơm chim rng tha ngm, xa gn đều nghe vượn hú tng hi, ly cuc gi đầu, c êm làm nm. Đường đời lao xao tranh giành nhân ngã, tâm địa chưa đạt nên mi như thế.

Như có thì gi, mong được gp nhau.

Thư đáp ca đại sư Huyn Giác.

T lúc t bit đến nay đã my năm trường, trong lòng đau đáu nh nhung, bng nhn được thư ca bn tht tha lòng mong đợi. Sao lá thư chng thy nói đến đạo th như thế nào, nhưng pháp v nuôi dưỡng tinh thn cho nên chc được tnh lc.

Huyn Giác tôi t lâu khâm phc đức âm, chng phi dùng li có th thut được. Gìn lòng tiết tháo, mt mình nơi vng v bt du con người, n mình trong hang núi, bn thân không ti lui, ch có chim thú qua li, sut đêm miên miên, c ngày lng lng, thy nghe đều dt, tâm tht vng lng. Mt mình trên đỉnh núi, dưới ci cây, lánh s đông đúc, hưởng thc ăn đạo, tht hp vi bn.

Nhưng mà chánh đạo tch liêu, tuy có tu mà khó hi, bn tà huyên náo không tp mà d thân. Nếu chưa phi bc gii khế huyn tông, hnh hp vi chân thú thì chưa nên nơi vng v, ôm p s vng v sut mt đời mình.

Phi nên rng hi bc tiên tri, thành khn khâm phc chp tay qu gi, chnh ý đoan dung, ngày đêm quên nhc, trước sau hết lòng ngưỡng m, khc phc thân ming, tr sch biếng lười cng cao, chng qun hình hài, chuyên tinh chí đạo, mi có th gi là lóng thn nơi vuông tc(11). Phàm mun đạt lý diu huyn chng phi là d, kế đến quyết trch như đi trên băng mng, cn phi nghiêng tai để mt mà vâng theo huyn ch. Thu thúc tình trn để thưởng thc ch kín đáo sâu xa, quên li mà vui vi yếu ch, ra sch ly phin để ăn v đạo mu, đêm lo lng, ngày hi han chng lm tóc tơ, được như thế thì mi có th giu mình trong hang núi, lng lòng lo toan, không tiếp xúc vi mi người.

Hoc có người tâm chưa thông, thy vt thành b ngăn ngi, mun tránh nơi huyên náo, cu ch yên lng thì sut c đời cũng chưa được yên. Hung h rng xanh bát ngát núi đá chp chùng, thú gm chim hót, tùng trúc um tùm, đá nước chênh vênh, ngn gió rung cây, bìm sn vương vn, mây mù hòa hp, vn vt héo tàn tươi tt theo tiết tri, sm chiu b nhng th y làm hoa mt, há chng phi là huyên náo rn ràng ư?

Cho nên biết h kiến hoc còn vương vít thì chm vào đâu cũng thành vướng mc. Do đó, trước cn phi biết đạo ri sau mi núi.

Nếu người chưa biết đạo mà núi trước thì ch thy núi t quên đạo. Nếu người chưa núi mà trước đã biết đạo thì ch thy đạo quên núi. Quên núi thì đạo tánh làm vui v tinh thn, quên đạo thì b núi non làm hoa mt.

Do đó, người thy đạo quên núi chn nhân gian vn lng, người thy núi quên đạo trong núi cũng n ào.

Cn phi rõ m vô ngã, vô ngã thì ai nhân gian? Nếu biết m nhp[11] như hư không thì xóm làng s hoang vng có khác gì hang núi. Như người ba độc chưa b, sáu trn còn nhiu lon, thân tâm t mâu thun thì có quan hđến s huyên náo hay yên lng ca nhân gian hay hang núi đâu!

V li, đạo tánh chan hòa cùng khp như hư không, vn vt vn chng h ly, lòng chân t bình đẳng thì thanh sc nào chng phi đạo ư? Do vì kiến đảo hoc sanh bèn thành luân chuyn vy.

Nếu như biết rõ cnh chng phi có thì trước mt không gì chng phi là đạo tràng. Biết rõ vn không, do đó chng duyên mà chiếu, viên dung pháp gii gii và hoc nào khác, ly hàm linh để bin lòng bi, dt tưởng nim để mà rõ trí.

Trí sanh thì pháp s viên chiếu, lìa cnh ly gì quán bi? Bi trí lý hp gm thâu, trái chúng sanh thì ly gì làm năng độ?

Lòng bi rng ln độ hết chúng sanh, chiếu tt cùng cnh để trí viên mãn. Trí viên mãn thì lng yên hay huyên náo đồng xem như nhau, lòng bi rng ln thì oán thân đều cu c.

Như vy, đâu cn lâu trong hang núi mà theo ch tùy duyên. Hung chi pháp pháp rng rang dung hp, tâm tâm tch dit vn t chng phi có, ai gượng gi là không thì có s huyên náo gì đáng gi là huyên náo, có s yên lng nào đáng gi là yên lng.

Nếu biết vt và ngã hp nht thì kia đây chng gì không phi là đạo tràng, đâu còn thun theo s huyên náo ca nhân gian hay nhàn ri nơi hang núi.

Do đó, b động cu tnh là gông ghét cùm yêu, lìa oán cu thân là cũi chán lng ưa.

Nếu có th lng l nơi huyên náo thì ch búa không đâu chng phi là ch ngi yên.

Cu ch li lm, nhn lãnh li dy, oan trái do t thin hu. Như vy cướp đot hay hy nhc đâu tng chng phi bn sư ta, kêu la huyên náo không có gì chng phi tch dit.

Cho nên biết diu đạo không có hình mà vn tượng chng trái vi nó; chân như tch dit, các âm vang chng khác vi tiếng. Mê thì kiến đảo hoc sanh, ng thì không có trái thun. Vng lng chng phi có, duyên hi thì sanh, núi Nga Nghi[12] chng phi không, do duyên tan mà có th dit, dit đã chng phi dit, ly gì để dit cái dit; sanh đã chng phi sanh, ly gì để sanh cái sanh. Sanh dit đã không thì tht tướng thường tr.

Vì vy, nước định mênh mông nim trn nào chng b ty sch, đèn trí sáng ngi hoc nào không b tr kh. Trái đó thì sáu no tun hoàn, hi đó thì ba đường ra khi. Như vy sao chng đi thuyn tu rong chơi trên bin pháp, mà li mun đi xe gãy trc vào hang núi ư!

Cho nên biết vt loi lăng xăng, nhưng tánh chúng t là mt, ngun linh lng lng chng chiếu mà biết.

Tht tướng thiên chân, linh trí chng phi to, đối vi người mê thì gi là mt, đối vi người ng thì gi là được. Được mt ti người, đâu có quan hđến động tnh, ví như người chưa biết đi thuyn mà mun oán ghét dòng nước quanh co kia ư!

Nếu có th khéo biết huyn tông, tâm rng rang thm khế hp, động tnh nói nín luôn là quy c, lng l có ch quy v, đim nhiên không gián cách. Như vy mi có th tiêu dao nơi hang núi, phóng khoáng chn thôn trang, thong th hình nghi, vng lng tâm ph, đim đạm bên trong, thâm trm bên ngoài.

Vi thân thì như b câu thúc mà tâm thì t ti thong dong, hin hình dung chn hoàn vũ, giu u linh nơi pháp gii. Như vy thì ng cơ có cm, thích nghi, không tiêu chun nht định.

Thư viết sơ lược, ngoài ra làm sao trình bày cho hết được, nếu chng phi bn đồng chí, đâu dám xúc phm, lúc rnh ngi yên xin tm suy nghĩ. Nếu tôi nói di hay sai thì xem xong ri c đốt.

Đồng bn Huyn Giác

Kính bái

★★★

CHƯƠNG X

VĂN PHÁT NGUYỆN

Cúi ly viên mãn biến tri giác,

Tch tnh bình đẳng bn chân nguyên,

Tướng tt trang nghiêm phi hu vô,

Tu sáng soi khp vi trn sát.

Cúi lạy trạm nhiên chân diệu giác,

Mười hai phần giáo rất sâu xa,

Phi văn, phi t, phi ngôn thuyên,

Mt âm tùy loi đều hiu rõ.

Cúi lạy thanh tịnh chư hiền thánh,

Mười phương hòa hợp thật chân tăng,

Gi gìn gii cm không trái phm,

Cm tích ôm bình li hàm linh.

Noãn sanh, thai sanh và thấp hóa,

Hữu sắc, vô sắc, tưởng, phi tưởng,

Phi hữu phi vô tưởng, tạp loại,

Sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng.

Nay con đảnh lễ quy Tam bảo,

Vì khắp chúng sanh phát đạo tâm,

Quần sanh trầm luân trong biển khổ,

Nguyện nhờ từ lực Phật Pháp Tăng.

Từ bi phương tiện trừ các khổ,

Chẳng bỏ nguyện rộng cứu hàm thức,

Hóa lực tự tại độ vô cùng,

Hằng sa chúng sanh thành Chánh giác.

Nói k này xong, con li đảnh l quy y trước mười phương ba đời tt c chư Pht Pháp Tăng, cho con được nương nh sc Tam bo chí tâm phát nguyn tu Vô thượng Bđề, k t nay cho đến khi thành Chánh giác, khong gia quyết định cn cu không h lui st. Khi chưa đắc đạo, thân không tt bnh, th không yu mng, đến lúc lâm chung chng thy tướng ác, không s lo s, chng sanh điên đảo, thân không đau kh, tâm chng tán lon, chánh tu t tường, chng qua trung m, chng vào địa ngc, súc sanh, ng qu, thy lc không hành, thiên ma ngoi đạo, u minh qu thn, các th tp hình thy đều chng th.

Thường được thân người thông minh chánh trc, không sanh vào nước ác, chng gp vua d, chng sanh biên địa, chng b nghèo kh, tôi trai t gái, thân hình người n, hunh môn hai căn, tóc vàng răng đen, ngu si tăm ti, xu xí tt nguyn, đui mù câm điếc, h là các điu đáng chán thy đều chng sanh.

Sanh trung quc, trong nhà chánh tín, thường được thân nam, sáu căn đầy đủ, đoan chánh thơm tho, không các dơ uế, ý chí hòa nhã, thân an tâm tnh, không tham sân si, ba độc dt hn, chng to điu ác, hng nghĩ vic lành. Chng làm vương thn, không làm s gi, không nguyn giàu sang, sng an cnh nghèo, ít mun biết đủ, chng tham ct cha, cơm áo nuôi thân, chng trm ca người, chng giết chúng sanh, chng ăn tht cá, yêu kính hàm thc như mình không khác.

Tánh hnh du dàng, chng vch li người, chng ca ngi mình, chng tranh cùng người, oán thân bình đẳng, chng khi phân bit, chng sanh yêu ghét, chng mun ca người, ca mình chng tiếc, chng thích xâm phm, lòng luôn ngay thng, tâm không hung bo, thường ưa nhún nhường, ming không nói ác, tâm không dua di, ba nghip trong sch, ch an n, không các chướng nn.

Trm cp gic cướp, pháp vua tù ngc, gông cùm xing xích, đao thương tên giáo, thú d độc trùng, té núi té sông, la cháy gió cun, sm sét hãi hùng, cây gãy núi l, rui mc nhà sp, gic giã đáng s, đến gn vây quanh, bt b trói buc, vu oan hy báng, ngang ngược câu thúc, phàm các tai nn thy đều chng th.

Ác qu tai bay, thiên hành độc l, tà ma vng lượng bin sông, non cao núi ln, các thn cây h có linh thiêng hoc nghe tên tôi hoc thy hình tôi phát tâm Bđề, che ch cho nhau, chng não hi nhau, ngày đêm an n, không s kinh s.

Bn đại mnh khe, sáu căn thanh tnh, chng nhim sáu trn, tâm không lon tưởng cũng không hôn trm, chng sanh đon kiến, chng chp có không, xa lìa các tướng, phng th đức Pht. Chng theo kiến chp, gii ng rõ ràng, đời đời tu tp chánh tu kiên c, chng b ma nhiếp. Đến lúc mng chung an nhiên vui sướng, b thân th thân, không có oán đối, tt c chúng sanh đồng làm bn tt. Sanh ra ch nào gp Pht nghe pháp, u niên xut gia, làm tăng hòa hp, thân luôn mc áo ca-sa, thường ăn thc đựng trong bát, đạo tâm kiên c, chng sanh kiêu mn. Kính trng Tam bo, thường tu phm hnh, gn gũi minh sư, theo thin tri thc, tin sâu chánh pháp, siêng hành lc độ, đọc tng Đại tha, hành đạo l bái. Hoa thơm qu ngt, âm thanh tán tng, đèn đuc đền đài, non bin sui rng, trên không dưới đất ca thế gian này t ht bi nh đều đem cúng dường, gom góp công đức hi hướng Bđề. Suy tư liu nghĩa, ch ưa nhàn tnh, thanh tnh lng yên, chng thích huyên náo, chng ưa đông, thường sng mt mình, tt c không cu, chuyên tâm định tu, sáu thông đầy đủ, hóa độ chúng sanh tùy theo ý nguyn t ti vô ngi, vn hnh thành tu tinh diu vô cùng, chánh trc viên minh, chí thành Pht đạo.

Nguyn đem thin căn này chan ri khp mười phương, trên tt Hu đảnh, dưới đến phong luân, trên tri trong người, thân trong sáu đường ca tt c hàm thc, tôi có công đức nào nguyn thí cho tt c chúng sanh, tn vi trn kiếp chng b mt chúng sanh nào, tôi có bao nhiêu thin căn đều xông ướp cho tt c. Kh não trong địa ngc, nam-mô Pht Pháp Tăng, xưng danh Pht Pháp Tăng, nguyn đều được gii thoát. Kh não trong ng qu, nam-mô Pht Pháp Tăng, xưng danh Pht Pháp Tăng, nguyn đều được gii thoát. Kh não trong súc sanh, nam-mô Pht Pháp Tăng, xưng danh Pht Pháp Tăng, nguyn đều được gii thoát. Thiên nhân a-tu-la, hng hà sa loài hàm thc, tám kh thường thiêu đốt, nam-mô Pht Pháp Tăng, do thin căn ca tôi đều thoát khi ràng buc.

Nam-mô Tam thế Pht,

Nam-mô Tu-đa-la,

B-tát, Thanh văn Tăng,

Thánh chúng như vi trn.

Chng b lòng t bi,

Nhiếp th loài qun sanh,

Hàm thc khp hư không,

Quy y Pht Pháp Tăng.

Lìa kh thoát tam đồ,

Mau được siêu tam gii,

Đều phát tâm Bđề,

Ngày đêm hành Bát-nhã.

Đời đời siêng tinh tn,

Như cu la cháy đầu,

Lúc đắc đạo Bđề,

Th nguyn độ tt c.

Tôi hành đạo l bái,

Tôi tng kinh nim Pht,

Tôi tu gii định tu,

Nam-mô Pht Pháp Tăng.

Nguyn khp các chúng sanh,

Thy đều thành Pht đạo,

Tôi cùng các hàm thc,

Kiên c cu Bđề.

Đảnh l Pht Pháp Tăng,

Nguyn sm thành Chánh giác.

—–

[1] Bốn nghi là đi, đứng, nằm, ngồi.

[2] Lục hòa kính:

  1. Đồng giới hòa kính
  2. Đồng hạnh hòa kính
  3. Đồng kiến hòa kính
  4. Thân từ hòa kính
  5. Khẩu từ hòa kính
  6. Ý từ hòa kính

[3] Hai nhân: vô minh và hành.

[4] Năm quả: thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ.

[5] An-ban: Pháp sổ tức.

[6] Ba minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh.

[7] Sáu thông: Thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông, tha tâm thông,     thần túc thông, lậu tận thông.

[8] Tứ trụ: Kiến nhất thiết trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa.

[9] Chạm vật là dụ cho trệ hữu, thông ngòi dụ cho trệ vô.

[10] Voi trắng như núi Tuyết.

[11] Ấm: Năm ấm. Nhập: Mười hai nhập.

[12] Ngọn núi Cửu Nghi.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.
Index