Hôm nay là buổi nói chuyện cuối tại hội Khoa học Kỹ thuật, tôi sẽ nói tiếp đề tài thứ ba là Thiền học Việt Nam hay Thiền của Phật giáo Việt Nam.
Nhắc đến Phật giáo, điều đầu tiên chúng ta phải hiểu đó là Phật giáo không phải chỉ riêng của một quốc gia hay một dân tộc nào, mà Phật giáo là chung của cả nhân loại. Phật giáo đã không phân biệt chủng tộc hoặc màu da, nhưng tại sao tôi lại nói riêng về Thiền học Việt Nam hay Thiền của Phật giáo Việt Nam? Nói thế thì thiền này không phải là từ đức Phật ở Ấn Độ truyền sang hay sao?
Phật giáo không cố chấp vào một hình thức nhất định nào, đặc điểm này được thể hiện qua câu nói: “Tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên.” Tùy duyên là không chấp cứng, không cố giữ nguyên vẹn một hình thức từ xưa tới nay. Vì thế đạo Phật tới đâu thì tùy theo căn cơ trình độ của người dân địa phương xứ ấy, rồi khéo linh động uyển chuyển nhằm đem giáo pháp của Phật dạy thâm nhập vào quần chúng, giúp cho mọi người hiểu tin và ứng dụng. Bất biến là trong sự tùy duyên đó, Phật giáo luôn luôn giữ nguyên chân lý không để lệch lạc. Dù hoàn cảnh hay thời đại nào, chân lý vẫn không đổi thay, chân lý là chân lý.
Mỗi một quốc gia đều có tập tục, văn hóa, tín ngưỡng riêng khác nhau. Thế nên khi đạo Phật du nhập vào các nước, điều quan trọng là làm sao thích ứng với tâm tư, nguyện vọng, sở thích của người dân từng địa phương, từ đó hướng dẫn chỉ dạy họ tu. Do mỗi nước có nét đặc thù riêng, nên có Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Trung Hoa, Phật giáo Nhật Bản, Phật giáo Miến Điện, Phật giáo Đại Hàn, Phật giáo Thái Lan v.v… Tuy nhiên, tên riêng theo từng xứ sở đó, chỉ nói lên nét đặc thù của đạo Phật chứ không phải là chân lý tột cùng đạo Phật.
Nói như vậy để thấy thiền tông Việt Nam không phải do người Việt Nam tự sáng tạo ra, mà nguồn gốc phát xuất từ đức Phật Thích-ca ở Ấn Độ. Khi dòng thiền được truyền sang Việt Nam thì trở thành thiền Việt Nam, thích hợp với phong tục tập quán của con người tại đất nước Việt Nam. Do đó so với Phật giáo ở những nơi khác đương nhiên không thể nào giống nhau được.
Trong phạm vi buổi nói chuyện ngắn này, chúng ta không thể so sánh hết sự khác biệt của thiền tông các nước, vì vậy tôi chỉ nói đại khái về nguồn gốc thiền khởi nguồn từ đức Phật.
Đức Phật tọa thiền dưới cội Bồ-đề được giác ngộ, lời dạy của Phật còn lưu lại trong kinh điển. Thế nhưng về sau vị tổ đầu tiên truyền thiền sang Trung Hoa là Bồ-đề-đạt-ma, lại tuyên bố:
Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành Phật.
Bất lập văn tự là không lập chữ nghĩa văn tự. Giáo ngoại biệt truyền là truyền ngoài giáo lý kinh điển. Trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người. Kiến tánh thành Phật là nhận ra bản tánh thì thành Phật. Trọng tâm của bài kệ nằm ở hai câu sau, Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Đến thời Mã Tổ Đạo Nhất, ngài cũng chủ trương “Tức tâm tức Phật”, Phật không phải ở đâu xa, chính ngay nơi tâm mình là Phật. Nghe qua bài kệ này chúng ta lấy làm lạ, không biết Tổ nói như thế có trái tông chỉ của đức Phật không? Điều rõ ràng chúng ta có thể thấy, đó là đường lối của tổ Bồ-đề-đạt-ma không lấy kinh điển làm chuẩn đích, mà lấy việc chỉ thẳng bản tâm ngay nơi mỗi người.
Trực chỉ là con đường thẳng tắt, trong nhà thiền thường nói lối tu đốn ngộ, tức là ngộ rất nhanh. Nói như thế chúng ta đừng hiểu lầm, cho rằng đốn ngộ là tu năm bảy tháng thì thành Phật. Không phải vậy, không có lối tu nào mà năm bảy tháng thành Phật hết. Đốn ngộ rồi còn phải tiệm tu, gọi là “đốn ngộ tiệm tư”. Nghĩa là nhận ra bản tâm thì rất nhanh, nhưng trên tập khí còn phải tu tập dần dần mới hết, chứ không phải đốn ngộ là xong việc. Thí dụ có những thiền sư lúc còn là thiền khách đi tham học, chỉ cần ngay một câu nói hay hành động nào đó liền nhận ra bản tâm sẵn có nơi mình, đó là đốn ngộ. Tuy ngộ nhưng phiền não lâu đời vẫn còn đầy cả hông ngực, phải lâu ngày giải trừ mới hết, vì vậy sau khi ngộ rồi các ngài lên non lên núi ẩn tu đôi ba mươi năm, đó là tiệm tu.
Ngược lại, người chưa đốn ngộ thì phải tu từ từ, như có những vị tu năm năm, mười năm… đến hôm nào đủ duyên bỗng dưng bừng ngộ. Đây là trước tiệm tu rồi sau đốn ngộ, gọi là “tiệm tu đốn ngộ”. Đạo Phật vốn không hai, nhưng do trình độ căn cơ sai biệt nên có chia ra đốn tiệm. Hoặc trước nhận được đạo lý rồi sau ứng dụng tu, hoặc trước tu lần lần rồi sau mới nhận ra đạo lý. Thế nên dù tu tiệm hay tu đốn, cuối cùng cũng gặp nhau, vì chỉ một gốc không hai.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma chỉ ôm ấp trong lòng một điều, đó là chỉ thẳng cho mọi người nhận ra bản tâm của mình, rồi từ đó tu hành đến chỗ hoàn toàn giác ngộ. Cho nên lúc chưa đủ cơ duyên thì ngồi im không nói, đến khi gặp Thần Quang thì trọng trách hoằng truyền của ngài mới xong. Tương truyền ngài Thần Quang nghe tổ Bồ-đề-đạt-ma là một vị đầy đủ uy đức, đang ở tại chùa Thiếu Lâm trên ngọn Tung Sơn thuộc miền Bắc Trung Quốc, bèn tìm đến học đạo. Tổ Đạt-ma ngồi xoay mặt vào vách không thèm ngó ngàng, ngài đứng ngoài trời chờ đợi suốt đêm. Nhằm tiết mùa đông giá rét tuyết rơi ngập tới đầu gối, mà mặt ngài vẫn không đổi sắc. Tổ Đạt-ma bấy giờ mới cất tiếng hỏi:
– Ngươi đến đây vì cầu việc gì mà khổ hạnh đến thế?
Ngài thưa:
– Con đến đây để cầu pháp môn cam lồ.
Hay nói cách khác là cầu phương pháp giác ngộ giải thoát. Tổ quở:
– Pháp giác ngộ giải thoát, từ xưa chư Phật tu hành phải trải qua bao công phu, xả bỏ bao nhiêu thân mạng mới có thể đạt được. Ngươi dùng chút khổ hạnh như vậy, mà có thể được sao?
Nghe Tổ quở, ngài Thần Quang muốn chứng tỏ tinh thần cầu pháp của mình, liền chặt một cánh tay dâng lên. Tổ thấy ý chí quyết tâm cầu đạo giải thoát của ngài, nên nhận cho làm đệ tử và đổi tên là Huệ Khả. Ngài Huệ Khả thưa:
– Bạch Hòa thượng, tâm con không an. Xin Ngài dạy con pháp an tâm!
Câu nói này có giống tâm trạng của chúng ta ngày nay không? Tâm luôn luôn chạy nhảy nơi này chốn nọ. Tâm chạy là bất an, là loạn động. Vậy thì làm sao cho tâm được an để tu hành? Không theo lối dạy thông thường phải dùng pháp này pháp kia để đối trị, tổ Đạt-ma chỉ bảo:
– Đem tâm ra, ta an cho.
Quả là một câu nói bất ngờ không thể nghĩ tưởng. Ngài Huệ Khả sửng sốt xoay lại tìm tâm bất an, càng tìm càng không thấy dấu vết. Ngài thưa:
– Bạch Hòa thượng, con tìm tâm không được.
Tổ liền nói một câu rất nhẹ nhàng:
– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Ngay đó, ngài Huệ Khả liền lãnh hội được yếu chỉ. Đây gọi là “trực chỉ nhân tâm”, là lối chỉ thẳng trong nhà thiền. Người không hiểu nghe như chuyện đùa, không có giá trị. Nhưng đối với người tu thiền, ý nghĩa của câu chuyện này là tối quan trọng.
Tổ Bồ-đề-đạt-ma an tâm cho ngài Huệ Khả lúc nào? Tổ dạy pháp gì để an mà ngài Huệ Khả ngộ đạo? Lâu nay chúng ta quen theo nghĩ suy phân biệt, tính toán hơn thua, lấy đó làm tâm mình. Khi ngồi yên thấy nó chạy nhảy lăng xăng, không có cách nào kìm chế nổi cho nên bất an. Đang lúc bất an xoay lại tìm xem cái tâm bất an đó ở đâu, nhìn lại thì không thấy, nó biến mất tăm mất dạng. Không thấy có tâm bất an tức là tâm đã an, như vậy Tổ có pháp gì để dạy không? Thông thường cái mà chúng ta cho là tâm đó, nó chỉ là bóng dáng của sáu trần chứ không phải pháp thật. Tuy không phải pháp thật nhưng nếu chúng ta chạy theo thì nó dẫn mình tạo nghiệp, còn biết quay lại nhìn thì nó tan mất. Không cần phải ngồi thiền để kìm chế cho nó được định, mà chỉ cần nhìn lại thì nó tan mất, tan mất tức nhiên tâm đã tự an, tạm gọi đó là pháp an tâm.
Chúng ta lâu nay mắc phải sai lầm lớn, cái xưa giờ mình tưởng thật đó chỉ là bóng dáng của sáu trần, vậy mà mình cứ theo nó rồi bị nó sai sử lôi kéo chạy ngược chạy xuôi, tạo bao nhiêu thứ nghiệp. Cho nên ngài Khuê Phong nói: “Thể không mà thành sự”, thể của tâm là không, nhưng theo nó thì thành có việc. Thí dụ chúng ta thấy món đồ quý của ai để ở trên bàn, người ta bận việc không để ý tới mình liền dấy niệm tham lén lấy. Nếu khi dấy niệm tham mà biết quán nhìn lại thì nó tan mất, còn cứ theo đó khởi niệm thì bị người bắt gặp phải chịu tù tội. Thể của niệm đầu là không, nhưng theo nó để niệm sanh khởi tiếp tục thì thành tội lỗi. Nên nói thể không mà thành sự là vậy.
Câu chuyện chặt cánh tay dâng lên Tổ nghe hơi vô lý, nhưng có lẽ chư tổ muốn mượn hình ảnh này để nói lên tinh thần cầu đạo. Người cầu đạo thì đừng quá quý trọng bản thân mình, mà phải hy sinh thân mạng mới có thể được. Như vậy, thiền từ tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền cho tổ Huệ Khả có văn tự, kinh điển gì không? Tổ chỉ thẳng cái lâu nay ngài Huệ Khả lầm chấp là tâm mình, bây giờ biết rõ nó không thật, không chạy theo nó nữa thì thể chân thật hiện tiền chứ không có gì lạ hết.
Chỗ này tôi thường thí dụ, như đêm rằm trăng sáng nhưng bị mây mù phủ che, nhìn lên không trung chúng ta không thấy trăng. Muốn thấy trăng thì phải chờ mây mù tan, mây tan thì trăng sáng tự hiện. Thử hỏi, trong khi đang mây mù có trăng sáng hay không? Mặt trăng không mất, vì bị mây che khuất nên không hiện. Cũng vậy, Phật nói chúng sanh đều có tánh Phật, nhưng vì vọng tưởng lăng xăng che khuất mà thôi.
Rõ ràng thiền không phải là môn học huyền bí, mà là một môn khoa học tâm linh, thực tế không có gì lạ lùng. Chúng ta tu thiền không phải để cầu mong cái gì viển vông xa xôi, chỉ là dọn dẹp những niệm tưởng lăng xăng nơi mình. Vọng tưởng lăng xăng hư dối lặng thì tâm chân thật hiện tiền, gọi đó là Phật tánh hay bản lai diện mục của mỗi người. Thấy được mặt thật của chính mình gọi là kiến tánh, đó chính là nhân để thành Phật. Nhiều người nghe nói kiến tánh thành Phật, hiểu lầm cho rằng khi nào mình kiến tánh thì lập tức thành Phật. Nên biết, kiến tánh là Phật nhân, thành Phật là Phật quả.
Phật nhân tuy có nhưng muốn thành Phật quả thì trước tiên phải dẹp hết phiền não, dọn sạch tập khí rồi mới thành Phật, chứ không phải kiến tánh là thành Phật liền. Do đó có nhiều thiền sư ngộ đạo, kiến tánh, nhưng chưa phải Phật mà chỉ gọi là Tổ, vì tập khí chưa sạch. Hiểu đúng thì chúng ta mới không lầm. Tu thiền là một đường thẳng tắt, song chúng ta phải nhận hiểu trước rồi ứng dụng tu chứ không phải hiểu rồi là xong, không cần tu. Cho nên người tu thiền theo đạo Phật phải biết rõ ràng pháp đốn ngộ mà chư tổ truyền dạy thì việc tu không mất nhiều thời giờ, mà lại rất đơn giản.
Một hôm, ngài Huệ Khả thưa với tổ Đạt-ma:
– Bạch Hòa thượng, con dứt bặt hết các duyên.
Tổ bảo:
– Coi chừng rơi vào không.
Ngài thưa:
– Con rõ ràng thường biết, làm sao rơi vào không được?
Tổ Đạt-ma nói:
– Chỗ đó là chỗ chư Phật đã chứng, ta đã chứng và ngươi cũng đã chứng.
Hết sức giản đơn. Ngang đây tổ Đạt-ma ấn chứng cho tổ Huệ Khả, từ chuyên môn trong nhà thiền gọi là truyền tâm ấn. Thầy xác nhận chỗ học trò thấy đồng với cái thấy của thầy, đồng với cái thấy của chư Phật, gọi là ấn chứng, là truyền tâm ấn. Không phải như sau này người ta lợi dụng chữ truyền tâm ấn, bày biện chuyện này chuyện kia đủ thứ. Đó là sai lầm rất lớn!
Gốc của thiền tông từ Ấn Độ truyền sang Trung Hoa, rồi truyền mãi tới Việt Nam với những nét đặc thù chung là như vậy. Bốn câu kệ của Sơ tổ Đạt-ma tuyên bố, có thể nói đó là chuẩn đích để chúng ta rõ được thiền tông Trung Hoa cũng như thiền tông Việt Nam. Buổi đầu khi tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền thiền cho ngài Huệ Khả không dùng đánh hét, cứ thế truyền trao cho đến đời Đường về sau thì có đánh hét.
Như thiền sư Lâm Tế mỗi khi có người lại hỏi thế nào là Phật? Ngài hét một tiếng. Hỏi thế nào là đạo? Ngài cũng hét một tiếng. Thiền sư Đức Sơn, có người hỏi thế nào là Phật? Ngài đánh ba gậy. Hỏi thế nào là pháp? Ngài đánh ba gậy. Hét và đánh đó trở thành nét đặc thù riêng của thiền tông Trung Hoa. Chư tổ ở Việt Nam chúng ta đều chịu ảnh hưởng từ tông Lâm Tế, bấy nhiêu đủ thấy tông Lâm Tế rất mạnh, sự truyền thừa sâu rộng đến nay cả ngàn năm vẫn còn. Chỗ dạy của ngài Hoàng Bá và tổ Đạt-ma dường như có khác nhau, một bên thì dùng lời nói, một bên không nói chỉ đánh. Nhưng đó chính là nét đặc thù riêng của mỗi nơi.
Thiền tông Ấn Độ dùng ngôn ngữ giáo hóa, thiền tông Trung Hoa dùng đánh hét để giáo hóa, còn thiền tông Việt Nam thì thế nào? Về điểm này tôi sẽ tuần tự nêu ra. Khi nói đến thiền tông Việt Nam, chúng ta phải nhìn từ đầu đến cuối, chứ không thể nói ngay ở một chặng nào. Phật giáo truyền vào Việt Nam trên sử sách không ghi rõ niên đại chính xác, song chúng ta được biết vào khoảng cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III đã có mặt các thiền sư và những kinh sách chỉ dạy đường lối tu hành do ngài Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương v.v… phiên dịch. Nếu đạo Phật mới truyền vào thì làm gì ở Việt Nam có tăng sĩ cùng kinh điển được phiên dịch. Điều này cho thấy, hẳn nhiên Phật giáo đã du nhập vào Việt Nam từ trước đó. Đến nay đã gần hai mươi thế kỷ, có thể nói đạo Phật là một tôn giáo gắn liền với dân tộc Việt Nam từ thủy tới chung.
Từ buổi đầu người Việt Nam theo đạo Phật đã tu thiền, nhưng là thiền đối trị. Thời các ngài Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương giảng dạy tu thiền, phần lớn là áp dụng theo Lục diệu pháp môn: Sổ tức, Tùy tức, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh. Hoặc tu theo thiền Tứ niệm xứ, đức Phật dạy trong kinh A-hàm. Vào năm 580 có ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Trung Hoa sang Việt Nam truyền bá thiền tông. Ngài gốc người Ấn Độ sang Trung Hoa gặp tổ thứ ba của thiền tông là ngài Tăng Xán, sau khi ngộ được lý thiền tổ Tăng Xán bảo ngài qua phương Nam giáo hóa. Nghe lời Tổ dạy, ngài sang Việt Nam, ở tại chùa Dâu truyền bá thiền tông. Hiện nay phía sau chánh điện chùa Dâu có tượng ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Như vậy, Thiền tông Việt Nam có mặt khoảng cuối thế kỷ thứ VI. Ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi nối pháp Tam tổ Tăng Xán ở Trung Hoa, ngài cũng là vị tổ đầu tiên của dòng thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi ở Việt Nam.
Chúng ta có thể thấy rõ tinh thần thiền tông, qua hai câu đầu bài Tín Tâm Minh của tổ Tăng Xán: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.” Chỗ tột cùng của đạo không khó, mà khó khăn trở ngại là vì tâm phân biệt của chúng ta. Hay nói cách khác, khởi tâm phân biệt chọn lựa là mất chí đạo. Hai câu kết thúc bài minh này, Tổ nói: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm.” Nghĩa là người tin tâm mình thì không còn thấy hai, không khởi niệm thấy hai thì mới tin được tâm mình. Rõ ràng từ Sơ tổ Đạt-ma đến Nhị tổ Huệ Khả, rồi Tam tổ Tăng Xán đều nói đến chỗ không hai.
Tới đầu thế kỷ thứ IX, có thiền sư Vô Ngôn Thông người Trung Hoa sang Việt Nam truyền thiền. Ngài là đệ tử của tổ Bá Trượng Hoài Hải ở Trung Hoa. Nhân nghe một câu nói của tổ Bá Trượng: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, đất tâm trống không tức là không có những niệm suy nghĩ phân biệt, tính toán hơn thua v.v… Nếu đất tâm trống không thì mặt trời trí tuệ tự sáng soi rõ ràng, không còn gì ngờ vực. Nghe câu nói của tổ Bá Trượng, ngài liền khai ngộ. Sau đó vào năm 820, ngài sang Việt Nam giáo hóa, ở tại chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, tức Bắc Ninh hiện nay. Tính theo sự truyền thừa tại Trung Hoa thì ngài Vô Ngôn Thông là đệ tử tổ Bá Trượng, Bá Trượng đệ tử Mã Tổ Đạo Nhất, Mã Tổ đệ tử Nam Nhạc Hoài Nhượng, mà ngài Nam Nhạc là đệ tử của Lục tổ Huệ Năng. Như vậy, ngài Vô Ngôn Thông là đời thứ năm tính từ Lục tổ ở Trung Hoa, và là Sơ tổ của phái thiền Vô Ngôn Thông tại Việt Nam.
Vào đời Lý lại phát xuất một phái thiền, đó là phái Thảo Đường. Nhưng phái này chỉ có các vua quan trong triều đình tu, chứ không truyền bá rộng rãi ở dân gian. Từ thế kỷ thứ VI tới thế kỷ XIX, thiền tông luôn có sức ảnh hưởng lớn, nhưng sang đầu thế kỷ XX đến giờ thì bị lu mờ.
Trong ba hệ truyền bá thiền tông tại Việt Nam thì hệ nào là chính? Ở giai đoạn đầu, tuy gọi là thiền tông Việt Nam nhưng những vị tổ chủ xướng truyền bá thiền tông tại Việt Nam đều là người Ân hoặc người Hoa. Cho đến thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông là người Việt Nam sau khi đi tu mới lập ra một hệ phái thiền gọi là thiền Trúc Lâm Yên Tử và ngài là Sơ tổ. Như vậy hệ phái thiền Trúc Lâm do Tổ sư người Việt Nam đứng ra lãnh đạo, thế thì muốn nói đến thiền học Việt Nam, tất nhiên chúng ta phải lấy Phật giáo đời Trần làm nền tảng.
Hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam xuất phát từ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Sơ tổ Trúc Lâm lấy tinh ba của ba phái thiền trước đó, gom lại chuyển thành thiền Việt Nam. Chúng ta đừng tưởng lầm rằng ngài Trần Nhân Tông sau khi đi tu tự ý lập ra một phái, mà đây chính là sự chuyển hóa, dung hội để phù hợp với tinh thần người Việt Nam. Tổ sư thành lập một phái thiền mang tính Việt Nam, nhưng về căn bản cội gốc thì không hai. Bởi thế khi nói tới thiền Việt Nam chúng tôi chú trọng đến thiền đời Trần. Vua Trần Nhân Tông không phải bỗng dưng hiểu thiền rồi lập ra một hệ phái, mà ngài phải học với ai và tu như thế nào?
Vị vua đầu tiên đời Trần ngộ đạo là Trần Thái Tông (1218-1277), tuy không xuất gia nhưng có tâm tu thiền và giải ngộ lý kinh, như trong phần trước tôi đã nói rõ. Vị vua kế tiếp là Trần Thánh Tông, nhờ sự hướng dẫn và chỉ dạy của vua cha nên nhà vua cũng ngộ được lý thiền. Một hôm, nhân đọc ngữ lục của thiền sư Đại Huệ có sở đắc. Do thâm nhập được lý thiền, nên khi hoàng hậu mất tới ngày làm trai tuần, vua Trần Thánh Tông cho mời các vị thiền sư tới dự. Thọ trai xong, vua bảo đưa giấy viết để các thiền sư trình kiến giải của mình. Tuệ Trung thượng sĩ vừa là anh vợ vua, vừa là một thiền sư cư sĩ, liền viết bốn câu kệ trình lên:
Kiến giải trình kiến giải
Tự niết mục tác quái
Niết mục tác quái dĩ
Minh minh thường tự tại.
Nhà vua đọc xong, viết một bài họa lại:
Minh minh thường tự tại
Diệc niết mục tác quái
Kiến quái bất kiến quái
Kỳ quái tất tự hoại.
Tuệ Trung thượng sĩ nói: Kiến giải trình kiến giải, tự niết mục tác quái. Trình kệ tức là trình kiến giải, kiến giải của mình đem ra trình thì cũng như dụi mắt thấy hoa đốm, hoa đốm vốn không thật có. Kiến giải cũng thế, tạm bợ hư ảo không phải là nguồn tâm chân thật của mình. Chạy theo kiến giải tức là sống với cái giả, che mất cái thật. Niết mục tác quái dĩ, minh minh thường tự tại. Ngừng dụi mắt thì mắt sáng trở lại bình thường, cũng vậy khi dẹp hết những vọng tưởng lăng xăng rồi thì tâm chân thật hiện ra, sáng rỡ tự tại.
Vua Trần Thánh Tông nói ngược lại: Minh minh thường tự tại, điệc niết mục tác quái. Con mắt trước khi dụi, sáng tỏ rõ ràng. Do dụi mắt mà thấy có hoa đốm, đó là tác quái. Kiến quái bất kiến quái, kỳ quái tất tự hoại. Biết những hiện tượng lạ ấy không phải thật có thì hiện tượng lạ tự hết, tâm lăng xăng lộn xộn dứt rồi thì tâm chân thật hiện ra, không nghi ngờ.
Qua hai bài kệ chúng ta thấy được chỗ hiểu thiền và ngộ thiền của các ngài rất thâm sâu. Tuệ Trung thượng sĩ là người có sức ảnh hưởng rất lớn trong sự tu tập và ngộ thiền của các vua nhà Trần, cũng như Phật giáo thiền tông Việt Nam. Những thơ kệ còn để lại trong quyển ngữ lục của ngài rất nhiều, ở đây tôi chỉ dẫn đoạn đầu và đoạn cuối của bài kệ Sanh Tử Nhàn Nhi Dĩ, để quý vị thấy được tinh thần của Tuệ Trung thượng sĩ đối với thiền tông và với Phật giáo như thế nào.
Tâm chi sanh hề sanh tử sanh
Tâm chi diệt hề sanh tử diệt.
Sanh tử nguyên lai tự tánh không
Thử huyễn hóa thân diệc đương diệt.
Tâm mà sanh chừ sanh tử sanh
Tâm mà diệt chừ sanh tử diệt.
Sanh tử xưa nay vốn tánh không
Thân huyễn hóa này rồi cũng diệt.
Sanh tử là một vấn đề con người luôn quan tâm, không biết sanh tử từ đâu có? Đạo Phật thường nói, sanh tử từ nghiệp. Tôi xin hỏi quý vị, nghiệp từ đâu có? Nghiệp từ thân khẩu ý mà có, gọi là tam nghiệp. Nghiệp lại có nghiệp lành, nghiệp dữ. Nghiệp lành sanh vào ba đường lành: trời, a-tu-la và người. Nghiệp dữ sanh ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thân khẩu ý là chỗ tạo nghiệp, còn nghiệp tức còn sanh tử.
Trong ba nghiệp cái nào là chủ? Chắc chắn ai cũng biết do ý làm chủ. Ý nghĩ lành thì thân làm lành, miệng nói lời lành. Ý nghĩ dữ thì thân làm dữ, miệng nói lời dữ. Thành nghiệp lành hay nghiệp dữ đều gốc từ ý mà ra. Như vậy, muốn dứt sanh tử thì phải dứt nghiệp, mà trọng tâm dứt nghiệp chính nằm ở ý. Ý là động cơ chủ yếu để tạo nghiệp, thế nên chúng ta phải dừng từ ý. Dừng ý tức không còn niệm khởi, bởi nếu còn niệm khởi là còn kẹt trong sanh tử. Bởi sanh tử từ tâm mà có, cho nên muốn hết sanh tử tất nhiên phải diệt tâm sanh tử đó đi.
Niệm còn khởi tức còn mầm sanh tử, cho nên người tu thiền dừng ý niệm là dừng nhân tạo thành sanh tử, người tu tịnh niệm Phật nhất tâm bất loạn, cũng là dừng nhân đi trong sanh tử. Trong kinh Di-đà, đức Phật nói: “Xá-lợi-phất, nhược hữu thiện nam tử thiện nữ nhân văn thuyết A-di-đà Phật, chấp trì danh hiệu nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A-di-đà Phật dữ chư thánh chúng hiện tại kỳ tiền. Thị nhân chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc vãng sanh A-di-đà Phật cực lạc quốc độ.” Nếu người nào niệm Phật một ngày, hai ngày tới bảy ngày mà nhất tâm bất loạn thì khi nhắm mắt được vãng sanh về Cực lạc. Nhất tâm bất loạn là không có hai niệm, hay nói cách khác tới chỗ cứu cánh là dứt hết niệm. Người tu Mật cũng vậy, trì chú muốn có hiệu nghiệm, được kết quả tốt thì cũng phải nhất tâm. Trì chú mà không nhất tâm thì không có kết quả.
Tất cả pháp tu của đạo Phật đều hướng đến chỗ dừng ý niệm để tâm chân thật hiện tiền, không dừng niệm thì như trăng bị mây che không tỏa sáng được. Thế nên muốn thấy trăng tỏ thì phải hết mây, đó là lẽ thật không nghi ngờ. Tuy nhiên chúng ta cần biết, hết mây không có nghĩa là không còn gì, mà hết mây thì chúng ta sẽ thấy trăng. Cũng vậy, hết niệm nhưng bản nguyên tánh giác của mình vẫn còn, chứ không phải hết niệm là không ngơ. Như chúng ta thường nghe có những việc làm kinh thiên động địa, vậy những việc này từ đâu ra? Từ ý niệm của con người mà ra. Người ta dùng ý niệm khôn của mình suy gẫm biến chế ra cái này cái kia, hoặc nghĩ tính cách này cách nọ để tạo tác… đưa đến kết quả tốt xấu khôn lường. Đó là con người chỉ mới sử dụng ý niệm hư dối mà đã như thế, huống nữa khi chúng ta dừng được những niệm hư dối rồi, chỉ còn thuần một tánh giác thì diệu dụng làm sao tính kể. Nên trong kinh thường dùng từ “bất khả tư nghì”.
Trong kinh Duy-ma-cật diễn tả, ông Duy-ma-cật cầm thế giới mình đang ở ném qua chỗ khác như trò chơi. Hình ảnh đó để nói lên ý nghĩa khi sống trở về được với tâm chân thật của mình thì diệu dụng phát ra không thể nghĩ bàn. Quý vị đừng sợ rằng dừng ý niệm không cho suy nghĩ khôn lanh, mình sẽ thành khờ dại làm sao mà sống? Hiểu như vậy là lầm lớn. Không suy nghĩ mà rất sáng suốt, sự việc gì đến thì biết, cần giải quyết liền giải quyết không đợi suy gẫm. Chỗ này người đời gọi là trực giác, còn đạo Phật thì gọi là thời trí, là trí tuệ giải quyết kịp thời, việc tới giải quyết liền không phải bóp đầu bóp trán suy nghĩ. Biết được rồi chúng ta không còn lo sợ nữa. Đó là điểm đặc biệt của người tu.
Tóm lại, sự sanh tử của kiếp người gốc từ ý niệm của vọng tâm mà ra. Vọng tâm là nhân của sanh tử, vì thế một khi vọng tâm dừng thì sanh tử cũng theo đó hết, gọi là giải thoát sanh tử. Nếu chúng ta muốn cầu giải thoát thì không nên nuôi dưỡng nhân tạo nghiệp để đi trong sanh tử nữa. Thế nên hai câu kế, Tuệ Trung thượng sĩ nói: Sanh tử xưa nay vốn tánh không, thân huyễn hóa này rồi cũng diệt.
Đó là trích đoạn đầu, bây giờ sang đoạn cuối để thấy được chỗ đạt đạo của người xưa:
Đảo gia tu tri bãi vấn trình
Kiến nguyệt an năng khổ tầm chỉ.
Ngu nhân điên đảo bố sanh tử
Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.
Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi
Thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy.
Kẻ ngu sống chết mãi lo âu
Người trí rõ thông nhàn thôi vậy.
Đến nhà thôi chớ hỏi đường chi, thấy nguyệt tìm gì ngón tay ấy. Người học đạo thấu đạt đến nơi rồi, giống như người đã về ngồi trong nhà. Nếu quên đường quên số nhà thì còn phải hỏi, nhưng về tới nhà rồi thì đâu cần hỏi ai nữa. Như người đã nhìn thấy trăng, khỏi cần tìm ngón tay làm gì. Đức Phật từng nói, giáo lý của ta dạy giống như ngón tay chỉ mặt trăng. Vào khoảng mùng sáu mùng bảy âm lịch, người mắt sáng nhìn phương tây thấy trăng lưỡi liềm, nhưng người mắt kém nhìn xa không thấy. Người mắt sáng bèn đưa tay chỉ: “Trăng kia kìa nhìn theo tay tôi sẽ thấy.” Người mắt kém nương ngón tay mà thấy được mặt trăng. Ngón tay chỉ đó không phải mặt trăng, nhưng nhờ nương ngón tay mới thấy được trăng. Điểm nhắm đến là mặt trăng, một khi đã thấy trăng rồi thì đâu cần ngón tay nữa.
Mặt trăng là chỉ cho chân lý hay tánh giác của mỗi người. Phật muốn chỉ cho chúng sanh nhận ra tánh giác của mình, nên mới dùng đủ thứ phương tiện giảng giải. Nếu người đã nhận ra tánh giác rồi thì kinh luận đối với người đó cũng chỉ là phương tiện, không nên chấp giữ. Đây là điều rất kỳ đặc, theo tôi chỉ có đạo Phật mới dám nói như thế. Bởi theo các tôn giáo khác, giáo lý của vị giáo chủ nói luôn được xem là khuôn vàng thước ngọc, không bao giờ dám coi thường. Nhưng đạo Phật lại nói giáo lý chỉ là phương tiện giúp chúng ta biết được hướng đi, chứ không phải chân lý cứu cánh. Chân lý ở ngoài kinh điển, cứu cánh ở ngay nơi mình. Như trong kinh Kim Cang, đức Phật cũng có nói: Giáo pháp của ta như chiếc bè đưa người qua sông, khi đến bờ rồi thì bè phải bỏ. Đó là trọng tâm của đạo Phật.
Kẻ ngu sống chết mãi lo âu, người trí rõ thông nhàn thôi vậy. Sở dĩ chúng sanh ham sống sợ chết là vì thấy sống chết là thật, do đó sanh ra lo sợ. Nếu chúng ta có trí tuệ thông suốt thì thấy sống chết chỉ là đổi thay trên tướng hư ảo, không có gì quan trọng. Quan trọng là biết được cái thật của chính mình, còn thân tạm bợ này thấy đó rồi mất đó, như là trò chơi không có gì bền chắc, thế nên sống hay chết cũng không có gì buồn sợ.
Thiền sư Từ Minh thuộc tông Lâm Tế ở Trung Hoa, nói: “Sanh như đắp chăn đông, tử như cởi áo hạ.” Sống chết của đời người như ngày đông tháng hạ, mùa đông lạnh thì đắp chăn, mùa hè nóng thì cởi áo, tùy thời tiết nhân duyên mà nhẹ nhàng, không lo sợ. Người thế gian sanh là vui, chết là sợ. Vì sanh là vui, nên kỷ niệm ngày sanh gọi là mừng sinh nhật. Vì chết là sợ, nên ngày giỗ gọi là ngày kỵ, không dám nói tới. Người nào đối với sống chết còn sợ hãi thì đó là kẻ ngu sống chết mãi lo âu. Người đã thấu suốt lẽ sống chết, thấy chỉ là việc bình thường không có gì quan trọng, đó là người trí rõ thông nhàn thôi vậy. Lời chỉ dạy của một cư sĩ mà quá hay! Vì vậy chúng ta cần phải tập theo cái nhìn của người trí.
Vị vua thứ ba nhà Trần là vua Trần Nhân Tông, khi còn là thái tử Trần Khâm đã được vua cha gửi theo học với Tuệ Trung thượng sĩ. Ngài hỏi, bổn phận chủ yếu của người tu thiền là thế nào? Tuệ Trung thượng sĩ chỉ trả lời một câu: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc.” Ngay câu này, ngài lãnh hội được yếu chỉ thiền. Nhà vua đã ngộ được lý thiền khi còn ở vị thái tử, cho nên năm mười sáu tuổi ngài trốn lên núi tu, vua cha hay được cho người lên kêu trở về. Tuy đã hiểu đạo không muốn làm vua, nhưng vì hoàn cảnh bắt buộc nên ngài đành phải lên ngôi. Đến năm ngài ba mươi bảy tuổi thì nhường ngôi cho con, lên làm Thái thượng hoàng hướng dẫn vua con một thời gian. Trong khoảng này, với hình thức một cư sĩ đã ngộ lý thiền, vua Trần Nhân Tông có làm bài phú Cư Trần Lạc Đạo bằng chữ Nôm, nhưng kết thúc bằng bốn câu kệ chữ Hán:
Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc san hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.
Chỉ bốn câu kết thôi mà chúng ta nghe rất thấm.
Thiền sư Huệ Hải ở Trung Hoa, có luật sư Nguyên đến hỏi:
– Hòa thượng tu có dụng công chăng?
Ngài đáp:
– Dụng công.
– Dụng công thế nào?
– Khi đói thì ăn, khi mệt thì ngủ.
– Tất cả người đều như vậy, đồng chỗ dụng công của Thầy chăng?
– Chẳng đồng.
– Tại sao chẳng đồng?
– Họ khi ăn chẳng chịu ăn, đòi trăm thứ; khi ngủ chẳng chịu ngủ, tính toán ngàn chuyện. Do đó chẳng đồng.
Quý vị đói có chịu ăn, mệt có chịu ngủ không? Đói mà ngồi vào bàn thấy trên mâm cơm thiếu canh, thiếu ớt, thiếu rượu… thiếu những món mình ưa thích thì có chịu ăn không, hay phải kêu đòi la rầy? Đi làm cả ngày nhọc nhằn, nằm xuống lẽ ra phải ngủ để tiết kiệm thời giờ cho khỏe, nhưng có chịu ngủ liền không hay lăn qua trở lại, nhớ đủ thứ chuyện? Rõ ràng chúng ta chưa biết sống tùy duyên, nên thường khi có việc gì thì cứ bóp đầu xoa trán nghĩ ngợi tới lui, không biết làm vậy là trúng hay trật, giải quyết cách đó thành công hay thất bại… cứ như vậy mà lo tính hoài.
Các thiền sư nói đói ăn mệt ngủ chính là biết sống tùy duyên, tất cả việc gì đến thì tùy theo đó mà giải quyết phù hợp, giải quyết xong rồi cho qua không vướng bận, tâm vẫn luôn an nhiên tự tại. Vì thế hai chữ tùy duyên này có ý nghĩa rất thiết thực trong cuộc sống của người tu. Người hiểu thấu đáo rồi tu thiền rất dễ dàng, do đó khi vua Trần Nhân Tông được Tuệ Trung thượng sĩ chỉ thẳng Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc thì liền biết rõ lối về. Biết mình có sẵn kho báu, chỉ cần dẹp tan đám mây mù vọng tưởng che phủ thì đối cảnh mà vô tâm, tức không còn dính mắc vào hai bên. Không kẹt mắc hai bên đó là thiền, khỏi cần phải tìm hỏi gì nữa hết.
Đời nhà Trần cho chúng ta thấy giá trị của Phật giáo nói chung, thiền tông nói riêng rất cao quý. Người sau tán dương các vua nhà Trần xem ngai vàng như dép rách, bởi ngôi vua là địa vị cao sang tột đỉnh mà con người mơ ước, thế nhưng các ngài dù đã được đầy đủ cả rồi vẫn không đắm luyến, lại từ bỏ dễ dàng để đi tu. Đó là điểm kỳ đặc của Phật giáo Việt Nam.
Đứng về cốt lõi thì thiền tông Việt Nam không khác thiền Trung Hoa hay Ấn Độ vì đồng một gốc không hai, chỉ có khác trên phương tiện truyền bá. Ấn Độ dùng vấn đáp, Trung Hoa dùng gậy hét, còn Việt Nam thì dùng văn thơ để cho người học nhập được lý thiền. Buổi nói chuyện tới đây xem như tạm đủ, chắc hẳn quý vị đã hiểu được đôi phần về nét đặc thù của thiền tông Việt Nam. Khi khác nếu đủ duyên có cơ hội gặp lại chúng tôi sẽ nói rộng hơn.