Trường đại học Tổng hợp Hà Nội ngày 08-04-1996
Thưa tất cả các vị Giáo sư và Phật tử đang có mặt. Theo yêu cầu của quý vị, hôm nay tôi sẽ nói về đề tài Điểm khác biệt giữa thiền tông Việt Nam và thiền tông các nước.
Trước khi đi vào nội dung này, chúng tôi xin nói xa hơn một chút về triết học Phật giáo, để tất cả cùng thấy được đầy đủ ý nghĩa. Bởi vì nếu không hiểu tận nguồn gốc, chỉ nhìn ở ngọn ngành mà giải thích thì e rằng không thể thấu đáo. Về triết học Phật giáo, các vị giáo sư đã nắm vững rồi, nên ở đây tôi chỉ lược qua khái quát mà thôi.
I- Tinh thần triết học Phật giáo
Nói đến triết học thì dù là triết đông hay triết tây, tất cả triết gia đều nhắm vào hai đề mục chủ yếu, đó là nghiên cứu về Nhân sinh quan và Vũ trụ quan. Nhân sinh phát nguồn từ đâu? Vũ trụ thiên sai vạn biệt do yếu tố nào hình thành? Trong hai đề mục này thì triết học Phật giáo nghiêng hẳn về Nhân sinh quan.
Trong triết học Phật giáo có câu chuyện Người mù rờ voi, mà thuở bé tôi đã được nghe ông bà mình kể, nhưng cứ ngỡ rằng đó là chuyện dân gian Việt Nam. Sau này đọc trong kinh Trường A-hàm và Đại Bát-niết-bàn, tôi mới biết đây là do đức Phật nói. Qua câu chuyện này chúng ta có thể thấy được tinh thần triết học Phật giáo khác với triết học của các trường phái ra sao.
Chuyện kể rằng: Nhà vua nọ muốn thử xem nhận xét của người mù chính xác tới đâu, vua bèn ra lệnh tìm những người mù đến triều đình, rồi cho quản tượng dẫn một con voi ra giữa sân, bảo những người mù rờ và diễn tả xem hình dáng con voi như thế nào, người nói đúng sẽ được trọng thưởng. Khi ấy những người mù xúm vào rờ con voi, kẻ rờ trúng chân voi thì nói voi giống cột nhà, người rờ trúng tại thì nói voi giống cái quạt, rờ nhằm đuôi thì nói voi giống cây chổi v.v… mỗi người diễn tả mỗi cách theo chi tiết mà mình rờ trúng. Diễn tả xong người mù này không đồng ý người mù kia nói đúng, đưa đến chống đối cãi vã rồi đánh nhau. Nhà vua và những người mắt sáng thấy được con voi rõ ràng, nên khi nghe họ cãi nhau chỉ cười, vì biết mỗi người nói đúng một phần con voi mà thôi.
Ở Ấn Độ vào thời đức Phật có rất nhiều trường phái triết học, mỗi trường phái lại mang mỗi chủ thuyết lập trường riêng. Do quan điểm cục bộ rồi chấp vô chỗ biết riêng của mình mà sanh ra tranh cãi, đưa đến ẩu đả hiềm khích lẫn nhau. Tại đất nước Trung Hoa, thời Xuân thu Chiến quốc, các trường phái triết học cũng không ít. Có trường phái chủ trương “nhân chi sơ tánh bản thiện”, lại có trường phái chủ trương “nhân chi sơ tánh bản ác”… Đồng là triết học nhưng vì cơ sở lý luận mỗi bên sai biệt thành đối nghịch nhau nên không thể hòa hợp, khiến chúng ta càng nghiên cứu càng thấy rối rắm.
Chủ trương của đạo Phật không như thế, Phật giáo lấy giác ngộ viên mãn làm cứu cánh nên không có tranh đấu. Như nhà vua và những người sáng mắt đã thấy rõ con voi rồi thì không có gì để tranh cãi nữa. Tranh đấu cãi vã nhau là do cái thấy bị hạn chế, nhận thức bị cục bộ, nên chỉ đúng một phần nhỏ nào thôi chứ chưa phải là đúng hoàn toàn, nếu một khi thấy được tường tận rồi thì không còn tranh luận nữa. Do đó triết lý của đạo Phật là làm sao cho mình và người đều được giác ngộ, hiểu biết đến chỗ viên mãn mới là cứu cánh.
Triết lý của đạo Phật phát xuất từ đức Phật Thích-ca. Lúc còn là thái tử Tất-đạt-đa, khi bắt gặp hình ảnh già bệnh chết, ngài cảm nhận cuộc sống của con người quả là khổ. Mặc dù sắp lên ngôi vua, hiện tại hưởng thụ giàu sang phú quý, đầy đủ địa vị danh vọng… cũng không có giá trị gì, nếu không biết được nguồn gốc của chính mình. Từ đó những thú vui ở hoàng cung không thể trói buộc được, ngài trăn trở thao thức về ba mối nghi lớn: Con người từ đâu lại? Sau khi chết sẽ đi đâu? Làm sao thoát ly sanh tử? Ngài quyết tâm vượt thành xuất gia, buông bỏ tất cả để tìm đường tu giải thoát.
Như vậy, trọng tâm lớn của thái tử Tất-đạt-đa khi đi tu là cốt giải quyết cho xong ba vấn đề mình ôm ấp.
Sau khi từ bỏ hoàng cung ngài vào rừng, gặp qua các triết gia và học đạo với những tu sĩ nổi tiếng đương thời. Tuy tu tập đạt Tứ thiền cho tới định Phi tưởng phi phi tưởng xứ nhưng ngài vẫn chưa hài lòng, vì chưa giải quyết được ba vấn đề mình đang ôm ấp. Ngài dùng phương tiện tu khổ hạnh mong được tỏ ngộ, rốt cuộc cũng chỉ chìm trong tối tăm mù mịt. Biết lối tu ấy không đưa đến kết quả, ngài ăn uống sinh hoạt bình thường trở lại. Từ giã Khổ hạnh lâm, ngài đến dưới cội Bồ-đề trải cỏ tọa thiền, thề nguyện nếu không sáng đạo quyết chẳng rời tòa này. Trải bao ngày đêm, đến đêm thứ bốn mươi chín ngài thành đạo. Trong kinh còn ghi đủ, khoảng đầu đêm ngài chứng Túc mạng minh, giữa đêm chứng Thiên nhãn minh, cuối đêm lúc sao mai mọc chứng Lậu tận minh. Chứng Tam minh tức là ba vấn đề trọng đại của kiếp người đã giải quyết xong, ngài tuyên bố giải thoát thành Phật.
Túc mạng minh, còn gọi là Túc mạng trí minh, là trí tuệ rõ biết sanh mạng đời trước của mình và mọi người. Đức Phật thấy rõ, chúng ta không phải mới có mặt trên thế gian lần đầu, mà đã từ bao giờ cho đến bây giờ và vẫn còn đang tiếp tục, đời này chỉ là một chấm nhỏ trên con đường luân hồi dài vô hạn đó. Không những thấy rõ vô số kiếp về trước của chính mình, mà ngài còn biết được vô số kiếp về trước của chúng sanh. Kinh Bản Sanh, Bản Sự trong Đại tạng kinh còn ghi rõ. Sau khi chứng Túc mạng minh, ngài đã giải quyết xong mối nghi thứ nhất.
Thiên nhãn minh, còn gọi là Sanh tử trí minh, là trí tuệ hiểu rõ sanh tử của mình và người. Thiên nhãn là con mắt trời, thấy được tất cả những thứ rất nhỏ và rất xa, chứ không phải con mắt phàm của chúng ta. Trong kinh kể rằng: Sau khi chứng Thiên nhãn minh, Phật thấy chúng sanh bỏ thân này rồi liền theo nghiệp đi trong lục đạo. Như người đứng trên lầu cao nhìn xuống ngã tư đường, thấy kẻ rẽ qua hướng đông, người đi về hướng tây… rất rõ ràng.
Không những thế, đức Phật còn thấy được hằng sa thế giới, tức thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Độ, nói theo từ ngữ bây giờ là vô số hành tinh. Nghĩa là không phải chỉ có thế giới chúng ta đang sống, mà còn vô số hành tinh xung quanh. Đức Phật không những thấy được thế giới nhiều như cát, ngài còn thấy trong nước có vô số vi trùng, do đó Phật dạy chư tăng ni phải lọc nước trước khi uống. Bài kệ nói: “Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất trì thử chú, như thực chúng sanh nhục.” Phật xem thấy trong một bát nước, có tám muôn bốn ngàn vi trùng; nếu không gìn chánh niệm, như ăn thịt chúng sanh.
Những điều này đức Phật đã thấy biết cách nay hơn hai mươi lăm thế kỷ, trước đây người nghe không ai tin nổi đó là sự thật. Hiện nay nhờ khoa học tiến bộ giúp con người biết được, ngoài hành tinh chúng ta đang sống còn vô số hành tinh khác, có vô số vi trùng quanh ta mà mắt mình không nhìn thấy. Phát minh của khoa học khẳng định điều thấy biết của Phật, giúp cho chúng ta sáng tỏ và tin sâu lời dạy của ngài. Thấu suốt được sanh tử, biết sau khi chết con người về đâu, đức Phật đã giải quyết xong mối nghi thứ hai về con người.
Lậu tận minh, còn gọi là Lậu tận trí minh, là trí tuệ rõ biết nhân nào dẫn đi sanh tử nên không còn rơi rớt trong sanh tử nữa. Do chứng được minh này nên sau khi thành đạo, Phật trở lại Lộc Uyển gặp những người bạn cùng tu trước kia, để chỉ cho họ thấy rõ về lý Tứ đế. Tứ đế gồm: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Khổ là quả, Tập là nhân; Diệt là quả, đạo là nhân. Tại sao chúng ta có mặt và chịu nhiều thứ khổ sở bức bách thân tâm? Bởi do chứa nhóm tham sân si mạn nghi v.v… Những thứ phiền não đó là tập nhân, đưa đến thọ chịu khổ quả. Muốn hết khổ sanh tử thì phải biết nguyên nhân gây ra nó. Nhân sanh tử dứt thì quả đau khổ đâu còn, liền được an lạc giải thoát, đó là Diệt đế. Trừ tập nhân đương nhiên phải có phương pháp, tức là ứng dụng những pháp tu để đối trị tập nhân, gọi là Đạo đế. Khi đã chứng được Lậu tận minh, tức là mối nghi thứ ba đức Phật đã giải quyết xong. Ba mối nghi lớn ngang đây đều được sáng tỏ, ngài không còn trở lui trên con đường sanh tử luân hồi nữa.
Thái tử Tất-đạt-đa đi tu là cốt giải quyết vấn đề sanh tử của kiếp người, tìm ra triết lý của nhân sinh. Sau đó ngài đem phương pháp thiền định mà mình đã giác ngộ đi giáo hóa chúng sanh. Ngài do thiền định mà ngộ đạo, nên pháp ngài dạy ra cũng là pháp thiền. Do đó không những đức Phật Thích-ca, mà các vị đại đệ tử thường theo cạnh ngài đều lấy thiền định làm pháp tu căn bản; nhân thiền định mà được ngộ đạo, hoặc chứng quả A-la-hán, cho đến thành Tổ sau này cũng thế. Có thể nói, thiền định chính là cội gốc của đạo Phật.
Thành đạo đức Phật tuyên bố: “Ta học đạo không thầy.” Tại sao lạ vậy? Bởi lúc học với các vị thầy mặc dù chứng được đến Phi tưởng phi phi tưởng định, nhưng vẫn chưa giải quyết được ba vấn đề then chốt mà ngài đang ôm ấp. Đến khi ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề, tự tâm bừng sáng ngài mới thấu suốt mối mang sanh tử, chấm dứt luân hồi của kiếp người, gọi là ngộ đạo. Như vậy, Phật ngộ đạo là do thấy biết tường tận mình từ chỗ nào lại, chết rồi sẽ về đâu. Thấu tột cội gốc sanh tử, nhận rõ chính mình và biết rõ phương pháp để chấm dứt dòng sanh tử ấy, rõ ràng không do ai đem lại mà tự ngài khám phá ra, nên nói học đạo không thầy.
Đạo lý mà đức Phật chứng ngộ được là một triết học về nhân sinh, triết lý ấy về sau được chư tổ truyền bá sang các nước trong đó có Việt Nam. Đó là tôi nói tổng quát để phăn tìm trở lại cội nguồn triết học của đạo Phật, bây giờ trở lại đề tài đã nêu ra. Phật giáo Việt Nam nói chung, hay Thiền tông Việt Nam nói riêng, có những điểm khác biệt gì so với các nước khác? Tôi sẽ lần lượt trình bày sơ qua vài điểm.
II- Sơ lược truyền thừa thiền tông
Nói tới thiền tông là phải nói đến ba mươi ba vị Tổ của thiền tông, trong đó Ấn Độ hai mươi tám vị và Trung Hoa năm vị. Theo sử thiền ghi lại: Một hôm trên pháp hội Linh Sơn giữa đồ chúng đông đảo, đức Phật cầm hoa sen đưa lên nhìn khắp, đại chúng đều im lặng chỉ riêng ngài Ca-diếp lãnh hội được ý chỉ mỉm cười. Phật liền bảo: “Ta có chánh pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng vô tướng, nay trao cho Ma-ha Ca-diếp.” Nguồn gốc thiền tông xuất phát từ đây.
Sự kiện truyền pháp trên hội Linh Sơn sau này có nhiều người nghi ngờ, cho rằng câu chuyện đó không chính xác, vì trong A-hàm không thấy ghi. Tuy nhiên, khi đọc qua tạng kinh tôi thấy có một bài kinh kể về ngài Ca-diếp. Một hôm đức Phật đang thuyết pháp thì ngài Ca-diếp đến. Do vì ngài tu hạnh đầu-đà nên mặt mày râu ria, y phục do cũ. Thấy ngài Ca-diếp đi vào đại chúng tỏ vẻ khinh thường, Phật liền gọi đến nhường cho nửa tòa và nói giữa hội chúng: “Ta chứng được pháp gì Ca-diếp cũng chứng được pháp ấy.” Nhân đó, đức Phật giảng một thời pháp. Việc đức Phật nhường cho ngài Ca-diếp nửa tòa, chứng tỏ Phật tin tưởng ngài là người xứng đáng kế thừa trọng trách, không chút nghi ngờ.
Từ tổ Ca-diếp truyền đến vị tổ thứ hai mươi tám ở Ấn Độ là Bồ-đề-đạt-ma, tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa thời vua Lương Võ Đế. Vua tuy mộ Phật pháp nhưng không thể lãnh hội được yếu chỉ của Tổ, nên Tổ từ giã đi tới nước Ngụy ở phương bắc, ngụ tại chùa Thiếu Lâm. Chín năm ngồi xoay mặt vào vách, chờ người có duyên để chỉ dạy. Thời gian sau có ngài Thần Quang là người học thông các sách, giỏi lý diệu huyền tìm đến, Tổ vẫn ngồi yên không ngó ngàng. Lúc ấy nhằm mùa đông trở tuyết, ngài Thần Quang đứng yên suốt đêm trong tuyết chờ Tổ chỉ dạy. Tuyết rơi ngập đến đầu gối, Tổ thấy thế thương tình xoay ra hỏi:
– Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần Quang thưa:
– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ cho con.
– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm việc khó làm, nhẫn việc khó nhẫn, còn không thể được. Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu pháp chân thừa.
Thần Quang nghe thế, để tỏ lòng thiết tha cầu đạo bèn lấy đao chặt cánh tay để trước mặt Tổ. Việc này như một huyền thoại, nhưng đọc trong sử thấy ghi chép như thế nên tôi cũng nêu ra đây. Có thể ý người xưa muốn nói lên tinh thần cầu đạo Vô thượng chánh giác cần phải là người gan dạ can đảm, còn yếu đuối sợ hãi thì không thể nào làm được. Tổ biết Thần Quang là bậc pháp khí bèn dạy:
– Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
Nhân đó Tổ đổi tên Thần Quang thành Huệ Khả. Khả là khá, tức là có trí tuệ khả dĩ lãnh hội được. Ngài Thần Quang thưa:
– Pháp ấn của chư Phật con có được nghe chăng?
– Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
– Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
– Người đời tâm thường cứ chạy xóm này làng kia liên miên, nên luôn bất an. Ngay như chúng ta, lúc ngồi thiền mắt ngó xuống mà tâm vẫn không an. Vì thế tất cả những người ham tu đều thao thức, mong sao cho tâm mình được an. Điều này hết sức quan trọng, nên ngài Thần Quang tha thiết yêu cầu Tổ chỉ dạy phương pháp an tâm. Tổ Đạt-ma bảo:
– Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
Tổ nói như đùa, tâm không hình tướng làm sao mà đem ra được. Ngài Huệ Khả sửng sốt, nhưng vì lời nói của một vị Tổ nên không thể xem thường. Ngài quay lại tìm, càng tìm niệm bất an càng lặn mất, bèn thưa:
– Con tìm tâm không thể được.
– Tìm không được tức là lặn mất rồi. Tâm bất an là do niệm tưởng nổi dậy phóng ra bên ngoài, bây giờ tìm lại thì niệm bất an đó tiêu mất. Tiêu mất tức đã an chứ đâu có gì lạ. Vì thế Tổ bảo:
– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Ngay đó ngài Thần Quang lãnh hội được yếu chỉ.
Thiền tông chủ trương “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật.” Nghĩa là không có một pháp gì khác để dạy cho người, mà chỉ thẳng ngay nơi tâm mình, nhận ra được bản tánh đó là Phật.
Mã Tổ khi chỉ dạy người cũng thường nói “tức tâm tức Phật”, chính tâm mình là Phật chứ không phải Phật ở đâu đến. Hiểu được chỗ này rồi chúng ta mới giản trạch được, thiền của đạo Phật khác với thiền của ngoại đạo như thế nào, còn không thì rất dễ nhận lầm.
Chữ ngoại đạo trong nhà thiền dùng không phải nhằm chỉ các tôn giáo khác, mà nhằm nói “ngoài tâm cầu Phật là ngoại đạo”, tức là lìa ngoài tâm mình mà cầu Phật đó là ngoại đạo. Tại sao? Vì Phật là giác, mà giác đó là giác ngay tự tâm mình.
Quý vị ở đây toàn những người am tường nhiều môn học, hiểu thông suốt các vấn đề, được gọi là hàng thông minh trí tuệ. Vậy tôi xin hỏi các vị, trí tuệ này từ đâu mà ra? Hẳn nhiên các vị sẽ trả lời từ tâm ra, lìa ngoài tâm mình làm gì có trí tuệ. Như vậy, trí tuệ sáng suốt đã từ tâm ra thì giác ngộ cũng không ngoài tâm mà có. Không phải ai ở đâu đem giác ngộ đến cho mình, do đó nếu cầu cái gì ở bên ngoài để được giác ngộ thì không phải là đạo Phật. Bởi vì đạo Phật là đạo giác ngộ, mà giác ngộ là giác ngộ tự tâm chứ không đâu khác. Gần đây tôi được nghe có nhiều phái thiền, nào là xuất hồn ngao du, mở khiếu huyệt v.v… Đây không phải là thiền của đạo Phật.
Phương pháp tu thiền của đạo Phật hay của Thiền tông là soi sáng lại chính mình, đó là điều thiết yếu. Soi sáng lại chính mình là tìm cho ra mình là cái gì? Muốn giải quyết vấn đề cội gốc của con người, thấy được rõ ràng như đức Phật thấy thì cần phải khám phá chính mình, vì thế mà các vị tu thiền mỗi ngày đều phải hành thiền. Nhiều người không hiểu thấy người tu thiền dường như tiêu cực, hiện nay là thời đại khoa học mà cứ ngồi im lặng mắt ngó xuống thật phí thời giờ vô ích. Nhưng sự thật không phải thế, ngồi thiền chính là thời gian nhìn lại quán sát nội tâm của chính mình.
Hàng ngày chúng ta cứ phóng sáu căn mắt tai mũi lưỡi thân ý, đuổi theo sáu trần sắc thanh hương vị xúc pháp bên ngoài. Giờ phút nào đuổi theo trần cảnh là giờ phút đó quên mất mình, muốn nhớ lại sống với chính mình thì phải chặn đứng tâm niệm lăng xăng, phản quan ngược lại không đuổi ra bên ngoài nữa để thấu suốt được mình, đó là việc làm thiết thực đưa đến giải thoát sanh tử. Chúng ta tu theo Phật cần phải thấy được như Phật, biết tường tận trước kia mình từ đâu tới, sau khi chết sẽ đi về đâu, làm sao chấm dứt mầm sanh tử. Chừng nào giác ngộ được đầy đủ như thế, chừng đó mới xong việc.
Các nhà khoa học khi muốn tìm tòi một vấn đề gì thì dồn hết tâm tư vào nghiên cứu vấn đề đó, cũng vậy người tu Phật vì muốn khám phá việc lớn sanh tử, nên đem hết thân tâm mà quán chiếu làm cho sáng tỏ. Đây là vấn đề hết sức thiết yếu của con người, đâu phải là chuyện tầm thường; xem chừng như không lợi ích cho xã hội hiện tại, nhưng không phải là việc làm tiêu cực.
Tôi nhắc lại lần nữa cho quý vị thấy, khi ngài Huệ Khả xoay lại tìm tâm không được tức là niệm bất an lặn xuống không còn dấy động. Không động là định, mà định là thiền. Nắm được yếu chỉ này rồi, mới thấy con đường tu thiền của đạo Phật hết sức đơn giản, không phải tìm kiếm cái gì mầu nhiệm mới có thể đạt được.
Ngài Huệ Khả là vị tổ thứ hai của thiền tông Trung Hoa, vị kế là Tăng Xán. Ngài Tăng Xán đang còn là cư sĩ bị bệnh ghẻ lở, giống như bệnh phong bây giờ, đến gặp tổ Huệ Khả, thưa:
– Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội.
Tổ Huệ Khả bảo:
– Đem tội ra, ta sẽ vì người sám hối.
Ngài Tăng Xán sửng sốt xoay lại tìm xem tội nghiệp của mình ở đâu mà không thấy, nên thưa:
– Đệ tử tìm tội không thể được.
– Ta đã vì ngươi sám hối rồi.
Ngay đó ngài Tăng Xán ngộ, trở thành vị tổ thứ ba của thiền tông Trung Hoa.
Đến vị tổ thứ tư là ngài Đạo Tín. Lúc gặp tổ Tăng Xán, ngài Đạo Tín còn là Sa-di mới mười bốn tuổi, thưa:
– Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát.
Tổ Tăng Xán hỏi lại:
– Ai trói buộc ngươi?
Nghe Tổ hỏi, ngài nhìn lại không thấy ai trói buộc mình nên thưa:
– Không ai trói buộc.
Tổ Tăng Xán bảo:
– Đã không ai trói buộc, đâu cần cầu giải thoát.
Ngay câu nói ấy, ngài Đạo Tín lập tức lãnh ngộ. Quý vị thấy những việc truyền thừa đó thế nào? Nghe qua dường như hết sức giản đơn, nhưng ý nghĩa thì lại rất thâm trầm.
Chúng ta tu theo Phật là cốt để giải thoát sanh tử. Do thấy mình bị trói buộc nên mới tìm cầu ra khỏi vòng trói buộc, giải thoát được tự do. Đa số người nghĩ rằng, giải thoát sanh tử là sanh về một nơi nào đó rất tốt đẹp, không còn phải trở lại Ta-bà này nữa. Nhưng không ngờ, giải thoát chính là ngay cuộc sống hiện tại không bị tất cả phiền não trói buộc, chứ không phải chờ đến nơi nào xa xôi ở một kiếp khác. Hiện đời nếu khéo biết buông xả phiền não, gỡ bỏ mọi thứ trói buộc lấy mình, đó là giải thoát.
Nhưng làm sao để ngay trong cuộc đời này, chúng ta vẫn sống như mọi người mà không bị trói buộc? Muốn như thế thì phải biết cái gì trói buộc mình. Thí như khi con mắt nhìn thấy sắc đẹp liền nhiễm là bị sắc trói buộc, nghe tiếng hay dở liền nhiễm là bị tiếng trói buộc, thấy biết mình cho là đúng mà người khác bảo sai liền nổi sân là bị chấp trước trói buộc v.v… Tất cả phản ứng sanh ra buồn bực, khó chịu, dính mắc… là trói buộc, từ ngữ chuyên môn trong nhà Phật gọi đó là nghiệp.
Nghiệp dẫn chúng ta đi trong sanh tử, nếu bây giờ không để căn trần trói buộc nữa thì nghiệp chấm dứt, dứt nghiệp rồi còn ai dẫn đi sanh tử, thế là giải thoát ngay trong cuộc sống này. Đạo Phật luôn thích hợp với thời đại và thực tế vô cùng. Người đời thường đòi tự do với người chung quanh mà không chịu đòi tự do nơi chính mình, nên tuy đòi tự do mà không tự do. Nếu biết tìm tự do nơi mình thì không để ngũ dục nhiễm ô, không bị sáu trần dính mắc.
Như người uống rượu bia, hút thuốc, ghiền á phiện… họ có tự do không? Biết tất cả những thứ ghiền nhiễm đều mất tự do, ngay bây giờ phải gỡ bỏ nó đi, chặn đứng hết mới được tự do thật sự. Đó là ý nghĩa giải thoát của đạo Phật. Giải thoát là quả, tự do hay tự chủ là nhân. Triết lý đạo Phật tuy cao siêu mà hết sức đơn giản và thực tế. Do người thế gian ưa tô điểm sơn phết, thích hình thức màu mè, nghe nói điều bình dị đơn giản quá thì coi thường, phải tìm kiếm cái gì huyền bí xa xôi mới chịu. Vì đạo Phật cao siêu mà thực tế nên rất khó nói, khó hiểu.
Đến đây tôi đi thẳng vào thiền tông Việt Nam. Như quý vị thấy, thiền tông từ Ấn Độ do tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền sang Trung Hoa, đến tổ thứ ba ở Trung Hoa là ngài Tăng Xán thì chia ra thành hai nhánh: Tứ tổ Đạo Tín truyền thiền ở Trung Hoa, ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thiền sang Việt Nam.
Tỳ-ni-đa-lưu-chi gốc người Ấn Độ. Vì muốn tìm học thiền tông mà tổ thứ hai mươi tám là Bồ-đề-đạt-ma đã sang Trung Hoa, nên ngài tìm theo để học. Khi đến Trung Hoa thì tổ Bồ-đề-đạt-ma và tổ Huệ Khả đã tịch, ngài bèn tìm tới tổ Tăng Xán. Qua đối đáp ngài Tỳ-ni- đa-lưu-chi lãnh hội được yếu chỉ thiền, lưu lại đó một thời gian. Năm 580 ngài sang Việt Nam ở tại chùa Pháp Vân, tức chùa Dâu. Một thời gian sau, ngài truyền thừa cho thiền sư Pháp Hiền, người Việt Nam.
Như vậy, hệ Tỳ-ni-đa-lưu-chi là hệ phái thiền tông truyền sang Việt Nam đầu tiên. Hệ thống truyền thừa của dòng thiền này, tới đời thứ 19 là thiền sư Y Sơn (tịch năm 1213) được mấy trăm năm. Vì ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi gốc người Ấn, nên sự truyền bá có đôi chút huyền bí.
Dòng thiền thứ hai được truyền sang Việt Nam là phái Vô Ngôn Thông. Ngài người Trung Hoa sang Việt Nam vào năm 820, ở chùa Kiến Sơ. Đệ tử lớn được truyền thừa là thiền sư Cảm Thành, đời cuối cùng là cư sĩ Ứng Thuận ở thế kỷ XIII.
Dòng thiền thứ ba là phái Thảo Đường. Khi vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, bắt được một số người đem về làm nô dịch, trong đó có ngài Thảo Đường. Ngài được phân công phục vụ cho một vị Tăng cang. Nhân quét dọn phòng ốc, ngài thấy bản ghi chép của các thiền sư bị nhầm nên cầm bút sửa lại, Tăng cang về xem biết đây không phải người tầm thường bèn trình lên vua. Nhà vua cho mời đến hỏi gốc tích và lý thiền, mới biết đây là thiền sư Thảo Đường, đệ tử của thiền sư Tuyết Đậu Trùng Hiển thuộc tông Vân Môn ở Trung Hoa.
III- Đặc tính thiền tông các nước
Sau đây tôi sẽ điểm sơ qua những đặc biệt của thiền tông Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản, để quý vị thấy được thiền tông Việt Nam khác với thiền tông các nước là như thế nào. Nhưng cũng xin nhắc lại, đây chỉ là nhận xét riêng của chúng tôi mà thôi.
1- Thiền tông Ấn Độ
Thiền tông Ấn Độ có hai tính chất đặc biệt: một là lý luận khúc chiết, hai là huyền bí.
Tổ thứ bảy Bà-tu-mật, sau khi tổ Di-dá-ca nhập Niết-bàn, ngài đi hoằng hóa khắp nơi tuyên dương chánh pháp. Khi đến nước Ca-ma-la, ngài lên pháp tòa giảng đạo, có một trí sĩ đến dưới tòa lớn tiếng tự xưng:
– Tôi là Phật-đà-nan-đề, hôm nay quyết luận nghĩa với Thầy.
Ngài bảo:
– Này nhân giả! Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận.
Nan-đề biết đây là người nói nghĩa thù thắng, khởi tâm kính phục thưa:
– Con nguyện cầu đạo, được thưởng thức vị cam lồ. Ngài thương xót liền cho xuất gia thọ giới, không bao lâu truyền pháp cho Phật-đà-nan-đề.
Lý luận như vậy quý vị nghe qua dễ hiểu không? Luận và nghĩa khác nhau chỗ nào? Thường chúng ta luận là luận bàn về một vấn đề hay một sự vật để cho người khác hiểu. Thí dụ bây giờ tôi luận bàn với quý vị về cái tách thì cái tách và luận bàn là một hay hai? Luận bàn là ngôn ngữ mình nói, cái tách là sự vật ở ngoài, cho nên cái tách là nghĩa mà luận bàn là luận. Chúng ta thường quen nghĩ luận bàn và luận nghĩa là một, nhưng sự thật không phải thế. Nghĩa là cái để bàn luận, mà luận là cái hay bàn luận của mình. Cái tách mà chúng ta bàn luận nó đâu tự biết bàn luận. Do đó luận và nghĩa hai cái không phải một. Vì vậy ngài nói: Nếu luận thì chẳng phải nghĩa, nếu nghĩa thì chẳng phải luận. Nếu nghĩ luận nghĩa, trọn chẳng phải nghĩa luận. Nghe tổ Bà-tu-mật lập luận chí lý như thế, ngài Phật-đà-nan-đề biết đây là một luận sư rất tài giỏi, nên hết lòng khâm phục bèn xin theo xuất gia.
Tổ thứ mười bảy ở Ấn Độ là Tăng-già-nan-đề có một đệ tử tên là Xá-đa, một hôm gió thổi cái linh treo trên điện Phật khua động, Tổ hỏi Xá-đa:
– Linh kêu hay gió kêu?
Xá-đa thưa:
– Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu mà tâm con kêu.
Quý vị nghe lạ không? Lẽ thường chúng ta phải thừa nhận gió kêu hoặc linh kêu, sao ngài lại phủ nhận chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu mà tâm con kêu. Tâm mình kêu tiếng gì? Đó là lý luận lạ lùng. Gió và linh đều vô tình, nó khua là do duyên dao động, nhưng biết được tiếng linh động là cái gì? Nếu ngoài tâm mình thì lấy cái gì mà biết, vì thế biết được tiếng khua động tức là tâm chứ không phải linh hay gió. Bởi tâm biết được linh và gió khua động phát ra tiếng kêu, vậy là tâm kêu chứ không phải linh kêu cũng không phải gió kêu. Câu nói này đối với thế gian xem là trái ngược, nhưng đó là lý thật.
Nghe nói thế Tổ hỏi vặn lại: – Tâm ngươi là cái gì? Ngài đáp: – Đều lặng lẽ.
Tổ khen: – Hay thay! Ngươi khéo hội lý Phật, nên nói pháp yếu. Nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai?
Như vậy là được truyền tâm ấn. Nếu nghe hỏi tâm ngươi là cái gì, chắc chúng ta sẽ trả lời tâm con là cái đang suy nghĩ, tính toán phân biệt. Nhưng ngài Xá-đa lại nói thảy đều lặng lẽ, chính chỗ hoàn toàn lặng lẽ đó mới thật là tâm con.
Người tu mỗi ngày ngồi thiền cốt để định tâm loạn nghĩ lăng xăng, tâm loạn nghĩ lăng xăng đó yên rồi thì cái lặng lẽ mà hằng sáng hằng biết hiện tiền. Đó là triết lý thiền định. Hiện giờ chúng ta cho cái suy nghĩ là tâm, xét kỹ lại xem nó có phải là tâm mình không? Có khi nghĩ lành như thánh, có khi nghĩ dữ như cọp… vậy cái nào là mình? Thế nên, nếu muốn tìm lại con người chân thật nơi mình thì phải để yên cho những niệm tưởng lăng xăng lặng hết, cái thật mới hiện ra. Cái thật ấy thiền sư gọi là Bản lai diện mục, tức là mặt mày chân thật muôn thuở của chính mình. Bản lai diện mục xưa nay hằng hữu, nhưng vì chúng ta chạy theo loạn động mà quên mất, nay nhận biết thì gọi là ngộ. Người ngộ đó khả dĩ truyền thừa được đạo pháp, nên nói truyền tâm ấn. Tinh thần lý luận của thiền tông Ấn Độ là như vậy.
Huyền bí đây là nặng về thần thông chứ không phải huyền bí theo mê tín. Chư tổ ở Ấn Độ thường sử dụng thần thông để giáo hóa, nhiếp phục ngoại đạo. Như trường hợp của tổ Mã Minh, tác giả bộ luận nổi tiếng Đại Thừa Khởi Tín Luận, cũng là vị tổ thứ mười hai ở Ấn Độ. Ngài đi hóa đạo đến thành Hoa Thị, một hôm bảo đồ chúng: “Giây lát đây sẽ có ngoại đạo đến đấu sức với ta.” Bỗng chốc gió mưa ầm ỹ xối xả kéo đến khiến trời đất mịt mù, ngài bảo: “Đây là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến, ta sẽ trừ chúng.” Nói xong ngài chỉ tay trên hư không hiện ra con rồng vàng to lớn, phấn khởi oai thần khiến pháp ngoại đạo tan biến.
Kế đến là tổ thứ mười bốn, ngài Long Thọ. Bấy giờ tại một nước nhỏ ở gần Nam An, có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được nhiều phép lạ. Vua và quốc dân đều thọ giáo với họ, khiến đạo Phật bị mờ tối. Ngài thấy thế bèn thay đổi hình thức, mặc áo trắng đội mũ, đợi mỗi khi vua ra thành ngài cầm cây cờ đi trước hoặc ẩn hoặc hiện. Ngài làm những hiện tượng lạ như thế để cho nhà vua thắc mắc kêu lại hỏi, nhân đó mới giải thích đạo lý.
Ở Ấn Độ, thiền tông sử dụng hai phương tiện lý luận và thần thông huyền bí, nhằm để truyền bá Phật pháp. Nhưng khi truyền sang Trung Hoa thì khác hẳn, các thiền sư Trung Hoa không coi trọng thần thông nên tính huyền bí không còn mạnh như ở Ấn Độ.
2- Thiền tông Trung Hoa
Thiền tông Trung Hoa, theo cái nhìn của chúng tôi thì có tính cách kỳ bí mà táo bạo. Điểm táo bạo này vào cuối đời Đường sang đời Tống càng tăng trưởng mạnh hơn. Như sau thời Lục tổ Huệ Năng, vị đệ tử lớn của ngài là thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng, dưới ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng có thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất, đây là một vị thiền sư nổi tiếng và có ảnh hưởng rất lớn ở Trung Hoa. Một hôm có người đến hỏi: “Thế nào là ý Tây sang?” Tây sang tức chỉ tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang. Mã Tổ đánh nói: “Ta không đánh ngươi các nơi sẽ cười ta.” Hỏi ý của Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa, chỉ đánh thôi chứ không trả lời.
Dưới ngài Mã Tổ Đạo Nhất có thiền sư Hoài Hải Bá Trượng, kế Hoài Hải Bá Trượng là thiền sư Hoàng Bá Hy Vận. Pháp hội của ngài Hoàng Bá tới ba trăm vị tăng, trong đó có ngài Lâm Tế Nghĩa Huyền. Ngài Lâm Tế là người oai nghi nghiêm chỉnh, đức hạnh chu toàn. Thủ tọa Trần Tôn Túc thầm khen “tuy là hậu sanh cùng chúng chẳng giống”. Thấy ngài Lâm Tế đến hội Hoàng Bá đã lâu mà không ra thưa hỏi, Thủ tọa bèn hỏi:
– Thượng tọa ở đây được bao lâu?
Ngài thưa: – Ba năm.
– Từng tham vấn chưa?
– Chưa từng tham vấn, cũng chẳng biết tham vấn cái gì?
Sao Thầy không đến hỏi Hòa thượng đường đầu, thế nào là đại ý Phật pháp?
Ngài liền đến hỏi, chưa dứt lời Hoàng Bá liền đánh. Ngài trở xuống, thưa:
Tôi hỏi lời chưa dứt, Hòa thượng liền đánh, tôi chẳng hội.
Thủ tọa thấy thương nên bảo đi hỏi nữa. Ngài lại đến hỏi, Hoàng Bá lại đánh. Như thế ba phen hỏi, bị ba lần đánh. Ngài trở về chúng mà không biết tại sao mình bị đánh, buồn quá định bỏ đi, bèn đến bạch Thủ tọa:
– Nhờ lòng từ bi của Thầy dạy tôi đến thưa hỏi Hòa thượng, ba phen hỏi bị ba lần đánh, tôi tự buồn chướng duyên che đậy không lãnh hội được thâm chỉ. Nay xin từ giã ra đi.
Thủ tọa bảo:
– Nếu khi Thầy đi, nên đến giã từ Hòa thượng rồi sẽ đi.
Sau đó Thủ tọa đến thất Hòa thượng trước, thưa:
– Người đến thưa hỏi ấy, thật là đúng pháp. Nếu khi đến từ giã, Hòa thượng dùng phương tiện tiếp y, về sau đục đẽo sẽ thành một gốc đại thọ che mát người trong thiên hạ.
Ngài đến từ giã, Hoàng Bá bảo:
– Chẳng nên đi chỗ nào khác, ngươi đi thẳng đến Cao An chỗ thiền sư Đại Ngu, ông ấy sẽ vì ngươi nói.
Ngài nghe lời tới chỗ thiền sư Đại Ngu. Đại Ngu hỏi: – Ở chỗ nào đến?
Sư thưa: – Ở Hoàng Bá đến.
– Hoàng Bá có dạy lời gì?
– Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?
– Hoàng Bá tâm lão bà đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi?
Ngay câu nói ấy ngài bừng ngộ, thưa:
– Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều.
Đại Ngu nắm đứng lại, bảo:
– Con quỷ đái dầm! Vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì? Nói mau, nói mau!
Ngài liền cho vào hông Đại Ngu ba thoi. Đại Ngu buông ra, nói:
– Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng can hệ gì việc của ta.
Ngài từ tạ Đại Ngu trở về chỗ Hoàng Bá.
Quý vị nghe câu chuyện này có phải quá kỳ bí và táo bạo không? Giảng đạo mà như một cuộc đấu võ, bị đánh đáo để nhưng rồi ngộ đạo. Đó là những thuật tiếp người của thiền sư Trung Hoa, nếu chúng tôi không dẫn ra thì quý vị cũng khó mà thấy được. Bởi vì hiện giờ ở nước ta, ngoài Bắc cũng như trong Nam, các ngôi chùa cổ đều ghi theo hệ thống Lâm Tế. Như vậy là tông Lâm Tế được truyền bá trên đất nước Việt Nam cho tới bây giờ đã rất lâu, mà chúng ta không hiểu sự truyền thừa của vị tổ đó như thế nào, quả là khuyết điểm lớn của chúng ta. Bây giờ tôi lặp lại cho quý vị thấy. Hỏi về đại ý Phật pháp, tức là nhắm đến trọng tâm đơn giản ngắn gọn mà Phật chỉ dạy, chứ không phải những giáo lý tràng giang đại hải được ghi lại trong Tam tạng kinh. Trọng tâm đó là cái gì mà khi hỏi tới chỉ đánh thôi không nói? Ba lần hỏi thì ba lần đều bị đánh, tức là không cho suy nghĩ gì hết, dồn tới chỗ gần như đường cùng. Mang thắc mắc không biết lỗi ở chỗ nào ra đi, qua chỗ Đại Ngu chỉ một câu nói: Hoàng Bá tâm lão bà đã vì ngươi chỉ chỗ tột khổ, lại đến đây hỏi có lỗi không lỗi? Ngài Lâm Tế ngộ đại ý Phật pháp là gì. Nếu còn thấy có lỗi không lỗi là hai bên, không còn niệm đuổi theo hai bên thì lặng lẽ mà rõ sáng, ấy chính là đại ý Phật pháp, đúng với tông chỉ của các vị tổ sư Ấn Độ – Trung Hoa rồi.
Thâm nhập được ý đó nên ngài Lâm Tế thốt lên: Xưa nay Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. À! Như vậy là có gì đâu, Phật pháp của Hoàng Bá hết sức đơn giản. Nghe Lâm Tế nói, ngài Đại Ngu biết vị tăng này đã thấy được yếu chỉ, nên nói: Con quỷ đái dầm! Vừa nói có lỗi không lỗi, giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo lý gì? Nói mau, nói mau! Hỏi thấy cái gì, nếu theo lẽ thường chúng ta sẽ trình bày thế này thế kia, nhưng ngài Lâm Tế không nói mà chỉ cho ba thoi vô hông Đại Ngu. Sao lạ vậy? Bởi chỗ đó không có ngôn ngữ. Ngôn ngữ là hai bên, vừa khởi nói phải trái, tốt xấu v.v… là rơi vào hai bên. Đến chỗ tột cùng lìa ngoài hai bên thì còn gì để nói, nên thoi ba thoi là đã đủ rồi.
Về sau, khi ngài Lâm Tế ra làm thầy thiên hạ, có người tới hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Ngài liền hét. Đúng như câu hỏi cũ nhưng xưa thầy đánh, còn nay thì trò hét. Như vậy tiếng hét có giá trị gì, có giống cái đánh hay không? Cốt lõi của thiền là không cho suy nghĩ, vừa khởi nghĩ tức không phải đại ý Phật pháp. Thế nên nếu chúng ta cứ nhìn theo đánh hét thì không thể nào thấy được trọng tâm mà các ngài muốn chỉ.
3- Thiền Nhật Bản
Theo cái nhìn của chúng tôi, thiền Nhật Bản rất nghệ thuật và trang nhã. Như trà đạo, hoa đạo, nhu đạo, kiếm đạo, thiền đạo… Nghĩa là uống trà, cắm hoa, đánh kiếm v.v… đều có tính nghệ thuật, rất nhẹ nhàng và đầy sắc thái thiền. Tôi dẫn một vài câu chuyện để quý vị thấy, nhưng tôi chỉ nhớ câu chuyện mà không nhớ tên các ngài, vì tên của thiền sư Nhật Bản khó nhớ quá.
Câu chuyện thứ nhất kể về một vị tiến sĩ có cả hai bằng cấp, văn học và triết học. Hôm đó tới gặp Thiền sư, thưa: “Xin Hòa thượng dạy con pháp tu thiền.” Thiền sư mời ngồi rồi lặng thinh rót trà vào tách, chung trà đầy tràn Thiền sư vẫn cứ rót mãi. Vị tiến sĩ thấy thế la lên: “Đầy rồi, tràn rồi!” Thiền sư dừng rót, nói: “Phải, cái gì đầy rồi mà còn thêm nữa sẽ tràn.” Thật nhẹ nhàng làm sao! Hành động của Thiền sư muốn nói lên điều gì? Cái đầu ông đã đầy kiến thức hết rồi, giờ thêm vào nữa là tràn. Muốn học thiền thì hãy dẹp bỏ mọi kiến thức đi, phải khéo thấy khéo nhận, đòi học hiểu thêm là tràn. Các ngài không la mắng, không đánh hét mà chỉ hành động hết sức nhẹ nhàng, nên tôi tạm gọi là trang nhã.
Câu chuyện thứ hai có tên là Giáo lý thượng thừa, nghe hơi lạ một chút. Có anh mù nọ đi thăm người bạn thân đã lâu không gặp, hai người nói chuyện mãi tới trời tối mà không hay. Anh mù từ giã ra về, thấy trời tối đen người bạn thương thắp đèn lồng đưa cho cầm về. Anh mù cười, nói: “Với tôi ngày như đêm, đêm như ngày, có đèn cũng bằng thừa.” Người bạn giải thích: “Đối với anh thì không cần, tuy nhiên vì đêm tối tốt hơn anh nên cầm đèn mà đi, người khác thấy đèn sẽ không đụng phải anh.” Anh mù nghe bạn nói có lý, bèn cầm đèn ra về. Giữa đường chợt có người đụng trúng, anh mù giật mình hỏi: “Bộ không thấy tôi sao?” Người kia trả lời: “Thưa bạn, tôi không thấy.” Anh mù hỏi tiếp: “Tôi cầm đèn mà không thấy à?” Người kia nói: “Thưa bạn, đèn của bạn đã tắt tự bao giờ.”
Quý vị nghe qua câu chuyện Giáo lý thượng thừa, có thấy dễ hiểu không? Đây là triết lý thiền của Nhật Bản. Dù người bạn thương đưa cây đèn muốn giúp cho anh mù tránh tai nạn, nhưng cây đèn chỉ cần thiết cho người mắt sáng đi đêm, chứ nó không cần đối với người mù. Cũng vậy, người tu Phật mở sáng con mắt trí tuệ của chính mình thì mọi phương tiện dùng đều hữu ích. Còn mình không sáng, dù người khác thương muốn giúp cũng không ích lợi gì. Mở sáng mắt trí tuệ của chính mình, trong nhà thiền gọi là Vô sư trí.
Trong đạo Phật có chia ra hai thứ trí tuệ: Hữu sư trí và Vô sư trí. Hữu sư trí là trí tuệ do học hỏi nơi thầy bạn, hoặc do thiện hữu tri thức chỉ dạy mà được mở sáng. Vô sư trí là trí tuệ nơi mình do tâm an định phát ra, không qua học hỏi. Như khi đức Phật Thích-ca ngồi thiền dưới cội Bồ-đề, tâm an định trí tuệ bừng sáng, không phải do vị thầy nào chỉ dạy, nên nói chứng Vô sư trí. Hữu sư trí là còn đi trong sanh tử, Vô sư trí mới thoát ra khỏi sanh tử luân hồi.
Kinh Pháp Hoa, phẩm Tùng Địa Dũng Xuất tức là từ dưới đất vọt lên, có đoạn: Khi hội chúng đã thâm hiểu trọng tâm mà Phật chỉ dạy, khi ấy có chư vị Bồ-tát ở phương khác từ bên ngoài đến lãnh hội được yếu chỉ bèn bạch với đức Phật, phát nguyện xin duy trì bảo hộ cho những người trì kinh Pháp Hoa ở thế giới này. Phật bảo: “Thôi, không cần các ngươi.” Bấy giờ quả đất rúng động, các vị Bồ-tát từ đất vọt lên đi nhiễu chung quanh Phật, rồi quỳ gối chắp tay bạch: “Chúng con xin nguyện hộ trì kinh Pháp Hoa.” Phật liền chấp nhận.
Nếu quý vị không nghiên cứu Phật pháp kỹ thì đọc tới đây không thể nào hiểu nổi, ngỡ như Phật đang kể một câu chuyện thần thoại, nhưng không ngờ đó chính là tinh thần của kinh Pháp Hoa.
Bồ-tát tha phương là Hữu sư trí, Bồ-tát từ lòng đất vọt lên là Vô sư trí. Bồ-tát từ bên ngoài đến thì không thể hộ trì tri kiến Phật, mà phải là Bồ-tát từ đất vọt lên mới hộ trì được. Bởi vì Bồ-tát là hữu tình giác, tức là một chúng sanh giác ngộ. Giác ngộ là nhận ra cái thật nơi mình, từ hông ngực của mình phát ra thì mới hộ trì tri kiến Phật được. Kinh Pháp Hoa chỉ ra tri kiến Phật, là một bản kinh rất đặc biệt. Vì vậy nếu người không nghiên cứu kỹ, không nắm vững Phật pháp thì rất khó lãnh hội được tinh thần của bộ kinh này.
Chúng tôi đã nói qua về thiền tông Ấn Độ, Trung Hoa và Nhật Bản, bây giờ nói đến thiền tông Việt Nam.
IV- Thiền tông Việt Nam
Thiền tông Việt Nam vừa huyền bí thi vị, vừa thiền giáo song hành, đồng thời thủ vai trò chủ đạo trong việc truyền bá đạo Phật tại Việt Nam. Để quý vị có thể thấy được sự khác biệt giữa thiền tông Việt Nam và thiền tông các nước như thế nào, tôi sẽ lần lượt nêu ra từng đặc điểm:
1- Huyền bí
Thiền tông Việt Nam huyền bí thế nào? Ở đây chúng tôi chỉ nói đại cương. Người truyền thiền tông sang Việt Nam trước nhất là Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Ngài vốn người Ấn nên tuy sang Trung Hoa được ngộ đạo nơi tổ Tăng Xán, nhưng bản chất huyền bí của người Ấn vẫn còn. Vì thế trong phương pháp dạy thiền của ngài, thỉnh thoảng có pha trộn Mật giáo. Về sau các đệ tử của ngài, tuy là thiền sư nhưng cũng có những pháp huyền bí. Như thiền sư Giác Hải đời Lý, được vua Lý Nhân Tông tặng bài thơ:
Giác Hải tâm như hải,
Thông Huyền đạo hựu huyền,
Thần thông kiêm biến hóa,
Nhất Phật, nhất thần tiên.
Giác Hải tâm như biển,
Thông Huyền đạo lại huyền,
Thần thông gồm biến hóa,
Một Phật, một thần tiên.
Vua Lý Nhân Tông nhìn thiền sư Giác Hải tương tợ đạo sĩ Thông Huyền. Một bên Phật, một bên là thần tiên; cả hai đều có thần thông huyền bí không thua kém nhau. Qua bốn câu thơ có thể biết được rằng, thiền tông Việt Nam đã có những hiện tượng huyền bí lẫn vào.
2- Thi vị
Thiền tông Việt Nam mang tính chất thi vị, tôi dẫn sơ ra vài câu điển hình về lối đối đáp của các ngài. Như thiền sư Viên Chiếu đời Lý, có tăng hỏi:
– Phật với thánh, nghĩa ấy thế nào?
Ngài đáp:
Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
(Ly hạ trùng dương cúc, chi đầu thục khí oanh.)
Một vị tăng khác, hỏi:
– Đường ngôn ngữ dứt là thế nào?
Đường ngôn ngữ dứt, nguyên chữ Hán là ngôn ngữ đạo đoạn. Chỗ cứu cánh trong nhà thiền là không còn lời để nói, gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tức là bặt dứt đường ngôn ngữ. Như trước tôi có nói, ngôn ngữ luôn luôn đi đôi với đối đãi, hoặc có hoặc không, hoặc phải hoặc quấy, hoặc tốt hoặc xấu v.v… Khởi ngôn ngữ là có đối đãi, vì vậy thiền tông cốt đưa chúng ta tới chỗ bặt dứt đối đãi, gọi là bặt dứt đường ngôn ngữ. Do đó khi thiền khách nêu vấn đề cứu cánh ra hỏi, thiền sư Viên Chiếu đáp:
Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo,
Sơn nham đới nguyệt quá tường lai.
Tạm dịch:
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,
Đầu non mang nguyệt vượt tường sang.
Ngài trả lời qua hình ảnh thật đẹp và rất thi vị. Hỏi cứu cánh là hỏi đến chỗ không còn ngôn ngữ, sao ngài lại đáp hai câu thơ như thế, có ý nghĩa gì?
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến, chữ giốc còn đọc là giác, là tiếng còi hay tiếng tù và mà hồi xưa người ta hay thổi. Gió và tiếng có suy nghĩ gì không? Cả hai đều vô tâm. Gió thổi tiếng còi xuyên qua lùm trúc đến tận tai mình, tuy thấy có hoạt động đó, mà nó vô tâm.
Đầu non mang nguyệt vượt tường sang. Ngọn núi mang mặt trăng sáng đi qua bức tường đến với chúng ta. Mặt trăng trên đầu ngọn núi di chuyển qua tường, cũng có hoạt động mà vô tâm. Nói thế là ngài đã trả lời câu hỏi đường ngôn ngữ, đó không phải là chỗ vô tri vô giác không có hoạt động, mà chính là chỗ hằng trị hằng giác nhưng không tâm dính mắc, vì thế nói ngôn ngữ đạo đoạn. Một câu hỏi hết sức khó trả lời, vậy mà ngài dùng hai câu thơ để đáp thật thi vị.
Một trường hợp khác là Thượng sĩ Tuệ Trung, có vị tăng đến hỏi:
– Bạch Thượng sĩ, thế nào là đại ý Phật pháp?
Thượng sĩ đáp:
Ngao đầu đả lãng tiêu minh nhãn,
Bằng dực đoàn phong lũ nghị trường.
Hai câu này chúng tôi tạm dịch:
Đầu trạnh vỗ sóng mắt sâu bọ,
Cánh bằng nhốt gió ruột kiến trùng.
Quý vị thấy, đồng là câu hỏi này mà đem hỏi thiền sư Hoàng Bá ở Trung Hoa liền bị ăn gậy, sau đến ngài Lâm Tế thì hét, nhưng hỏi Thượng sĩ Tuệ Trung ở Việt Nam thì được ngài dùng ngôn ngữ rất thi vị để trả lời.
Ngao đầu đả lãng tiêu minh nhãn, con trạnh to vẫy nước tạo sóng, trong mắt của sâu trùn nhỏ xíu. Bằng dực đoàn phong lũ nghị trường, con chim bằng vỗ cánh tạo gió trong ruột con kiến. Quý vị nghe lạ không? Con trạnh to vỗ nước thành sóng, mà ở trong con mắt loài sâu trùng bé xíu. Chim bằng to chuyển động đôi cánh lướt gió trong hư không, như trong ruột con kiến con trùng. Ý muốn nói lớn nhỏ không hai. Cái lớn như con ngao, chim bằng; cái nhỏ như mắt sâu bọ, ruột kiến trùng. Nghĩa là lớn nhỏ không hai, không rời nhau vì đồng một thể. Một câu đáp nhằm dẹp cái chấp hai bên, vừa thấy được đại ý Phật pháp. Các ngài không đánh không hét, chỉ nói thơ mà đầy đủ ý nghĩa không khác với cái đánh hét của thiền sư Trung Hoa.
Tôi dẫn tiếp một vị nữa, đó là Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông. Có vị tăng hỏi: – Thế nào là Phật?
Ngài đáp: – Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Hỏi: – Thế nào là Pháp?
Ngài đáp: – Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Hỏi: – Thế nào là Tăng?
Ngài đáp: – Nhận đến như xưa vẫn chẳng phải.
Khi được hỏi thế nào là Phật, theo thông thường lẽ ra phải giải nghĩa Phật là giác, người đã giác ngộ được gọi là Phật v.v… Tại sao ngài không giải thích mà lại nói như vậy? Nhận đến như xưa là nhận thế nào?
Đây là tinh thần Nhất thể tam bảo của Lục tổ Huệ Năng. Trong Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói: Phật pháp tăng chỉ là một thể. Phật là giác, pháp là chánh, tăng là hòa. Tánh giác của mình là Phật, tánh ngay thẳng chân chính của mình là pháp, tánh hòa hợp của mình là tăng. Ba tánh sẵn ở mình là Phật pháp tăng, chứ không phải Phật pháp tăng ở bên ngoài. Nếu không nhận ngay nội tâm mà cứ tìm kiếm ở ngoài thì dù nhận hiểu tột cùng cũng chưa thấy được Phật pháp tăng.
Hỏi ba câu mà trả lời chỉ có một cách, vẫn đáp y nguyên một câu nói làm cho ông tăng lúng túng không hiểu thế nào, nên hỏi: “Cứu cánh thế nào?” Ngài đáp như vậy, rốt cuộc là sao?
Ngài trả lời bằng hai câu thơ:
Bát tự đả khai phân phó liễu,
Cánh vô dư sự khả trình quân.
Chữ bát đã bày trao hết sạch,
Đâu còn có việc nói cùng ngươi.
Chữ bát đã mở ra, đã trao cho rồi không còn việc gì khác để trình với ông nữa. Chữ bát ở đây là chỉ cho hai chân mày, vì chân mày của chúng ta giống như chữ bát (八). Nếu đã thấy chân mày thì sẽ thấy được lỗ mũi, vậy còn gì mà hỏi, có gì để chỉ nữa. Chữ bát, cũng có chỗ giải thích theo cách khác. Như dẫn bài kệ trong kinh: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc”, cho đó là bát tự. Nhưng sự thật không phải thế.
Trên đây tôi chỉ dẫn qua một vài nét về tính thi vị của thiền tông Việt Nam, nếu đọc hết thơ văn Lý Trần thì mênh mông bát ngát, chắc giảng mấy tháng cũng chưa hết.
3- Thiền giáo song hành
Thiền là phương pháp hay đường lối tu thiền, Giáo là kinh điển. Ở tại Trung Hoa thiền khác giáo khác, mỗi bên có phần riêng; nhưng ở Việt Nam thì thiền và giáo không thể tách rời. Do tính cách của người Việt Nam rất thận trọng, nói cái gì cũng phải có chứng cứ chứ không tự ý nói theo hiểu biết riêng của mình.
Thiền và kinh không hai, thế nên chúng ta tu thiền của đạo Phật mà không chấp nhận kinh, không dùng kinh để đối chiếu thì không thể được. Bởi kinh là lời Phật dạy, thiền là tâm của Phật. Ngôn ngữ Phật dạy ra là kinh, tâm của Phật là thiền. Lời nói và tâm không hai, tâm Phật thấy biết thế nào thì nói ra lời thế ấy. Tóm lại, thiền là tâm Phật, giáo là miệng Phật, hai cái không thể tách biệt.
Quý vị có nghiên cứu thiền tông Trung Hoa hay Nhật Bản cũng biết, pháp của phái Lâm Tế dạy là tu thoại đầu hay khán công án. Nghĩa là khi tu chỉ đặt niềm tin vào câu thoại đầu, hoặc khán công án chứ không cần nghiên cứu kinh điển, vì nghiên cứu thuộc về kiến giải. Thiền tông Việt Nam thì chủ trương thiền giáo song hành, nghĩa là luôn luôn chú trọng kinh điển, lấy lời Phật dạy trong kinh đối chiếu sự tu ở nội tâm của mình, hai cái phù hợp nhau mới đúng là tu theo Phật, là thiền của Phật.
4- Thiền tông Việt Nam thủ vai trò chủ đạo trong việc truyền bá đạo Phật
Điều đặc biệt này chắc hẳn chỉ có ở Việt Nam. Vì tại Ấn Độ sau khi Phật Niết-bàn, Phật giáo phân chia thành hai mươi bộ phái, gọi chung thì có hai hệ Nam tông và Bắc tông, để truyền bá Phật giáo ở Ấn Độ và các nước lân cận. Ở tại Trung Hoa thì Phật giáo phân chia thành mười tông phái, gồm có: Thiên Thai tông còn gọi là Pháp Hoa tông, Hoa Nghiêm tông, Thành thật tông, Tam luận tông, Duy thức tông, Tịnh độ tông, Thiền tông, Luật tông, Niết-bàn tông, Mật tông. Mỗi tông có mỗi đường lối riêng. Phật giáo Nhật Bản, theo tôi biết thì có ba tông phái chính: Thiền tông; Tịnh độ chân tông của ngài Thân Loan, thường gọi là Loan thánh nhân; Nhật Liên tông của ngài Nhật Liên, chủ trương lấy câu Nam-mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh làm chuẩn.
Như vậy, trước kia Phật giáo Ấn Độ có hai mươi tông, Trung Hoa mười tông, Nhật Bản tối thiểu cũng có ba tông, nhưng ở Việt Nam chỉ có Thiền tông. Tới đây ắt quý vị sẽ thắc mắc, vậy thì Mật tông và Tịnh độ tông ở đâu? Nói thế không phải do tôi chủ quan, mà vì ở Việt Nam chúng ta tuy có tu Tịnh và tu Mật, nhưng không thành tông phái rõ ràng. Quý vị thử đi đến các ngôi chùa cổ mà xem, không có ngôi chùa nào là chùa tổ của Mật tông và Tịnh độ tông. Chư tổ khai sơn các ngôi chùa cổ toàn tu thiền, chư tổ đem Phật pháp truyền vào Việt Nam cũng là các vị thiền sư. Như ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường, về sau lại có chư tổ của tông Lâm Tế và tông Tào Động truyền sang, tất cả đều là thiền tông.
Từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ X, trải qua các triều đại Đinh, Lê và Lý đất nước được độc lập, cũng chính là thời của Thiền tông lãnh đạo truyền bá Phật pháp trên đất nước mình, tôi gọi đó là thời kỳ Phật giáo gắn bó với đất nước. Điển hình như thiền sư Pháp Thuận, khi vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước dài ngắn thế nào, ngài dùng kệ trả lời:
Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đạo binh.
Vận nước như dây quấn,
Trời Nam sống thái bình.
Rảnh rang trên điện các,
Chốn chốn dứt đao binh.
Chúng ta có thể thấy, qua bài kệ ngài đã nói rõ cho vua biết không phải lo lắng, tuy hiện giờ có loạn nhưng rồi giặc sẽ lui, đất nước được thái bình an lạc. Không chỉ ngài Pháp Thuận mà thái sư Khuông Việt, thiền sư Vạn Hạnh… đều là những thiền sư đứng ra giúp đỡ triều đình, gầy dựng đất nước hiện thời được thanh bình, lập nên một nước Việt Nam có văn hiến hẳn hoi.
Như vậy, thời đó đất nước ta vừa có tinh thần xây dựng đất nước tốt đẹp, vừa có đạo đức ngầm trong ấy. Phần đạo đức tức là tinh thần thiền gắn liền với xã hội, giáo lý đạo Phật thấm nhuần vào tầng lớp lãnh đạo. Hòa quyện hợp thành sức mạnh, chung vai hòa vào khổ vui được mất của đất nước và dân tộc. Đó là điểm đặc biệt của Thiền tông Việt Nam thời bấy giờ.
Qua tới thế kỷ XIII, vào triều đại nhà Trần thì Phật giáo và đất nước là một, vì các vua nhà Trần đa phần đều ngộ đạo thiền, như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông… Đến vua Trần Nhân Tông thì lại xuất gia tu hành, trở thành Sơ tổ của phái Trúc Lâm. Vừa là vua hiền điều hành đất nước thanh bình, chăm lo no ấm cho dân; vừa là thiền sư có trách nhiệm truyền bá Phật giáo, vun bồi đạo đức cho dân; thời đó quả là đất nước và Phật giáo không thể tách rời, hay nói cách khác là Phật giáo và dân tộc không hai. Đó là thời kỳ Thiền tông lãnh đạo và truyền bá Phật pháp.
Sau, đến thời Hậu Lê trọng Nho khinh Phật. Triều đình chỉ cần các nhà nho hướng dẫn đất nước, nên Phật giáo lui về thôn dã sống với dân quê. Mặc dù không còn ở vị trí lãnh đạo như trước, nhưng Phật giáo vẫn truyền bá khắp trong quần chúng, tuy nhiên đa phần vẫn là Thiền tông, chưa có mặt của Tịnh độ tông và Mật tông. Thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, đất nước phân cách thành Đàng Ngoài và Đàng Trong. Đàng Ngoài có hòa thượng Chuyết Chuyết từ Trung Hoa sang truyền tông Lâm Tế. Thiền sư Thủy Nguyệt hiệu Thông Giác, từ Việt Nam sang Trung Hoa học thiền và đắc pháp với thiền sư Nhất Cú Tri Giáo tại Hồ Châu, về truyền tông Tào Động. Như vậy, Phật giáo được truyền bá ở miền Bắc Việt Nam là Lâm Tế và Tào Động. Đàng Trong thì có thiền sư Thạch Liêm người Trung Hoa sang, truyền tông Tào Động. Thiền sư Nguyên Thiều, thiền sư Tử Dung Minh Hoằng từ Trung Hoa sang, truyền tông Lâm Tế. Về sau có ngài Liễu Quán là một thiền sư người Việt ngộ đạo, cũng truyền tông Lâm Tế.
Phật giáo truyền bá ở cả hai miền Bắc và Nam, chủ yếu vẫn là Thiền tông. Bởi thế cho nên những ngôi chùa cổ ở Việt Nam hiện nay, đa số đều thờ tổ sư Thiền tông, ít thấy thờ tổ sư Tịnh độ. Dù rằng ngày nay các hòa thượng chúng ta, vẫn đeo chuỗi lần tràng hạt niệm Phật, nhưng ngày kỵ Tổ thì toàn là tổ Thiền tông, thậm chí khi các hòa thượng viên tịch vẫn để bài vị là “từ Lâm Tế chánh tông…”, tức là nối dòng Lâm Tế đời thứ mấy, hoặc nối dòng Tào Động… Đứng về mặt lịch sử, Phật giáo Việt Nam lúc mờ lúc tỏ. Những khi sáng tỏ thì Thiền tông đứng ra lãnh đạo truyền bá, khi mờ tối thấy như chìm lặng nhưng sự thật Thiền tông vẫn không thiếu vắng,
Thời cận đại, ở thế kỷ XIX thì Việt Nam bắt đầu bị Pháp đô hộ, Thiền tông lần lần mất dạng. Tới thế kỷ XX hiện nay, chúng tôi mới cố gắng khơi dậy, tạm gọi là khôi phục Thiền tông. Nhưng lý do gì mà Thiền tông bị mất dạng ngót một thế kỷ? Theo nhận xét riêng của chúng tôi, Thiền tông dạy chúng ta lý “tức tâm tức Phật”, nghĩa là chính tâm mình là Phật chứ không phải tìm Phật ở đâu. Bởi vì Phật là giác, chữ giác này có tính cách trí tuệ siêu đẳng, chứ không phải trí tuệ khôn ngoan của chúng ta. Phật chính là từ nội tâm mình phát ra chứ không phải Phật ở bên ngoài đến, thế mà lâu nay chúng ta cứ hiểu sai lầm. Nghe nói được Phật thọ ký hoặc truyền tâm ấn, rồi nghĩ rằng có đức Phật hay Bồ-tát đến xoa đầu thọ ký mình, mà không ngờ rằng trong nhà thiền nói truyền tâm ấn hay thọ ký đó, không có gì huyền bí cả.
Giống như các giáo sư dạy học trò, thấy học trò nào mình dạy tới đâu nó hiểu tới đó, hoặc có khả năng nhận hiểu tương đương với mình thì khi chấm bài nhất định phải cho điểm cao, không thể nào khác được. Khi học trò thi đậu được Bộ giáo dục cấp bằng, việc đó chỉ là một hình thức xác chứng, còn sự thật được đậu là từ sức học của nó chứ không phải do ai làm thành.
Cũng vậy, nói truyền trao tâm ấn là vị thầy ấn chứng cho đệ tử có khả năng kế thừa Phật pháp, xứng đáng gánh vác trách nhiệm thầy giao. Vì vậy nếu nhằm trên lời nói thì thấy có giao phó trách nhiệm, nhưng đủ khả năng gánh vác là nhờ vào sự ngộ hiểu của chính bản thân đệ tử, chứ không phải từ vị thầy ban cho. Vậy mà gần đây có nhiều người nghe nói được ai đó truyền tâm ấn, hoặc thọ ký cho thì thích lắm, nghĩ rằng như vậy là mình tu mau được thành thánh thành Phật, đó là sai lầm rất lớn.
Trở lại vấn đề lý do gì mà Thiền tông bị mất dạng ngót một thế kỷ, từ thế kỷ XIX đến nay. Như tôi đã nói, Thiền tông chủ trương “tức tâm tức Phật” tức khẳng định thành Phật do nơi khả năng của chính mình. Thầy bạn chỉ giúp làm sáng tỏ cái mình sẵn có, chứ không giác ngộ thay được nếu mình không cố gắng. Tin tâm mình là vấn đề cốt lõi của Thiền tông, và điều này lại liên quan mật thiết tới sự tồn vong của đất nước.
Khi đất nước độc lập, chúng ta mới thi thố được khả năng của mình, làm được điều mình muốn làm. Lúc hoàn cảnh đất nước rơi vào bị trị, tức là chúng ta không còn một chút quyền lực nào, không thể nói năng, suy nghĩ và làm việc theo cái mình muốn được. Niềm tin vào xã hội vững mạnh không còn mà phải trông cậy vào bên ngoài thì pháp tu của đạo Phật cũng phải phù hợp với tha lực, do đó sự truyền bá của Thiền tông không còn phù hợp nữa. Tự lực không có thì phải nương vào tha lực là lẽ đương nhiên, thế nên các tổ sư Việt Nam khéo léo chuyển qua dùng pháp niệm Phật cầu về Cực lạc của Tịnh độ, làm phương tiện truyền bá tu hành.
Phương pháp tu hành cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là như thế, nhưng hiện nay đất nước đã độc lập, chúng ta tự tin rằng mình có thể gầy dựng lại nền văn hóa cao đẹp của xứ sở, phát triển kinh tế được sung túc v.v… Nghĩa là lòng tự tín của người dân đã có mà pháp tu của chúng ta còn trông cậy ra ngoài là không phù hợp, cho nên phải khơi dậy tinh thần tự tín tự lực, vốn hay đẹp của tổ tiên mình.
Khơi dậy tinh thần tự tín tự lực, đó là pháp tu của thiền tông. Tự tín tức là đầy đủ lòng tin. Bên trong tin tâm mình là Phật, từ đó cố gắng tu hành, gột rửa tâm hồn cho trong sáng. Bên ngoài tin tưởng mình có thể làm được những điều đem lại lợi cho dân, ích cho nước. Đây là lý do mà cũng là cơ hội để chúng ta khơi dậy thiền tông Việt Nam.
5- Thiền tông Việt Nam hoàn toàn là thiền tông Việt Nam
Tại sao tôi lại nói thiền tông Việt Nam hẳn là thiền tông Việt Nam? Điểm sau cùng này không giống thiền tông các nước. Bởi vì thiền tông Trung Hoa có phân ra năm tông: Lâm Tế, Tào Động, Quy Ngưỡng, Vân Môn và Pháp Nhãn. Thiền tông Nhật Bản thì có hai tông: Lâm Tế và Tào Động, mà mãi tới bây giờ vẫn giữ y nguyên như vậy không có sự đổi thay. Riêng ở Việt Nam có khác.
Lúc nhà Trần lên ngôi thì tông Vô Ngôn Thông, Tỳ-ni-đa-lưu-chi và Thảo Đường vẫn còn đang truyền bá. Đến khi vua Trần Nhân Tông xuất gia, ngài thấy Phật giáo trong một đất nước mà phân chia ra nhiều tông phái là điều không hay, tốt hơn nên sáp nhập ba tông phái kia thành một tông phái, để cho thống nhất ý chí. Bởi mỗi tông tuy có tên gọi cùng phương tiện truyền giáo khác nhau, nhưng yếu chỉ rốt ráo của đạo Phật thì không hai không khác. Do đó, hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời, mà người lãnh đạo chính là Sơ tổ Trúc Lâm – Trần Nhân Tông. Như vậy tới đây thiền tông Việt Nam hẳn là thiền tông Việt Nam. Thiền phái Trúc Lâm là tông phái thiền duy nhất của Việt Nam, không còn lệ thuộc vào các hệ phái ở Trung Hoa nữa.
Tôi đã trình bày sơ qua về sự khác biệt giữa thiền tông Việt Nam và thiền tông các nước.