Thiền Sư Ni Giảng Giải

Thiền Sư Ni Trung Hoa (thuộc Tổ sư Thiền)



Sư ni TỔNG TRÌ (thời Nam Bắc Triều)

Sư ni họ Tiêu, tên Minh Luyện, húy Đạo Tích, là con gái của vua Lương Võ Đế, sau khi xuất gia hiệu là Tổng Trì. Không rõ sanh và mất năm nào, chỉ biết Sư ni đắc pháp với tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma).

Tổ Bồ-đề-đạt-ma ở Trung Quốc gần chín năm, thấy cơ duyên đã đến, một hôm gọi đồ chúng đến hỏi:

– Sắp đến giờ ta trở về, các ngươi mỗi người nên nói rõ chỗ sở đắc của mình.

Thiền sư Đạo Phó ra thưa:

– Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.

Tổ bảo: – Ngươi được phần da của ta.

Sư ni Tổng Trì ra thưa:

– Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại.

Tổ bảo:

– Ngươi được phần thịt của ta.

Thiền sư Đạo Dục ra thưa:

– Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng có, chỗ thấy của con, không một pháp có thể được.

Tổ bảo:

– Ngươi được phần xương của ta.

Đến thiền sư Huệ Khả bước ra đảnh lễ Tổ, rồi đứng yên. Tổ bảo:

– Ngươi được phần tủy của ta.

Sau đó, Sư ni lui về ẩn cư trên ngọn Biện Phong, hơn hai mươi năm không xuống núi. Đến khi Sư ni viên tịch, đệ tử nhập tháp kính thờ. Tháp hiện cách chùa Thiếu Lâm khoảng năm dặm.

Sư ni HUYỀN CƠ am Tịnh Cư (645-720)

Ni sư họ Tạ, người Dư Diêu, Chiết Giang. Sự xuất gia từ nhỏ, lời nói thoát tục. Khi đi tham học, Sư gặp được Tỳ-kheo-ni Vô Tận Tạng tại Cám Châu, Giang Tây. Sư quyết định ở lại, lễ bái nhận bà làm thầy, nhưng Lão ni không muốn, nói với Sư:

– Ta sắp rời nhân thế, con nên lại đi về phương Nam. Ở đó có pháp môn Tào Khê, mới là nơi con nương tựa vậy.

Sư nhất quyết xin bà thâu nhận. Không nỡ từ chối, bà đồng ý và đặt pháp danh cho Sư. Sư thân cận hầu hạ ba năm thì bà viên tịch (năm 676), Sư mang theo xá-lợi của Lão ni đến Tào Khê. Tại chùa Bảo Lâm, Lục Tổ nghe trình bạch của Sư, im lặng hồi lâu, thở dài cảm thán. Sư thưa di chúc của bà, ba lần xin Lục Tổ thâu nhận Sư làm đệ tử. Tổ nhận lời, xoa đảnh truyền giới. Tổ sai dựng am Vô Tận bên cạnh chùa Nam Hoa cho Sư, trong thờ đại sĩ Quán Âm và tôn trí xá-lợi ni Vô Tận Tạng. Gần cuối đời, Sư trở về Chiết Giang, môn đệ và tín đồ xây dựng am Tịnh Cư cho Sư tại Ôn Châu. Trọn đời Sư hoằng hoá thiền pháp Lục Tổ.

Khoảng niên hiệu Cảnh Vân (710-712) nhà Đường, Sư thường tập thiền định trong thạch thất ở núi Đại Nhật. Một hôm Sư tự nghĩ: “Pháp tánh trạm nhiên vốn không đến đi. Chán chỗ ồn cầu chỗ vắng, đâu phải là người đạt đạo”

Sư tham vấn thiền sư ở Tuyết Phong. Khi đến, Tuyết Phong hỏi:

– Từ đâu đến?

Sư thưa: – Từ núi Đại Nhật đến.

Tuyết Phong hỏi: – Nhật xuất hay chưa?

Sư thưa: – Nếu xuất thì Tuyết Phong tan mất.

Tuyết Phong hỏi: – Ngươi tên gì?

Sư thưa: – Huyền Cơ.

Tuyết Phong hỏi:

– Một ngày dệt được bao nhiêu?

Sư thưa: – Tấc tơ chẳng dính.

Rồi lễ bái thối lui. Sư vừa đi được dăm ba bước,

Tuyết Phong gọi:

– Góc ca-sa chấm đất.

Sư xoay đầu lại, Tuyết Phong bảo:

– Hay lắm, tấc tơ chẳng dính.

Sư có làm một thiên Viên Minh Ca bày tỏ kiến giải tương tự như Chứng Đạo Ca. (Có tư liệu ghi Sư là em gái thiền sư Huyền Giác (665-713) nhưng y cứ theo Nam Hoa sử lược thì không hợp lý.)

Khi tịch Sư đảo ngược thân, pháp quyến quở là điên đảo, bèn ngã xuống. Chiều đem chôn, bị sấm dời đi. Qua hai ngày, có người từ núi Đại Nhật đến nói:

– Chiều nay, trên không trung có tiếng tiêu tiếng khánh là quan tài của Huyền Cơ đã đặt trên đỉnh núi.

Đệ tử rước xá-lợi về chùa, dựng tháp hiệu Viên Minh.

 

Sư ni LIỄU NHIÊN ở Mạt Sơn

Sư là đệ tử của thiền sư Đại Ngu, sau khi ngộ đạo đến trụ tại Mạt Sơn. Thiền sư Quán Khê Nhàn (đã ngộ đạo nơi tổ Lâm Tế) đi du phương đến núi này, tự nói: “Nếu khế hợp thì ở, chẳng vậy thì xô ngã giường thiền.”

Nhàn vừa vào tăng đường, Sư sai thị giả đến hỏi:

– Thượng toạ du phương đến hay vì Phật pháp đến?

Nhàn đáp: – Vì Phật pháp đến.

Sư liền lên toà. Nhàn đến tham vấn, Sư hỏi:

– Hôm nay Thượng toạ rời nơi nào đến?

Nhàn đáp: – Lộ khẩu.

Sư bảo: – Sao không đậy lại?

Nhàn không đáp được, liền lễ bái hỏi:

– Thế nào là Mạt Sơn?

Sư đáp: – Chẳng bày đảnh.

Nhàn hỏi: – Thế nào là chủ Mạt Sơn?

Sư đáp: – Chẳng phải tướng nam nữ.

Nhàn nạt rằng: – Sao chẳng biến đi.

Sư đáp: – Chẳng phải thần chẳng phải quỷ, biến cái gì?

Nhàn kính phục, ở lại làm Tri viên ba năm.

Sau, về trụ Quán Khê, thiền sư Nhàn thượng đường:

– Tôi ở Lâm Tế được nửa muỗng, ở Mạt Sơn được nửa muỗng, cộng thành một muỗng. Ăn xong đến nay vẫn no chẳng hề đói.

Có vị tăng đến tham vấn, Sư bảo: – Rất lam lũ vậy!

Tăng đáp: – Tuy nhiên như thế vẫn là sư tử.

Sư bảo: – Đã là sư tử, vì sao bị Văn-thù cưỡi?

Tăng không đáp được.

Tăng hỏi: – Thế nào là tâm cổ Phật?

Sư đáp: – Thế giới nghiêng đổ.

Tăng hỏi: – Thế giới vì sao nghiêng đổ?

Sư đáp: – Trọn không thân ta.

Sư có làm bài kệ Pháp thân:

Ngũ uẩn sơn đầu cổ Phật đường,

Tỳ-lô trú dạ phóng hào quang.

Nhược năng ư thử phi đồng dị,

Tức thị Hoa Nghiêm biến thập phương.

Dịch:

Trên chót năm uẩn nhà Phật xưa,

Pháp thân hằng lúc phóng hào quang.

Nếu hay trong đó không đồng dị,

Quả thật Hoa Nghiêm khắp thập phương.

Sư ni LƯU THIẾT MA

Sư là đệ tử Quy Sơn Linh Hựu, có cất một am tranh cạnh sườn núi Quy. Một hôm Sư đến yết kiến Quy Sơn, Quy Sơn hỏi:

– Con trâu cái, ngươi mới đến?

Sư thưa:

– Ngày mai ở Đài Sơn có lễ trai tăng, Hòa thượng đi chăng?

Quy Sơn ra bộ nằm ngủ. Sư trở bước lui ra.

Một hôm, hoà thượng Tử Hồ (đệ tử Nam Tuyền) đến tham vấn Sư. Tử Hồ hỏi:

– Có phải Lưu Thiết Ma chăng?

Sư thưa: – Chả dám!

Tử Hồ hỏi: – Xoay bên trái hay bên phải?

Sư thưa: – Hòa thượng chớ điên đảo.

Tử Hồ liền đánh.

Bởi chỗ đối đáp lanh lẹ của Sư khiến mọi người đều kính nể nên gọi là Lưu Thiết Ma (chữ “thiết ma” nghĩa là mài sắt).

Tăng hỏi Phong Huyệt:

Quy Sơn nói: “con trâu cái, ngươi mới đến” là ý chỉ gì?

Phong Huyệt đáp:

– Chỗ mây trắng dày, rồng vàng múa.

Tăng hỏi:

– Lưu Thiết Ma nói: “ngày mai ở Đài Sơn có lễ trai tăng, Hoà thượng đi chăng”, ý chỉ thế nào?

Phong Huyệt đáp:

– Trong lòng sóng biếc, mặt trăng động.

Tăng hỏi:

– Quy Sơn làm thế nằm, ý chỉ thế nào?

Phong Huyệt đáp:

Già đến thân gầy ngày vô sự,

Nằm cao rảnh ngủ ngọn núi xanh.

Phong Huyệt có bài tụng:

Cao cao phong đánh lập,

Ma ngoại mạc năng tri.

Thâm thâm hải để hành,

Phật nhãn thứ bất kiến.

Dịch:

Trên đảnh cao phong đứng,

Ma ngoại nào hiểu chi.

Dưới đáy biển sâu đi,

Mắt Phật xem chẳng thấy.

Tuyết Đậu tụng:

Tằng kỵ thiết mã nhập trùng thành,

Sắc hạ truyền văn lục quốc thanh.

Do ác kim tiên vấn quy khách,

Dạ thâm thùy cộng ngự nhai hành.

Dịch:

Từng cưỡi ngựa sắt vào trùng thành

Sắc lệnh truyền ra sáu nước an.

Vẫn nắm roi vàng hỏi quy khách,

Đêm khuya, đường vua ai đồng hành.

 

Sư ni PHÁP HẢI chùa Tây Trúc

Sư người phủ Khai Phong, là cô của Bảo Văn Các học sĩ (thời Tống Triết Tông) Lữ Gia. Sư bẩm tánh lanh lợi, ưa tu thiền định. Ban đầu Sư tham phỏng thiền sư Viên Thông Pháp Tú song chưa triệt. Sau, tham vấn thiền sư Thủ Nhất Pháp Chân (nối pháp thiền sư Viên Chiếu Tông Bổn), ngay dưới lời của Pháp Chân, Sư nhận được tâm yếu. Sau khi đắc pháp bèn ẩn cư chùa Tây Trúc phủ Bình Giang. Các bậc danh nho thường đến thỉnh Sư ra ứng thế độ đời, nhưng Sư nhất quyết không nhận.

Khi sắp tịch, Sư nói kệ:

Sương thiên vân vụ kết,

Sơn nguyệt lãnh hàm huy,

Dạ tiếp cố hương tín,

Hiểu hành nhân bất trị.

Dịch:

Trời sương mây mù kết,

Núi lạnh trăng sáng đầy,

Đêm nhận tin quê cũ, 

Sáng đi người chẳng hay.

Đến sáng, Sư ngồi kiết già mà hóa.

Sư ni HUỆ QUANG chùa Diệu Huệ

Sư nguyên họ Phạm ở Thành Đô, là cháu của người viết sách hiệu Đường Giám. Là pháp tôn thiền sư Phù Dung, Sư có tên trong mười một người nối pháp thiền sư Pháp Thành. Sư trụ trì Diệu Huệ Ni Tự ở Đông Đô.

Năm Chánh Hòa thứ ba (1113) vua Tống Huy Tông ban pháp y cho các trưởng lão nhà thiền trong cung, Sư cũng được thỉnh, vua ban Sư hiệu Tịnh Trí đại sư. Vua ra lệnh theo thứ tự thuyết pháp, Sư lại nhận lời cuối cùng. Lúc thăng toà hỏi đáp xong, Sư quay nhìn đại chúng nói: – Nếu luận việc nói đạo nói thiền thì các đại thiền sư đã nói hết rồi, còn bảo sơn tăng đến đây nói cái gì được nữa? Há không thấy tiên đức ngàn loại lời, muôn thứ kiến giải, chỉ muốn dạy các ông hằng đừng mê nữa đó sao. Đã như thế thì cuối cùng thế nào?

Sư lấy pháp y đội lên đầu, làm thinh một lúc, nói:

Y trùm trên đầu muôn sự thôi,

Lúc này sơn tăng trọn chẳng hội.

(Nạp bí mông đầu vạn sự hưu, thử thời sơn tăng đô bất hội. – Bài ca Thảo Am của thiền sư Thạch Đầu.)

Nói xong, Sư xuống toà.

Khi ấy người nghe cả tăng lẫn tục hàng vạn, đều thán phục.

Do đó xá nhân Hàn Tử Thương làm bài Minh đặt ở tháp của Sư, khen là bậc đa văn giỏi lý luận. Tháp của Sư dựng ở đất Thánh Tướng, Tây Sơn, Dự Chương.

 

Sư ni TRÍ THÔNG hiệu Không Thất đạo nhân

Sư là con gái quan Long đồ Phạm Tuần. Thuở nhỏ Sư rất thông minh, đến tuổi trưởng thành, thân phụ gả cho hiền tôn của thừa tướng Tô Tụng. Chẳng bao lâu, Sư chán cảnh phồn hoa, trở về nhà xin phép cha mẹ được xuất gia. Cha mẹ không chấp thuận, Sư đành ở nhà tu tại gia.

Nhân xem quyển Pháp Giới Quan, Sư có tỉnh ngộ, làm hai bài kệ nói lên kiến giải của mình:

Hạo hạo trần trung thể nhất như,

Tung hoành giao hỗ ấn Tỳ-lư,

Toàn ba thị thuỷ, ba phi thuy,

Toàn thủy thành ba, thủy tự thù.

Dịch:

Bát ngát bụi hồng thể nhất như,

Dọc ngang xen lẫn ấn Tỳ-lư, 

Sóng cùng là nước, sóng chẳng nước,

Nước tột sóng thành, nước khác xa.

Vật ngã nguyên vô dị,

Sum la kính tượng đồng,

Minh minh siêu chủ bạn,

Liễu liễu triệt chân không.

Nhất thể hàm đa pháp,

Giao tham đế võng trung,

Trùng trùng vô tận xứ,

Động tĩnh tất viên thông.

Dịch:

Vật ngã vốn không khác,

Sum la gương bóng đồng,

Làu làu siêu chủ bạn,

Vằng vặc suốt chân không.

Một thể gồm nhiều pháp,

Lưới đế châu trùng trùng,

Lớp lớp không ngằn mê,

Động tĩnh thảy viên thông.

Về sau, song thân đều tạ thế, Sư theo người anh làm quan uý ở Phần Ninh. Nghe danh thiền sư Tử Tâm, Sư đến yết kiến. Tử Tâm biết Sư có sở đắc, nên hỏi:

– Bồ-tát Thường Đề bán tim gan, dạy ai học Bát-nhã?

Sư đáp: – Nếu Ngài vô tâm thì con cũng thôi.

– Một đám mưa mà cây cỏ thấm nhuần có khác, trên đất không có âm dương sanh vật gì?

– Một hoa năm cánh.

– Trong mười hai giờ nhằm chỗ nào an thân lập mạng?

– Hoà thượng tiếc lấy lông mày.

Tử Tâm đánh và quát:

– Người đàn bà này làm rối trật tự.

Sư lễ bái. Tử Tâm ấn khả. Sư làm bài kệ tán thán Tử Tâm:

Thiều Dương Tử Tâm,

Linh nguyên thậm thâm,

Nhĩ trung kiến sắc,

Nhãn lý văn thanh.

Phàm minh thánh muội,

Hậu phú tiền bần,

Lợi sanh tế vật,

Điểm thiết thành kim.

Đan thanh đồ trạng,

Phi cổ phi kim.

Dịch:

Tử Tâm Thiều Dương,

Nguồn linh rất sâu,

Trong tai thấy sắc,

Nơi mắt nghe thanh.

Phàm sáng thánh tối,

Trước nghèo sau giàu,

Lợi sanh cứu vật,

Chỉ sắt thành vàng.

Đỏ xanh vẽ tướng,

Chẳng xưa chẳng nay.

Tử Tâm hỏi:

– Tử Tâm không thật, nhằm chỗ nào tán thán? Nếu tán thán Tử Tâm, Tử Tâm không tướng mạo. Nếu tán thán hư không, hư không chẳng dấu vết. Thử hỏi thế nào? Nếu nói được, chính thấy Tử Tâm.

Sư đáp:

– Tử Tâm không thật, thật không phải Tử Tâm. Hư không không có tướng mạo, diệu hữu không hình dáng. Chết rồi sống lại, thân thấy Tử Tâm.

Tử Tâm cười rồi thôi.

Thiền sư Linh Nguyên lấy hiệu Không Thất Đạo Nhân tặng Sư. Từ đấy trong tùng lâm, mọi người đều biết danh.

Sư cất ngôi nhà tắm thí ở Bảo Ninh, trước cửa có treo tấm bảng đề: “Một vật cũng không, còn tắm cái gì? Mảy trần nếu có, khởi lên từ đâu? Nói lấy một câu siêu thoát, mới có thể vào tắm trong nhà này. Cổ Linh chỉ biết kỳ lưng, bậc khai sĩ đâu từng minh tâm. Muốn chứng Ly cấu địa toàn thân phải toát mồ hôi. Như nói nước hay rửa nhơ, đâu biết nước cũng là bụi. Dù cho nước và nhơ đều dẹp, đến đây cũng phải rửa nốt.”

Sau này Sư xuất gia làm ni tên là Duy Cửu, trụ tại chùa Tây Trúc ở Cô Tô.

Đến niên hiệu Tuyên Hoà thứ sáu (1124) Sư thị tịch. Sắp thị tịch, Sư viết kệ xong, ngồi kiết già mà hóa.

Sư có tác phẩm Minh Tâm Lục hiện còn lưu hành.

Sư ni DIỆU TỔNG hiệu Vô Trước chùa Tư Thọ (1095 – 1170) 

Sư là cháu gái thừa tướng Tô Tụng. Năm mười lăm tuổi, cô chợt nghĩ: “Thân ta sanh từ đâu ra? Chết sẽ về đâu?” Lặng đi một lúc, bỗng nhiên có chỗ được. Lớn lên cô được gả cho nhà họ Hứa ở Tỳ Lăng. Vì chán cuộc đời phù vinh, cô để tâm vào thiền định, tham vấn khắp các bậc danh túc, được đầy đủ chánh tín.

Có lần Diệu Tổng đến yết kiến thiền sư Tiến Nham Viên, bị ngài hỏi:

– Đàn bà con gái lại muốn dự vào việc đại trượng phu sao?

Diệu Tổng đáp: – Phật pháp lại có tướng nam nữ sao?

Ngài gặng hỏi tiếp:

– Thế nào là Phật? Có người đáp rằng “tức tâm là Phật”, còn ngươi thì sao?

 Lâu nay nghe tiếng Lão sư, sao vẫn còn nói năng như thế?

– Đức Sơn gặp ai vào cửa liền đánh, hầy!

– Nếu Thầy hành lệnh này mà chẳng rỗng thì đáng được thiên nhân cúng dường.

Ngài bảo: – Chưa đúng.

Diệu Tổng lấy tay vỗ vào đài hương một cái. Thiền sư Viên nói:

– Có đài hương thì vỗ được, không đài hương thì sao?

Diệu Tổng liền đi ra. Thiền sư Viên gọi lại, hỏi tiếp:

– Ngươi thấy đạo lý gì mà làm thế?

Diệu Tổng quay đầu lại đáp:

– Rõ ràng thấy, không một vật (Liễu liễu kiến vô nhất vật).

– Câu này là của Vĩnh Gia.

– Mượn ông ta để nói không được sao?

Thiền sư Viên kết luận: – Thật là sư tử.

Thiền sư Chân Yết vừa dựng am ở Nghi Hưng xong, đang ngồi trên võng thì Diệu Tổng bước vào cửa. Chân Yết hỏi:

– Là phàm hay là thánh?

Diệu Tổng hỏi ngược lại:

– Mắt ở trên đảnh đâu rồi?

Thiền sư Yết hỏi tiếp:

– Việc ngay mặt trình nhau thế nào? Diệu Tổng đưa toạ cụ lên. Chân Yết la:

– Không hỏi cái này.

Diệu Tổng nói: – Lầm rồi.

Chân Yết liền hét.

Chồng cô là Hứa Thọ Nguyên làm quan ở Gia Hưng. Khi ngài Đại Huệ Tông Cảo (tức Diệu Hỷ) đến thăm quận nhà, Thọ Nguyên thiết trai đón tiếp. Diệu Tổng bước ra lễ bái, không nói một lời.

Tông Cảo sau khi dự tiệc về, bảo với Phùng Tiếp (quan Cấp sự trung, tự Tế Xuyên, hiệu Bất Động cư sĩ), người cùng đi trong đoàn rằng:

– Vợ họ Hứa từng thấy thần thấy quỷ, nhưng chưa gặp được bản sắc kiền chùy, cũng giống như chiếc thuyền muôn hộc thả vào chỗ sông ngòi lấp bít, không chuyển động được.

Phùng Tiếp thưa:

– Làm sao nói dễ dàng thế?

– Nếu bà ta chịu hồi đầu thì nhất định phải khác.

Ngày hôm sau mọi người thỉnh Tông Cảo thuyết pháp, Diệu Tổng cũng đến dự nghe. Tông Cảo mạt sát dị kiến tà giải của các nơi, người nghe giật mình nhìn nhau, chỉ một mình Diệu Tổng hoan hỷ nhìn không chớp mắt. Tông Cảo lại nhìn chúng và nói:

– Nay ở đây có ai có chỗ thấy chăng? Sơn tăng khám nghiệm người như viên chức gác cửa khẩu, vừa thấy đến là biết có vật nộp thuế hay không.

Nói xong, Tông Cảo xuống tòa. Diệu Tổng đến xin đạo hiệu, Tông Cảo đặt tên là Vô Trước và dạy kệ rằng:

Tận đạo sơn tăng ái mạ nhân,

Vị tằng mạ trước nhất cá hán.

Chỉ hữu Vô Trước mạ bất động,

Kháp tự Tần thời đạc lạc toản.

Dịch:

Trọn bảo sơn tăng thích mắng người,

Chưa từng mắng nhằm lấy một kẻ.

Chỉ có Trước mắng chẳng động,

Giống hệt trục xe xoay đời Tần.

Đã bị mắng mà chẳng động, vì sao lại giống trục xe xoay? Người đủ mắt hãy biện xem!

Năm sau, Diệu Tổng theo chúng nhập hạ ở Kính Sơn. Một hôm Tông Cảo thượng đường cử nhân duyên Dược Sơn tham vấn Thạch Đầu Mã Tổ, Diệu Tổng hốt nhiên đốn triệt. Lúc Tông Cảo xuống tòa, Phùng Tiếp theo đến phương trượng trình sở ngộ. Về sau được nghe Tông Cảo kể lại chuyện này, Diệu Tổng nói:

– Diệu Tổng từng thấy Quách Tượng chú giải sách của Trang Tử, nhưng bậc thức giả cho Trang Tử chú giải Quách Tượng.

Tông Cảo nghe xong lấy làm lạ, bèn cử thoại đầu “Người đàn bà và Nham Đầu” để hỏi. Diệu Tổng dùng kệ đáp:

Nhất diệp thiên chu phiếm diểu mang,

Trình nhiều vũ trạo biệt cung thương.

Vân sơn hải nguyệt đô phao khước,

Doanh đắc Trang Chu điệp mộng trường.

Dịch:

Một chiếc thuyền con thả bể khơi,

Đưa chèo múa nhịp khúc nhạc trời.

Núi mây trăng nước đều quăng hết,

Hơn được Trang Chu mộng điệp dài.

Tông Cảo muốn kích phát Sư đến chỗ cao xa, nên làm thinh không để ý đến. Một hôm khi đang tọa thiền Sư chợt đại ngộ, thấy được chỗ tùy duyên chỉ dạy của Tông Cảo, bất giác vỗ tay la lớn: “Lão giặc, lão giặc!” và trình tụng:

Mạch nhiên trúc trước tỹ đầu,

Kỹ lưỡng băng tiêu ngõa giải,

Đạt-ma hà tất Tây lai,

Nhị Tổ uổng thi tam bái.

Cánh vấn như hà, nhược hà?

Nhất đội thảo tặc đại bại.

Dịch:

Bỗng nhiên chạm đến lỗ mũi,

Xem băng tiêu ngói bể,

Đạt-ma Tây đến làm gì?

Nhị Tổ uổng công ba lạy.

Còn hỏi tại sao, thế nào?

Một bọn giặc cỏ đại bại.

Tông Cảo dùng kệ ấn chứng:

Nhữ ký ngộ hoạt Tổ sư ý,

Nhất đao lưỡng đoạn trực hạ liễu,

Lâm cơ nhất nhất nhậm thiên chân,

Thế xuất thế gian vô thặng thiểu.

Ngã tác thử kệ vị chứng minh,

Tứ thánh lục phàm tận kinh nhiễu,

Hưu kinh nhiễu,

Bích nhãn Hồ nhi do vị hiểu.

Dịch:

Ngươi đã ngộ ý Tổ sư sống,

Một đao chặt đứt làm hai đoạn,

Gặp việc mỗi mỗi tự thiên chân,

Thế, xuất thế gian không dư thiếu.

Ta làm bài kệ vì chứng minh,

Tứ thánh lục phàm đều kinh hãi,

Thôi kinh hãi, 

Lão Hồ mắt biếc còn chưa hiểu. 

Một hôm nhân Diệu Tổng vào thất, Tông Cảo hỏi:

– Người xưa chẳng ra khỏi phương trượng, vì sao lại lên trang sở ăn bánh chiên?

– Hòa thượng tha lỗi cho Diệu Tổng, Diệu Tổng mới dám nói.

– Ta tha lỗi cho ngươi đó, ngươi thử nói xem.

– Diệu Tổng cũng tha lỗi cho Hoà thượng.

– Đâu làm gì được cái bánh chiên.

Diệu Tổng hét mà ra. Từ đó danh vang khắp nơi.

Một hôm Diệu Tổng vào thất Tông Cảo, bị hỏi:

Vừa rồi có vị tăng đến đối đáp, ngươi hãy nói vì sao lão tăng không chịu ông ta.

Diệu Tổng đáp: – Đâu gạt được Diệu Tổng.

Tông Cảo đưa trúc bề lên hỏi:

– Ngươi gọi cái này là cái gì?

– Trời xanh, trời xanh!

Tông Cảo liền đánh. Diệu Tổng nói:

– Hoà thượng đánh lầm người rồi.

– Đánh cho được rồi thôi, sá gì lầm với chẳng lầm.

– Riêng vì lưu truyền.

Khi Diệu Tổng đến chào từ giã về quê, Tông Cảo bảo:

– Ngươi xuống núi có ai hỏi đạo pháp ở đây, ngươi đáp thế nào?

Diệu Tổng thưa:

– Chưa đến Kính Sơn chẳng ngại nghi nhầm.

Tông Cảo hỏi vặn lại: – Đến rồi thì sao?

– Y như cũ, tháng giêng trời vẫn còn lạnh.

– Đáp như thế, há chẳng phải coi thường Kính Sơn?

Diệu Tổng bịt tai đi ra.

Lúc đó Đạo Nhan Vạn An thủ chúng, cùng với một nghìn bảy trăm nạp tử dùng kệ tiễn đưa Diệu Tổng trở về Vô Tích. Ngài thêm tên Sư vào những người đắc đạo trong pháp môn. Phùng Tiếp lúc đó vẫn chưa tin, nên chèo thuyền qua Vô Tích hỏi:

– Chuyện bà già sanh bảy đứa con, cả sáu đứa đều không gặp tri âm, chỉ riêng một đứa này cũng chẳng tiêu được, rồi ném đứa bé ấy xuống nước. Lão nhân Kính Sơn nói Đạo nhân đã lý hội được, là lý hội thế nào?

Sư đáp:

– Những lời trình bày ở trên đều là thật.

Phùng Tiếp kinh hãi.

Việc Diệu Tổng nhận tâm ấn của Đại Huệ danh vang khắp nơi. Vào năm Nhâm Ngọ (1162) niên hiệu Thiệu Hưng, vì có tăng điệp của Lễ bộ ban cho Sư hiệu là Vô Trước, nên Diệu Tổng nói kệ nhận lời, rồi cắt tóc đi tu.

Niên hiệu Long Hưng năm đầu (1163) đời vua Tống Hiếu Tông, xá nhân Trương An Quốc thái thú Ngô Môn gặp lúc chùa Tư Thọ vắng vẻ, mới thỉnh Diệu Tổng đến trụ trì. Sư nhận lời, rồi xiển đương tông phong của Đại Huệ. Tuy đạo đức cao trọng, Sư vẫn trì luật rất nghiêm, khổ hạnh tiết chế.

Ngày mười bốn tháng bảy niên hiệu Càn Đạo năm thứ sáu (1170), Sư nhóm chúng, nói kệ xong lặng lẽ thị tịch, thọ 76 tuổi. Chúng chôn toàn thân Sư ở phía đông Tương Sơn huyện Vô Tích, sau dời về Hổ Khưu ở Bình Giang.

 

Sư ni CHÂN NHƯ

Sư người quê Quan Tây, do có sắc đẹp và tài năng được tuyển vào cung làm Nội phu nhân, thuộc cung của Kiều quý phi. Họ Kiều sùng mộ Phật pháp nên cho Sư theo sở nguyện được xuất gia đầu Phật. Sau khi xuất gia, Sư đi tham vấn bốn phương, vào xứ Mân gặp thiền sư Đại Huệ tại những pháp hội Nam Tuyền, Tiểu Khê, Vân Môn.

Một hôm Sư bỗng nhiên tỉnh giác, làm kệ:

Bình địa ngẫu nhiên trước điên,

Khởi lai đô vô khả thuyết.

Nhược nhân cánh vấn như hà,

Tiếu chỉ thanh phong minh nguyệt.

Dịch:

Đất bằng bỗng nhiên té ngã,

Đứng lên nói ra thật khó.

Nếu người đến hỏi thế nào?

Cười chỉ gió lành trăng tỏ.

Một buổi tiểu tham, Đại Huệ đối chúng nói kệ:

Kim nhật như Sư cô,

Tích thời vương sư phụ,

Thân cư la ỷ tùng,

Chỉ trước thô ma bố.

Khai khẩu tiện cao đàm,

Hiềm Phật bất khẳng tố,

Điêu xuất thị phi khanh,

Tiệt đoạn sanh tử lộ.

Nhập hổ huyệt ma cung,

Tâm trung vô phạ bố,

Đỗ soạn Bát Dương kinh,

Tự hữu tam thiên bộ.

Ái ngâm lạc vận thi,

Thiên bất lặc tự số,

Hành cước tẩu thiên hạ,

Tham thiền vô sở ngộ.

Cận nhật đáo Vân Môn,

Nhất thời đô bại lộ,

Thác nhận đối chủy đầu,

Hoán tác động qua hồ.

Như thị tác Sư cô,

Khuyến quân thiểu khiết thế,

Cánh hữu nhất xứ quai

Thả đạo na nhất xứ?

Gia Châu đại tượng khiết chích phu,

Thiểm Phủ thiết ngưu sanh phá đỗ.

Dịch:

Ngày nay là Sư cô, 

Thuở xưa thầy của vua, 

Thân ở chốn lụa là,

Chỉ mặc toàn vải xấu. 

Mở miệng liền nói cao,

Làm Phật còn chẳng thích,

Vượt khỏi hầm thị phi,

Cắt đứt đường sanh tử.

Vào hang cọp cung ma,

Trong tâm vẫn chẳng sợ,

Đỗ soạn Bát Dương kinh,

Tự có ba ngàn bộ.

Thơ lạc vận thích ngâm,

Riêng chẳng cần chữ số,

Đi hành cước khắp nơi,

Tham thiền mà chẳng ngộ.

Gần đây đến Vân Môn,

Một lúc đều bại lộ,

Chót tay cối nhận lầm,

Lại cho là quả bí.

Như thế làm Sư cô,

Khuyên người ăn ít giấm,

Lại có một chỗ sai,

Hãy nói là chỗ nào?

Voi lớn Gia Châu ăn cám rang, 

Trâu sắt Thiểm Phủ bụng no nóc.

Qua bài kệ này, có thể thấy đại khái về Sư cô.

Sư ni DIỆU ĐẠO hiệu Định Quang chùa Tịnh Cư

Sư là con gái thượng thư Huỳnh Thường ở Diên Bình. Thuở bé đã dứt mọi ham thích, mỗi đêm ngồi thiền quên thân. Cha quan sát lời nói của Sư mà không thấy có sơ hở, trải qua hai mươi năm mới cho xuất gia.

Sau khi xuất gia, Sư đi tham vấn khắp các vị tôn túc. Sư đến Kính Sơn tham vấn thiền sư Đại Huệ Diệu Hỷ. Nhân Đại Huệ ở trong thất hỏi một vị tăng: “Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật là cái gì?” Vị tăng mờ mịt không hiểu, Sư đứng ngoài cửa nghe hỏi bỗng nhiên khế ngộ. Đến trình với Đại Huệ, Đại Huệ bảo:

– Cây dâu trúng tên, cây ró xuất mồ hôi.

Rồi ấn chứng cho .

Ngày khai đường ở chùa Hồng Phước, Sư nói:

– Thiền không phải ý tưởng, lập ý là trái ý thiền. Đạo bặt dứt công huân, dựng lập công huân là mất đạo. Tiếng ở ngoài câu không nhằm trong ý mà cầu. Giữ cơ quan chiếu dụng, nắm kiền chùy của Phật tổ. Chỗ có Phật lẫn làm chủ khách, chỗ không Phật gió thổi vù vù. Tâm an ý rảnh, vang thuận tiếng hòa. Người như thế có gì để nói?

Dừng giây lâu, Sư nói:

Khoác áo tơi đứng ngoài Thiên Phong,

Dẫn nước tưới rau trước Ngũ Lão.

Sư lại nói:

– Chớp mắt lông mày lệch lạc, dường như mở mắt đái dầm. Hiện thành công án buông đi, chính là kẻ thông minh vỡ mật. Thế ấy chẳng thế ấy thảy chẳng được, rùa linh lê đuôi. Chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, đóng đinh hư không. Làm được những thứ cổng hư cửa rỗng, vẫn là trong nước đọng chứa rồng. Một câu nghiêng hồ ngả núi làm sao nói?

Một tay Cự Linh vừa đấm xuống,

Hoa Sơn tan vỡ mảnh muôn ngàn.

Khi khác thượng đường, Sư nói:

– Các câu hỏi hãy dừng, dù có biện tài nghiêng hồ ngả núi, trong cửa nhà thiền một điểm dùng cũng chẳng được. Vả lại, khi Phật chưa ra đời hoàn toàn không một việc. Khi Tổ từ Tây sang liền có dựng lập khá nhiều, chùa chiền san sát, tông phái phân chia, đến nỗi ngày nay lụy đến con cháu. Khiến cho sơn tăng ở trước chúng nhân thiên không gió mà dậy sóng, nhằm đến cửa thứ hai để thông tin tức. Nơi nói nín gồm không thể hết, đầy khắp mười phương, chỗ ngôn ngữ diễn bày chẳng đến, trùm khắp sa giới. Khắp thân là mắt, gặp mặt bày cơ, điện xẹt sao băng làm sao khế hội? Có khi một tiếng hét, toàn quyền sống chết. Có khi một tiếng hét, Phật tổ khó biện. Có khi một tiếng hét, tám hướng thọ địch. Có khi một tiếng hét, tự cứu chưa xong. Hãy nói, một tiếng hét nào toàn quyền sống chết? Hãy nói, một tiếng hét nào Phật tổ khó biện? Hãy nói, tiếng hét nào tám hướng thọ địch? Hãy nói, tiếng hét nào tự cứu chưa xong? Nếu nhằm trong đó tiến được mới kham đền cái ơn chẳng đền. Bằng như chưa được, sơn tăng không mộng nói mộng.

Sư đưa cây phất tử lên hỏi:

– Thấy chăng? Nếu thấy là bị vật che cái thấy. Sư gõ giường thiền hỏi:

– Lại nghe chăng? Nếu nghe thì bị thanh trần làm mê hoặc. Dù cho rời thấy bặt nghe, vẫn là tiểu quả của Nhị thừa. Tiến lên một bước che sắc cưỡi tiếng, toàn phóng toàn thâu, chủ khách lẫn nhau. Sở dĩ nói, muốn biết nghĩa Phật tánh phải quán thời tiết nhân duyên. Dám hỏi quý vị, hiện nay là thời tiết gì?

Bát ngát gió lành phò Thánh hoá,

Bao la hòa khí giúp thanh bình.

Sư ném cây phất tử xuống tòa.

Sau có một vị tăng đem những lời trên thuật lại cho thiền sư Thủy Am nghe. Thủy Am vỗ trán nói:

– Cái ấy không phải tướng nam nữ. Những kẻ trượng phu ở trong chúng năm mười năm thảo luận cũng chẳng đến. Kẻ ấy là người nữ có tác lược trượng phu, còn hơn bao nhiêu vị trưởng lão đỗ soạn sai luật lệ.

Sư trụ qua các chùa Phước Hưng ở Kiếm Châu, Tư Thánh ở Tỳ Lăng, Tịnh Cư ở Ôn Châu. Không rõ Sư tịch lúc nào và ở đâu.

Sư ni HUỆ CHIẾU hiệu Vô Tế đạo nhân

Sư là con gái thị lang Trương Uyên Đạo. Khi còn làm cư sĩ, Sư đã cùng Siêu Tông đạo nhân vào cửa thiền sư Đại Huệ và được thọ ký riêng.

Sư thường đến Kính Sơn quét tháp, có làm bài kệ:

Y thấp Linh Sơn lệ,

Lô phần Thiếu Thất hương,

Vân sơn không mãn mục,

Bất kiến Pháp trung vương.

Dịch:

Áo ướt lệ Linh Sơn, 

Lò thắp hương Thiếu Thất,

Núi mây trời đầy mắt,

Nào thấy vua chánh pháp.

Siêu Tông không chịu đi quét tháp, Sư đôn đốc. Siêu Tông nói kệ đáp:

Tháp bản vô trần,

Hà dụng khứ tảo?

Tảo tức trần sanh,

Sở dĩ bất đáo.

Dịch:

Tháp vốn không bụi,

Đi quét làm gì?

Quét tức dấy bụi, 

Không đến do đây.

Sau Sư xuất gia, pháp danh Huệ Chiếu. Sư tiếp nối pháp tịch của bổn sư là Vô Trước ở chùa Tư Thọ (tức ni Diệu Tổng).

Sư phỏng theo khúc hát ông chài, làm kệ tán thán thiền sư Viên Ngộ:

Thất toạ đạo tràng tam phụng chiếu,

Không hoa thuỷ nguyệt hà thời liễu,

Tiểu ngọc thanh trung tằng ngộ đạo,

Chân kham tiếu,

Tùng lai mạn đắc nhi tôn hảo.

Biện dũng hải triều thanh hạo hạo,

Minh như hạo nguyệt đương không chiếu,

Phi tích Tây quy vân yểu diểu,

Ba viên khiếu,

Đại gia xướng khởi hoàn hương điệu.

Dịch:

Bảy phen giảng đạo, ba vâng chiếu, 

Trăng nước hoa không bao giờ xong, 

Trong câu Tiểu Nhã từng ngộ đạo,

Buồn cười thiệt,

Từ đây lừa hết đàn con cháu.

Biện luận thao thao tiếng sóng biển,

Tỏ như trăng sáng chiếu trong không,

Chống gậy về Tây mây mịt mùng,

Con vượn hú,

Cả nhà cùng hát khúc hoàn hương. 

Niên hiệu Càn Đạo thứ bảy (1171), Sư dời trụ ở chùa Minh Nhân tại Lâm Bình.

Đến niên hiệu Thuần Hy thứ tư (1177) tháng sáu, đang ở trong chúng, bất chợt Sư gọi Lương thiêm phán đến từ biệt, rồi đi thẳng sang chùa Quang Hiếu, ngồi trên giường thiền thị tịch. Chúng để thi hài Sư mấy ngày, gương mặt vẫn tươi tắn như thường.

 

Sư ni TỔ CẦN

Sư người quê Cô Tô, theo Hoặc Am thưa hỏi việc lớn. Sớm chiều tinh tấn cần mẫn lâu ngày mà được tỉnh ngộ.

Có một tục quan đưa giấy xin kệ. Sư viết:

Chung nhật vi quan bất thức quan,

Chung niên đa bị lại nhân man.

Hát tán lại nhân quan tự hiển,

Hiên phiên Bắc đẩu diện Nam khan.

Dịch:

Suốt ngày làm quan, chẳng biết quan,

Thường bị thuộc cấp đối quanh năm.

Đuổi quách thuộc cấp, quan tự hiện,

Ngược sao Bắc đẩu, xem hướng nam.

Có lắm nơi thỉnh Sư trụ trì, mà Sư cương quyết không nhận. Sau, Sư tịch tại am của họ Lý ở Phong Kiều (Tô Châu).

 

Sư ni TRÍ NGỘ hiệu Liễu Am chùa Đại Khánh phủ Thiệu Hưng

Sư là con gái họ Vương ở Phúc Châu, mồ côi cha từ thuở bé. Mới mười một tuổi, Sư xin phép mẹ đi xuất gia. Sư tụng kinh Duy-ma-cật đến câu “cõi nước chư Phật cũng thảy đều không”, bỗng nhiên Sư đốn ngộ. Sư đến tham vấn thiền sư Tín ở Vân Phong. Sư Tín hỏi:

Ni từ chỗ nào đến?

Sư thưa:

– Chẳng ở bên sông Nam Đài.

Sư Tín hỏi:

– Thế là ở chỗ nào?

Sư cúi chào liền đi ra. Sư Tín quở:

– Lăng xăng làm gì? Đáng ăn gậy trong tay của sơn tăng.

Sư đỏ mặt, xuất mồ hôi. Hôm sau, Sư đến hỏi:

– Con hôm qua đáp lời Hoà thượng có lỗi ở chỗ nào?

Sư Tín gằn giọng đáp:

– Lại đến đây tìm lỗi.

Sư tâm ý rỗng lặng thưa:

– Trăng sáng soi thấy người đi đêm.

Sư Tín nhìn vị tăng bên cạnh bảo:

– Xem y căn tánh chẳng phàm.

Bèn dùng kệ ấn chứng có câu:

Tương phùng nhược vấn kỳ trung sự,

Phong giảo Loa Giang lãng phách thiên.

Dịch:

Gặp nhau nếu hỏi việc trong ấy, 

Gió thổi Loa Giang sóng ngập trời.

Đầu tiên Sư ở chùa Tây Trúc, Tô Châu. Năm Bảo Hựu thứ sáu (1258) chiếu mời Sư trụ chùa Đại Khánh.

Thượng đường Sư đưa gậy lên nói:

Thiên quai thập nhị lan can giác,

Phong mãn tam thiên thế giới trung.

Nhiệt não biến thành thanh tịnh cảnh,

Thiền tâm đến giác ngộ chân không.

Dịch:

Trời chia mười hai góc lan can,

Gió đầy giữa thế giới ba ngàn. 

Nóng bức biến thành nơi mát mẻ, 

Tâm thiền chóng giác ngộ chân không.

Sư đứng tựa cây gậy hỏi:

– Có chỗ nào cùng bàn?

Sư thượng đường nói:

Dưới cửa Đại Dương, ngày ngày ba thu,

Trước nhà Minh Nguyệt, giờ giờ chín hạ.

Người xưa nói thế ấy, chưa khỏi ngồi nơi đây. Đại Khánh thì chẳng vậy,

Núi chuyển nghi không lối,

Khe xoay riêng có thôn.

Sư thượng đường nói:

Tơ liễu gió đùa, 

Hoa hạnh tắm mưa.

Hay thay sanh cơ,

Hãy mau nhận lấy.

Sư cầm phất tử gõ giường thiền nói:

– Ôi! Sau ba mươi năm chẳng được nêu lầm.

Sư là đệ tử Vân Phong Tín dòng Lâm Tế, đời thứ hai mươi sau Lục Tổ.

Sư ni VIÊN ẤN

Sư đến tham vấn thiền sư Trúc Am Chơn Diễn (1621-1677, nối pháp ngài Mộc Trần Đạo Mân dòng Lâm Tế) ở Ngẫu Am. Chơn Diễn hỏi:

– Thế Tôn đưa cành hoa lên, ngài Ca-diếp cười chúm chím là cười cái gì?

Sư hét một tiếng. Chơn Diễn bảo:

– Một tiếng hét này rơi ở chỗ nào?

Sư thưa: – Chẳng ngại nghi đến.

Chơn Diễn đưa cây phất tử lên hỏi: – Cái này ư?

Sư thưa: – Chẳng được vọng thông tin tức.

Chơn Diễn bảo: – Vừa rồi sơn tăng nói gì?

Sư thưa: – Lời trước đâu còn.

Chơn Diễn bảo: – Sơn tăng tuổi già.

Sư thưa: – Tuổi già thì được.

Sư lễ bái lui ra.

 

Thánh ni TÁNH TƯỚNG

Sư ni Tánh Tướng quê ở Ích Châu, họ Dương. Cha tên Dương Vỹ, làm đạo sĩ hiệu Tam Động tiên sinh. Sư là chị của đại sư Huệ Khoan. Mới sanh đã biết đạo, trọn ngày thiền tịch. Thường cùng Huệ Khoan (mới năm, sáu tuổi) đàm luận, chẳng bàn chuyện đời, người nghe không ai hiểu được. Sau Huệ Khoan xuất gia, Sư cũng xuất gia theo.

Ở chùa Tịnh Huệ có một vị tăng nhập định, khắp chùa lửa hồng rực rỡ, người ta không biết chuyện gì. Sư bảo:

– Đây là Tôn giả Hỏa tụ nhập Hỏa quang tam-muội, dùng nước diệt thì có thể vào được.

Sư bèn nhập thuỷ quán, một nhà lặng lẽ chỉ thấy nước, không thấy hình hài đâu cả. Vị tăng khâm phục khen ngợi cho là đắc quả, người đời cũng gọi là Thánh ni.

Cô LINH CHIẾU

Cô Linh Chiếu là con gái của cư sĩ Bàng Uẩn. Một hôm thiền sư Đơn Hà đến thăm Cư sĩ, thấy Linh Chiếu đang rửa trà, Đơn Hà hỏi:

– Cư sĩ có nhà không?

Linh Chiếu buông giỏ trà xuống, khép tay đứng yên. Đơn Hà lại hỏi:

– Cư sĩ có nhà không?

Linh Chiếu cầm giỏ lên bước đi. Cô về thuật lại cho Cư sĩ nghe, Cư sĩ nói:

– Đất đỏ nặn trâu.

Cư sĩ cùng vợ là Hành Bà và cô Linh Chiếu đang ngồi, Cư sĩ nói:

Khó khó khó! Mười tạ dầu mè vuốt trên cây.

(Nan nan nan! Thập tạ du ma thọ thượng thang.)

Bà nói:

Dễ dễ dễ! Trên đầu trăm cỏ ý Tổ sư. 

(Dị dị dị! Bách thảo thượng đầu Tổ sư ý.)

Cô Linh Chiếu nói:

Cũng chẳng khó, cũng chẳng dễ,

Đói đến thì ăn, mệt thì ngủ. 

(Dã bất nan, đã bất dị,

Cơ lai khiết phạn, khốn lai thùy.)

Cư sĩ nói:

– Chỉ như nói: Rõ rõ ý Tổ sư, rõ rõ trăm ngọn cỏ. Làm sao hội?

Cô Linh Chiếu nói: – Đã già cả mà nói lời thế ấy.

– Con nghĩ thế nào?

– Rõ rõ trăm ngọn cỏ, rõ rõ ý Tổ sư.

Cư sĩ bèn cười to.

Ngày nọ, Cư sĩ đi bán giỏ tre, đang bước xuống cầu bị trượt, Linh Chiếu thấy cũng té theo. Cư sĩ hỏi:

Con làm gì vậy?

Linh Chiếu đáp: – Thấy cha té, con nâng phụ.

Cư sĩ sắp đến lúc nhập diệt, bảo với Linh Chiếu:

– Con coi mặt trời sớm trễ, đúng ngọ báo cho cha biết. Linh Chiếu ra cửa, vội bảo:

– Mặt trời đã đúng ngọ mà có nhật thực, cha ra xem thử.

– Có như vậy sao?

– Có mà.

Cư sĩ rời khỏi chiếu, đến bên cửa sổ. Linh Chiếu bèn lên giường, lẹ làng ngồi kiết già thị tịch.

 

THÔI LUYỆN SƯ

Phu nhân của Mân soái là Thôi thị, tự Luyện Sư. Một hôm Luyện Sư sai sứ mang y và lễ vật đến thiền sư Huệ Lăng ở Trường Khánh và xin thư hồi âm.

Sứ giả đến thưa y như vậy. Huệ Lăng bảo:

– Về bảo Luyện Sư nhận hồi âm.

Sứ trở về đến trước Luyện Sư nói:

– Xin nhận hồi âm.

Hôm sau Huệ Lăng vào phủ, Luyện Sư thưa:

– Cảm ơn Đại sư hôm qua đã đáp lời.

Huệ Lăng bảo: – Đưa lời đáp hôm qua ra xem.

Luyện Sư đến trước vòng tay lại. Mân soái liền hỏi thiền sư Huệ Lăng:

– Vừa rồi Luyện Sư trình thư có hợp ý Đại sư chăng?

Huệ Lăng đáp: – Cũng tạm được.

Mân soái hỏi: – Chưa rõ ý Đại sư thế nào?

Huệ Lăng im lặng. Mân soái nói:

Chẳng thể nghĩ lường, Phật pháp của Đại sư sâu xa thay!

Đạo nhân GIÁC AM

Đạo nhân Giác Am họ Tổ, là cháu gái của sát viện) Du Tạc (1053-1123) ở Kiến Ninh. Thuở nhỏ không thích thế gian, lưu tâm tổ đạo. Nơi hội thiền sư Viên Ngộ nghe dạy chúng, Sư liễu ngộ. Viên Ngộ bảo:

– Cần phải dẹp hết các sở kiến mới được tự do.

Đạo nhân đáp kệ:

Lộ trụ trừu hoành cốt,

Hư không lộng trảo nha,

Trực nhiêu huyền hội đắc,

Do thị nhãn trung sa.

Dịch:

Cột cái xương ngang rút, 

Hư không vuốt nanh bày,

Cho dù huyền hội được,

Trong mắt dính cát đầy. 

 

Đạo nhân MINH THẤT

Đạo nhân Minh Thất tên Bổn Minh, tự khế cơ với ngài Viên Ngộ, rồi đi tham vấn tất cả các bậc danh túc. Đến đâu cũng được ấn khả.

Niên hiệu Thiệu Hưng năm thứ mười (1140) ngày rằm tháng hai, viết ba bài kệ trình ngài Thiện Thanh ở Thảo Đường.

Bài một:

Bất thức phiền não thị Bồ-đề,

Nhược tùy phiền não thị ngu si.

Khởi diệt chi thời tu yếu hội,

Diêu (diều hâu) quá Tân La nhân bất trị.

Dịch:

Chẳng biết phiền não là Bồ-đề,

Nếu theo phiền não thật ngu si.

Ngay khi khởi diệt cần nên hội,

Diều quá Tân La người chẳng hay.

Bài hai:

Bất thức phiền não thị Bồ-đề,

Tịnh diệu liên hoa sanh ứ nê.

Nhân lại vấn ngã nhược hà vi?

Khiết chúc khiết phạn tẩy bát vu.

Dịch:

Chẳng biết phiền não là Bồ-đề,

Sen thanh hoa nở giữa bùn nhơ.

Người đến hỏi ta làm thế nào?

Cơm cháo ăn rồi rửa bát đi.

Bài ba:

Mạc quản tha, mạc quản than

Chung nhật si hàm lộng hải sa.

Yếu thức bản lai chân diện mục,

Tiện thị Tổ sư nhất mộc xoa.

Đạo bất đắc để xoa hạ tử,

Đạo đắc để dã xoa hạ tử.

Tất cánh như hà?

Bất hứa dạ hành, đầu minh tu đáo.

Dich:

Mặc kệ nó, mặc kệ nó,

Suốt ngày si ngốc, đùa cát biển.

Muốn biết bản lai chân diện mục,

Chính là cây chia ba của Tổ sư.

Nói chẳng được chết dưới chia ba,

Nói được cũng chết dưới chia ba.

Rốt cuộc thế nào?

Chẳng cho đi đêm, đợi sáng hãy đến. 

Ít ngày sau, Cô từ biệt người thân, an nhiên mà tịch.

Đạo nhân TỊCH THỌ

Đạo nhân Tịch Thọ họ Phạm, người Thành Đô, goá chồng ở vậy nhiều năm, thường ngồi chẳng nằm. Nghe ngài Viên Ngộ trụ chùa Chiếu Giác, bèn đến thỉnh ngài chỉ dạy. Viên Ngộ dạy tham:

– Chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, là cái gì?

Đạo nhân tham rất lâu mà không khế hội, bèn hỏi Viên Ngộ:

– Ngoài đây ra, còn có phương tiện nào khiến con hội được?

Viên Ngộ nói:

– Có phương tiện này, chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật.

Đạo nhân liền tỉnh ngộ, bèn nói:

– Té ra gần gũi đến thế.

 

TẦN QUỐC PHU NHÂN

Phu nhân Tần Quốc họ Kế, tên Pháp Chơn, là mẹ của Ngụy quốc công Trương Lăng. Góa chồng sớm, tánh nghiêm nghị, dạy con rất phép tắc, thường ăn rau quả, ưa bố thí, tụng kinh lễ Phật có thời khoá hàng ngày.

Thiền sư Đại Huệ Tông Cảo trụ ở Kính Sơn thường sai học trò là Đạo Khiêm đem thư đến Trường Sa hầu Ngụy quốc công.

Ngụy công hỏi:

– Mẹ tôi tu hành bốn mươi năm, chỉ thiếu một điều này.

Rồi lưu Đạo Khiêm lại, sớm tối đàm đạo. Gặp phu nhân, phu nhân hỏi rằng:

– Hoà thượng Kính Sơn dạy người thế nào?

Đạo Khiêm nói:

– Hòa thượng dạy người khán “con chó không Phật tánh” và “cây trúc bề”. Chỉ là không được nói, không được suy nghĩ, không được hướng chỗ nêu lên mà hội, không được hướng chỗ mở miệng mà thừa đương. Muốn biện rõ việc này, hãy thôi xem kinh lễ Phật, chuyên tâm tham cứu, chớ để công phu gián đoạn. Nếu một bề chấp chặt xem kinh lễ Phật, mong cầu công đức, cũng là việc chướng đạo. Đợi đến khi một niệm tương ưng, sẽ xem kinh lễ Phật như cũ. Lúc ấy, dù là một nén hương, một cành hoa, một chiêm một bái đều là diệu dụng của Phật. Chỉ cần chịu tin nhau, chắc chắn chẳng làm lầm nhau.

Phu nhân tin lời, bèn ra sức tham cứu câu trên. Một hôm, canh năm vừa dậy ngồi lên chợt có tỉnh, làm kệ trình ngài Đại Huệ:

Trục nhật khán kinh văn,

Như phùng cựu thức nhân.

Mạc ngôn tần hữu ngại,

Nhất cử nhất hồi tân.

Dịch:

Suốt ngày xem kinh văn,

Như gặp người quen thân.

Chớ nói có chướng ngại,

Lần nào xem cũng mới.

Đại Huệ đáp thư rằng:

“Đạo Khiêm trở về, đem thư và mấy bài tụng của phu nhân. Ban đầu tôi rất nghi, đến lúc hỏi lại Đạo Khiêm mới rõ gốc ngọn. Việc bao kiếp chưa sáng, nay hoát nhiên hiện trước mắt, chẳng phải từ người mà được. Vì thế, tôi hoan hỷ đến mấy ngày.

Con bà làm Tể tướng, bà làm Quốc phu nhân, cũng chưa đủ làm quý. Quét được đống phẩn, lượm được của báu vô giá, trăm kiếp ngàn đời thọ dụng bất tận, mới thật đáng quý. Nhưng cần nhất là chẳng được chấp trước cái quí này. Nếu chấp trước thì đọa vào tôn quý, chẳng khởi lòng từ bi, thương xót hữu tình. Ghi nhớ, ghi nhớ!”

Niên hiệu Thiệu Hưng thứ hai mươi sáu (1156) phu nhân sắp mất, bảo Ngụy quốc công rằng:

– Mẹ có ơn sâu chưa báo. Hãy sai người đón tiếp, cúng dường ngài Đại Huệ một năm.

Ngụy công bèn sai sứ rước Đại Huệ tới. Ngài vừa đến, phu nhân từ trần. Linh sàng để ở Đông đường chùa Quang Hiếu. Chôn xong, ngài mới trở về.

Đạo nhân TRÚC TÂM

Đinh an nhân pháp danh Giác Chân, người Hào Đầu, Hoàng Nham, Thai Châu. Buổi đầu Cô đến tham vấn thiền sư Tuyệt Điền Canh ở núi Uỷ Vũ được tỉnh ngộ, liền bỏ nhà cất am tự tu. Sau Cô đến yết kiến thiền sư Cổ Ngu ở Dũng Tuyền. Cổ Ngu hỏi:

– Con gái nhà lương thiện chạy đông chạy tây làm gì? Cô thưa: – Con đến yết kiến Hoà thượng.

Cổ Ngu bảo: – Ở đây ta không thể dung ngươi.

Cô vỗ tay một cái, nói:

– Chỗ dùng ba mươi năm, hôm nay bị thua rồi.

Cổ Ngu liền thôi.

Cô đến yết kiến Vô Tế ở am Xuân Vũ, Nhạn Sơn. Vừa vào cửa, Cô nói:

– Mưa xuân trơn như mỡ, người đi ghét sình lầy.

Vô Tế nói: – Chẳng phải, chẳng phải.

Cô toan nói thêm, bị Vô Tế nạt đuổi ra.

Về già, Cô cất am ở trước chùa Minh Nhân tại Ấp Trung để tiếp khách qua lại. Có một vị tăng mang bao nón đi thẳng vào nhà, Cô hỏi:

– Ông là tăng gì?

Tăng đáp: – Tăng hành cước.

Cô bảo:

– Giày cỏ dưới chân đã rách, vì sao ông không biết?

Tăng đáp không được, Cô ném bao nón ra ngoài, bảo:

– Trong đây không có chỗ nào cho ông tạm nghỉ.

Lại có một vị tăng khác, vừa vào cửa, Cô bảo:

– Đại sư Đạt-ma đến.

Tăng đáp: – Không phải.

Cô bảo: – Phải vẫn phải, chỉ vì lỗ mũi không giống.

Một hôm Cô vào chùa Minh Nhân, thăm Sư ni Khuê. Vừa gặp nhau, Cô hỏi:

– Nghe Sư ni khi hôm sanh được đứa bé phải chăng?

Sư ni Khuê đáp: – Hãy nói, trai hay gái?

Cô đáp:

Kê hàm đăng trản tẩu,

Miết giảo điếu ngư can.

Dịch:

Gà mổ đèn kéo quân,

Rùa cắn cần câu cá.

Không biết Cô tịch lúc nào và ở đâu.

 

Đạo nhân TAM KHÔNG

Đạo nhân chẳng rõ họ gì, đến tham vấn thiền sư Thiên Minh Đàm, khán công án chữ “Vổ” của Triệu Châu suốt ba mươi năm.

Một hôm, Đạo nhân trở lại gặp Sư hỏi:

– Lúc sanh tử đến thì thế nào?

Sư hỏi vặn lại:

Sanh là ai? Tử là ai?

Đạo nhân cúi đầu vấn an (hỏi thăm sức khỏe). Sư lại hỏi như trước, Đạo nhân lại cúi đầu vấn an. Sư quở:

– Kỵ nhất là chết ở trong đây.

Đạo nhân đưa xâu chuỗi lên nói:

– Lần chuỗi một trăm lẻ tám.

Vài ngày sau, Đạo nhân mắc bệnh nhẹ, nói bài kệ rồi tịch.

SIÊU NHẤT TỬ

Siêu Nhất Tử con gái họ Ân, người Dương Châu, goá chồng sớm, đóng cửa học đạo. Ba năm sau ngồi tịch, có để lại một quyển thơ kệ. Trong đó có một bài như sau:

Tĩnh trung vô cá sự,

Phản phúc lộng hư không.

Địa lão thiên hoang hậu,

Hồn phi phách táng trung.

Hữu sư khai đạo thống,

Vô pháp độ ngu mông.

Hốt để hư không toái,

Tịch dương y cựu hồng.

Dịch:

Sau trời hoang đất cỗi,

Trong hồn mất phách tan.

Có thầy khai mối đạo,

Chẳng pháp độ ngu mông.

Chợt hư không nát bét,

Tịch dương như xưa hồng.

Và một bài Xem Hoa:

Thổ lại kiêu quán thủy lai tài,

Điên đảo công phu nhậm ngã lai.

Mãn viện xuân phong hoa tự ngữ,

Bất tương nhan sắc hướng nhân khai.

Dịch:

Vun đất tưới nước trồng hoa chơi

Xáo trộn mặc tình tôi trổ tài

Khắp viện gió xuân, hoa tự nhủ, 

Chẳng đem hương sắc nở vì ai. 


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.