Thiền Sư Ni Giảng Giải

Thiền Sư Ni Việt Nam



Sư ni DIỆU NHÂN (1042 – 1113)

Sư tên Lý Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phụng Càn Vương. Thuở nhỏ bà thiên tư thuần hậu, ngôn hạnh đoan trang, được vua Lý Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên, vua gả cho người họ Lê làm quan châu mục ở Chân Đăng. Chồng mất, bà tự thệ thủ tiết không chịu tái giá. Một hôm bà than:

– Ta xem tất cả pháp thế gian như giấc mộng huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao!

Thế rồi bà đem tất cả tư trang ra bố thí, cạo tóc xuất gia. Đến thiền sư Chân Không ở làng Phù Đổng, xin thọ giới Bồ-tát và học hỏi tâm yếu. Thiền sư Chân Không cho bà pháp danh Diệu Nhân và dạy trụ trì ni viện Hương Hải ở làng Phù Đổng, huyện Tiên Du.

Hàng ngày, Sư gìn giữ giới luật và hành thiền được chánh định, là bậc mẫu mực trong ni chúng thời ấy. Có người đến cầu học, Sư dạy họ tu tập Đại thừa. Dạy rằng:

– Chỉ trở về nguồn tự tánh thì đốn tiệm tùy theo đó mà thể nhập. Hãy giữ tâm tịch tịnh, lánh xa thanh sắc.

Có học giả hỏi:

– “Tất cả chúng sanh bệnh nên ta bệnh.” Tại sao lại kỵ sắc thanh?

Sư nương theo kinh đáp:

Nếu dùng sắc thấy ta,

Dùng âm thanh tìm ta,

Người ấy hành đạo tà,

Không thể thấy Như Lai! 

– Tại sao ngồi yên?

– Xưa nay không đi.

– Thế nào chẳng nói?

– Đạo vốn không lời.

Năm Hội Tường Đại Khánh thứ tư (1113), ngày mùng một tháng sáu năm Quý Tỵ, Sư có bệnh, nói kệ dạy chúng:

Sanh lão bệnh tử

Tự cổ thường nhiên,

Dục cầu xuất ly

Giải phược thiêm triền.

Mê chi cầu Phật

Hoặc chi cầu thiền,

Thiền Phật bất cầu

Uổng khẩu vô ngôn.

Dịch:

Sanh già bệnh chết 

Xưa nay là thường, 

Muốn cầu thoát ra

Mở trói thêm ràng.

Mê đó tìm Phật

Lầm đó cầu thiền,

Phật thiền chẳng cầu

Ngậm miệng không lời.

Nói kệ xong, Sư cạo tóc tắm rửa thân thể, ngồi kiết già viên tịch, thọ 72 tuổi.

Sư ni TUỆ THÔNG (Giữa thế kỷ XIV)

Sư họ Phạm, con gái của một gia đình đời đời làm quan. Sư xuất gia tu ở trên núi Thanh Lương. Sư tu khổ hạnh, trì giới chuyên cần, tuệ giải thông suốt, thường ngồi thiền định, diện mạo giống hệt A-la-hán. Kẻ đạo người tục xa gần đều kính mộ. Danh tiếng Sư lừng lẫy, là bậc tông sư của ni chúng cả nước, tên tuổi ngang hàng với bậc cao tăng. Vua Trần Nghệ Tông (1370-1372) ban hiệu là Tuệ Thông đại sư.

Về già, Sư dời về ở Đông Sơn. Một hôm Sư bảo đệ tử rằng:

– Ta muốn đem thân hư ảo này bố thí cho hổ lang một bữa no.

Sư bèn vào núi sâu ngồi kiết già, không ăn uống hai mươi mốt ngày, hổ lang ngày ngày đến ngồi chung quanh mà không dám đến gần. Đồ đệ nài nỉ Sư trở về am. Về am, Sư đóng cửa nhập định qua một hạ, rồi tập họp đệ tử lại giảng đạo, bỗng nhiên ngồi tịch, tuổi ngoài tám mươi. Lúc hỏa táng có rất nhiều xá-lợi. Quan sở tại xây tháp cho Sư ngay trên núi đó.

Trước khi tịch, Sư dạy đệ tử:

– Sau khi ta đi nên chia bớt xương ta lại đây để mài rửa tật bệnh cho người đời.

Đến khi nhặt xương, đệ tử thấy không đành, bèn cho hết vào trong hộp phong lại. Qua đêm bỗng có một chiếc xương khuỷu tay trên bàn, bên ngoài hộp. Mọi người đều kinh ngạc về sự linh nghiệm của Sư.

Về sau, có người mắc bệnh đến khẩn cầu, đệ tử đem xương mài với nước cho rửa, mọi người đều lành bệnh ngay. Sự thệ nguyện của Sư sâu rộng như thế.

Không biết Sư thuộc hệ phái nào.

(Trích dịch Nam Ông Mộng Lục Hồ Nguyên Trừng) 

GIA TỪ hoàng hậu (? – 1381)

Hoàng hậu Lê thị là em họ Hồ Quý Ly, lớn lên kết hôn với hoàng tử Cung Tuyên Vương, sanh ra Linh Đức Vương (tức Giản Hoàng Phế Đế). Năm 1372, hoàng tử lên ngôi. Năm 1373 bà được sách phong làm Gia Từ hoàng hậu.

Năm 1377 vua Trần Duệ Tông đánh Chiêm Thành bị chết trận, bà xuống tóc xuất gia. Thượng hoàng Nghệ Tông chọn Linh Đức lên làm vua, bà cố từ chối thay cho Linh Đức, nhưng không được. Bà khóc nói:

– Con ta phước mỏng, khó lòng cáng đáng trách nhiệm lớn, chỉ có mắc tai vạ thôi. Tiên hoàng lìa đời, kẻ chưa chết này chỉ muốn chết theo, không muốn trông thấy việc đời nữa, huống là lại phải nhìn thấy con mình sắp nguy khốn ư!

Sư dốc chí tu hành, không quá vài năm mà đốt tay, đốt liều trên đảnh… cúng dường đủ hết. Sớm chiều tụng niệm, một bề chuyên tâm thiền định.

Niên hiệu Xương Phù thứ năm (1381) Giản Hoàng, Sư thị tịch trong lúc đang nhập định, ở am Tây chùa Chiêu Khánh, hương Long Đàm.

Đến lúc Linh Đức bị phế và hại chết để lập Chiêu Định Vương, mọi người ai cũng phục Sư là người sáng suốt, thấy trước sự việc. Vả lại, cảm sự trung thành và tiết tháo kiên trinh của Sư, vừa vào cửa Phật liền chóng liễu ngộ.

Các phi tần nhà Trần cũng có nhiều người hiền đức, nhưng Sư sanh sau lại gần như hơn hẳn. Kỳ vĩ thay!

(Dựa theo Sử Ký và Nam Ông Mộng Lục)

Sư ni họ Lê núi Thị Vãi

Sư tên Lê Thị Nữ, không biết quê quán ở đâu, chỉ biết lúc chưa xuất gia cô thuộc gia đình giàu có, trẻ đẹp hiếu thảo, lo phụng dưỡng cha mẹ, không chịu lấy chồng. Sau khi cha mẹ mất mới chịu xuất giá, nhưng không bao lâu thì chồng chết. Cô không chịu tái giá, nhưng bị nhà quyền thế áp bức, cô bèn xuống tóc xuất gia tu hành.

Sư lập am trên núi gần Bà Rịa, giữ giới luật tinh nghiêm, chí tâm tu hành, đạt thành chánh quả. Vì vậy người đời sau gọi núi đó là núi Thị Vãi hay núi Nữ Tăng.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí viết: Núi Nữ Tăng ở đông nam huyện Long Thành mười hai dặm, tục gọi là núi Thị Vãi, đất đá xen lộn, cây cối lên cao, từ tỉnh Gia Định trông đến như hòn ngọc Thượng đế trưng bày, tượng trưng tốt đẹp. Nhân dân ở đây nhờ nhiều món lợi (cây gỗ, dầu thông, chim muông, than củi). Xưa có Ni cô là Lê Thị Nữ dựng am ở tại núi ấy, nên gọi là núi Nữ Tăng.

Sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức có viết: Núi Nữ Tăng, tục gọi là núi Bà Vãi, địa phận Long Thành, xưa người con gái họ , gia tư giàu có, nhưng bị lỡ thời, sau khi cha mẹ mất rồi mới có chồng, không được bao lâu chồng chết, bà thề không tái giá, lại bị kẻ cường hào cậy mai mối thường đến quấy nhiễu. Bà bèn cạo đầu lập am đỉnh núi, tự làm thầy Cả cùng bọn đồng tộc giữ lòng tu trì, sau thành chánh quả. Người ta nhân đó đặt tên núi. 

Sư ni họ TỐNG ở Hà Tiên

Sư ni Tống Thị Sương là con một nhà giàu ở Hà Tiên, thùy mỵ siêng năng, giỏi về nữ công, giàu nữ hạnh.

Khi cô đến tuổi mười sáu, nhiều nhà quyền thế cậy người mai mối đến cầu hôn, nhưng tất cả đều bị từ chối. Cha mẹ trách cứ, cô thưa:

– Nhân duyên của con phải nhờ đức Phật chỉ giáo.

Cha mẹ không hiểu nhưng cũng miễn cưỡng nghe theo. Một hôm có vị sư lạ đi qua cửa, thấy áo lót của cô phơi ở sân, Sư vào chỉ nằng nặc hỏi xin áo ấy, nói rằng để thỏa nguyện cúng Phật. Cha mẹ cô la mắng, xua đuổi lớn tiếng. Cô chạy ra khuyên can cha mẹ, vị sư chỉ mỉm cười rồi đi. Từ đấy cô phát nguyện niệm Phật, xuống tóc làm Ni để phụng thờ Quán Âm đại sĩ. Cha mẹ nhiều cách khuyên giải không được, bèn cho lập am ở bên trái núi trên đảo Đại Kim cho cô tụng niệm tu hành.

Cô trì giới nghiêm cẩn, lại thêu một bức tranh Bồ-tát Quan Thế Âm cao bằng thân người, cứ mỗi mũi kim lại niệm Phật một câu. Ba tháng thì xong, bức tranh nổi bật sống động trông như vị Phật sống. Dựng viện để thờ (tranh ấy), đến nay di tích vẫn còn.

(Trích Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên quyển 6 – Cao Tăng) 

Am Quan Âm của Sư ni Tống Thị Sương ở núi Đại Kim nằm trên đảo Đại Kim. Đảo Đại Kim nằm ở phía nam trấn, chu vi 139 trượng 5 thước. Đảo này ngăn đón sóng cồn, làm hạt ngọc biển của trấn. Nơi bờ có bắc cái cầu ván để thông ra vào, phía sau có viện Quan Âm, phía tả có Điếu đình, người du ngoạn thường khi trăng thanh gió mát đến đây thả câu ngâm vịnh thong dong. Đây là cảnh Kim dự lan đào (đảo Kim ngăn sóng) trong mười cảnh đẹp của trấn Hà Tiên.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.