Bây giờ tôi ôn lại để quý vị thấy tinh thần thiền qua các vị vua đời Trần. Có ba điểm chúng ta phải lưu ý. Điểm thứ nhất là các vua đời Trần rất tỉnh sáng, vui cười trong giờ phút lâm chung. Điểm này nhắc chúng ta và bạn bè chúng ta khi ra đi phải làm gì. Điểm thứ hai là Thiền đời Trần có đặc điểm gì mà tôi chủ trương khôi phục. Điểm thứ ba là người tu Thiền làm sao tránh khỏi bệnh và tại sao bị bệnh.
Gần đây ở Thường Chiếu, sau những buổi giảng Thiền sư Trung Hoa, các Phật tử có nêu lên những thắc mắc. Câu được nhiều Phật tử nêu lên là: Người tu Tịnh độ khi thân nhân hay bạn đạo sắp lâm chung thì niệm Phật và tụng kinh Di-đà để trợ niệm. Vậy người tu thiền khi thân nhân hay bạn đạo sắp lâm chung phải làm gì? Tu theo thiền tông đời Trần đương nhiên chúng ta phải lấy gương của các thiền sư đời Trần làm tiêu chuẩn, để giải quyết trường hợp thân nhân hay bạn đạo sắp lìa trần. Thánh Đăng Lục là quyển sách kể lại công hạnh tu của năm vị vua đời Trần. Năm vị vua đời Trần tu ngộ được lý thiền, sống rất đạo đức và sáng suốt. Sau đây tôi trích dẫn những đoạn các ngài sắp tịch để quý vị thấy rõ hành trạng các ngài mà ứng dụng.
1- Vua Trần Thái Tông
Vua bệnh, Thánh Tông thăm bệnh, nhân đó hỏi:
– Chân không và ngoan không là đồng hay khác?
Vua đáp:
– Hư không là một, nhưng do tự tâm mê ngộ nên thành có chân và ngoan sai khác. Ví như phòng nhà, mở ra thì sáng, đóng lại thì tối, sáng và tối chẳng đồng và phòng nhà là một.
Ngoan không là khoảng hư không rỗng tuếch không có vật gì. Chân không là danh từ nhà Phật chỉ cho thể chân thật của các pháp không hình không tướng. Thánh Tông nghi chân không và ngoan không nên đem ra hỏi vua cha là đồng hay khác. Bấy giờ Thái Tông bệnh mà vẫn giải thích là một, tức là nói về cái trống rỗng thì đồng, nhưng do tự tâm mê ngộ nên thành có chân không và ngoan không sai khác. Mê thì thấy ngoan không, ngộ thì thấy được chân không. Để cho nghĩa này rõ hơn vua ví dụ cái phòng nhà, hư không trong phòng không đổi thay, song nếu tắt đèn thì tối, mở đèn thì sáng. Cái tối cái sáng có khác, hư không trong nhà thì không khác. Thế nên chân không và ngoan không thể nó thì đồng, vì không có tướng mạo, nhưng nhận ra chân không là giác, không nhận được chân không là mê, giống như hư không trong nhà có đèn thì sáng, không đèn thì tối. Tối sáng khác nhau chứ hư không trong nhà không khác. Đó là vua Thái Tông giải thích nghĩa chân không và ngoan không.
Ngày hôm sau, quốc sư Đại Đăng vào thăm hỏi:
– Bệ hạ bệnh chăng?
Vua đáp:
– Tứ đại là bệnh, cái này xưa nay sanh tử không can hệ, mà dính kẹt trong bệnh hoạn sao?
Nếu chúng ta bệnh có người tới thăm hỏi: Thầy bệnh chăng? Chúng ta trả lời: Hôm nay tôi bị đau bụng hay nhức đầu. Ở đây vua không nói như thế mà nói tứ đại bệnh. Vì tứ đại duyên hợp nên có chống trái thành bệnh, còn ông chủ hay tâm thể chân thật xưa nay sanh tử không can hệ, thì bệnh hoạn đâu có dính dáng được. Nghĩa là ông chủ nơi vua không bao giờ có sanh tử huống là có bệnh hoạn. Bệnh hoạn là chuyện của tứ đại. Vua Thái Tông thấy vậy có xứng đáng là một thiền sư không? Chỗ này có một vị tăng hỏi một thiền sư: “Hòa thượng bệnh lại có cái chẳng bệnh chăng?” Ngài đáp: “Có.” Tăng hỏi: “Cái chẳng bệnh ở đâu?” Ngài nói: “Ui da! Ui da!” Cái biết ui da không bệnh mà thân tứ đại bệnh. Như vậy thì cái thấy của vua Trần Thái Tông đâu có kém cái thấy của Thiền tổ Trung Hoa. Đó là tôi dẫn sử để so sánh đối chiếu cho quý vị thấy cái ngộ của tổ sư tông Tào Động và cái ngộ của vua Trần Thái Tông không khác.
Khoảng mấy ngày sau, Thái Tông lặng thinh không nói, đuổi hết kẻ hầu hạ, đem việc nước dặn dò Thánh Tông. Thánh Tông muốn nhờ hai quốc sư Phù Vân và Đại Đăng nói pháp xuất thế cho Thái Tông nghe. Thái Tông gằn giọng bảo: “Đến trong đây, bớt một mảy tơ dường trên thịt khoét thương, thêm một mảy tơ như trong mắt để bụi. Ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau, sáu đời tổ sư thoái thân có phần. Dù Phù Vân nói huyền, Đại Đăng thuyết điệu đều là lời thừa, có ích gì đối với cái này?
Chúng ta nghe vua nói như thế có hài lòng không? Thánh Tông nghĩ cha mình sắp chết, nên thỉnh các vị thiền sư nổi tiếng như ngài Đạo Viên và Đại Đăng ở núi Yên Tử đến để trợ lực. Vua liền nói, đối với thể chân thật nếu bớt một mảy tơ dường như trên thịt khoét thương tích, nếu thêm một mảy tơ giống như trong mắt để bụi vào. Nó nguyên vẹn là nguyên vẹn, như như là như như, thêm không được bớt không được. Như vậy thì ba đời chư Phật bốn mắt nhìn nhau. Nghĩa là chư Phật và đệ tử, thầy nhìn trò trò nhìn thầy cảm thông thì ngộ, hai bên thầy trò nhìn nhau mà ngộ không thêm không bớt. Sáu đời tổ sư vị nào nghe rồi thâm nhập thối lui đảnh lễ cũng không thêm không bớt. Như vậy thì dù cho thiền sư Phù Vân nói huyền, thiền sư Đại Đăng thuyết diệu, đối với thể chân thật mà vua đã sống được cũng chỉ là lời thừa, không có dính dáng gì, nên vua không cần ai trợ giúp lúc sắp mệnh chung. Để thấy người tu sống được với thể chân thật, lúc tịch các vị cao tăng đến nhắc nhở còn không cần huống gì rước thầy đến niệm Phật tụng kinh.
Nói xong ngài lặng lẽ thị tịch, nhằm năm đầu niên hiệu Thiệu Bảo, tức năm Kỷ Mão (1279), thọ 60 tuổi.
Vua ra đi một cách thoải mái, không lo âu sợ sệt là do nhận chân được lẽ thật, nên không cần bớt cái gì không cần thêm cái gì, cứ lặng lẽ mà đi không ồn náo. Đó là bước đi cuối cùng của vua Trần Thái Tông.
2- Vua Trần Thánh Tông.
Vua bệnh, thượng sĩ Tuệ Trung gửi thư đến thăm, vua viết vào cuối trang đáp lại:
Hơi nóng hừng hực mồ hôi đẫm
Chiếc khố mẹ sanh vẫn ráo khô.
Vua nói thân này bệnh đau nhức toàn thân, nhưng không dính dáng gì tới thể chân thật – chiếc khố mẹ sanh. Giống như trời nóng bức mồ hôi tuôn dầm dề, mà chiếc khố mẹ sanh không có dính ướt.
Đến lúc bệnh nặng, vua thường lấy ngón tay gõ vào chiếc gối, như có sở đắc điều gì. Chốc lát vua đòi bút viết bài kệ:
Sanh như mặc áo
Chết tợ cởi trần
Từ xưa đến nay
Không đường nào khác.
Đến lúc đau gần chết vua còn lấy ngón tay nhịp nhịp vào gối chơi, rồi nói: Sanh như mặc áo, chết tợ cởi trần. Khi mở mắt chào đời, thân trần trụi được mặc áo cho ấm. Và khi nực quá cởi áo ra để thân trần cho mát. Ngài thấy sanh tử giống như mặc áo và cởi áo, đó chỉ là nhu cầu, không có gì quan trọng.
Vua lại nói tiếp: Từ xưa đến nay không đường nào khác. Từ xưa tới nay muôn muôn người triệu triệu người ai cũng đi chung con đường sanh ra rồi tử không có ai đi đường nào khác. Con người ai sanh ra rồi cũng chết, chết rồi lại sanh, ai cũng đi đường này không ai đi đường khác, thế tại sao lại sợ? Nếu mọi người đi đường này, mình phải đi đường khác, vì không biết đường khác ra sao mới sợ. Tất cả cùng đi chung một đường thì không có gì phải sợ.
Liền hét, nói:
Chữ bát mở toang đà trao phó
Còn đâu việc nữa đáng trình anh.
Rồi vua đuổi hết kẻ hầu hạ, chỉ còn mình Nhân Tông đứng hầu một bên thưa:
– Bệ hạ còn nhớ lời của ngài Vĩnh Gia chăng?
Gần chết mà vua còn hét, oai ghê! chữ Bát chỉ cho hai chân mày, trao phó chỉ cho lỗ mũi. Lỗ mũi tượng trưng cho sinh mạng con người, nếu đã nắm được sinh mạng rồi, thì đâu còn việc gì để nói và thưa trình với ai. Thế nên vua đuổi hết kẻ hầu người hạ, chỉ để một mình Nhân Tông ở lại với ngài thôi. Nhân Tông mới nhắc lại lời của ngài Vĩnh Gia:
Rành rành thấy, không một vật,
Cũng không người chừ cũng không Phật.
Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả thánh hiền như điện chớp.
Dẫu cho vòng sắt trên đầu chuyển,
Định tuệ sáng tròn vẫn không mất.
Nhân Tông muốn nhắc cho vua cha nhớ chỗ căn bản đạo lý, để cho ngài an lành trong lúc ra đi, nên mới dẫn lời của thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác: chỗ rốt ráo thì rõ ràng không có một vật, cũng không có người cũng không có Phật, vì người và Phật là hai từ ngữ đối đãi giả lập không thật có. Lớn như đại thiên sa giới cũng giống như hòn bọt nổi trên mặt biển không có gì quan trọng. Tất cả thánh hiền chỉ là giả danh không thật, giống như lằn điện chớp có đó liền mất đó. Cốt yếu là định tuệ phải sáng tròn, dù cho trên đầu có vòng sắt cháy rực quay quanh, định tuệ cũng không mất. Đây mới là thứ thiệt.
Vua nghe xong, bất chợt cười lên rồi gõ chiếc gối tụng:
Rành rành thấy, không một vật,
Cũng không người chừ cũng không Phật.
Cõi cõi đại thiên bọt nổi trôi,
Tất cả thánh hiền như điện chớp…
Xong, ngay chiều hôm đó sấm gió nổi dậy, thấy một vầng ánh sáng tròn rọi nơi bức vách ngăn, vua liền băng, hưởng thọ 51 tuổi, nhằm ngày hăm hai tháng năm, năm Canh Dần (1290).
Gần chết mà vua còn nhớ mấy câu ca chứng đạo rồi nhịp gối ca chơi. Không như người dung thường lúc sắp chết nhìn người này ngó người kia thương khóc, sợ mình chết rồi không gặp lại v.v… Nhân Tông biết nên đọc những câu ca chứng đạo để tăng sức mạnh cho cha. Đây là một kinh nghiệm, nếu thân nhân sắp mất, chúng ta là người biết đạo, thấu lý thiền thì nên nhắc lại những câu đạo lý, để tăng sức mạnh cho thân nhân tỉnh táo ra đi. Đó là bước đi cuối cùng của vua Trần Thánh Tông.
3- Vua Trần Nhân Tông
Vua Nhân Tông truyền ngôi cho con một thời gian rồi xuất gia lên núi tu. Vì xuất gia lên núi tu nên đời của ngài là đời của thầy tu. Bởi đời của thầy tu nên tôi chỉ nhắc sơ thôi không phải nói nhiều.
Ngày mùng một tháng mười một, nửa đêm sao trời sáng tỏ, Điều Ngự hỏi:
– Hiện giờ là giờ gì?
Bảo Sát thưa:
– Giờ Tý.
Điều Ngự đưa tay mở cánh cửa sổ nhìn ra, bảo:
– Chính là giờ ta đi.
Bảo Sát hỏi:
– Tôn đức đi đâu?
Điều Ngự đáp:
Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền.
Nào có đến đi gì?
Điều Ngự biết giờ ra đi của mình, nên hỏi Bảo Sát hiện giờ là giờ gì? Bảo Sát thưa bây giờ là giờ Tý. Ngài nói chính là giờ ta đi. Bảo Sát hỏi Tôn đức đi đâu? Ngài trả lời, tất cả pháp ở thế gian không có sanh không có diệt, nếu người hiểu được như vậy thì Phật lúc nào cũng hiện tiền, nào có đến nào có đi mà hỏi. Chúng ta thấy lối đi của ngài rất quan trọng.
Bảo Sát thưa:
– Chỉ như khi chẳng sanh chẳng diệt thì thế nào?
Điều Ngự liền vả ngay miệng Bảo Sát, bảo:
– Chớ nói mớ
Nói xong, ngài nằm theo thế sư tử lặng lẽ mà tịch.
Đã nói không sanh không diệt mà Bảo Sát còn hỏi là thế nào, nên ngài không trả lời, vả miệng Bảo Sát và quở Bảo Sát nói mớ. Quở xong, ngài nằm theo thế kiết tường như sư tử lặng lẽ thị tịch. Đó là bước đi cuối cùng của vua Trần Nhân Tông.
4- Vua Trần Anh Tông
Năm Canh Thân niên hiệu Đại Khánh thứ bảy (1320) vua bệnh, ra chiếu mời tôn giả Phổ Tuệ đến gặp và hỏi:
– Bồ-tát làm những hạnh nghiệp gì, để vào lại trần lao độ thoát cho chúng sanh?
Phổ Tuệ đáp:
– Người xưa sau khi được chánh kiến rồi, hằng ngày nhồi thành một mảnh, nên hay lấy sanh tử làm nơi du ký, qua lại chẳng ngại, thân tùy theo ý sanh, tùy chỗ tạm gá. Kinh Viên Giác nói “Bồ-tát trở lại trần lao, chẳng phải do ái làm gốc”.
Bây giờ nếu chúng ta bệnh nặng, mời quý thầy tới thì hỏi cái gì? Hỏi người tu sắp chết phải làm gì để được về Cực lạc, hay để được giải thoát sanh tử. Hỏi chuyện đi cho thảnh thơi, chứ không hỏi Bồ-tát phải tu hạnh nghiệp gì để vào trần lao độ thoát chúng sanh. Nếu không trở lại thế gian thì không độ chúng sanh được nên phải hỏi. Ngài Phổ Tuệ mới đáp: Người xưa sau khi ngộ thể chân thật nơi mình rồi, hằng ngày tu miên mật tâm nhất như lấy sống chết làm trò chơi. Thế nên chết đây sanh kia không có gì sợ, tùy theo ý muốn sanh ở đâu thì sanh thân ở đó, tạm gá thân độ sanh hết duyên rồi thì đi. Ngài dẫn kinh Viên Giác, Bồ-tát trở lại trần lao chẳng phải do ái làm gốc. Phàm phu sanh ra trong thế gian do ái mà sanh, nào thương cha thương mẹ, thương anh thương em… mới có thân này. Còn Bồ-tát do nguyện lực độ sanh mà có thân nên không phải gốc từ ái.
Vua hỏi thêm:
– Thế nào là dụng tâm chặt thẳng?
Phổ Tuệ đáp:
– Nhân Tông Điều Ngự có nói: “Buông xuống! Buông xuống! Buông chẳng xuống liền chính là kẻ ấy”. Lại người xưa nói “Một niệm chẳng sanh tức Phật như như.”
Ở trước tôi đã giảng kỹ chỗ này. Tới đây tôi muốn nhắc lại cho quý vị nhớ, chỗ buông xuống thì biết rồi, còn chỗ buông chẳng xuống là cái gì? Ví dụ ngồi thiền vọng tưởng dấy chúng ta buông thì vọng tưởng lặng, đó là buông xuống. Bấy giờ không có vọng tưởng, lúc đó buông cái gì? Tức là hết buông được, hết buông được thì gọi là chỗ buông chẳng xuống. Chỗ buông chẳng xuống chính là kẻ ấy, chính là bộ mặt thật xưa nay. Tới đây ngài Phổ Tuệ muốn rõ thêm, dẫn câu Một niệm chẳng sanh tức Phật như như. Khi không còn một niệm dấy khởi lúc đó Phật hiện tiền. Ngài Phổ Tuệ đã chỉ cho nhà vua thấy rõ cái gốc.
Ngày hôm sau vua lại mời ngài Phổ Tuệ vào cung nói về đạo lý “Buông xuống”. Phổ Tuệ dẫn chỗ chặt thẳng của người xưa, vua mỉm cười, nói:
– Đệ tử đối với lẽ này rất có sở đắc, thật chẳng đối vậy!
Phổ Tuệ bảo:
– Dừng, dừng, chẳng cần nói. Việc tốt chẳng bằng không.
Vua mỉm cười, trở mình nằm lại, liền thăng hà, hưởng 45 tuổi đời.
Vua Trần Anh Tông mặc dù hiểu thiền, ngộ thiền và có tâm Bồ-tát, nhưng sánh với vua Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông thì yếu hơn, nên phải nhờ Thiền sư trợ lực. Khi đã thấu lý thiền vua tự khoe đã có sở đắc. Ngài Phổ Tuệ bảo dừng không cho nói, mà phải ngay đó sống, nói ra là dư. Ngang đó vua biết liền cười rồi trở mình mà đi.
5- Vua Trần Minh Tông
Tháng giêng năm Đinh Dậu niên hiệu Thiệu Phong thứ mười bảy (1357), vua xuất một xâu chuỗi bằng vàng làm vật tặng Sư (Kim Sơn) để từ biệt. Đến ngày mười chín tháng hai vua lặng lẽ thăng hà, chẳng ăn chẳng uống thuốc, hưởng 58 tuổi đời.
Vua Minh Tông khi ra đi cũng được an ổn.
Năm vị vua nhà Trần là năm tấm gương sáng để cho chúng ta noi theo. Người tu chúng ta lúc mệnh chung ít ai bằng Trần Thái Tông cũng ít ai bằng Trần Nhân Tông. Người khá lắm thì có thể bằng Trần Anh Tông, song gần ra đi phải nhờ bậc đạo đức cao hơn, để nhắc nhở trợ thêm sức mạnh. Như vậy trong tông môn khi có một thiền sinh tịch, những thiền sư ở gần được mời tới, có nên lập bàn Phật để đem kinh ra tụng không? Muốn cho thiền sinh tỉnh trước khi ra đi, thì vị thiền sư chỉ cần nói hoặc hỏi năm ba câu cho thiền sinh lãnh hội để ra đi nhẹ nhàng là tốt. Đó mới đúng với ước nguyện của thiền sinh mong cầu. Chứ tụng kinh nhiều mà thiền sinh cứ thở dài hoài thì có lợi ích gì! Phải trực tiếp nhắc cho họ tỉnh, mới giúp họ giải được oan khiên, để họ ra đi được nhẹ nhàng. Như vậy thì trong nhà thiền có người hỏi: “Huynh đệ sắp tịch chúng ta phải làm gì?” Quý vị có câu đáp chưa? Quý vị phải hiểu chỗ này cho rõ, vì đây là phương tiện để hướng dẫn tăng ni Phật tử sau này, nếu không nắm vững thì sẽ lúng túng.
Giả sử trong tông môn có một Phật tử đau nặng đang hấp hối, ngày thường khỏe mạnh mỗi đêm họ tụng kinh Bát-nhã. Bấy giờ chúng ta tới hỏi: Đạo hữu có nhớ câu “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách” không? Nếu họ trả lời “Nhớ” thì hỏi tiếp: Chiếu kiến ngũ uẩn giai không là sao? Họ giải đúng ý nghĩa, thì hỏi tiếp: Đạo hữu đã thấy ngũ uẩn giai không chưa? Nếu họ đã thấy thì qua hết khổ nạn ra đi thảnh thơi. Nếu họ chưa thấy thì nhắc lại cho họ tỉnh. Hoặc nhắc lại kinh Kim Cang mà họ đã học: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng” để đánh thức họ đừng luyến tiếc xác thân. Nếu không luyến tiếc xác thân thì ra đi nhẹ nhàng. Như vậy là độ họ trong giờ phút lâm chung, chứ không phải đến thiết lập bàn Phật, tụng hai ba bộ kinh, mình tụng thì mình tụng, họ cứ mệt cứ mê, hai bên không dính dáng gì với nhau. Như vậy tụng kinh có lợi ích gì? Đây là vấn đề thiết yếu mà chúng ta phải biết để sau này hướng dẫn Phật tử.
Hiện tại chúng ta lấy Thiền tông đời Trần làm cơ sở tu hành, thì phải biết khi mình sắp tịch phải như thế nào. Chẳng hạn như tôi, nếu công phu tu hành của tôi ngang với vua Trần Thái Tông, thì tôi biết rõ tôi sẽ đi đâu. Như vậy lúc tôi sắp tịch quý vị mời các thiền sư đến để cho tôi thêm cái gì thì tôi có ưng không? Chắc tôi phải nói: “Thôi để tôi lặng lẽ thảnh thơi ra đi, đừng có mời thỉnh quý thầy, chỉ thêm bận rộn.” Lẽ ra cái chết trong nhà thiền lặng lẽ tẻ lạnh không rình rang. Cái lặng lẽ tẻ lạnh đó có một ý nghĩa thâm trầm của đạo, chứ không phải tẻ lạnh mà vô nghĩa. Đây là phương hướng của người tu thiền xử sự với đệ tử với bạn đồng đạo sắp mệnh chung. Đó là mục thứ nhất.
Bây giờ tới mục thứ hai, tại sao tôi chủ xướng khôi phục Thiền tông đời Trần. Đây tôi chỉ nói một góc chứ không nói toàn diện để cho quý vị hiểu. Năm vị vua nhà Trần chỉ có Trần Nhân Tông xuất gia làm Tăng và Tổ, còn lại bốn vị thì tu cư sĩ. Có vị về già cạo tóc ở chùa trong thành nội, tu với tính cách tại gia, mà khi ra đi các ngài tỉnh táo tự tại. Cuộc đời của các ngài cho chúng ta những bài học đáng giá.
– Các ngài ở ngôi vị vua chúa sang trọng quyền thế tột đỉnh, mà vẫn quý đạo kính Phật lo tu hành, đó là điều mà chúng ta phải học. Vì người ở thế gian nếu có giàu lắm, thì sự nghiệp chỉ bằng một góc nhỏ của vua thôi. Vậy mà có nhiều người tu không được! Còn chúng ta thì nghèo mạt đi tu dễ hay khó? Dễ quá, có gì đâu mà bỏ, có gì đâu mà cám dỗ? Địa vị danh vọng quyền thế của một ông vua mà biết hướng về đạo để tu thì chuyện quá hy hữu. Đó là cái gương sáng mà chúng ta phải học.
– Các ngài làm vua thì đa đoan công việc, nào việc cung đình, nào việc nước việc dân… thế mà các ngài tu có kết quả. Chúng ta ngày nay công việc rất ít, trong gia đình chỉ có năm bảy người, đâu có gì đa đoan bận rộn, chỉ làm nuôi năm bảy người mà tu không được sao? Nếu nói bận rộn thì không ai bận rộn bằng ông vua, thế mà ông vua tu được và có kết quả. Chúng ta ít bận rộn, chỉ lo cho gia đình (cư sĩ) khoảng năm bảy người, mà tu không được thì cũng là chuyện oái oăm không hợp lý. Vì vua thì biết bao nhiêu việc mà tu được có kết quả, còn chúng ta ngày nay có bao nhiêu việc đâu mà tu không được? Gần đây có những cư sĩ gặp nhau hỏi: “Anh lúc này tu có khá không?” Đáp: “Tôi lúc này bận rộn lắm, nào việc nhà việc sở lu bu, tu không được.” Thử hỏi ông vua việc nhà bao nhiêu việc nước bao nhiêu mà sao tu được, còn chúng ta thì tu không được? Tôi dẫn các vị vua ra đây cho các vị cư sĩ thấy để không còn nghĩ rằng mình đa đoan tu không được, mà phải can đảm khéo sắp xếp như mấy ông vua để tu được. Đó là đối với cư sĩ. Còn người xuất gia thì không có vấn đề nào hết, mọi việc đều buông mà tu không được thì hết nói. Đó là cái gương mà tôi thấy cần phải nêu lên để tất cả chúng ta chiêm nghiệm tu hành.
– Các vị vua đa số là cư sĩ, cư sĩ ngày xưa tu được ngộ đạo thì cư sĩ ngày nay tu có được ngộ đạo không? Gần đây có nhiều cư sĩ thường nói, muốn được giải thoát là phải xuất gia cạo đầu ở chùa như quý thầy tu mới khả dĩ giải thoát, chứ còn làm cư sĩ thì tu không tới đâu. Một ông vua hưởng đủ thứ dục lạc trên thế gian, tu ngộ đạo, khi chết tỉnh táo ra đi thảnh thơi thì tại sao mình nói mình làm không được. Tôi dẫn các vị vua đời Trần để cho người tu nhất là cư sĩ tại gia không còn mặc cảm chỉ có người xuất gia mới tu ngộ đạo giải thoát. Nghĩa giải thoát ở đây không phải chứng tứ quả Thanh văn, nhập Niết-bàn vĩnh viễn không trở lại, mà là sáu căn không dính với sáu trần, ra vào trong lục đạo như dạo chơi trong các hý trường, đó là giải thoát. Chỗ này vua Trần Anh Tông hỏi tôn giả Pháp Loa làm sao trở lại đời để giáo hóa độ người.
Phật giáo đời Trần không hạn cuộc người xuất gia mới có thể tu ngộ đạo mà người cư sĩ tu cũng có thể ngộ đạo. Nếu chúng ta cứ quan niệm người xuất gia tu mới ngộ đạo mới giải thoát thì ai muốn tu cũng phải vô chùa, như vậy thì chùa làm sao chứa hết? Ở Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan, Cao Miên, người theo Phật giáo Nguyên thủy, không phải xuất gia suốt đời, nên thanh niên ai cũng phải xuất gia, xuất gia vài ba năm trui rèn đạo đức rồi hoàn tục lập gia đình làm ăn. Còn các thái tử cũng phải xuất gia ba tháng cho có đạo đức sau đó mới lên làm vua. Thế nên ở những nước này người dân xuất gia rất đông, nhưng ở chùa thì không đông. Còn ở Việt Nam chúng ta có khác, một lần xuất gia thì không được quyền để tóc hoàn tục, mà phải tu suốt đời. Như vậy, nếu cứ đua nhau xuất gia thì e như ở Nhật Bản thời Minh Trị Thiên Hoàng có quá nhiều chùa trong nước, mỗi chùa có mấy ngàn tăng. Xuất gia như thế thì dân chúng còn đâu làm ăn để theo kịp trào lưu tiến bộ với thế giới, nên Thiên Hoàng ra lệnh các tăng sĩ tu đến ba mươi tuổi phải lập gia đình. Lập gia đình xong, muốn tu nữa thì tu. Từ đó người tu đến ba mươi tuổi đều lập gia đình có con. Song ai muốn tu tiếp thì tu, ai không muốn thì ra đời luôn. Do đó mà Phật giáo Nhật Bản có Tân tăng. Nếu cứ quan niệm xuất gia mới tu được thì vào chùa nhiều quá, người trẻ không còn ở ngoài để lo mọi công tác xã hội thì sao? Giả sử ở Việt Nam ngày nào đó chánh phủ cũng ra lệnh người tu tới tuổi nào phải có gia đình thì bấy giờ thành thông tục hóa, người xuất gia giống hệt người tại gia không hơn không kém. Thế nên muốn giữ vị trí và giá trị xuất gia riêng, tại gia riêng thì người xuất gia phải là người rảnh rang không bận bịu việc nhà việc nước, sớm thức tỉnh đi tu thì người đó là người xuất gia, còn người đang bận bịu việc nhà việc nước đang làm đang sống, hiểu đạo thì cứ tu tại gia cho tốt. Nếu cùng nhau rủ vô chùa hết thì làm sao sống? Mất quân bình xã hội.
Tôi chủ trương lấy Phật giáo đời Trần làm căn bản tu, để Phật tử không quan niệm lầm như trên. Các vị vua ở lại cung đình tu được thì người cư sĩ ở nhà vừa lo cho gia đình vừa tu có hại gì đâu? Chỉ khéo biết tu là có kết quả. Đó là lý do tôi dẫn cho quý vị thấy chủ trương khôi phục Thiền đời Trần của tôi. Vua quan đời Trần hiểu Phật pháp thâm sâu, tu thiền được kết quả tốt, đồng thời đời Trần lập ra phái thiền Trúc Lâm Yên Tử thuần tuý Việt Nam, nên chúng tôi lấy thiền đời Trần làm chỗ tựa. Như vậy, nếu chúng ta hiểu thấu điều này thì sự tu hành rất là tốt đẹp. Một ông vua lúc gần chết vui vẻ không buồn, không lưu luyến lo sợ là do khi sống có ý nghĩa, an vui. Trong cuộc sống có gì hơn là sống an vui chết tự tại. Đây là điều thế gian mơ ước, mà chúng ta thực hiện được thì quá quý. Thế nên tôi mới lấy đó làm tiêu chuẩn hướng dẫn tăng ni và Phật tử tu. Quý vị hiểu rõ điều này cho tôi.
Hôm nay có tăng ni và Phật tử đông, còn thời giờ, tôi nói rộng hơn một chút về kinh nghiệm tu hành. Chúng ta ai cũng biết mình tu thiền của đạo Phật, vậy tu thế nào mới đúng? Tu thế nào khỏi bệnh? Tu thế nào khỏi rơi vào đường tà? Đây là chỗ quan trọng mà tôi muốn chỉ cho quý vị biết rõ. Nếu tu thiền mà không nắm vững đường lối, không thấy rõ cái nào tà cái nào chánh, không biết rõ cái nhân sanh ra bệnh hoạn thì khi tu dễ bị chướng ngại. Trước hết tôi dẫn kinh Thủ-lăng-nghiêm nói về ngũ ấm ma. Ma là tướng không thật làm chướng ngại việc tiến tu. Kinh Thủ-lăng-nghiêm dạy người tu phá được một ấm thì xảy ra mười hiện tượng gọi là ma. Trong những hiện tượng đó có những hiện tượng rất hấp dẫn, nếu biết thì không bị chướng ngại, nếu không biết thì thích thú say mê rơi vào đường ma. Năm mươi thứ ma trong kinh Lăng-nghiêm ở đây tôi không nói hết chỉ nói ý một câu để làm nguyên tắc tu hành để khỏi rơi vào đường tà. Hồi tôi còn học thầy tôi bắt học thuộc lòng câu:
Bất tác thánh tâm, danh thiện cảnh giới, Nhược tác thánh giải, tức thọ quần tà.
Nghĩa là ngồi tu thấy Phật, thấy Bồ-tát, thấy hào quang, thấy đủ thứ… dù có uy quyền, đẹp lạ thế mấy, nếu không cho cái thấy của mình là thánh thì tốt. Nếu cho rằng mình thấy như thế là chứng đạo nên Phật Bồ-tát tới chứng minh, đó là rơi vào quần tà. Còn thấy mà không khởi niệm, không theo, biết đó là giả tướng do tự tâm hiện ra là cảnh giới tốt. Cũng một cảnh giới mà tưởng cảnh giới đó là hiện tượng mình chứng đạo thì bị rơi vào đường tà chướng đạo không tiến được. Còn nếu thấy mà không khởi niệm, không dính mắc, biết đó là tự tâm hiện, là cảnh giới lành thì không chướng đạo. Thế nên công thức căn bản của người tu thiền theo kimh Lăng-nghiêm dạy thì khi dụng công tu nội tâm có sự dằn ép nên phát ra những tướng lạ, hoặc thấy ma, hoặc thấy Phật, thấy Bồ-tát… Thấy tất cả những tướng lạ đều biết là do tâm dằn ép nó hiện, chứ không phải ma thật, không phải Phật Bồ-tát thật. Biết như vậy thì thấy Phật không mừng, thấy ma không sợ, nên không động tâm, không bệnh. Còn nếu thấy Phật thì mừng, thấy ma thì sợ, là tâm còn dao động thì bệnh. Như vậy ngồi thiền thấy bất cứ cảnh giới gì, cho đến thấy Phật hay thấy ma quỷ đều biết tâm yên lặng nên mọi cảnh hiện, cảnh đó là do tâm hiện chứ không phải ở ngoài đến. Phật đâu có rảnh mà đi xoa đầu mình, ma đâu có rảnh mà lại nhát mình. Biết rõ như vậy thì không có gì đánh lừa mình được và không bao giờ có hại. Cảnh tốt hiện, biết là công phu tu của mình có khá nên cảnh tốt mới hiện, chứ không phải ở bên ngoài đến. Đó là trường hợp thứ nhất.
Trường hợp thứ hai là nghe âm thanh. Khi ngồi thiền cũng do tâm dằn ép nên nghe những tiếng lạ của người hoặc của thần thánh nói những câu đạo đức… Nghe những âm thanh này là do công phu của mình khá nên mới có, chứ không có Phật thánh hay người đến nói cho mình nghe, mà cũng không phải ma quỷ ở ngoài tới dụ dỗ mình, vì tâm mình yên tĩnh quá nên có những hiện tượng lạ. Hiện tượng lạ là từ tâm mình hiện. Nghe âm thanh lạ, mình biết tự tâm mình hiện, không chú ý, không theo thì không bị chướng đạo, không bị bệnh. Ngày xưa có một người huynh đệ tu thiền, tôi tới thăm, nói chuyện với ông mà ông không nói, ông cứ nhìn trên trời trên mây miệng lảm nhảm hoài. Tôi hỏi:
– Tôi nói chuyện với Thầy sao Thầy không nói, mà nói chuyện với ai ở đâu vậy?
Ông nói:
– Kìa! Kìa! Người ta nói chuyện với tôi kìa, để tôi nói chuyện với họ.
Người như vậy là điên rồi. Điên vì nghe những âm thanh lạ, tưởng người ta nói với mình, rồi cứ lảm nhảm đối đáp qua lại riết thành điên. Đang đi đường cũng ngó trời ngó mây nói khơi khơi một mình. Đó là hiện tượng điên. Thế nên khi tu nghe những âm thanh lạ, biết nó do tâm dằn ép mà phát ra, nó không thật, nên không bệnh, không chướng đạo. Chỗ này ngoại đạo bảo lắng nghe tiếng Phạm thiên hay tiếng thần linh, nhưng đạo Phật thì quy về nội tâm, không hướng ra ngoài, vì hướng ra ngoài tìm cầu là ngoại đạo. Người tu thiền là quy về tự tâm chứ không hướng ra ngoài. Câu tiêu chuẩn của nhà thiền là “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”. Nghĩa là xoay lại để thấy rõ mình là bổn phận chính của việc tu hành, không từ bên ngoài mà được. Lấy câu này làm tiêu chuẩn thì tu không bao giờ lạc, không bao giờ sai. Nếu không hiểu rõ câu này thì tu dễ lạc dễ sai lắm.
Trường hợp thứ ba là có một thứ ma đặc biệt mà mình không trực tiếp thấy hay trực tiếp nghe nói, nó tựa vào người nào đó, rồi người đó tới nói chuyện thiên cơ hoặc hiện thần thông, phóng hào quang… người ham tu thấy nghe mấy việc này dễ tin lắm, dễ tin thì cũng dễ lạc lắm. Thế nên người tu thiền, có ai tới nói chuyện quá khứ vị lai, hay tự xưng là Bồ-tát, là Phật cũng đừng quan tâm, cũng đừng thấy là quan trọng. Vì chúng ta tu Phật lấy giới định tuệ làm căn bản giải thoát. Giới là đạo đức, định là thiền định, tâm không tán loạn, tuệ là trí tuệ sáng suốt thấy rõ các pháp đúng như thật. Người tu lấy đạo đức, tâm an định, trí tuệ sáng làm gốc, thế nên dù cho thần thánh có dựa hay nói thiên cơ đều là chuyện bên ngoài, không phải chỗ mình nhắm. Nhớ, ai tới hiện thần thông hay nói gì mặc họ, không quan trọng, chúng ta thấy nghe chỉ cười thôi thì không ma nào dụ mình nổi. Còn nếu họ tới tự xưng là thần thánh và nói Thầy có cần tiền không? Tôi hóa ra tiền cho Thầy coi. Họ liền hóa ra năm bảy trăm ngàn. Mình thấy thích quá tin họ là thần thánh thì lạc vào đường ma. Vì ma có mưu thần chước quỷ mình không thể lường nổi. Như vậy, dù ai có linh thiêng mấy chúng ta cũng không nghe và không tin.
Tóm lại, giới định tuệ là căn bản của người tu thiền. Nếu người tu mà phạm giới thì tâm rối loạn, tâm rối loạn thì tu không định. Thế nên tu lấy giới làm đầu, kế đó là định, tọa thiền là buông vọng tưởng cho tâm an định. Nhưng có nhiều người tọa thiền vọng tưởng lặng hết lại hoảng hốt cho là mất mình nên sợ thì vọng tưởng khởi động trở lại. Như vậy, tu cốt được định, vừa được định thì hoảng hốt nên mất định, loạn trở lại. Đó là lầm lẫn. Và, khi tâm an định thì trí tuệ phát sanh, trí này là vô sư trí của chính mình. Trí hữu sư là trí do học ở thầy bạn ở sách vở bên ngoài mà có. Còn trí vô sư muốn khai phát thì phải lóng lặng vọng tưởng tâm an định trí vô sư mới hiện. Giả sử chúng ta đọc kinh, có nhiều câu không hiểu, chúng ta xếp lại để đó. Một hôm chúng ta ngồi yên tâm thanh tịnh bỗng dưng nhớ lại nghĩa lý sáng ra một cách rành rẽ, không có ai chỉ dạy hết. Đó là trí vô sư hiện, nên thấu suốt nghĩa lý rõ ràng. Trí vô sư hiện là do tâm an định tự sáng, chứ không nhờ ai giúp. Điều này quý vị tu từ từ sẽ thấy rõ, tôi có nói nhiều quý vị cũng khó tin.
Hồi tôi đi ngoại quốc một trăm ngày, mỗi chỗ đi qua là phải giảng một bài. Chẳng lẽ giảng đề tài này ở chùa này qua chùa kia giảng lại, người nghe thấy cũ mèm vì họ đã ghi âm rồi. Vì vậy mà phải giảng đề tài mới, giảng cả trăm ngày như vậy đề tài đâu mà giảng và làm sao soạn cho kịp? Vả lại đi như vậy làm sao đem theo tài liệu? Thôi thì làm gì thì làm, khuya ba giờ thức dậy ngồi thiền, ngồi xong, hỏi “Mai giảng đề tài gì đây?” Liền có đề tài để giảng. Thành ra đi đâu cũng có đề tài mới để giảng hết, không cần phải soạn, chỉ ngồi yên nhớ lại rồi đem ra giảng. Đó là chuyện nhỏ vô sư trí hiện. Còn những chuyện lớn không phải là không có. Chỗ này tôi đã kinh nghiệm qua rồi, không một chút nghi ngờ.
Khi tôi ra ngoài Bắc nói chuyện ở Viện nghiên cứu Hán Nôm. Câu đầu tiên tôi nói Quý vị là học giả, còn tôi là hành giả, hành giả khác với học giả. Tôi ví dụ có một người được cha trao cho hòn ngọc quý của tổ tiên cách mấy thế kỷ để lại. Bây giờ anh nắm được hòn ngọc quý trong tay, có những người ở ngoài nghiên cứu sử sách mà không thấy có bằng cớ, không đủ lý lẽ để tin nhà anh có hòn ngọc quý, nên họ nghi ngờ thế này thế kia. Nhưng anh thì không nghi ngờ gì cả, anh thấy rõ ràng nhà anh có hòn ngọc quý tổ tiên anh truyền tới đời anh. Những người nghi ngờ tra cứu sử sách để xác chứng nhà anh có hòn ngọc quý dụ cho học giả. Còn anh đang nắm hòn ngọc quý trong tay không nghi ngờ dụ cho hành giả. Như vậy hành giả là người giáp mặt thấy rõ ràng rồi mới tin mới nói, chứ không phải do tưởng tượng hay nghiên cứu mà nói. Đối với vô sư trí, tôi không có tí nào nghi ngờ hết. Vì vậy các nhà bác học quả là người sử dụng được vô sư trí. Khi họ nghiên cứu một vấn đề tới chỗ bí, họ tập trung tinh thần nghiền ngẫm quên hết mọi việc chung quanh, bỗng một hôm bừng sáng, họ la lên như người điên, đó là công trình nghiên cứu thành công. Như vậy cái bừng sáng thấy suốt một vấn đề mà từ trước họ thắc mắc do ai dạy? Chính từ nơi họ phát ra, không phải vô sư trí là gì? Người tu thiền cũng vậy, khi bặt hết mọi tạp niệm, tự tâm phát sáng. Đức Phật lúc ngồi thiền dưới cội bồ-đề khi tâm thanh tịnh ngài nhớ lại vô số kiếp về trước, thấy mỗi kiếp sanh ra sinh hoạt như thế nào, cha mẹ là ai v.v… Sau đó ngài thấy rõ con người chết đi theo nghiệp thiện hay ác mà sanh thân thọ quả báo khổ hay vui v.v… Như vậy do tâm thanh tịnh mà trí tuệ phát sáng, trí tuệ này là vô sư trí. Vô sư trí ai cũng có sẵn, chứ không phải riêng Phật mới có, chúng ta không có. Tại vì tâm chúng ta chưa an định nên vô sư trí chưa hiện. Thế nên tôi phải hướng dẫn quý vị ngồi thiền, dùng phương tiện tọa thiền để cho tâm an định, khi tâm an định rồi thì trí tuệ sáng.
Thiền là một phương tiện quay lại trí tuệ sẵn có của mình gọi là Phật tánh hay tánh giác. Thiền là như vậy, rất đơn giản. Hiểu như vậy thì tu không bao giờ sai lầm, ngược lại thì tu dễ lệch lạc. Đó là điều căn bản mà tăng ni và Phật tử phải hiểu, từ đây về sau đừng có lầm lẫn, tu đúng thì không bao giờ có hại mà được lợi ích lớn.