Tâm Kinh Tụng giảng giải

Năng Trừ Nhất Thiết Khổ, Chân Thật Bất Hư



tổ tụng:

Phật từ tâm rộng lớn,

Đời đời nguyện độ sanh,

Hoằng pháp nêu lẽ thật,

Khắp khuyên gấp tu hành.

Quày đầu thấy tướng thật,

Khổ hết thấy vô sanh,

Dứt hẳn ba đường ác,

Thanh thản trong kia vui.

Giảng:

Câu này là lời khẳng định đanh thép: Trí tuệ Bát-nhã của chính chúng ta là phương thuốc chân thật nhất, không hề dối gạt, có khả năng diệt trừ tận gốc mọi khổ đau.

“Phật từ tâm rộng lớn,

Đời đời nguyện độ sanh.”

Đây là Tổ đang ca ngợi Đức Thế Tôn. Từ tâm của Ngài rộng lớn vô cùng, mình không thể nào hình dung hết được. Ngay như chúng ta – những người mới chớm biết chút ít Phật pháp mà tâm từ đã dấy khởi – thì đừng nói đến Đức Phật, bậc đã thấy được chân lý, lòng từ của Ngài bao la đến mức nào.

Ở thế gian chúng sanh làm khổ nhau, rồi xoay vần trong nghiệp báo. Người giết dê, dê trở lại giết người…, cứ thế ân oán xoay vòng, nợ nần chồng chất rồi lại trở thành thân nhân để đòi nhau, trả nhau v.v… Đức Thế Tôn thấy rõ vòng sanh tử luân hồi đó, Ngài xót thương lắm. Ngài bảo: Khổ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh chẳng phải thật là khổ, cái khổ thật sự chính là vô minh. Một mai chúng ta tỉnh ra, tin sâu nhân quả, bỏ tham-sân-si v.v… thì tự nhiên khổ không còn nữa.

Đức Thế Tôn từng nói thế gian có 4 hạng người: từ sáng vào sáng, từ sáng vào tối, từ tối vào sáng, từ tối vào tối.

– Người nhiều phúc báo, sống an lành hạnh phúc, của cải đầy đủ, con cái hiếu thảo v.v… lại còn hiền lành, biết làm phước giúp người, biết sửa mình v.v…, đời sau lại càng nhiều phúc báo hơn, đó là hạng người từ sáng vào sáng.

– Người tuy nghèo, nhưng lại hiền lành, tu tâm sửa tánh, làm lành lánh dữ v.v…, đời sau sẽ thăng tiến, trở thành người có phúc báo, hoặc sanh lên cõi trời, đó là hạng người từ tối vào sáng.

– Còn người giàu có, có tiền có quyền nhưng lại để tham-sân-si dẫn lối, dựa vào phúc báo của mình mà tạo ác nghiệp, thì sau khi phúc báo cạn kiệt, hoặc cuối đời sa sút, hoặc đời sau sẽ phải đọa ba đường dữ, đó là hạng người từ sáng vào tối.

– Người đời này nghèo khổ, gặp nhiều tai ương, không biết tự hối lỗi trở lại oán trời trách người, đem khổ đau đến cho người khác, muốn kéo mọi người cùng khổ như mình, đời sau phải mất thân người rơi vào đường dữ, chịu nhiều khổ hình, đó là hạng người từ tối vào tối.

Có người sẽ thắc mắc: Phật đã diệt độ rồi, sao bảo “đời đời nguyện độ sanh?”

Phật thị hiện vào đời dùng thân người, thì phải thuận theo pháp hữu vi: có sanh, có già, có bệnh, có chết. Ngài làm đủ hết để chứng minh thân này chỉ là giả tạm, không dính gì đến sự tu tập của mình. Ngài nhập diệt về hình tướng, nhưng “báo thân” Ngài vẫn còn, Ngài vẫn đang thuyết pháp. Ngài giao phó chúng ta cho chư Thiên Bồ-tát hộ pháp, dặn dò quý ngài phải gia hộ cho người tu hành.

Chúng ta cứ ráng tu đi, chỉ cần có tâm tu, chư Thiên sẽ che chở. Trừ khi chúng ta tự mặc áo Phật mà theo ma, tự phá giới, thì chư Thiên mới chịu thua thôi.

Chúng ta phải tin chắc rằng: không bao giờ Phật bỏ rơi chúng sanh. Nếu chúng ta ở sa mạc khát nước, mà chân thành niệm Phật cầu nguyện, bảo đảm chúng ta sẽ gặp nước. Trừ khi nghiệp báo nặng nề quá, có oan gia chặn lại không cho chúng ta thấy, thì lúc đó Phật Bồ-tát sẽ đến hòa giải. Nếu oan gia chịu tha cho chúng ta thì thôi, còn không, Phật Bồ-tát cũng chỉ nhìn chúng ta trải nghiệm để giác ngộ.

Cuối cùng, chúng ta phải nhớ lời Phật dạy “tự thắp đuốc lên mà đi”. Phật là thầy chỉ đường, chư Thiên hộ pháp là người hộ trì, nhưng việc tu là việc của chính chúng ta. Đừng ỷ lại, đừng lúc nào cũng cầu xin Phật làm thay. Hãy mạnh mẽ, cứng cỏi, coi bệnh hoạn, thất bại, gian khó… là môi trường để rèn luyện trí tuệ.

Chỉ khi chúng ta thực sự tin vào tâm mình, thực sự sống với chân lý, thì mỗi bước đi của chúng ta đều có sự hộ trì của mười phương chư Phật.

“Hoằng pháp nêu lẽ thật,

Khắp khuyên gấp tu hành.”

Đức Thế Tôn thị hiện vào đời, hoằng truyền chánh pháp, rốt cuộc chỉ vì một mục đích duy nhất: khiến chúng ta nhận ra lẽ thật.

Vì sao cần nhận ra lẽ thật? Vì cái khổ của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh – dù có dữ dội đến đâu – cũng không bằng cái khổ của vô minh. Chính vì ngu muội, chính vì không thấy được chân lý nên chúng ta mới bị trói buộc, mới bị đọa vào ba đường khổ không ra được.

Lẽ thật ấy là gì? Đó là nhân quả. Chúng ta hãy tin sâu vào nhân quả, vì đó là chân lý vận hành của pháp hữu vi. Chúng ta hiểu nó, tin nó, thì tự khắc chúng ta không tạo ác nghiệp, do đó cũng sẽ không đọa vào đường dữ. Đó là lẽ thường. Còn chân lý của pháp vô vi chính là tánh giác vốn tự thường chiếu soi, chưa từng sanh cũng chưa từng diệt. Nếu quay lại nhận lấy tự tánh ấy, thì chúng ta càng tự tại, càng vững tin. Lúc đó, dù vẫn đang ở trong nhân quả, chúng ta sẽ thấy mọi sự chỉ là huyễn mộng. Vì sao? Vì nhân quả ứng hiện trên pháp hữu vi, mà pháp hữu vi vốn không có thật.

Có người hỏi: “Bậc đại tu hành có rơi vào nhân quả không?” Nếu nói: không rơi vào nhân quả là sai lầm, là sẽ bị đọa. Các bậc đại tu hành khi dùng thân ngũ uẩn này, khi dùng phương tiện để độ chúng sanh, thì vẫn ở trong nhân quả. Luật nhân quả là bất biến. Nhưng điểm khác biệt ở đây là: quý ngài “không làm nô lệ” cho nhân quả, mà biết nó là huyễn, cần dùng thì dùng, dùng xong rồi thôi.

Như ngài Đề-bà-đạt-đa, hay các hóa thân của Bồ-tát Quán Thế Âm. Khi cần dùng pháp ác để trị chúng sanh, các ngài vẫn làm, dù biết việc làm ấy sẽ chịu quả báo. Nhưng các ngài không buồn, không khổ, vì các ngài không chấp vào cái thân giả tạm này. Các ngài sanh lên trời không đắm, xuống địa ngục không sợ. Đó mới là chỗ thấu lẽ thật.

Vì vậy, chúng ta hãy gấp rút tu hành! Đừng để thời gian trôi qua trong vô ích. Nếu không thấu được lẽ thật, chúng ta sẽ cứ mãi lăn lóc trong ba cõi, bò lên rồi lại tụt xuống như lời trong Quy Sơn Cảnh Sách, mệt mỏi vô cùng. Khi đã thấu suốt cả lẽ thật của pháp hữu vi và vô vi, thì sanh tử đối với chúng ta không còn gì đáng sợ nữa.

Thế nên, đừng để tâm thức mình mãi lang thang trong mê lầm nữa, hãy quay về ngay bây giờ!

“Quày đầu thấy tướng thật,

Khổ hết thấy vô sanh.”

“Quay đầu lại” là gì? Chẳng phải chạy đi đâu tìm kiếm, cũng chẳng cần khổ hạnh hay khó khăn gì cả. Quay đầu lại là bờ, “hồi đầu thị ngạn” là ở chỗ đó.

Chúng ta hãy tự hỏi mình ngay lúc này: Ai là người đang nói? Ai là kẻ hay sân hay si? Ai là người biết nói cười, làm việc, suy nghĩ? Cái năng lượng, cái tánh biết đang hoạt động đó chính là chúng ta. Quay lại nhận lấy cái người hay làm, hay nghĩ đó, nhận ra cái “tướng thật” ấy, thì khổ sẽ dứt ngay. Khi khổ hết, chúng ta sẽ thấy chỗ “vô sanh”.

Tại sao lại hết khổ? Vì khi quay đầu, chúng ta thấy các pháp này – dù là lời khen hay tiếng chửi, dù là vinh hay nhục v.v… – chúng đều tự sanh tự diệt, là những tướng huyễn mộng, không có thật.

Ví dụ có người chửi chúng ta, ta biết đó là lời chửi, nhưng tâm vẫn tỉnh táo, không nổi sân, vì biết tiếng chửi đó chỉ là tướng huyễn. Có người khen cũng không vui, vì biết đó cũng chỉ là ảo ảnh. Chúng ta không bị trói buộc bởi tham, sân, si, vì ta hiểu chúng chỉ là những niệm chấp ngã, chấp pháp mà thôi. Bị người đánh, thậm chí bị giết, chúng ta cũng chẳng khổ. Vì sao? Vì họ chỉ giết được thân ngũ uẩn này, chứ đâu giết được tâm thật của ta! Như Tổ Sư Tử bị vua Kế Tân chặt đầu vẫn thản nhiên đón nhận, không sợ cũng không hận, bởi ngài biết thân này dù không bị giết thì 80, 90 tuổi cũng phải hoại. Các bậc đại tu hành nhìn sự sống chết rất bình thường là vì vậy.

Chúng ta đừng sợ “mất mình” khi không còn suy nghĩ. Cái suy nghĩ có sanh có diệt, bữa nay nghĩ cái này, mai nghĩ cái kia; nhưng cái người hay suy nghĩ đó – cái năng lượng bên trong ấy – thì không bao giờ mất. Phải nhận cho ra cái “người” không bao giờ mất đó, đó mới chính là chỗ “vô sanh”.

Khi đã nhận được tự tâm chân thật, chúng ta sẽ thấy thế gian chỉ là một giấc mộng. Mộng thì có gì đáng để sợ hãi? Mộng thì có gì đáng để khổ? Nhận được cái đó rồi, chúng ta mới thực sự là bậc đại tự tại giữa dòng đời sanh tử. Thế nên, chỉ cần quay đầu lại là thấy ngay tánh thật, chẳng cần đi đâu xa!

“Dứt hẳn ba đường ác,

Thanh thản trong kia vui.”

Đến đây, ba đường ác (địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh) không còn dính líu gì đến chúng ta nữa, ta không còn bị đọa nữa. Sự đọa lạc là do tham, sân, si mà ra, do chúng ta tạo tác ác nghiệp mà thành. Giờ đây, chúng ta đã quay đầu, nhận ra tự tánh thanh tịnh, biết rằng tham-sân-si chỉ là những pháp sanh diệt huyễn hoặc, ta không còn nuôi dưỡng chúng nữa thì lấy gì để tạo nghiệp ác? Không tạo ác nghiệp thì đương nhiên không rơi vào đường dữ. Lúc ấy, tâm ta nhẹ tênh, rất mực thanh thản, an nhàn.

Hãy nhìn những người tu hành chân chính, họ an lạc lắm. Đừng hiểu lầm cái “vui” này là sự cười nói hỉ hả, hớn hở như người thế tục. Không phải vậy đâu. Một vị chân tu, đôi khi gương mặt chẳng nở nụ cười, nhưng khi đến gần, chúng ta vẫn cảm nhận được niềm an lạc lan tỏa, một sự bình yên sâu lắng. Đó là niềm “Lạc” khởi phát từ bên trong, từ sự thấu suốt lẽ thật, chứ không phải cái “Hỷ” nhất thời do sự thuận ý của ý thức mang lại.

Lại có người hỏi về “Bồ-tát nghịch hạnh”, những vị cố tình làm ác để trợ giúp cho người tu, và kết quả là các vị cũng phải đọa ba đường dữ. Điều này cực kỳ khó, không phải dễ làm! Các ngài làm ác không phải vì tâm tham sân, mà vì tâm đại bi muốn thúc đẩy cho người tu hành sớm thành đạo.

Nhưng Luật nhân quả là định luật bất biến, không chừa một ai. Ngài Đề-bà-đạt-đa hay chư vị Bồ-tát nghịch hạnh, khi đã dùng thân này, dùng pháp hữu vi, thì vẫn phải chịu quả báo theo luật vận hành của nó. Nếu chúng ta không phải là Bồ-tát nghịch hạnh, thì xin đừng làm khổ ai cả. Ta làm người khác đau khổ, ta cũng sẽ phải chịu đau khổ tương ứng. Đừng mang danh nghĩa “tôi làm để giúp bạn” mà thực chất tâm mình còn hờn giận, còn sân si, rồi khi quả báo đến lại than khóc. Bồ-tát nghịch hạnh làm việc ác mà lòng không hề vướng mắc, không hờn không giận, và sẵn sàng chấp nhận quả báo đau thương đến với mình.

Nếu chúng ta chưa đạt đến trình độ ấy, thì tốt nhất hãy tạo thuận duyên cho nhau. Dùng lời hòa ái, sống đời an hòa, để huynh đệ nhìn nhau thấy thương, thấy quý. Đó mới là đường tu an ổn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.