Nội dung:
Ngài dòng Cù-đàm ở nước Hoa Thị, thân phụ là Bảo Thân. Thân phụ có bảy người con trai, ngài là con út. Thuở nhỏ, ngài tâm tư bình thản không tịnh không loạn. Ngài thường nói với các anh:
– Nếu gặp bậc đại sĩ ngồi nơi đạo tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.
Khi tổ Hiếp Tôn Giả đến nước này chấn hưng Phật pháp, ngài liền đến dự trong hội ấy. Thấy ngài ứng đối mẫn tiệp, ngôn ngữ hợp lý, Tổ độ cho xuất gia.
Sau khi đắc pháp nơi tổ Hiếp Tôn Giả, ngài một lòng tinh tấn, lấy sự giáo hóa làm trọng trách. Đạo đức ngài vang khắp, số chúng quy ngưỡng đến ngàn vạn, những người được quả thánh có tới năm trăm vị
Ngài là con trai út trong gia đình, lúc còn nhỏ tâm tư bình thản, không tịnh không loạn, tức là không yên cũng không dao động. Ngài thường nói với các anh, nếu gặp bậc đại sĩ ngồi ở đạo tràng thuyết pháp, em quyết đến đó gần gũi tùy hỷ.
Khi tổ Hiếp Tôn Giả đến giáo hóa vùng này, thấy ngài có lối ứng đối mẫn tiệp phù hợp với chân lý, nên Tổ độ cho xuất gia.
Về sau, ngài đến nước Ba-la-nại có một vị trưởng giả vào hội. Ngài hỏi đồ chúng:
– Các ngươi có biết người nào mới vào đây chăng? Xưa Phật huyền ký rằng: “Sau khi ta diệt độ gần sáu trăm năm, sẽ có một vị thánh nhân ra đời hiệu Mã Minh, sanh trong nước Ba-la-nại, nói pháp nơi thành Hoa Thị, bẻ dẹp dị đạo, độ người vô lượng.”
Mã Minh nghe ngài nói trúng tên mình thì thầm khen, bước ra đảnh lễ ngài và hỏi:
– Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật?
Ngài đáp:
– Ông muốn biết Phật, chẳng biết ấy là phải
– Đã chẳng biết Phật, thì đâu biết là phải?
– Ông đã chẳng biết Phật tại sao biết chẳng phải?
Đây thật là nghĩa cưa.
– Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào?
– Tôi cùng Thầy phân ra bằng nhau. Nghĩa cây của Thầy nói là sao?
– Ngươi bị ta xẻ.
Mã Minh liền ngộ được thắng nghĩa của ngài, vui thích cầu xin xuất gia. Ngài vì độ cho ông xuất gia và thọ giới Cụ túc.
Số chúng được ngài độ, có đến hai trăm vị chứng quả A-la-hán, ngoài ra còn vô số người phát tâm quy kính Tam bảo.
Thấy cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, ngài kêu Mã Minh lại dặn dò:
– Ngươi nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ mười hai. Xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho tổ Ca-diếp lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền tiếp. Nghe ta nói kệ:
Mê ngộ như ẩn hiển,
Minh ám bất tương ly.
Kim phó ẩn hiển pháp,
Phi nhất diệc phi nhị.
Dịch:
Mê ngộ như ẩn hiện,
Tối sáng chẳng rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện,
Chẳng một cũng chẳng hai
Ngài truyền pháp cho Mã Minh xong, liền hiện thần biến rồi lặng lẽ viên tịch. Mã Minh và đồ chúng xây tháp trùm trên chân thân thờ ngài.
Sau khi xuất gia và đắc pháp nơi Tổ, ngài đi giáo hóa ở Ba-la-nại miền Trung An. Khi ấy trong hội của ngài có con ông trưởng giả rất thông minh đối đáp lanh lẹ, nổi tiếng thời đó. Khi vị này vào trong hội, ngài liền kêu đồ chúng bảo rằng, các ngươi có biết người mới vào đây chăng? Xưa Phật huyền ký rằng sau khi ta diệt độ gần sáu trăm năm, sẽ có một vị thánh nhân ra đời hiệu Mã Minh, sanh ở Ba-la-nại, nói pháp ở thành Hoa Thị, để dẹp các dị đạo, độ người vô lượng.
Khi thấy Mã Minh vào trong hội, ngài nhắc lại lời huyền ký trước, Mã Minh đảnh lễ hỏi: Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật? Tổ đáp: Ông muốn biết Phật, chẳng biết ấy là phải.
Không biết là phải! Câu trả lời nghe rất lạ tai, nhưng đó là sự thật. Ở đây chữ biết có nghĩa là phân biệt. Hiểu biết mà còn khởi phân biệt thì không bao giờ thấy Phật, biết mà không khởi phân biệt đó là Phật rồi. Lời đáp thật khó hiểu, nhưng nếu chúng ta nhìn theo con mắt nhà thiền thì không phải khó lắm.
Mã Minh bẻ lại: Đã chẳng biết Phật, thì đâu biết là phải? Tổ hỏi: Ông đã chẳng biết Phật, tại sao biết chẳng phải? Nếu biết phải, không phải là biết rồi, đã không biết mà nói không phải, như vậy thì ông biết chưa? Nếu chưa biết thì nói không phải cũng được, đã biết mà nói không phải thì không được.
Ví dụ nghe nói ông A nổi tiếng có nhiều người biết tới, nhưng khi ông A đứng trước mặt, mình hỏi người đó có phải ông A không? Nói không phải thì không biết ông A; nếu không biết, sao lại biết đó không phải ông A. Cho nên khi nói không phải người đó, là mình đã biết người đó, mới biết đây là phải hay không phải, còn chưa biết thì không nói phải, không phải.
Nghe Tổ bẻ lại, Mã Minh trở qua một bên: Đây thật là nghĩa cưa. Tổ nói: Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào? Mã Minh đáp: Tôi cùng Thầy phân ra bằng nhau. Ngài nói nghĩa cây là sao? Ngươi bị ta xẻ.
Tức là ngươi đã thua ta rồi. Như vậy thua ở chỗ nào? Mã Minh bảo Tổ nói nghĩa cưa, Tổ bảo ngài nói nghĩa cây. Vì cưa xẻ cây, nên Mã Minh thua.
Nghe Tổ nói vậy Mã Minh liền ngộ được thắng nghĩa, cầu xin xuất gia. Từ đó về sau, Tổ độ chúng hai trăm vị chứng A-la-hán, ngoài ra còn vô số người phát tâm quy y.
Thấy cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, Tổ kêu Mã Minh lại dặn dò: Ngươi nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ mười hai. Xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho tổ Ca-diếp, lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải nên truyền tiếp. Nghe ta nói kệ:
Mê ngộ như ẩn hiện,
Tối sáng chẳng rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện,
Chẳng một cũng chẳng hai.
Mê ngộ như ẩn hiện, tối sáng chẳng rời nhau. Mê và ngộ là hai mặt của một thể chân tâm, vọng là mê chân là ngộ. Vọng và chân là một thể chứ không hai, cũng như sóng với nước, thấy như hai mà sự thật đồng một thể. Từ một thể chân tâm dấy lên làm hai tướng ẩn và hiển, tức vọng và chân. Như vậy vọng và chân gốc từ một pháp. Sáng và tối không rời nhau. Nếu rời sáng thì không có tối, ngược lại rời tối thì không có sáng. Sáng tối không cố định, nhân tối mới nói sáng, nhân sáng mới nói tối. Nhưng hiểu hai cái không rời nhau có lợi gì?
Như các vị A-la-hán, Bồ-tát là thánh, còn chúng ta là phàm phu. Bây giờ chúng ta biết thánh không rời phàm phu mà có, vì không có vị A-la-hán nào không từ phàm mà thành thánh. Hiểu được nghĩa không tách rời phàm mà có thánh, hay ở trong phàm có chứa chất thánh, chúng ta mới xuất gia tu học để chuyển hóa những tật xấu của phàm phu mà tập làm thánh. Vì thánh có sẵn trong con người phàm chứ không tìm kiếm đâu xa. Hai câu đầu chỉ cho trong tất cả pháp tương đối, tuy đối đãi mà không rời nhau.
Nay trao pháp ẩn hiện, chẳng một cũng chẳng hai. Trao pháp ẩn hiển, pháp đó là một thể của chân tâm thì không còn nói một, cũng không nói hai, vì tới chỗ đó không còn đối đãi.
Tổ truyền pháp cho Mã Minh xong, liền hiện thần biến rồi lặng lẽ viên tịch. Mã Minh và đồ chúng xây tháp trùm cả thân của Tổ thờ luôn.
Bồ-tát người nước Ba-la-nại, hiệu Mã Minh cũng có hiệu Công Thắng. Vì khi ngài sanh ra, các con ngựa đều hý lên, nên gọi là Mã Minh. Lại cũng có thuyết nói, mỗi khi ngài thuyết pháp, các con ngựa trong chuồng ở gần đều lặng lẽ lắng nghe, khi thuyết pháp xong chúng lại hý vang, nên gọi ngài là Mã Minh. Lúc chưa xuất gia, ngài là một biện sĩ lỗi lạc, danh tiếng đồn đãi vang cả quốc nội lẫn quốc ngoại.
Sau Phật Niết-bàn sáu trăm năm, Mã Minh là một vị đem chánh pháp Đại thừa truyền bá rất mạnh mẽ. Người đem chánh pháp Đại thừa truyền bá rộng khắp thì gọi là Bồ-tát. Nhưng theo Thiền tông, ngài là vị Tổ thứ mười hai, sanh ở nước Ba-la-nại. Như vậy Thiền và giáo lý Đại thừa không tách rời nhau, một vị Bồ-tát cũng là một Tổ sư nhà Thiền.
Có nhiều người hiểu lầm Thiền tông cách ly chánh pháp Đại thừa, nhưng sự thật chính những vị Tổ là người truyền pháp Đại thừa, mà đã truyền pháp Đại thừa thì các ngài vừa là Giáo cũng vừa là Thiền. Cũng vậy ở đây chúng tôi chủ trương Thiền Giáo song hành.
Tại sao tên là Mã Minh? Có hai thuyết gọi ngài là Mã Minh. Thuyết thứ nhất, khi ngài sanh ra, các con ngựa ở trong chuồng đều hý vang, cho nên cha mẹ đặt tên là Mã Minh. Thuyết thứ hai là khi ngài thuyết pháp cho hội chúng nghe, những con ngựa trong chuồng ở gần đó đều lặng lẽ lắng nghe, ngài thuyết pháp vừa xong, chúng hý vang lên nên gọi là Mã Minh. Theo thuyết ban đầu có lẽ hợp hơn, là vì lúc mẹ ngài sanh thấy có điềm lạ, lấy đó đặt tên của ngài.
Sau khi được tổ Phú-na-dạ-xa độ cho xuất gia và truyền tâm ấn, ngài lại nổi tiếng là một nhà thuyết pháp tài tình. Bao nhiêu tà thuyết ngoại đạo đều bị ngài bẻ dẹp. Chính ngài là người thắp sáng ngọn đuốc Đại thừa ở đầu thế kỷ thứ VI sau Phật Niết-bàn.
Ngài đi giáo hóa đến nước Hoa Thị, nơi đây ngọn đuốc pháp của ngài càng sáng rực hơn. Một hôm, có ông già gầy ốm vào trong hội nghe pháp, bỗng nhiên ngã xuống đất. Ngài bảo chúng:
– Đây là việc phi thường, sẽ có tướng lạ.
Ông già kia liền biến mất. Chợt thấy dưới đất vọt lên người con gái nhan sắc đẹp đẽ, thân màu vàng, dùng tay chỉ ngài nói kệ:
Khể thủ Trưởng lão tôn,
Đương thọ Như Lai ký.
Kim ư thử địa thượng,
Nhi độ sanh tử chúng.
Dịch:
Cúi đầu lễ Trưởng lão,
Hiện nhận lời Phật ghi
Nay ở nơi xứ này,
Độ chúng khỏi sanh tử.
Nói kệ xong, trong chớp mắt không thấy cô nữa. Ngài bảo chúng:
– Giây lát đây sẽ có người ngoại đạo đến đấu sức với ta.
Bỗng chốc gió mưa ầm ỹ kéo đến, khiến trời đất mịt mù. Ngài bảo:
– Đây là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến. Ta sẽ trừ chúng.
Nói xong, ngài chỉ tay lên hư không, hiện ra con rồng vàng to lớn, phấn khởi oai thần, khiến pháp ngoại đạo tan biến.
Sau bảy ngày, có một con sâu nằm nép dưới tòa của ngài. Ngài lấy tay nắm con sâu ấy đưa cho đại chúng xem và nói:
– Con sâu này là trá hình của ngoại đạo, đến ẩn núp nơi đây nghe trộm pháp của ta.
Nói xong, ngài ném con sâu ra bảo:
– Đi ngay!
Nhưng con sâu sợ hãi nằm im không động. Ngài an ủi:
– Ta không hại ngươi. Ngươi hãy hiện lại bản hình.
Ngoại đạo liền hiện nguyên hình đảnh lễ xin sám hối. Ngài hỏi:
– Ngươi tên gì? Có bao nhiêu đồ đệ?
Ngoại đạo thưa:
– Con tên Ca-tỳ-ma-la có đến ba ngàn đồ đệ.
Ngài hỏi:
– Tột thần lực của ngươi biến hóa thế nào?
Ngoại đạo thưa:
– Con hóa biển cả là việc chẳng khó.
Ngài hỏi:
– Ngươi hóa tánh biển được chăng?
Ngoại đạo mờ mịt không biết, thưa:
– Lời này con không thể biết.
Ngài vì đó giải thích:
– Tánh biển là núi sông quả đất đều y cứ nơi đó mà lập, tam-muội lục thông do đây phát hiện.
Ngoại đạo nghe pháp ấy, liền khởi lòng tin mạnh mẽ, cùng ba ngàn đồ đệ đều cầu xin xuất gia.
Sau khi nhận được tâm ấn của Tổ thứ mười một, ngài đi giáo hóa, nổi tiếng là một vị thuyết pháp tài tình. Những tà thuyết ngoại đạo đều bị ngài bẻ dẹp, được nhiều người kính phục quy hướng, nhất là những người ngoại đạo. Khi đi giáo hóa đến nước Hoa Thị, nơi đây ngọn đuốc pháp của ngài càng sáng rực hơn. Ở đoạn này có một việc mầu nhiệm, mang tính huyền bí.
Một hôm có ông già gầy ốm đang ở trong hội nghe pháp, bỗng nhiên ngã xuống đất, ngài bảo chúng đây là việc phi thường, sẽ có điềm lạ. Rồi ông già biến mất, lại có một người nữ hiện ra, nói kệ tán thán ngài:
Củi đầu lễ Trưởng lão,
Hiện nhận lời Phật ghi.
Nay ở nơi xứ này,
Độ chúng khỏi sanh tử.
Tán thán ngài là một vị Trưởng lão. Khi xưa lúc Phật còn tại thế, đi đến thành Hoa Thị nói rằng, sau Phật Niết-bàn sáu trăm năm, có một vị Bồ-tát ra đời giáo hóa phương này, cho nên nói ngài được Phật thọ ký. Ngay trên xứ này độ những chúng sanh thoát khỏi dòng sanh tử. Tán thán xong, ẩn mất không thấy.
Ngài bảo chúng: Giây lát đây sẽ có ngoại đạo đến đấu sức với ta. Bỗng chốc gió mưa ầm ỹ xối xả kéo đến mịt mù. Ngài bảo đây là báo hiệu ngoại đạo sẽ đến, ta sẽ trừ chúng. Nói xong ngài chỉ tay lên hư không, hiện ra con rồng vàng to lớn, phấn khởi oai thần, khiến pháp ngoại đạo tan biến.
Sau bảy ngày có một con sâu nằm nép dưới tòa của ngài. Ngài lấy tay bắt con sâu đưa cho đại chúng xem và nói, con sâu này là trá hình của ngoại đạo, nó ẩn núp dưới đây để nghe trộm pháp của ta. Nghe trộm pháp là sao? Bởi vì nghe pháp có hai hạng người, người chính thức nghe pháp và người đến nghe lén gọi là trộm pháp. Đây là ngoại đạo ẩn hình thành con sâu nằm nghe ngài thuyết pháp, gọi là trộm pháp.
Nói xong ngài ném con sâu bảo đi ngay, nhưng con sâu sợ hãi, nằm im không động. Ngài an ủi, ta không hại ngươi, ngươi hãy hiện lại bản hình. Ngoại đạo liền hiện nguyên hình đảnh lễ sám hối. Ngài hỏi: Ngươi tên gì, có bao nhiêu đồ đệ? Ngoại đạo thưa: Con tên Ca-tỳ-ma-la có đến ba ngàn đồ đệ. Như vậy ngoại đạo này tu có thần thông nên được nhiều người theo.
Ngài hỏi: Tột thần lực của ngươi biến hóa thế nào? Ngoại đạo thưa: Con hóa biển cả là việc chẳng khó. Nếu trong thời của chúng ta mà ai có thần lực hỗ mưa trời liền mưa, hô gió liền nổi gió,… chắc là mọi người đến đảnh lễ xin làm đồ đệ chứ không ai chịu ngồi nghe pháp như thế này, bởi vì thần thông hay quá! Nhưng tất cả thần thông chưa phải là chân lý.
Ngài mới hỏi: Ngươi hóa tánh biển được chăng? Ngoại đạo mờ mịt thưa: Lời này con không thể biết. Ngài liền giải thích: Tánh biển là núi sông quả đất đều y cứ nơi đó mà lập, tam-muội lục thông do đây mà phát hiện. Biển là một hiện tượng bên ngoài mà thể tánh của biển là cái trùm hết, cho nên núi sông quả đất thần thông diệu dụng đều từ thể tánh mà hiện bày, biển chỉ là hiện tượng thôi, không phải là cứu cánh, không phải là chân lý. Ngươi hiện được biển là việc kỳ đặc, nhưng đó chỉ là do thần biến thành những giả tướng, chứ không phải là chân tánh. Ngoại đạo nghe pháp ấy liền khởi lòng tin mạnh mẽ cùng ba ngàn đồ đệ cầu xin xuất gia. Chỉ chinh phục một người mà thâu nhiếp cả ba ngàn người. Rất kỳ đặc!
Chúng ta thấy một vị tu theo đạo khác, có thần thông, có ba ngàn đồ chúng, mà khi nghe một câu đạo lý chân chánh, liền trở về hàng phục để cầu xin xuất gia, thật là một điều rất hiếm.
Ngài vì họ cho cạo đầu xuất gia, rồi triệu tập năm trăm vị thánh tăng đến làm lễ truyền giới Cụ túc cho họ.
Ngài bảo giới tử:
– Các ngươi thú hướng Bồ-đề sẽ thành đạo Thánh.
Ca-tỳ-ma-la quả nhiên được giới thể, phát hào quang sáng có mùi hương lạ xông khắp.
Một hôm, ngài gọi Ma-la đến bảo:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi hãy truyền bá chớ để đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:
Ẩn hiển tức bản pháp,
Minh ám nguyên bất nhị.
Kim phó ngộ liễu pháp,
Phi thủ diệc phi khí.
Dịch:
Ấn hiện vốn pháp này,
Sáng tối nguyên không hai.
Nay truyền pháp liễu ngộ,
Không lấy cũng chẳng bỏ.
Truyền pháp xong, ngài vào chánh định hiện tướng viên tịch. Ca-ty-ma-la và đồ chúng đem chân thể của ngài để vào khám thờ.
Ngài là vị Tổ thứ mười hai của Thiền tông, cũng là một vị pháp sư làm sáng tỏ giáo pháp Đại thừa. Ngài sáng tác ba bộ luận:
1- Đại Thừa Khởi Tín Luận.
2- Đại Tông Địa Huyền Văn Bản Luận.
3- Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng.
Nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, hiện giờ những nước Phật giáo Đại thừa vẫn truyền dạy bộ luận này.
Ngài vì họ làm lễ xuất gia, rồi triệu tập năm trăm vị Thánh tăng đến làm lễ truyền giới Cụ túc. Trong khi truyền giới, ngài bảo các giới tử, những người thú hướng Bồ-đề sẽ thành đạo Thánh. Ca-ty-ma-la bằng tâm chân thật hướng về đạo Bồ-đề, quả nhiên đắc được giới thể phát hào quang sáng, có mùi hương lạ xông khắp. Sau khi đắc giới, thâm nhập được giáo lý của Tổ giáo hóa nên được Tổ truyền pháp qua bài kệ:
Ẩn hiện vốn pháp này,
Sáng tối nguyên không hai.
Nay truyền pháp liễu ngộ,
Không lấy cũng chẳng bỏ.
Ẩn hiển đều là bản pháp, tối và sáng không phải hai. Nay trao pháp liễu ngộ, pháp đó không lấy cũng không bỏ. Tại sao? Vì còn lấy bỏ là còn hai, mà pháp đó không phải hai. Tinh thần Thiền tông nằm ở chỗ không hai đó.
Khi truyền pháp xong, Tổ vào chánh định hiện tướng viên tịch. Ca-ty-ma-la và đồ chúng đem chân thể của Tổ để vào khám thờ.
Ngài là Tổ thứ mười hai của Thiền tông, cũng là một vị pháp sư làm sáng tỏ giáo pháp Đại thừa.
Sau Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, Phật giáo Đại thừa được sáng tỏ có thể nói ngài Mã Minh là người thắp ngọn đuốc Đại thừa mạnh nhất và sáng nhất, bởi vậy mới gọi là Bồ-tát.
Ngài sáng tác ba bộ luận:
1- Đại Thừa Khởi Tín Luận.
2- Đại Tông Địa Huyền Văn Bản Luận.
3- Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng.
Nổi tiếng nhất là bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận, đến bây giờ những nước Phật giáo Đại thừa vẫn truyền dạy bộ luận này. Như vậy ngót hai ngàn năm, bộ luận vẫn còn giá trị như thường.
Ngài người nước Hoa Thị, ban đầu học theo ngoại đạo, giỏi các pháp huyễn thuật, đồ chúng có đến ba ngàn.
Khi đến so tài với tổ Mã Minh, bị Tổ hàng phục, liền cùng đồ chúng phát tâm xuất gia. Tổ Mã Minh độ cho ngài xuất gia, sau lại truyền tâm pháp.
Sau khi được truyền tâm pháp, ngài đi giáo hóa khắp nơi. Lần lượt đến nước Tây Ấn, nơi đây có thái tử tên Vân Tự Tại rất ngưỡng mộ ngài. Thái tử thỉnh ngài và đại chúng vào cung cúng dường, ngài từ chối bảo:
– Phật cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan, những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời.
Thái tử bạch:
– Thưa Tôn giả! Phía bắc thành này có hòn núi lớn, trong núi có hang đá yên lặng bặt người thế tục, có thể ở nơi đó thiền định được. Tuy nhiên, trong đó có nhiều rắn và thú dữ, song tin tưởng đức cao dày của Tôn giả sẽ chuyển hóa chúng.
Ngài nhận lời, cùng đồ đệ tiến thẳng đến núi ấy. Vừa đến núi này gặp một con rắn lớn dài gần một dặm, trợn mắt nhìn ngài, ngài vẫn đi thẳng không ngó đến nó. Ngài đi đến phía nam chân núi dừng nghỉ chỗ đất bằng, con rắn ấy đến quấn chung quanh ngài. Ngài cũng chẳng đoái hoài, giây lát con rắn bò đi. Ngài tìm lại chúng theo ngài thì họ đã chạy tán loạn hết. Ngài một mình đi thẳng đến hang đá. Bỗng thấy một ông già mặc toàn đồ trắng đi ra chắp tay kính lễ ngài. Ngài hỏi:
– Ông ở đâu?
Ông già thưa:
– Con xưa làm vị Tỳ-kheo thích vắng lặng, bực người mới học đến hỏi, nhân đó nổi sân. Bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn ở trong hang này, đến giờ đã ngàn năm. Vừa gặp Tôn giả là bậc Thánh đức nên ra kính lễ.
Ngài hỏi:
– Núi này còn có người nào ở nữa chăng? Và họ theo đạo nào, ngươi chỉ cho ta biết?
Ông già thưa:
– Cách đây mười dặm về phía bắc có một tàng cây thật to, dưới tàng cây có năm trăm vị nhân tài ẩn dật, vị lãnh tụ hiệu là Long Thọ, thường vì chúng nói pháp, con cũng thường đến nghe.
Đây là vị Tổ thứ mười ba. Trong phần lịch sử của ngài, chúng ta thấy có những điểm đáng chú ý. Thứ nhất ngài là người đã ngộ đạo, giữ giới luật rất tinh nghiêm.
Khi ngài du hóa đến nước Tây Ấn, được thái tử Vân Tự Tại kính ngưỡng muốn thỉnh ngài và đại chúng về cung cúng dường. Ngài từ chối bảo rằng: Phật cấm Sa-môn không được gần gũi vua quan, những nhà có thế lực, nên tôi không dám nhận lời. Chúng ta thấy ngài là người đạo cao đức trọng, giữ gìn giới luật rất tinh nghiêm, vâng làm đúng theo lời Phật dạy, đó là điều để cho chúng ta noi theo.
Thứ hai, lúc gặp loài thú dữ mà lòng ngài vẫn an nhiên. Khi Thái tử thỉnh ngài và đại chúng vào cung, ngài từ chối, Thái tử liền giới thiệu trong núi sâu có hang đá rất yên tĩnh, thuận tiện cho người tu thiền định, nhưng có nhiều rắn và thú dữ. Tuy nhiên Thái tử tin tưởng đức hạnh cao dày của ngài sẽ chuyển hóa được chúng. Ngài nhận lời cùng đồ đệ tiến thẳng đến ngọn núi ấy.
Khi đến nơi gặp con rắn dài gần một dặm trợn mắt nhìn, ngài vẫn an nhiên đi thẳng không chú ý tới nó. Tới chỗ đất bằng dừng nghỉ, con rắn lại quấn xung quanh, ngài ngồi tĩnh tại chẳng đoái hoài. Giây lát con rắn bò đi, những người theo ngài sợ quá chạy tán loạn.
Đây là chỗ quan trọng của người tu. Chúng ta mở miệng thì nói vô ngã vô thường. Nhưng gặp thú dữ thì chạy quýnh lên hoặc chết giấc. Như vậy miệng nói và tâm hành không giống nhau, nói một đàng mà làm một ngả. Trong đạo không cho phép chúng ta chỉ nói suông mà không hành, nếu nói suông mà không hành chẳng khác nào như cái máy phát thanh, phát ra tiếng cho người khác nghe mà không dính gì với nó. Vì vậy người hiểu đạo phải sống đúng theo đạo mới thật sự có lợi ích. Nếu hiểu rồi đem nói cho hay, rốt cuộc tự tâm không hành, khi gặp cảnh thì cái ngã vẫn còn nguyên.
Chư Tổ nói được là làm được, nghĩa là các ngài nói vô ngã thì những cảnh đáng kinh sợ như tà ma quỷ my cho tới các loài thú dữ đến, các ngài vẫn an nhiên tĩnh tại tâm không lay động.
Như chúng ta đang ngồi thiền ở trong rừng, giả sử có con cọp tới rình, thì nên chạy hay nên ngồi? Chạy thì cọp ăn, bởi vì nó đã rình rồi, chỉ còn cách là cứ sống trong thiền định, nếu bị nó ăn thịt thì mình cũng được chánh định. Nếu chạy dù không bị cọp ăn, thì mình cũng đã mất tự chủ. Cho nên Phật dạy người tu hành phải cố gắng giữ tâm an nhiên trước hai cảnh thuận và nghịch, đó là chỗ công phu miên mật.
Điểm thứ ba là một tấm gương đáng cho người tu phải kinh sợ. Ngài đi tới hang đá thấy có một ông già mặc toàn đồ trắng bước ra chắp tay chào, Tổ hỏi ông ở đâu? Ông già thưa: Con xưa làm vị Tỳ-kheo rất thích vắng lặng, bực người mới học tới hỏi, nhân đó nổi sân. Bởi duyên cớ ấy khi chết đọa làm thân rắn ở trong hang này đến giờ đã ngàn năm. Nay gặp Tôn giả là bậc Thánh con ra kính lễ.
Đây là một điều chúng ta phải lưu ý giữ gìn. Bởi vì người tu hành chủ yếu là làm sao thắng được tham sân si, vì tham sân si là nhân gây nên tội lỗi. Vị Tỳ-kheo này ưa ở chỗ vắng lặng, tức là đã giữ giới luật nhưng chỉ có cái lỗi nổi sân, mà phải đọa làm thân rắn đến cả ngàn năm. Tại sao? Vì khi nổi sân là nói những lời hung dữ ác độc làm cho người khác phiền não, giống như con rắn nhả những nọc độc hại người ta vậy. Nổi sân là cái nhân để thành các loài thú dữ có mang những nọc độc; vì vậy thấy gương người xưa, chúng ta bây giờ phải ráng dè dặt. Khi gặp những điều trái ý đừng nổi nóng lên, vì biết nổi nóng là cái nhân làm thân rắn, mình phải ráng tránh.
Trong giới tu hành có hai bệnh đáng lưu ý. Thứ nhất là bệnh ưa nói, khi tu học hiểu được chút ít giáo lý gặp ai cũng ưa giảng đạo, đó là người từ bi đáo để. Kế đến có người tu được yên yên một chút, muốn mình được yên nên ai tới hỏi là bực bội. Đó là hai cái bệnh chúng ta nên tránh. Cho nên khi nào người cần đạo lý thì sẵn sàng nói, khi người chưa cần thì đừng nói. Kế đến dù cho sự yên tĩnh giúp tâm mình dễ được an, nhưng khi có người tới thưa hỏi điều gì, nếu biết thì phải đáp lại, chứ không nên bực bội sân si, vì đó là cái nhân làm súc sanh. Người tu nên nhớ mấy điểm này đừng để mắc kẹt.
Ngài chờ đồ chúng tụ hội, cùng họ tiến đến phía bắc. Vừa đến cây to, quả nhiên Long Thọ ra nghênh tiếp ngài. Long Thọ vui vẻ đảnh lễ thưa ngài:
– Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, Đại đức chí tôn sao thương xót đến đây?
Ngài đáp:
– Ta không phải chí tôn, đến để phỏng vấn Hiền giả.
Long Thọ lặng thinh thầm nghĩ:
– Tôn giả này được tánh quyết định, đạo nhãn đã sáng chưa? Phải là người đại thánh, thừa kế chân tông chăng?
Ngài biết, liền bảo:
– Tùy tâm niệm của ngươi, ta đã biết rồi. Chỉ cần xuất gia, lo gì ta chẳng phải thánh?
Bấy giờ Long Thọ sám hối tạ tội. Ngài liền độ cho xuất gia.
Một hôm, ngài gọi Long Thọ lại bảo:
– Nay ta đem đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao cho ngươi, ngươi phải truyền nối chớ dứt. Nghe ta nói kệ:
Phi ẩn phi hiển pháp,
Thuyết thị chân thật tế.
Ngộ thử ẩn hiển pháp,
Phi ngu diệc phi trí.
Dịch:
Pháp không ẩn không hiển,
Nói là mé chân thật.
Ngộ pháp ẩn hiển này,
Chẳng ngu cũng chẳng trí.
Truyền pháp xong, ngài trình thần biến rồi tịch diệt. Long Thọ và đồ chúng hỏa táng thân ngài, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Đoạn này nói đến sự gặp gỡ giữa Tổ và Bồ-tát Long Thọ. Nghe ông già giới thiệu cách mười dặm về phía bắc có vị lãnh tụ hiệu là Long Thọ, thường vì năm trăm vị nhân tài ẩn dật nói pháp. Khi ngài gặp con rắn to ở trong hang, đồ chúng sợ hãi chạy tứ tán. Ngài chờ đồ chúng tụ hội đầy đủ rồi cùng họ tiến đến phía bắc. Vừa đến chỗ cây to, quả nhiên Long Thọ ra nghênh tiếp, đảnh lễ thưa rằng: Chỗ núi sâu vắng vẻ, nơi hang ổ của thú dữ, Đại đức chí tôn sao thương xót đến đây?
Tổ đáp: Ta không phải chí tôn, đến để phỏng vấn Hiền giả.
Câu đáp rất khiêm tốn khiến ngài Long Thọ thầm nghi ngờ, không biết vị này đã mở sáng con mắt đạo chưa? Có phải là bậc đại thánh thừa kế chân tông chăng? Tổ biết tâm niệm nghi ngờ của ngài Long Thọ liền bảo: Chỉ cần xuất gia, lo gì ta chẳng phải thánh. Nghe như vậy ngài Long Thọ sám hối cầu xin xuất gia. Sau khi xuất gia Tổ thấy ngài Long Thọ đã nhận hiểu được đạo lý đúng đắn, bèn đem chánh pháp nhãn tạng truyền trao cho ngài qua bài kệ:
Pháp không ẩn không hiển
Nói là mê chân thật.
Ngộ pháp ẩn hiển này,
Chẳng ngu cũng chẳng trí.
Các pháp không ẩn cũng không hiển. Pháp này chỗ khác gọi là Tâm. Tâm chân thật thì không phải ẩn, cũng không hiển. Ấn là giấu kín, hiển là bày lộ. Tâm chân thật không phải giấu kín, cũng không phải bày lộ. Tại sao? Vì lúc nào nó cũng hiện sờ sờ ngay nơi chúng ta, nên không phải ẩn. Tại sao không phải hiển? Vì nó không có tướng mạo nên không phải hiển. Khi nói đến mé chân thật thì ngộ được pháp ẩn hiển. Ngộ được tâm chân thật ẩn mà hiển này, thì không phải ngu cũng không phải trí, tức là vượt qua được hai bên. Không mắc kẹt ngu trí phàm thánh, đó là người vượt qua sự đối đãi giả dối của thế gian.
Truyền pháp xong, Tổ trình thần biến rồi tịch diệt. Ngài Long Thọ và đồ chúng hỏa thiêu nhục thân, lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Ngài cũng có tên là Long Thắng, dòng Phạm chí ở miền Tây Ấn. Thuở nhỏ, ngài bẩm tánh thông minh, vừa nghe Phạm chí tụng bốn bộ kinh Phệ-đà là ngài thuộc lòng văn nghĩa. Đến hai mươi tuổi, ngài đi châu du khắp các nước tìm học các môn thiên văn địa lý, toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Môn nào ngài học đến đều xuất sắc hơn mọi người.
Nhân một cơ duyên chẳng lành, ngài nhận thức được các pháp là vô thường đau khổ nên vào núi ở ẩn. Số người tìm đến cầu học với ngài rất đông.
Bồ-tát Long Thọ ra đời sau đức Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, nổi tiếng nhất về truyền bá chánh pháp Đại thừa. Có nhiều chỗ nói ngài là nhà khảo cổ nổi tiếng. Những kinh điển Đại thừa bị mai một mà đến đời ngài thì được truyền bá và viết thành những quyển luận rất có giá trị.
Thuở nhỏ, ngài là người thông minh tài giỏi, học thông tất cả môn thiên văn địa lý, toán số, sấm ký và các học thuật của ngoại đạo. Nghe Phạm chí tụng bốn bộ kinh Phệ-đà liền thuộc lòng văn nghĩa.
Sau này có một nhân duyên không lành, thấy cuộc đời vô thường, ngài vào ẩn trong núi. Là một nhân tài nổi tiếng, cho nên khi ẩn trong núi mà vẫn có nhiều người tìm đến tham học. Vì vậy sau ngài có cả năm trăm vị nhân tài.
Sau khi gặp tổ Ca-tỳ-ma-la cảm hóa, ngài xin xuất gia được Tổ độ cho và truyền tâm ấn. Từ đó, ngài vân du thuyết pháp khắp nơi, lần lượt đến miền Nam Ấn. Dân chúng xứ này chỉ sùng phước nghiệp, từ khi ngài đến đem pháp yếu chỉ dạy, họ tự bảo nhau: “Chỉ phước nghiệp này là việc tối thắng, nói về Phật tánh thì đâu thể thấy!”
Ngài nhân đó bảo họ:
– Các ngươi nếu muốn thấy được Phật tánh thì trước hết bỏ tâm ngã mạn đi, mới có thể thấy được.
Họ hỏi ngài:
– Phật tánh lớn hay nhỏ?
Ngài đáp:
– Chẳng nhỏ chẳng lớn, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống.
Dân chúng nghe ngài nói tột lý, vui mừng nguyện học pháp ấy. Ngài liền ngay trên tòa hóa thân như vầng mặt trăng. Dân chúng tuy nghe thuyết pháp mà không thấy có hình ngài. Trong ấy có con một ông nhà giàu tên là Ca-na-đề-bà, thấy thế liền cảm ngộ.
Đề-bà bảo dân chúng:
– Biết tướng này chăng?
Dân chúng thưa:
– Chúng tôi không thể phân biệt được.
Đề-bà nói:
– Đây là Bồ-tát thị hiện để biểu thị Phật tánh, muốn chúng ta hiểu rõ vậy. Vô tướng tam-muội giống như mặt trăng tròn là nghĩa Phật tánh rỗng rang sáng suốt.
Đề-bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ nói kệ:
Thân hiện viên nguyệt tướng,
Dĩ biểu chư Phật thể.
Thuyết pháp vô kỳ hình,
Dụng biện phi thanh sắc.
Dịch:
Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể chư Phật.
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thanh sắc.
Toàn chúng nghe xong đều cảm ngộ cầu xin xuất gia. Ngài triệu tập các bậc thánh tăng đến truyền giới. Trong số xuất gia này, Đề-bà là người dẫn đầu.
Sau khi gặp tổ Ca-tỳ-ma-la, ngài ngộ đạo và được truyền tâm ấn. Ngài vân du giáo hóa khắp nơi lần lượt đến miền Nam Ân, có một vùng dân chúng chỉ sùng phước nghiệp, cho phước nghiệp là tối thắng. Khi tới đó ngài dạy cho họ về Phật tánh, họ tự bảo nhau chỉ có phước nghiệp là tối thắng, nói về Phật tánh thì đâu thể thấy!
Nhân đó ngài bảo họ: Các ngươi muốn thấy Phật tánh, thì trước hết phải bỏ tâm ngã mạn mới có thể thấy được. Tại sao muốn thấy Phật tánh phải bỏ tâm ngã mạn? Vì bao nhiêu vọng tưởng điên đảo gốc từ chấp ngã mà ra, muốn hết vọng tưởng điên đảo thì phải phá chấp ngã. Phá chấp ngã thì bao nhiêu vọng tưởng điên đảo theo đó mà hết, vọng tưởng điên đảo hết rồi thì Phật tánh hiện bày. Vì vậy ngài bảo: Muốn thấy Phật tánh phải bỏ tâm ngã mạn.
Họ hỏi Phật tánh lớn hay nhỏ? Câu hỏi này giống như những người nhà quê. Nghe nói Phật tánh, mà không biết Phật tánh lớn hay nhỏ? Ngài trả lời: Chẳng lớn chẳng nhỏ, không rộng không hẹp, không phước không báo, chẳng chết chẳng sống. Tại sao? Vì Phật tánh không tướng mạo, nên không hạn cuộc trong cái lớn nhỏ, rộng hẹp. Phật tánh là vô sanh nên không hạn cuộc ở trong chết sống. Vô sanh là từ trước đến giờ chưa từng sanh thì đâu có diệt mà chết. Không diệt thì làm gì có sanh mà sống.
Phật tánh tròn đầy sáng suốt thanh tịnh, cho nên không phước cũng không báo. Bởi vì phước báo là phước do mình tạo, rồi được hưởng quả. Như vậy phước báo cũng là sanh diệt, Phật tánh thì thanh tịnh sáng suốt không sanh diệt nên không phải là phước báo. Người biết được lý này cao siêu mà hâm mộ là người đã nhiều đời gieo trồng căn lành. Nghe Tổ trả lời như vậy dân chúng vui mừng phát tâm nguyện học theo pháp ấy.
Khi nói pháp, Tổ liền hiện ra tướng mặt trăng tròn, dân chúng tuy nghe tiếng thuyết pháp mà không thấy ngài. Toàn chúng không ai hiểu gì, chỉ có ngài Ca-na-đề-bà trông thấy liền ngộ. Ngài mới hỏi trong dân chúng rằng: Biết tướng này chăng? Dân chúng thưa: Chúng tôi không thể phân biệt được. Đề-bà nói: Đây là Bồ-tát thị hiện tướng trăng tròn để biểu thị Phật tánh, muốn chúng ta hiểu rõ vậy.
Vô tướng tam-muội giống như mặt trăng tròn, nghĩa là Phật tánh tròn đầy rỗng rang sáng suốt mà không hình tướng. Cho nên trong nhà thiền thường dùng mặt trăng tròn để chỉ cho Phật tánh. Đề-bà nói dứt lời thì vầng trăng ẩn mất, Bồ-tát hiện ngồi an nhiên chỗ cũ nói kệ:
Thân hiện tướng trăng tròn,
Để nêu thể chư Phật.
Nói pháp không hình ấy,
Dùng rõ phi thanh sắc.
Thân ngài hiện ra tướng mặt trăng tròn là để biểu thị bản thể chư Phật. Thuyết pháp không có hình tướng kia, là dùng để biện rõ nó không phải là âm thanh sắc tướng. Khi thân ngài hiện ra tướng mặt trăng tròn không nói câu nào, để hiển thị Phật tánh tròn sáng mà không tướng mạo. Người ngộ được lý trên là ngộ được bản tánh.
Hình ảnh thuyết pháp này giống như ở hội Linh Sơn Phật đưa cành hoa sen lên nhìn đại chúng mà không nói gì cả. Nhưng ở đây có vẻ huyền bí, hiện vầng trăng tròn không nói câu nào. Người căn cơ bén nhạy nhìn thấy liền lãnh hội. Toàn chúng nghe xong liền cảm ngộ xin xuất gia, trong số đó ngài Đề-bà là vị đệ tử xuất sắc nhất.
Từ ngữ viên nguyệt tướng trong bài kệ truyền pháp liên hệ đến câu chuyện thiền Nhật Bản sau đây:
Một nhà sư đang ngồi tu trong am trên núi. Hôm đó đêm rằm trăng sáng tròn, có một chú ăn trộm rình mò muốn lấy cắp. Khi ấy nhà sư thấy chú ăn trộm rất đáng thương, nhìn tới nhìn lui thấy không có gì, liền cởi chiếc áo rách cho. Nhưng cái áo rách đâu có giá trị gì! Nhà sư nhìn lên trời thấy mặt trăng tròn sáng đẹp đẽ, liền nói: Ước gì tôi lấy được mặt trăng này đem cho người bạn đáng thương kia thì quý biết bao nhiêu.
Ý muốn nói nhà sư đã tỉnh giác, nhận ra được Phật tánh tròn sáng sẵn có nơi mình, nhưng rất tiếc anh chàng kia có của báu mà không biết dùng, cứ lê cái thân đi rình mò kiếm những manh áo rách, thật là đáng thương biết mấy! Ước gì anh ấy nhận được mặt trăng thật nơi mình thì sẽ sung sướng biết chừng nào. Đó là ý nghĩa rất thâm sâu trong nhà thiền.
Một quốc gia ở miền Nam Ấn, có đến năm ngàn người tu theo ngoại đạo được nhiều phép lạ, vua và quốc dân đều thọ giáo nơi họ, khiến đạo Phật mờ tối. Ngài thấy thế cảm động bèn đổi hình thức, mặc áo trắng đợi mỗi khi vua ra thành, ngài cầm cây cờ đi trước, hoặc ẩn hoặc hiện. Làm như thế đến bảy lần.
Hôm nọ, vua lấy làm lạ kêu lại hỏi:
– Ngươi là người gì dám đi trước ta, mà bắt không được, thả chẳng đi?
Ngài đáp:
– Tôi là người trí, biết tất cả việc.
Vua nghe ngạc nhiên, muốn thí nghiệm, nói:
– Chư thiên nay đang làm gì?
Ngài đáp:
Chư thiên đang đấu chiến với a-tu-la
Vua hỏi:
– Làm sao biết được?
Ngài đáp:
– Nếu Bệ hạ muốn biết chốc lát sẽ thấy chứng nghiệm.
Quả nhiên, phút chốc thấy gươm giáo tay chân ở trên không rơi xuống. Vua và quốc dân rất kính phục ngài. Nhân đó, ngài chuyển họ trở lại quy y Tam bảo.
Ngài đến vùng Nam Ấn, nhà vua và dân chúng tu theo ngoại đạo gần hết. Thấy Phật giáo nơi đây lu mờ, ngài mới tìm cách để chuyển hóa. Muốn chuyển hóa dân chúng trước phải chuyển hóa nhà vua. Vì vậy ngài đổi hình thức giả người thường mặc áo trắng, đợi mỗi khi vua ra thành ngài cầm cờ đi trước, khi ẩn khi hiện. Nhà vua thấy lạ mới kêu hỏi: Ngươi là người gì dám đi trước ta mà bắt không được, thả chẳng đi? Ngài đáp: Tôi là người trí, biết tất cả việc. Đáp câu đó là để khích cho nhà vua hỏi tiếp. Nhà vua cũng là tay cừ khôi, nghe nói người trí mà không chịu hỏi chuyện thế gian lại hỏi chuyện trên trời: Chư thiên nay đang làm gì?
Người trí biết tất cả thì biết chuyện thế gian chứ không thể biết chuyện trên trời. Nhà vua hỏi chuyện trên trời để ngài không trả lời được. Nhưng ngài không chịu thua đáp: Chư thiên đang đấu chiến với a-tu-la. Nhà vua liền bẻ lại: Làm sao biết được? Như vậy là muốn đặt ngài vào thế bí. Nhưng ngài liền đáp: Nếu Bệ hạ muốn biết, chốc lát sẽ được chứng nghiệm. Quả nhiên, phút chốc thấy gươm giáo tay chân từ trên hư không rơi xuống, chẳng biết có thật không, hay là ngài hóa ra. Thấy vậy nhà vua nghi ngờ nhưng cũng đầu hàng, vì không biết lấy đâu làm bằng chứng. Ngài dùng phương tiện giáo hóa chuyển họ trở lại quy y Tam bảo.
Một hôm, ngài gọi Ca-na-đề-bà đến dặn dò:
– Như Lai lấy đại pháp nhãn tạng trao cho tổ Ca-diếp, truyền cho đến đời ta, nay ta trao cho ngươi. Hãy nghe kệ:
Vị minh ẩn hiển pháp,
Phương thuyết giải thoát lý.
Ư pháp tâm bất chứng,
Vô sân diệc vô kỷ.
Dịch:
Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát.
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ.
Dặn dò xong, ngài nhập Nguyệt luân tam-muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn.
Ngài sáng tác nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại thừa:
Bồ-tát Mã Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp Đại thừa, chính ngài Long Thọ là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại thừa. Những tác phẩm của ngài, bộ Trung Luận có giá trị nhất, đến nay đã dịch ra nhiều thứ tiếng để truyền bá khắp thế giới.
Ngài sắp Niết-bàn mới gọi đệ tử là Đề-bà dặn dò và nói kệ truyền pháp:
Vì sáng pháp ẩn hiển,
Mới nói lý giải thoát.
Nơi pháp tâm chẳng chứng,
Không sân cũng không hỷ.
Muốn cho người thấu hiểu được tâm chân thật không ẩn cũng không hiển, nên mới nói lý giải thoát. Đối với tất cả pháp, tâm không có chứng đắc, thì không có sân có hỷ. Tại sao? Vì người tu theo Thiền tông muốn đến chỗ cứu cánh thì không còn thấy năng chứng và sở chứng. Nếu còn thấy năng chứng sở chứng thì cái ngã chưa hết, nếu ngã chưa hết là còn sân còn hỷ, là còn đối đãi. Bởi vì năng chứng là người, sở chứng là pháp, còn có người có pháp là còn có hai. Người đạt đến chỗ viên mãn cứu cánh vượt ngoài đối đãi năng và sở, cho nên nói không chứng, không đắc, không sân không hỷ.
Nói kệ truyền pháp xong, ngài nhập Nguyệt luân tam-muội rồi hiện tướng thần biến vào Niết-bàn.
Ngài sáng tác nhiều bộ luận để xiển dương giáo pháp Đại thừa:
Bồ-tát Mã Minh là người khêu mồi ngọn đèn chánh pháp đại thừa, chính Bồ-tát Long Thọ là người thắp sáng và truyền bá khắp nơi cho đến vô tận ngọn đuốc Đại thừa. Những tác phẩm của ngài bộ Trung Luận có giá trị nhất, đến nay đã dịch ra nhiều thứ tiếng để truyền bá khắp thế giới.
Khi nói tới Bồ-tát Long Thọ thì chúng ta không thể nào quên được bộ luận nổi danh nhất của ngài là Trung Quán Luận. Người học Phật bây giờ, muốn hiểu nghĩa lý thâm sâu của Phật pháp thì không thể bỏ qua bộ luận này.
Trước khi Thiền tông truyền vào Trung Hoa, đề xướng phương pháp tu thiền nổi tiếng là ngài Trí Khải. Ngài Trí Khải chịu ảnh hưởng của ngài Huệ Tư, ngài Huệ Tư chịu ảnh hưởng của ngài Huệ Văn thuộc thiền phái Thiên Thai. Ngài Huệ Văn ngộ bài kệ trong Luận Trung Quán: “Nhân duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc danh vi giả danh, điệc danh trung đạo nghĩa”, nên lập ra ba pháp quán: Không quán, Giả quán, Trung quán.
Đọc bộ Trung Luận thấy lối lý luận quá khúc chiết, người thường không hiểu nổi. Nếu hiểu được thì thấy thật là hay. Tất cả những kinh điển Đại thừa của Phật, trong đó ngài xiển dương mạnh mẽ nhất là bộ Bát-nhã. Sau này ngài lại viết nhiều bộ luận để giải thích về bộ Hoa Nghiêm. Vì vậy chúng ta biết rằng tinh thần Đại thừa Phật giáo sống dậy rất mạnh mẽ ở Ấn Độ sau Phật Niết-bàn khoảng sáu trăm năm, Bồ-tát Long Thọ là người có công to lớn nhất. Tuy trước ngài đã có tổ Mã Minh, nhưng tổ Mã Minh chỉ gieo mầm, đến ngài mới là rực rỡ.
Ngài dòng Tỳ-xá-ly ở Nam Ấn. Thuở nhỏ ngài bẩm tánh thông minh, biện tài vô ngại. Ban sơ ngài học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện.
Khi tổ Long Thọ đến nước này, ngài tìm đến yết kiến. Tổ Long Thọ muốn thử ngài, sai đồ đệ múc một thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi qua lấy cây kim bỏ vào, rồi thẳng đến yết kiến Tổ. Thầy trò gặp nhau vui vẻ lãnh hội. Khi tổ Long Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, ngài thầm ngộ yếu chỉ. Ngài theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn.
Ngài Đề-bà là vị Tổ thứ mười lăm ở Ấn Độ, cũng là vị Bồ-tát thứ ba làm nổi bật Phật giáo Đại thừa trong khoảng thế kỷ thứ VI thứ VII sau Phật Niết-bàn.
Thuở nhỏ ngài bẩm tánh thông minh, biện tài vô ngại, học phong tục trong nước, ưa làm việc phước thiện. Khi tổ Long Thọ đến nước này giáo hóa, ngài tìm tới yết kiến. Tổ muốn thử ngài, sai đồ đệ múc thau nước đầy để ở trước lối vào. Ngài đi qua lấy cây kim bỏ vào thau nước, rồi thẳng đến yết kiến Tổ. Lúc tổ Long Thọ thuyết pháp hiện tướng vầng trăng tròn, ngài thầm ngộ yếu chỉ, theo Tổ xuất gia và được truyền tâm ấn.
Sau khi đắc pháp, ngài vân du khắp nơi, lần lượt sang nước Ca-tỳ-la để giáo hóa. Trong nước này có ông trưởng giả tên Tịnh Đức sanh được hai người con trai, người con cả tên La-hầu-la-diễm, người con thứ tên La-hầu-la-đa. Ông hằng ngày chỉ săn sóc vườn tược. Hôm nọ, một cây trong vườn nảy sanh thứ nấm lạ, ông nhổ về ăn thử thật ngon lành. Song chỉ ông và người con thứ hằng ngày đều nhổ được nấm ăn, ngoài ra không ai nhổ được. Ông bảo con thứ: “Nấm cây này chỉ mình ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường. Ước gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này!”
La-hầu-la-đa nói kệ:
Thử mộc sanh kỳ nhĩ,
Ngã thực bất khô khao.
Trí giả giải thử nhân,
Ngã hồi hướng Phật đạo.
Dịch:
Cây này sanh nấm lạ,
Con ăn rất ngon lành.
Người trí giải nhân này,
Con xin theo Phật đạo.
Chợt gặp Bồ-tát Đề-bà đến nhà, cha con ông Tịnh Đức vui mừng đem việc này ra hỏi. Ngài dạy:
– Khi xưa, lúc ông hai mươi tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, luống nhận sự cúng dường của ông. Song vị Tỳ-kheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi bị sa vào đường ác, vẫn phải sanh làm cây nấm này để trả nợ cho ông. Xưa, khi vị Tỳ-kheo ấy đến nhà ông, trong nhà ông chỉ có ông và người con thứ này thành kính cúng dường, còn bao nhiêu người đều không vui. Vì thế, nên nấm hiện nay chỉ hai cha con ông được hưởng.
Ngài lại bảo:
– Ông nay được bao nhiêu tuổi? Trưởng giả thưa:
– Tôi được bảy mươi chín tuổi.
Ngài nói kệ:
Nhập đạo bất thông lý,
Phục thân hoàn tín thí.
Nhữ niên bát thập nhất,
Thử mộc điệc vô nhĩ.
Dịch:
Vào đạo không thông lý,
Hoàn thân đền tín thí.
Trưởng giả tuổi tám mốt,
Cây này không sanh nấm.
Ông trưởng giả nghe nói xong, biết rõ duyên trước càng thêm thán phục, thưa:
– Tôi già yếu tuy muốn xuất gia e không kham theo Thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo, tôi xin cho nó theo làm thị giả cho Thầy, mong Thầy dung nạp.
Ngài hoan hỷ chấp nhận La-hầu-la-đa xuất gia và triệu tập các vị thánh tăng đến truyền giới.
Sau khi đắc pháp, ngài đi giáo hóa đến nước Ca-tỳ-la, trong nước này có ông trưởng giả tên Tịnh Đức. Ông có hai người con trai. Trong vườn của ông có cây sanh nấm lạ mà chỉ có ông và người con thứ nhổ ăn được, ngoài ra cả nhà không ai nhổ ăn được.
Ông bảo người con thứ: “Cây nấm này chỉ mình ta và ngươi được ăn, ắt là việc phi thường. Ước gì có ai thông hiểu giải thích cho việc này!” La-hầu-la-đa bèn nói kệ:
Cây này sanh nấm lạ,
Con ăn rất ngon lành.
Người trí giải nhân này,
Con xin theo Phật đạo.
Chợt Bồ-tát Đề-bà đến nhà, ông mới đem việc đó ra thưa hỏi, ngài liền thuật lại việc xưa cho nghe:
– Khi xưa, lúc ông hai mươi tuổi thường mời một vị Tỳ-kheo về nhà cúng dường. Vị Tỳ-kheo ấy tuy có chút ít giới hạnh mà con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, luống nhận sự cúng dường của ông. Song vị Tỳ–kheo ấy có chút ít tu hành nên khỏi bị sa vào đường ác, vẫn phải sanh làm cây nấm này để trả nợ cho ông.
Vị Tỳ-kheo này có chút ít giới hạnh, tu hành đàng hoàng, chỉ có một điểm là con mắt pháp chưa sáng, tâm không thấu lý, nên nhận sự cúng dường suông mà không đền đáp được đạo lý cho ông trưởng giả. Do đó sau này phải đền nợ bằng cách làm nấm trong thân cây để cho ông ăn. Đây gọi là hoa báo. Tu mà làm cây sanh nấm cho người ta ăn thì buồn làm sao!
Câu chuyện này đặc biệt cảnh tỉnh chúng ta. Nếu tu mà tâm chưa sáng, thọ nhận sự cúng dường của thí chủ, cho đó là do phước báo của mình rồi vui vẻ thọ hưởng, như thế là lầm. Nếu người biết tu thì nhận sự cúng dường nhiều chừng nào, thấy nợ càng to chừng ấy. Ở đây nói nếu vị Tỳ-kheo này không chịu tu thì có thể đọa vào đường ác. Nhưng nhờ ngài có tu cho nên khỏi sa vào đường ác mà vẫn phải làm nấm để trả nợ.
Nghe qua câu chuyện chúng ta phải làm sao? Tu lơ mơ thì làm cây sanh nấm cho họ ăn. Nếu dở chút nữa thì có thể làm trâu bò kéo cày mang ách. Dở hơn nữa thì xuống địa ngục ngồi, như vậy là khổ biết chừng nào! Bây giờ chúng ta phải làm sao? Không nhận của cúng dường, lo tự túc làm ra cơm gạo ăn để khỏi nợ của thí chủ phải vậy không? Nếu nhận của thí chủ cúng dường mà tu không xong thì phải đọa.
Trong kinh A-hàm ghi: Một hôm tổ A-nan chiêm bao thấy một cái hầm lớn, chư tăng ni lao nhao dưới hầm. Trên hầm có một cây cầu bắc ngang qua, nhiều người cư sĩ đi qua đi lại thong thả trên cầu. Thức dậy ngài đem điềm mộng trình lên đức Phật. Phật dạy đó là điềm báo rằng sau này trong đời mạt pháp, đệ tử xuất gia của ta không giữ giới luật, thọ sự cúng dường của thí chủ, không chịu tu hành, nên chết rồi phải đọa địa ngục. Còn thí chủ do lòng tin chân chánh cúng dường, nên được phước báo sanh thiên. Chúng ta nghe buồn chưa?
Qua câu chuyện trên chúng ta thấy có ngán sợ không? Những điều đó là sự thật. Nếu người tu không khéo thì phải bị đọa chứ không phải chơi. Vậy mà không ai nhắc lâu rồi cũng quên, bởi quên cho nên tha hồ thọ nhận của cúng dường, thọ nhiều chừng nào tốt chừng nấy, sắm cái này rồi sắm cái kia. Nhưng tiện nghi nhiều chừng nào thì bận tâm nhiều chừng nấy mà không biết an ổn một đời này rồi sau phải khổ. Cho nên chúng ta học những câu chuyện cũ, để nhớ mà tự cảnh tỉnh mình ráng tu hành. Nói vậy không phải tôi bảo tăng ni nên ra tự túc, đi dạy học hay làm ruộng làm rẫy để có cơm ăn khỏi thọ của thí chủ cúng dường.
Là người xuất gia làm Tỳ-kheo thì phải vào dòng họ Phật. Tỳ-kheo là khất sĩ, nghĩa là trên xin pháp chư Phật nuôi tâm, dưới xin thực phẩm thí chủ nuôi thân. Xin thực phẩm bằng cách trực tiếp đưa bình bát cho người ta để thức ăn vô, hoặc gián tiếp là để thùng phước sương, người ta bỏ tiền vào mình mua thực phẩm, hay thí chủ đem thực phẩm đến chùa cúng dường. Cho nên mỗi ngày thọ bát cơm của thí chủ, phải làm sao cho xứng đáng.
Nhớ mình là kẻ thọ ơn phải cố gắng tu hành, tự lợi lợi tha đầy đủ. Nếu quên bổn phận thì quên tu, mà quên tu tự lợi chẳng có, lợi tha cũng không, như vậy làm sao tránh khỏi đọa địa ngục. Phật dạy chúng ta thọ nhận của thí chủ phải nhớ nỗ lực tinh tấn tu hành mới xứng đáng công ơn khó nhọc của người. Nếu đêm nào cũng thẳng cẳng ngủ khò thì phải mắc nợ của đàn-na thí chủ.
Cho nên phải nỗ lực tu hành, làm sao hiện đời con mắt đạo được mở sáng, lý đạo được thông, tự lợi lợi tha đầy đủ, như vậy mới có thể đền ơn thí chủ. Bằng không thì đời tu của mình không biết ra sao. Tổ Quy Sơn dạy: Đường trước mịt mờ không biết về đâu! Cho nên ai đã tu thì phải cố gắng, người sửa soạn đi tu thì phải xét kỹ lại mình, xem có kham nổi đời sống tu hành không. Đừng tưởng vô chùa là sướng, được người ta cúng dường nhiều, rồi buông lung tâm ý thọ hưởng. Nếu đã quyết tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, mới mong đền đáp công ơn thí chủ, một trong bốn ơn sâu nặng mà người tu phải nhớ cho thật kỹ. Nếu tu lơ là thì hiện tại chẳng lợi lạc, mà phải khổ về vị lai.
Tổ hỏi ông được bao nhiêu tuổi, ông già nói bảy mươi chín tuổi. Tổ bèn nói kệ:
Vào đạo không thông lý,
Hoàn thân đền tín thí.
Trưởng giả tuổi tám mốt,
Cây này không sanh nấm.
Vào đạo không thông lý, trở lại mang thân đền nợ tín thí, ngươi đến tuổi tám mươi mốt thì cây này sẽ hết sanh nấm. Nghĩa là hai năm nữa hết nợ, đó gọi là sanh báo hay hiện báo, nợ ít thì trả ngay trong đời này.
Trưởng giả nghe Tổ nói kệ xong, biết rõ duyên trước càng thêm kính phục, ông thưa: Tôi già yếu muốn xuất gia e không kham theo Thầy. Đứa con thứ của tôi hết lòng mộ đạo, xin cho nó theo làm thị giả mong Thầy dung nạp.
Ngài hoan hỷ chấp nhận cho La-hầu-la-đa xuất gia và triệu tập các vị thánh tăng đến truyền giới.
Ngài du hóa đến nước Ba-liên-phất gặp lúc ngoại đạo hưng thịnh, Phật pháp lu mờ. Ngài đem hết khả năng chuyển hóa ngoại đạo trở về quy y Tam bảo, khiến xứ này Phật pháp hưng thịnh lại.
Khi già yếu, ngài gọi La-hầu-la-đa đến phó chúc pháp nhãn tạng và dặn dò đừng để đoạn diệt. Kế nói kệ:
Bản đối truyền pháp nhân,
Vị thuyết giải thoát lý.
Ư pháp thật vô chứng,
Vô chung diệc vô thủy.
Dịch:
Xưa đối người truyền pháp,
Vì nói lý giải thoát.
Nơi pháp thật không chứng,
Không chung cũng không thủy.
Dặn dò xong, ngài nhập định ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-hầu-la-đa và đồ chúng xây tháp cúng dường.
Ngài là Bồ-tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại thừa. Những tác phẩm ngài trước thuật:
Những bộ luận trên nổi tiếng nhất là bộ Bách Luận và Đại Trượng Phu Luận.
Sau đó, ngài La-hầu-la-đa được xuất gia theo Tổ làm thị giả, cùng Tổ du hóa đến nước Ba-liên-phất, gặp lúc ngoại đạo hưng thịnh, Phật pháp lu mờ. Tổ đem hết khả năng chuyển hóa ngoại đạo trở về quy y Tam bảo, khiến xứ này Phật pháp hưng thịnh.
Khi già yếu, Tổ thấy ngài La-hầu-la-đa đã thông hiểu Phật pháp và cơ duyên truyền bá của Tổ sắp hết, nên mới gọi ngài đến truyền kệ phó pháp và dặn dò đừng để đoạn diệt:
Xưa đối người truyền pháp,
Vì nói lý giải thoát.
Nơi pháp thật không chứng,
Không chung cũng không thủy.
Từ xưa đến giờ chư tổ truyền pháp cho đệ tử, đều vì họ nói lý giải thoát, lý giải thoát thì không chứng không đắc. Tại sao? Vì có chứng đắc là có năng chứng sở chứng, là còn tương đối thì thấy có trước sau. Nếu không mắc kẹt trong năng chứng sở chứng, thì cũng không có trước sau.
Sau khi truyền pháp xong, Tổ ngồi nghiêm chỉnh thị tịch. La-hầu-la-đa và đồ chúng xây tháp cúng dường.
Ngài là vị Bồ-tát thứ ba làm nổi bật giáo lý Đại thừa. Những tác phẩm ngài trước thuật nổi tiếng nhất là bộ Bách Luận và Đại Trượng Phu Luận. Bách Luận giải thích về kinh Bát-nhã. Đại Trượng Phu Luận nói về tư cách của người đại trượng phu. Hai bộ luận này đã được dịch ra tiếng Việt.
Ngài dòng Phạm-ma ở nước Ca-tỳ-la. Thuở nhỏ đã sẵn có lòng mộ đạo. Khi lớn do cơ duyên trong vườn có cây mọc nấm, tổ Đề-bà giải thích nhân do, mà ngài được xuất gia.
Sau khi được truyền tâm ấn, ngài thống lãnh đồ chúng du hóa nhân gian, lần lượt đến phía nam thành Thất-la-phiệt gặp sông Kim Thủy. Ngài bảo chúng:
– Các ngươi biết chăng? Vừa thấy bóng năm đức Phật hiện dưới dòng sông, ta lấy bát múc nước nếm có mùi vị lạ, ngược dòng sông này chừng năm trăm dặm sẽ có bậc chí nhân ở, hiệu là Tăng-già-nan-đề.
Ngài bèn dẫn chúng ven theo bờ sông trở lên, quả nhiên thấy Nan-đề đang ngồi thiền trong thất đá. Ngài và đồ chúng dừng lại xem, chờ đến bảy ngày Nan-đề mới xuất định. Ngài hỏi Nan-đề:
– Thân ông định hay tâm ông định?
Nan-đề đáp:
– Thân tâm đều định.
– Thân tâm đều định sao có xuất nhập?
– Tuy có xuất nhập mà không mất tướng định, như vàng ở trong giếng, vàng ra ngoài giếng, thể vàng vẫn yên lặng.
– Nếu vàng ở trong giếng, vàng ra ngoài giếng, thể vàng không động tịnh, thì vật gì ra vào?
– Nói vàng không động tịnh thì vật gì ra vào? Đã thừa nhận vàng ra vào mà thể vàng không động tịnh.
– Nếu vàng ở trong giếng thì ra là vật gì?
– Vàng nếu ra ngoài thì ở trong giếng không phải vàng. Vàng nếu ở trong giếng thì ra không phải vật.
– Nghĩa này không đúng.
– Lý kia chẳng nhằm.
– Nghĩa này đã ngã.
– Nghĩa kia chẳng thành.
– Nghĩa kia chẳng thành mà nghĩa của ta thành.
– Nghĩa ta tuy thành mà pháp không có ta.
– Nghĩa ta đã thành vì ta mà không ta.
– Ta mà không ta lại thành nghĩa gì?
– Vì ta không ta nên thành nghĩa của ngươi.
– Nhân giả thờ vị Thánh nào mà được “không ta” ấy?
Thầy ta là Bồ-tát Ca-na-đề-bà chứng được “không ta”.
Nan-đề tán thán:
– Cúi đầu đảnh lễ Đề-bà, người tạo thành nhân giả. Vì nhân giả “không ta”, tôi muốn thờ nhân giả.
Ngài bảo:
– Vì ta đã “không ta”, ngươi cần thấy ta ta. Ngươi nếu thờ nơi ta, biết ta chẳng ta ta.
Nan-đề được tâm rỗng rang liền đảnh lễ nói kệ:
Tam giới nhất minh đăng,
Hồi quang nhi chiếu ngã.
Thập phương tất khai lãng,
Như nhật hư không trụ.
Dịch:
Ba cõi một ngọn đèn,
Ánh sáng soi chiếu con.
Mười phương đều xán lạn,
Như mặt trời trong không.
Nan-đề nói kệ xong, lại đảnh lễ cầu xin thế độ.
Vị Tổ này nhân trong vườn cây mọc nấm lạ mà đi xuất gia. Sau khi xuất gia và được truyền tâm ấn, ngài đi du hóa ở thành Thất-la-phiệt, gặp dòng sông Kim Thủy, lấy bát múc nước nếm thử thấy có mùi lạ. Tổ dự đoán ngược dòng sông này năm trăm dặm sẽ có bậc chí nhân ở đó. Tổ bèn dẫn chúng ven theo bờ sông trở lên, quả nhiên thấy Tăng-già-nan-đề đang ngồi thiền ở trong thất đá. Tổ và đại chúng chờ tới bảy ngày Nan-đề mới xuất định.
Tổ hỏi Nan-đề: Thân ông định hay tâm ông định? Nan-đề đáp: Thân tâm đều định. Đáp như vậy là đúng rồi, nhưng Tổ hỏi lại: Thân tâm đều định sao có xuất nhập? Nếu thân tâm đều định thì không có xuất nhập, nếu có xuất nhập thì nói thân tâm đều định không đúng.
Nan-đề đáp: Tuy có xuất nhập mà không mất tướng định, như vàng ở trong giếng, vàng ra ngoài giếng, thể vàng vẫn yên lặng. Ý của Nan-đề đáp ở trong giếng là vàng, ra khỏi giếng cũng là vàng, thể nó như như, cho nên tuy có ra vào mà vẫn yên lặng.
Tổ hỏi lại: Nếu vàng ở trong giếng, vàng ra ngoài giếng thể vàng không động tịnh, thì vật gì ra vào? Nói không động tịnh là nó ở một chỗ, mà có ra có vào thì cái gì ra vào.
Nan-đề đáp: Nói vàng không động tịnh, thì vật gì ra vào? Đã thừa nhận vàng ra vào, mà thể vàng không động tịnh. Đã thừa nhận ra vào đó là vàng, nhưng có ra vào mà thể không động tịnh.
Tổ gạn lại: Nếu vàng ở trong giếng thì ra là vật gì? Nếu vàng đang ở trong giếng thì ra ngoài là vật gì? Không lẽ vàng vừa trong giếng, lại vừa ra ngoài. Nếu nói ở trong ở ngoài là một thể, thì chẳng lẽ vừa ở trong vừa ở ngoài, còn nếu ở trong là vàng thì ở ngoài là cái gì?
Nan-đề đáp: Vàng nếu ra ngoài thì ở trong giếng không phải vàng. Vàng nếu ở trong giếng thì ra ngoài không phải vật. Tổ nói rằng: Nghĩa này không đúng. Nan-đề cũng gượng mà đáp: Lý kia chẳng nhằm. Ngài nói nghĩa tôi không đúng thì lý của ngài cũng chẳng nhằm.
Tổ liền bẻ lại: Nghĩa này đã ngã. Bởi vì ông nói trong giếng cũng vàng, ra ngoài cũng vàng, đã có ra có vào tại sao nói không động tịnh? Nếu chấp nhận ra vào thì chấp nhận có động tịnh. Nghĩa của ông không đúng mà ông còn cho rằng lý của tôi cũng nhầm. Cho nên Tổ nói nghĩa của ông đã ngã.
Nan-đề đáp: Nghĩa kia chẳng thành. Tổ bảo: Nghĩa kia chẳng thành, nhưng nghĩa của ta thành. Tức là nghĩa của ông chẳng thành, mà nghĩa của Ta đã thành.
Nan-đề đáp: Nghĩa ta tuy thành mà pháp không có ta. Tổ đáp: Nghĩa ta đã thành, vì ta mà không ta. Tổ nói nghĩa ta đã thành, nhưng cái ta đó không phải thật ngã, không thật ngã thì thành cái gì? Ý Tổ là dùng vô ngã để phá cái lý của Nan-đề.
Nan-đề hỏi lại: Ta mà không ta lại thành nghĩa gì? Tổ đáp: Vì ta không ta, nên thành nghĩa của ngươi. Không ta tức là không còn ngã, cho nên mới bẻ được cái nghĩa của ngươi.
Nghe tới đây ngài Nan-đề mới phục và thưa: Nhân giả thờ vị Thánh nào mà được không ta ấy? Tổ đáp: Thầy ta là Bồ-tát Ca-na-đề-bà chứng được “không ta”. Nan-đề tán thán: Cúi đầu lễ Đề-bà, người tạo thành nhân giả, vì nhân giả “không ta”, tôi muốn thờ nhân giả. Tổ bảo: Vì ta đã “không ta”, ngươi cần thấy ta ta, ngươi nếu thờ nơi ta, biết ta chẳng ta ta.
Câu này thật khó hiểu làm sao! Nghĩa là chính ngài đã vô ngã, nhưng bảo ngươi cần thấy ta ta là sao? Tức là ngươi cần phải thấy rõ cái Ta chân thật của ta, là trong vô ngã có cái chân ngã, đừng lầm tưởng vô ngã là cứu cánh, phải ngay nơi vô ngã mà nhận ra chân ngã, cái đó mới là thật.
Nan-đề kính phục thờ Tổ làm thầy vì Tổ đã được vô ngã và chỉ cho mình biết rằng có Phật tánh chứ không phải vô ngã là không ngơ. Ngươi phải biết ta, thờ ta, tức là thờ cái chân ngã. Cái chân ngã thì không còn năng sở, không còn ngã pháp, như vậy mới thật là thờ ta.
Nan-đề nghe tới đây, tâm được rỗng rang, liền đảnh lễ nói kệ và xin thế độ.
Ba cõi một ngọn đèn,
Ánh sáng soi chiếu con.
Mười phương đều xán lạn,
Như mặt trời trong không.
Trong tam giới này Tổ như một ngọn đèn sáng. Ánh sáng chiếu soi nơi con, khắp mười phương nơi nào cũng xán lạn, như mặt trời trong hư không vậy.
Ngài bảo:
– Tâm ngươi tự tại chẳng lệ thuộc vào ta, cần gì nương nhờ mà cầu giải thoát.
Khi Nan-đề đảnh lễ cầu xin xuất gia. Tổ bảo: Tâm ngươi tự tại chẳng lệ thuộc vào ta, cần gì nương nhờ cầu giải thoát. Nghĩa là người xuất gia phải làm chủ tâm, phải sống bằng tự tánh thanh tịnh của mình, đừng lệ thuộc vào ta bên ngoài, nếu lệ thuộc vào bên ngoài cầu giải thoát thì không đúng đạo lý.
Một hôm, ngài gọi Nan-đề đến bảo:
– Nay ta đã già không còn ở đời được bao lâu, đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao lại cho ngươi. Nghe ta nói kệ:
Ư pháp thật vô chứng,
Bất thủ diệc bất ly.
Pháp phi hữu vô tướng,
Nội ngoại vân hà khởi.
Dịch:
Nơi pháp thật không chứng,
Chẳng giữ cũng chẳng lìa.
Pháp chẳng tướng có không,
Trong ngoài do đâu khởi.
Nan-đề nghe kệ xong càng thêm cung kính. Nói kệ tán thán:
Thiện tai đại thánh giả,
Tâm minh du nhật nguyệt.
Nhất quang chiếu thế giới,
Ám ma vô bất diệt.
Dịch:
Lành thay! Bậc đại thánh,
Tâm sáng như nhật nguyệt.
Ánh sáng chiếu thế gian,
Ma tối diệt hết sạch.
Ngài ngồi trên tòa lặng lẽ thị tịch. Bốn chúng xây tháp cúng dường.
Sau đây là bài kệ truyền pháp:
Nơi pháp thật không chứng,
Chẳng giữ cũng chẳng lìa.
Pháp chẳng tướng có không,
Trong ngoài do đâu khởi.
Pháp chân thật không chứng không đắc, không năng chứng sở chứng là không còn kẹt hai bên. Chẳng giữ chẳng lìa là không chấp giữ cũng không buông ra. Pháp chân thật là chỉ cho tâm thể không tướng có không, thì làm sao phân biệt ở trong hay ở ngoài.
Ý bài kệ dạy tâm chân thật không có năng chứng sở chứng, rời cái giữ và bỏ, nó không có tướng mạo, nên không còn ranh giới trong và ngoài, gọi là tâm thể cứu cánh đầy khắp.
Ngài Nan-đề nghe rồi, cung kính nói kệ tán thán:
Lành thay! Bậc đại thánh,
Tâm sáng như nhật nguyệt.
Ánh sáng chiếu thế gian,
Ma tối diệt hết sạch.
Nan-đề tán thán Tổ là bậc đại thánh, tâm sáng như mặt trời mặt trăng, ánh sáng chiếu khắp cả thế giới, bọn ma tối đều bị diệt sạch. Ngày xưa thầy và trò gặp nhau là cái duyên rất hiếm có. Cho nên khi gặp rồi lời dạy và lời đối đáp đều được khế hợp, nhân đó người trò liền khế ngộ.
Truyền pháp xong, ngài ngồi trên tòa lặng lẽ thị tịch. Bốn chúng xây tháp cúng dường.
Ngài là hoàng tử con vua Bảo Trang Nghiêm ở thành Thất-la-phiệt. Ngài sanh chưa bao lâu đã biết nói, mà thường nói việc Phật pháp. Năm bảy tuổi, ngài chán thú vui ở đời, cầu xin xuất gia. Ngài nói kệ xin cha mẹ:
Khể thủ đại từ phụ,
Hòa-nam cốt huyết mẫu.
Ngã kim dục xuất gia,
Hạnh nguyện ai mẫn cố.
Dịch:
Cúi đầu lễ cha lành,
Nép mình lạy mẹ hiền.
Nay con muốn xuất gia,
Xin thương xót nhận cho.
Cha mẹ cố khuyên giải không cho. Ngài phải nhịn ăn nài nỉ cho kỳ được. Đối cùng cha mẹ thấy chí ngài quá mạnh không sao ngăn nổi, nên cho xuất gia với điều kiện ở một ngôi nhà riêng trong hoàng cung. Vua thỉnh Sa-môn Thiền-lợi-đa về dạy Phật pháp cho ngài. Từ đây ngài được pháp danh là Tăng-già-nan-đề. Ngài ở trong hoàng cung chín năm tu hành, mới được thọ giới Cụ túc. Một hôm, ngài tự cảnh tỉnh: Ta đã thọ giới Cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục này sao?
Ngài Nan-đề là một vị Bồ-tát sanh trong hoàng cung, là con vua, mới bảy tuổi đã phát tâm đi tu, xin cha mẹ bằng bài kệ lời lẽ rất dễ thương:
Cúi đầu lễ cha lành,
Nép mình lạy mẹ hiền.
Nay con muốn xuất gia,
Xin thương xót nhận cho.
Mới bảy tuổi xin xuất gia, cha mẹ cố khuyên và không cho. Ngài phải dùng chiêu tuyệt thực để phản đối đến khi nào cha mẹ cho mới thôi. Cha mẹ thấy không thắng được ý chí quá mạnh của ngài, đồng ý cho xuất gia với điều kiện là cất chỗ riêng cho ngài ở tu trong hoàng cung. Từ đó ngài được Sa-môn Thiền-lợi-đa dạy Phật pháp và có pháp danh là Tăng-già-nan-đề. Khi thọ giới Cụ túc rồi ngài tự cảnh tỉnh, Ta đã thọ giới Cụ túc mà còn ở trong nhà thế tục này sao?
Nhân lời cảnh tỉnh của ngài, tôi cảnh tỉnh tăng ni thêm một chút nữa. Bây giờ có lắm người thọ giới Cụ túc rồi, cũng kiếm nhà thế tục ở. Người thì ở cốc riêng, người thì ở nhà có phòng riêng v.v… như vậy hợp đạo lý chưa? Chỉ xuất gia có phân nửa là được cạo tóc, có hình thức người xuất gia, chứ chưa ra khỏi nhà thế tục. Nếu xuất gia mà ở tại nhà thì hình thức là người xuất gia, nhưng nơi ăn chốn ở chưa phải là chùa là tinh xá, như vậy chưa có vẹn toàn. Ngài được vua cha cất cho một cái nhà riêng ở trong hoàng cung mà ngài còn cảm thấy chưa hợp đạo lý, huống nữa một Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni mà ở trong nhà thế tục. Vậy mà vẫn cho là hợp đạo lý, thật đáng buồn thay!
Xuất gia nghĩa là ra khỏi nhà thế tục, ra khỏi nhà phiền não, ra khỏi nhà tam giới, người tu phải biết những điều đó. Chúng ta xuất gia điều đầu tiên là ra khỏi nhà thế tục mà ra không khỏi thì hai cái nhà kia chừng nào ra! Cho nên người tỉnh ngộ nếu ở trong một hoàn cảnh không hợp đạo lý thì phải nhanh chóng thoát ra. Như vậy mới có thể giác ngộ giải thoát.
Chợt một buổi chiều trời quang mây tạnh, ngài nhìn thấy một con đường bằng phẳng, ở xa đầu kia ló dạng ngọn núi xanh. Ngài liền cất bước nhắm hòn núi thẳng tiến. Đi đến dưới núi mà trời chưa tối, tự ngài tìm được thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm ấy ngài hai mươi sáu tuổi.
Sáng hôm sau, vua nghe mất Thái tử, cho người tìm kiếm khắp nơi không được. Bực mình, vua đuổi Sa-môn Thiền-lợi-đa ra khỏi thành.
Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm, mới có cơ duyên gặp tổ La-hầu-la-đa được truyền chánh pháp. Sau khi đắc pháp, ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc quần sanh.
Một hôm, ngài bảo đồ chúng:
– Thầy ta La-hầu-la-đa thường nói nước Ma-đề sẽ ra đời một vị thánh tên Già-da-xá-đa nối ta truyền pháp. Nay ta và các ngươi sang nước ấy tìm.
Ngài liền dẫn đồ chúng du hóa nước Ma-đề. Đang đi trong nước ấy, bỗng có một luồng gió mát lành từ phương tây thổi đến làm mát khỏe toàn chúng. Ngài bảo chúng:
– Đây là đạo đức phong, ba ngàn dặm về phía tây ắt gặp thánh nhân.
Thầy trò đi đến một hòn núi nhìn lên đánh có áng mây năm sắc. Ngài bảo chúng:
– Trên đỉnh núi có mây tía như cái lọng ắt là chỗ thánh nhân ở.
Lên đến đỉnh, quả nhiên thấy một mái nhà tranh nằm bên cạnh núi. Một đứa bé cầm gương tròn, đến trước bái ngài. Ngài hỏi:
– Ngươi bao nhiêu tuổi?
Đứa bé thưa:
– Trăm tuổi.
– Ngươi còn bé mà sao trăm tuổi?
– Tôi chẳng hiểu sao, chính tôi một trăm tuổi.
– Ngươi có căn cơ lành chăng?
– Phật đâu không nói kệ: “Nếu người sanh trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày mà được hiểu rành rõ.”
– Ngươi cầm gương tròn ý muốn làm gì?
Đứa bé nói kệ:
Chư Phật đại viên giám,
Nội ngoại vô hà ế.
Lưỡng nhân đồng đắc kiến,
Tâm nhãn giai tương tự.
Dịch:
Chư Phật gương tròn lớn,
Trong ngoài không tỳ vết.
Hai người đồng được thấy,
Tâm mắt đều giống nhau.
Chợt một hôm trời quang mây tạnh, ngài thấy một con đường bằng phẳng, xa xa ló dạng ngọn núi xanh, ngài đi phăng phăng ra khỏi cung điện, trốn lên núi ở. Gặp một thất đá rồi ngồi thiền nơi ấy. Năm đó ngài hai mươi sáu tuổi. Sáng hôm sau, vua nghe mất Thái tử, cho người tìm kiếm khắp nơi không được. Bực mình, vua đuổi Sa-môn Thiền-lợi-đa ra khỏi hoàng cung.
Ngài tu thiền ở đây ngót mười năm, sau đó mới đủ cơ duyên gặp Tổ, được truyền tâm ấn. Sau khi đắc pháp, ngài cùng đồ chúng du hóa khắp nơi làm lợi lạc quần sanh. Một hôm thầy trò đi đến một hòn núi nhìn lên đảnh có áng mây năm sắc. Ngài bảo đồ chúng: Trên đỉnh núi có mây tia như cái lọng ắt là chỗ thánh nhân ở.
Ngài tìm lên đến đỉnh núi thấy một mái nhà tranh. Một đứa bé cầm gương tròn, đến trước bái ngài. Ngài hỏi: Ngươi bao nhiêu tuổi? Đứa bé thưa: Trăm tuổi. Con nít mà trăm tuổi, lạ chưa!
Ngài hỏi: Ngươi còn bé mà sao trăm tuổi? Hỏi đó là theo lẽ thường. Chú bé nói tôi chẳng hiểu sao chỉ biết tôi một trăm tuổi vậy thôi. Tổ bảo: Ngươi có căn cơ lành chăng? Chú bé đáp: Phật đâu không nói kệ: Nếu người sanh trăm tuổi, không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày, mà được hiểu rành rõ.
Chú bé này căn cứ vào đâu mà nói trăm tuổi? Chú bé chỉ có chín mười tuổi mà hiểu Phật pháp, nên mới dám xưng là một trăm tuổi. Một trăm tuổi không phải một trăm tuổi đời, mà vì hiểu được Phật pháp, nên tự xưng mình một trăm tuổi. Điều này cho chúng ta thấy người xưa quý đạo, chứ không quý sống dai. Nếu sống dai mà không biết đạo thì thua người tuổi thọ rất ngắn mà thông hiểu đạo lý. Vì một ngày hiểu được Phật pháp là một ngày tránh được tội lỗi, biết tạo duyên lành là sống có giá trị. Nếu tuổi thọ kéo dài mà không thông hiểu đạo lý thì không có lợi ích. Đó là giá trị thật. Nên nói nếu người sanh trăm tuổi không hội được cơ duyên chư Phật, chẳng bằng sống một ngày mà được hiểu rành rõ.
Thấy tay chú bé cầm cái gương tròn, Tổ hỏi: Ngươi cầm gương tròn ý muốn nói gì? Chú bé trả lời bằng bài kệ:
Chư Phật gương tròn lớn,
Trong ngoài không tỳ vết.
Hai người đồng được thấy,
Tâm mắt đều giống nhau.
Gương lớn tròn của chư Phật trong và ngoài đều không bị vết nhơ che. Hai người đồng được thấy. Tâm mắt đều giống hệt nhau. Như vậy ý chú bé muốn nói gì? Nếu căn cứ vào Phật tánh thì Phật tánh không trong không ngoài, không nhiễm ô. Người ngộ được Phật tánh thì ngài và tôi tuy hai mà không khác. Tôi thấy Phật tánh, ngài cũng thấy Phật tánh, tâm mắt tôi và tâm mắt ngài không khác nhau. Như vậy chú bé này đã hiểu đạo, mới sanh ra liền biết gọi là “sanh nhi tri chi”, chứ khỏi cần ai giáo hóa.
Cha mẹ thấy đứa bé đối đáp hợp đạo như thế, đồng ý cho theo ngài làm thị giả, ngài nhận đứa bé dẫn về tinh xá cạo tóc thọ giới, cho hiệu là Già-da-xá-da.
Một hôm, gió thổi cái linh treo trên điện Phật khua động, ngài hỏi Xá-đa:
– Linh kêu hay gió kêu?
Xá-đa thưa:
– Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu, mà tâm con kêu.
– Tâm ngươi là gì?
– Đều lặng lẽ.
Hay thay! Ngươi khéo hội lý Phật, nên nói pháp yếu, nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai?
Ngài liền nói kệ:
Tâm địa bản vô sanh,
Nhân địa tùng duyên khởi.
Duyên chủng bất tương phương,
Dịch:
Hoa quả điệc phục nhĩ.
Đất tâm vốn không sanh,
Nhân đất từ duyên khởi.
Duyên giống chẳng ngại nhau,
Hoa trái cũng như thế.
Nói kệ xong, ngài nắm cành cây mà hóa.
Đồ chúng bàn nhau: “Thầy ta diệt độ ở dưới tàng cây, cũng là điềm che mát cho người sau.” Liền làm lễ hỏa táng tại đây.
Khi thấy ngài đối đáp lanh lẹ, cha mẹ mới cho ngài theo Tổ xuất gia. Tổ đặt hiệu là Già-da-xá-đa. Một hôm, nghe gió thổi linh kêu, Tổ hỏi: Linh kêu hay gió kêu? Ngài đáp: Chẳng phải linh kêu, chẳng phải gió kêu, mà tâm con kêu. Tổ liền hỏi: Tâm ngươi là gì? Đó là câu hỏi rất thiết yếu. Ngài đáp: Đều yên lặng. Chỗ không có một niệm sanh diệt thì yên lặng. Chính chỗ hoàn toàn lặng lẽ đó là tâm. Câu đáp này cho chúng ta thấy ngài đã hiểu đạo, không còn nghi ngờ gì hết.
Tại sao ngài không nói linh kêu hay gió kêu như hai ông đạo ở chùa Pháp Tánh nói phướn động gió động, mà ngài nói là tâm con kêu? Tất cả pháp gốc từ tâm sanh. Vì từ tâm sanh nên tất cả pháp đều là tâm, không mắc kẹt ở các tướng bên ngoài. Do thấy tất cả đều là tâm nên nói tâm kêu. Thành ra chữ tâm kêu của ngài không phải là tâm phân biệt, mà chính là thấy tất cả pháp gốc từ tâm, không một pháp nào ngoài tâm mà có.
Chú bé đáp như vậy cho nên Tổ khen: Hay thay! Ngươi khéo hội lý Phật nên nói pháp yếu, nối đạo cho ta, chẳng phải ngươi còn ai?
Ngài liền nói kệ truyền tâm ấn:
Đất tâm vốn không sanh,
Nhân đất từ duyên khởi.
Duyên giống chẳng ngại nhau,
Hoa trái cũng như thế.
Bài kệ này đơn giản nhưng ý nghĩa rất thâm sâu. Đất tâm vốn không sanh, vì tâm lặng lẽ thì đâu có sanh. Nhưng đất có ra là từ duyên mà có, chứ không phải bỗng dưng. Hạt giống và duyên đất, cả hai không ngại nhau, nó tương trợ giúp đỡ cho nhau mới được kết quả thành hoa trái.
Trên phương diện cứu cánh thì đất tâm không sanh, nhưng trên tương đối thì có đất có giống, từ đó có hoa trái. Bốn câu kệ trên nói lên hai mặt. Về mặt thể thì các pháp thanh tịnh lặng lẽ. Về mặt tướng dụng thì do duyên hợp sanh ra muôn thứ. Muôn thứ từ duyên hợp nên không chướng ngại nhau. Như hạt lúa bỏ xuống đất, nhờ đất mà hạt lúa nảy mầm để có bông lúa. Cũng vậy, tất cả sự vật tương đối hỗ trợ nhau thành ra muôn sự muôn vật. Tuy muôn sự muôn vật hiện có mà thể tánh vốn Không, nên nói đất tâm vẫn lặng lẽ. Như vậy từ bản tâm bất sanh bất diệt khởi ra diệu dụng khôn lường, từ diệu dụng đó mà sanh tất cả pháp thiện ác, Bồ-đề, Niết-bàn…
Nói kệ xong, Tổ nắm cành cây thị tịch. Đồ chúng thấy Thầy mình tịch như thế bàn với nhau rằng: Thầy ta diệt độ dưới tàn cây cũng là điềm che mát cho người sau. Liền làm lễ hỏa táng tại đây.
Chúng ta thấy chư tổ ngày xưa ra đi tự tại. Vị thì ngồi kiết già ngay thẳng thị tịch, vị thì nắm cành cây thị tịch, vị thì đứng thị tịch. Trong thiền môn có nhiều cách thị tịch nhàn nhã vui vẻ. Ở đây Tổ thị tịch dưới tàn cây, đó là hình ảnh rất đẹp nói lên tinh thần từ bi cứu khổ của Tổ không dừng nghỉ, tuy chết rồi cũng tạo duyên lành để người sau được lợi ích.
Ngài họ Uất-đầu-lam ở nước Ma-đề, cha hiệu Thiên Cái, mẹ là Phương Thánh. Bà Phương Thánh thọ thai, một đêm mộng thấy có người cầm gương báu đến nói: “Tôi đến.” Bà chợt tỉnh giấc, nghe toàn thân nhẹ nhàng thanh thản, khác hơn ngày thường. Trong nhà có mùi hương lạ, vài lần hào quang xuất hiện. Bảy ngày sau bà sanh ra ngài. Thân ngài trong sáng giống như lưu ly.
Ngài thích chỗ vắng vẻ, nói ra những lời siêu việt. Nhà cha mẹ ngài ở trên núi Bảo-lạc-ca. Sau khi ngài ra đời, ngôi nhà này luôn luôn có áng mây tía che đậy trên không. Tổ Tăng-già-nan-đề nhân thấy áng mây ấy, tìm đến gặp ngài. Từ đó, ngài theo làm đệ tử Tổ.
Về sau, ngài được Tổ truyền tâm ấn và thống lãnh đồ chúng. Tùy duyên, ngài đi vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi ích cho quần sanh.
Khi tuổi đã già, ngài du hóa đến nước Nguyệt Chi. Trong nước này có người dòng Bà-la-môn tên Cưu-ma-la-đa tuổi được ba mươi tu theo ngoại đạo, chủ thuyết tự nhiên. Ông có nuôi một con chó, mỗi khi ăn xong, con chó ra hành lang dưới tấm rèm nằm. Có những khi mưa gió ướt cả mình, mà nó vẫn nằm đó. Người nhà sợ nó lạnh đuổi đi chỗ khác, rồi nó cũng trở lại chỗ đó nằm. Cưu-ma-la-đa lấy làm lạ, đem việc này hỏi thầy ông, nhưng không giải được điều gì. Ông mong có dịp gặp những bậc tu hành đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.
Ngài cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn này, bỗng thấy khí Đại thừa xông lên, ngài dừng lại bảo chúng:
– Khí này nếu vòng tròn như khoen đeo tai là có Bồ-tát bên cạnh. Nay khí này tương tự vòng tròn ắt có thánh nhân ở gần đây.
Thầy trò đi một đỗi, bỗng có người Bà-la-môn đến hỏi thị giả: “Thầy đây là người gì?” Thị giả đáp: “Là đệ tử Phật.” Người ấy liền chạy thẳng vào nhà đóng cửa lại. Ngài đi theo đến nơi gõ cửa. Trong nhà nói vọng ra:
– Nhà này không có người.
Ngài hỏi:
– Đáp không người đó là ai?
Cưu-ma-la-đa nghe nói có vẻ lạ, nghi là bậc đạo hạnh bèn mở cửa ra thấy ngài, ông chào và thỉnh ngồi ghế giữa, đoạn đem nghi vấn về con chó ra hỏi. Ngài giải thích:
– Con chó này là cha của ông, bởi có chút ít nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn đính vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người chết, chưa gặp ông để trối lại, vì còn tiếc của này nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào lấy được, ắt nó sẽ bỏ đi.
Cưu-ma-la-đa liền cho người đào chỗ con chó nằm, quả nhiên được hũ vàng đúng như lời ngài nói. Ông hết lòng kính phục phát nguyện xuất gia. Ngài hoan hỷ chấp nhận làm lễ xuất gia thọ giới và cho làm thị giả.
Vị Tổ này ra đời có rất nhiều điềm lạ, như chúng ta đã đọc trong phần chánh văn. Ở đây chỉ nhắc lại nhân duyên trước khi sanh ngài ra. Mẹ ngài nằm mộng thấy có người cầm gương báu đến nói: “Tôi đến.” Bà chợt tỉnh dậy thì cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng khỏe khoắn, bảy ngày sau sanh ra ngài. Điều này những vị nào đã làm mẹ thì có kinh nghiệm. Thường các bậc thánh nhân nương tựa vào thai mẹ, người mẹ luôn luôn có những hiện tượng tốt như thích ăn chay, thích làm việc thiện, thì biết rằng đứa con ra đời sau này sẽ có chủng tử lành.
Thân ngài trong sáng giống như lưu ly, ưa thích chỗ vắng vẻ, thường nói ra những lời siêu việt. Ngôi nhà ngài ở luôn có áng mây tía che. Tổ Tăng-già-nan-đề nhân thấy áng mây ấy, tìm đến gặp ngài. Sau đó, ngài xuất gia làm đệ tử Tổ.
Sau khi được Tổ truyền tâm ấn, ngài thống lãnh đồ chúng vân du khắp nơi để giáo hóa làm lợi ích cho quần sanh. Đến nước Nguyệt Chi, có Bà-la-môn tên Cưu-ma-la-đa, ba mươi tuổi tu theo chủ thuyết tự nhiên của ngoại đạo. Nhà ông có nuôi một con chó, mỗi khi ăn xong, nó ra hành lang dưới tấm rèm mà nằm. Những khi mưa gió ướt mình nó vẫn nằm đó. Cưu-ma-la-đa lấy làm lạ, đem việc này hỏi thầy nhưng thầy không giải thích được. Ông mong gặp những bậc tu hành đạo đức cao cả để nhờ giải nghi.
Tổ cùng đồ chúng đi đến gần nhà người Bà-la-môn này, ông thấy đệ tử Phật nên không thích không muốn gặp, bèn chạy vô nhà đóng cửa lại, nhưng Tổ cũng không bỏ qua liền đến gõ cửa, trong nhà Cưu-ma-la-đa nói vọng ra rằng: Nhà này không có người. Khi đáp như vậy là đã lên tiếng có người rồi. Vì vậy mà Tổ hỏi: Đáp không người đó là ai? Ông không trả lời được nên đành mở cửa ra, mời Tổ vô nhà ngồi. Nhân đó đem câu chuyện con chó mà hỏi. Tổ liền giải thích:
– Con chó này là cha của ông, bởi có chút ít nghiệp nên đọa làm súc sanh. Xưa kia cha ông đem cả ngàn đinh vàng để trong cái hũ lén chôn dưới rèm. Đến khi người chết, chưa gặp ông để trối lại, vì còn tiếc của này nên sanh ra làm chó để gìn giữ. Nếu ông đào lấy được, ắt nó sẽ bỏ đi.
Cưu-ma-la-đa cho người đào chỗ con chó nằm, quả nhiên được hũ vàng đúng như lời ngài nói.
Tổ đã thấu triệt lý nhân quả, thấy rõ được sự thật mới dám kể lại chuyện này, để người có niềm tin mà giáo hóa họ. Nếu không có bằng chứng mà nói con chó là cha, họ không tin nhân quả rồi nổi sân cự lại. Do đó, khi nghe Tổ giải thích ông hết lòng kính phục, phát nguyện xin xuất gia.
Nghe câu chuyện này, người không hiểu cho là mê tín. Nhưng người hiểu rõ lý luân hồi thì không có gì lạ. Bởi vì tâm còn luyến ái của cải, nhà cửa, đồ dùng quý báu… nên khi sắp chết sẽ tùy theo nghiệp mà trở lại. Nếu có phước thì trở lại làm người để giữ, vô phước trở lại làm súc vật để giữ của. Như trường hợp con chó nói trên, đó là cái gốc khổ của chúng sanh.
Thấy cơ duyên đã mãn, ngài kêu Cưu-ma-la-đa đến dặn dò:
– Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn trao cho tổ Ca-diếp truyền lần đến ta, nay ta truyền lại cho ngươi. Ngươi nghe ta dạy:
Hữu chủng hữu tâm địa,
Nhân duyên năng phát mạnh.
Ư duyên bất tương ngại,
Đương sanh sanh bất sanh.
Dịch:
Có giống có đất tâm,
Nhân duyên hay nảy mầm.
Đối duyên chẳng ngại nhau,
Chính sanh, sanh chẳng sanh.
Cưu-ma-la-đa cung kính vâng dạy, đảnh lễ lãnh thọ. Ngài dùng mười tám phép thần biến rồi viên tịch. Đồ chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Tổ thấy ngài Cưu-ma-la-đa thấu triệt đạo lý và cơ duyên giáo hóa của Tổ đã viên mãn, ngài liền nói kệ truyền pháp cho Cưu-ma-la-đa:
Có giống có đất tâm,
Nhân duyên hay nảy mầm.
Đối duyên chẳng ngại nhau,
Chính sanh, sanh chẳng sanh.
Có hạt giống có đất tâm, đầy đủ nhân duyên thì hạt giống nảy mầm. Vậy hạt giống, đất tâm là cái gì? Chúng ta ai cũng có sẵn tâm thể sáng suốt yên tịnh, gọi là tâm địa hay đất tâm. Tùy duyên mà gieo giống vào đất tâm, đầy đủ nhân duyên thì sanh trưởng, nhưng các duyên không làm chướng ngại nhau. Tại sao chính khi sanh lại không có sanh? Nếu đạt lý nhân duyên thì không có thật sanh, thật tử. Bởi vì căn cứ vào lý nhân duyên thì tự tánh là Không, duyên hợp gọi là sanh, duyên tan gọi là tử. Cho nên khi sanh không có cái thật sanh, khi tử không có cái thật tử. Vì các pháp tự tánh như huyễn, thì có gì là sanh tử. Biết được sanh mà chẳng sanh là rõ được lý vô sanh.
Nghe bài kệ này rồi, ngài Cưu-ma-la-đa cung kính đảnh lễ thọ trì. Nói kệ truyền pháp xong, Tổ thị hiện mười tám phép thần biến rồi viên tịch. Đồ chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Ngài dòng Bà-la-môn ở nước Nguyệt Chi. Gia đình trước kia giàu có, song cha ngài vì bệnh tham tiếc chỉ một bề bo bo giữ của. Nhân việc con chó nằm ngoài rèm, gặp tổ Già-da-xá-đa giải nghi, ngài phát tâm theo đạo Phật, xuất gia thọ giới.
Ngài dòng Bà-la-môn ở nước Nguyệt Chi. Gia đình giàu có, cha ngài vì lòng tham, lúc sống một bề bo bo giữ của nên sau khi chết tái sanh làm con chó nằm ngoài rèm. Gặp tổ Già-da-xá-đa giải nghi, ngài phát tâm tu theo đạo Phật, xuất gia thọ giới.
Sau khi được tổ Xá-đa phó chúc và truyền tâm pháp, ngài vân du khắp nơi để hoằng pháp lợi sanh. ngài đi giáo hóa đến miền Trung Ấn, trên đường gặp một du khách tên Xà-dạ-đa đến lễ bái ngài.
Ông hỏi:
– Nhà con cha mẹ đều kính tin Tam bảo tu hành đúng pháp, mà sao nhiều bệnh hoạn, làm việc gì thất bại việc ấy. Hàng xóm gần nhà con, có người hung bạo giết hại làm ác càng ngày càng nhiều, mà thân thể khỏe mạnh, ra làm việc gì đều được như ý. Như vậy, nhân quả nghiệp báo đâu không phải nói suông ư? Con rất nghi lẽ này, mong Ngài giải nghi.
Vấn đề nhân quả này cũng có lắm người nghi ngờ, vì cũng có những trường hợp giống như thế. Có người ăn hiền ở lành nhưng làm ăn thất bại, bệnh hoạn liên miên. Có người làm ác mà khỏe mạnh, ra làm ăn thì làm đâu được đó.
Ngài bảo:
– Phật nói nghiệp báo thông cả ba đời, bởi do đời trước tạo nghiệp lành nên đời này hưởng quả lành. Dù đời này có làm ác thì quả ác sẽ chịu ở đời sau. Cho nên, có người đời này tuy làm lành mà đời này không được hưởng quả lành, vì nghiệp ác trước mạnh hơn. Có người đời này tuy làm ác mà không chịu quả ác, vì nghiệp lành trước mạnh hơn. Nếu đời này không được quả lành rồi lại tạo ác, thì đời sau càng sa vào đường ác. Nếu đời này được quả lành rồi lại tạo lành thì đời sau càng tiến trên đường lành. Lại có người đời trước làm lành được nửa đời, đổi sang làm ác, đến đời này nửa đời trước hưởng phước, nửa đời sau mắc họa. Hiện nay cha mẹ ông và người hàng xóm lẽ báo ứng thiện ác cũng giống như thế, bởi nghiệp đời trước chiêu cảm nên vậy. Đâu thể căn cứ trong hiện đời mà hiểu được?
Dạ-đa nghe giảng giải liền tan hết nghi ngờ.
Phật nói nghiệp báo thông cả ba đời, bởi do đời trước tạo nghiệp lành nên đời này hưởng quả lành. Dù đời này có làm ác thì quả ác cũng sẽ chịu ở đời sau. Cho nên có người đời này tuy làm lành, mà đời này không hưởng được quả lành vì nghiệp ác trước mạnh hơn. Nghĩa là đời trước đã làm lành cho nên sanh ra đời này được hưởng quả lành. Nhưng ngay nơi đời này không tiếp tục làm lành mà lại làm ác, khi làm ác đó quả báo chưa chín muồi cho nên vẫn còn được hưởng quả lành của đời trước.
Có người đời này tuy làm ác mà không chịu quả ác, vì nghiệp lành trước mạnh hơn. Nếu do đời này không được quả lành, rồi lại tạo ác, thì đời sau càng sa vào đường ác. Nếu hiện giờ chúng ta đang làm lành mà chịu những quả khổ, là vì quả xấu đời trước mạnh hơn, khi nó đến chúng ta phải trả. Còn nhân lành bây giờ sau kia mới hưởng, chứ không thể hưởng ngay trong đời này được. Như có một số người ăn hiền ở lành, biết làm phước sợ tội lại gặp những việc không như ý rồi mất niềm tin. Mất niềm tin rồi không cố gắng làm lành mà trở lại làm ác. Như vậy đời trước mình đã tạo ác cho nên bây giờ phải chịu quả xấu. Nhân ác trước kia trả chưa hết, cái ác sau lại thêm thì sớm muộn gì cũng vào đường dữ.
Nếu đời này được quả lành rồi lại tạo lành, thì đời sau càng tiến trên đường lành. Như vậy trước lành sau lành càng ngày càng lành.
Khi hiểu được lý nhân quả, chúng ta gặp việc xấu không buồn, bởi vì gặp việc xấu là biết do nhân xấu của thời quá khứ, vui vẻ nhẫn nại chịu đựng can đảm mà trả, cố gắng làm lành để sau này được hưởng quả tốt. Gặp điều vui không ngã mạn vì biết đó là nhân lành của quá khứ, không nên ỷ lại mà phải ráng làm lành thêm nữa. Như vậy, cả hai trường hợp đều cố gắng nỗ lực vì thấu suốt lý nhân quả. Đó là nhân quả qua ba đời.
Lại có người đời trước làm lành được nửa đời, đổi sang làm ác, đến đời này nửa đời trước hưởng phước, nửa đời sau mắc họa. Như đời trước có người sống sáu mươi tuổi. Ba mươi tuổi đầu làm lành, từ ba mươi tuổi trở về sau làm ác. Cho nên bây giờ sanh ra được làm người, thì ba mươi tuổi đầu hưởng phước, từ ba mươi tuổi về sau chịu tai họa.
Chúng ta thấy có lắm người thuở nhỏ làm con nhà giàu, lớn lên trở thành những người lam lũ cực khổ vất vả, đó là tại vì đời trước làm lành có nửa đời, về sau lại làm ác. Lại có người thuở nhỏ vất vả cực khổ mà sau lại sung sướng, là do làm ác nửa đời trước, nửa đời sau lại làm lành. Cho nên nửa phần trước gặp lành, nửa phần sau gặp dữ, hoặc nửa phần trước gặp dữ nửa phần sau gặp lành, thay đổi bất thường. Đó là nói nửa đời.
Nhân quả còn có thể xảy ra từng năm, từng tháng từng ngày. Nghĩa là năm này làm ác thì năm tới mắc quả báo xấu. Năm nay làm thiện thì sang năm gặp quả báo tốt. Giả sử cả một đời làm ác, chỉ có một lúc làm thiện, thì trong một thời gian ngắn nào đó, cũng có một quả tốt chen vô không mất.
Tổ kết luận, hiện nay cha mẹ ông và người hàng xóm lẽ báo ứng thiện ác cũng giống như thế, bởi nghiệp đời trước chiêu cảm nên vậy. Đâu thể căn cứ trong đời hiện tại mà hiểu được? Có một số người thiển cận khi nghe lý nhân quả chỉ hiểu trong đời này. Nói rằng ở nhà ba tôi thường làm điều lành mà cả đời gặp khổ. Liền lấy cớ đó rồi không chịu làm lành nữa, nhưng không biết đó là cái họa của quá khứ để lại. Rồi có người thấy ông A thường làm điều ác nhưng cả đời vẫn sung sướng, tưởng rằng không có nhân quả, nhưng đâu ngờ đó là hưởng phước báo của quá khứ. Tổ dạy về lý nhân quả rất rõ ràng, Dạ-đa nghe xong liền tan hết nghi ngờ.
Ngài dạy thêm:
– Tuy ông đã tin nghiệp ba đời, mà chưa rõ nghiệp từ hoặc sanh, hoặc nhân thức có, thức y nơi bất giác, bất giác y nơi tâm. Song tâm vốn thanh tịnh, không sanh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn kém, lặng lẽ linh thông. Ông nếu vào pháp môn này có thể đồng với chư Phật, tất cả thiện ác, hữu vi vô vi đều như mộng huyễn.
Dạ-đa nghe được lời này liền phát tuệ biết rõ nhân đời trước, bèn xin xuất gia.
Đó là Tổ chỉ cái vòng lẩn quẩn của nhân quả. Nghiệp từ đâu mà có? Từ mê lầm mà có. Nên nói nghiệp từ hoặc sanh. Mê lầm từ cái gì mà có? Từ thức mà có. Thức từ cái gì mà có? Từ cái bất giác, tức là vô minh ban đầu. Bất giác khởi niệm, nhưng bất giác từ đâu mà có? Y nơi tâm mà có. Như vậy từ nghiệp cho tới cái cuối cùng của nó là tâm. Nhưng tâm thể thanh tịnh không sanh diệt, không tạo tác, không báo ứng, không hơn kém, lặng lẽ linh thông.
Cho nên chúng ta hiểu được lý đạo thì ngay nơi cái bất giác niệm khởi đầu tiên, gọi là hoặc là cái mê lầm. Bất giác là vọng khởi nơi tâm. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, chúng ta không biết sáu căn sáu trần đều hư giả, lại lầm nhận căn trần là thật. Lầm nhận như thế mới tạo nghiệp, do tạo nghiệp nên có khổ chán v.v…
Hoặc là mê lầm, không thấy rõ sáu căn sáu trần như mộng huyễn cho nên bất giác niệm khởi. Bất giác niệm khởi là từ tâm thanh tịnh dấy vọng tưởng lên. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần biết không đúng sự thật đó là mê hoặc, còn gọi là vô minh bất giác. Bất giác là cái vọng khởi lên từ nội tâm, nội tâm không có hai, mà do dấy vọng phân biệt ngoại trần, cho nên bất giác thấy hai. Như vậy, bất giác là cái vọng động của tâm, nếu chúng ta muốn hết bất giác thì trước tiên phải dùng trí tuệ Bát-nhã phá mê hoặc, hết mê hoặc thì không còn tạo nghiệp. Không còn tạo nghiệp thì hết khổ.
Vì soi thấy sáu căn sáu trần là như huyễn, thân này là giả, cảnh này là giả thì đâu có yêu ghét mà tạo nghiệp. Cho nên phá hoặc thì dứt nghiệp. Bởi vì phá hoặc rồi, thì không bị vọng thức lôi kéo, mê hoặc hết thì vọng thức cũng chìm, vọng thức chìm thì cái bất giác trở về tâm thanh tịnh.
Chúng ta tu theo thiền tông là dùng trí tuệ Bát-nhã phá mê hoặc, bất giác lặng đi thì tâm thể hiện tiền. Như vậy là biết được cội nguồn của sự tu. Nếu người vào pháp môn này có thể đồng với chư Phật, tất cả thiện ác, hữu vi vô vi đều như mộng huyễn.
Dạ-đa nghe lời này liền phát tuệ, biết rõ nhân đời trước bèn xin xuất gia.
Ngài hỏi:
– Ông người xứ nào? Cha mẹ còn chăng? Nếu thật tâm cầu đạo, nên trở về nhà xin với cha mẹ, xin xong trở lại cũng chẳng muộn.
Dạ-đa thưa:
– Con là người Bắc Ấn, cách đây hơn ba ngàn dặm, đâu thể trở lại được. Xin thỉnh Ngài đến xứ con, cho gia đình con cúng dường và nhân đó con được xuất gia.
Ngài bằng lòng, thầy trò và đồ chúng đồng sang Bắc Ấn. Đến nhà, Dạ-đa xin phép cha mẹ được xuất gia. Ngài làm lễ xuất gia và truyền giới Cụ túc cho Dạ-đa tại một ngôi tháp cổ, nơi quê hương của Da-da.
Một hôm, ngài gọi Dạ-đa đến dặn dò:
– Xưa Phật ghi rằng ngươi sẽ làm Tổ thứ hai mươi, nay ta trao pháp nhãn tạng cho ngươi, ngươi khéo giữ gìn và truyền bá. Nghe ta nói kệ:
Tánh thượng bản vô sanh,
Vị đối cầu nhân thuyết.
Ư pháp ký vô đắc,
Hà hoài quyết bất quyết.
Dịch:
Trên tánh vốn không sanh,
Vì đối người cầu, nói.
Nơi pháp đã không được,
Đâu cần giải chẳng giải.
Lại dặn:
– Kệ này là lời diệu, do Như Lai thấy tánh thanh tịnh nói ra, ngươi nên vâng giữ.
Dạ-đa cung kính đảnh lễ vâng dạy.
Ngài ngồi ngay trên tòa chắp tay hở ra như hoa sen nở, phóng hào quang sáng suốt soi khắp trong chúng, rồi yên lặng thị tịch. Toàn chúng xây tháp phụng thờ.
Khi Dạ-đa xin xuất gia, Tổ bảo: Nếu thật tâm cầu đạo phải về nhà xin phép cha mẹ. Nhân đó ngài thỉnh Tổ về quê để gia đình được cúng dường. Tổ làm lễ xuất gia và truyền giới Cụ túc cho Dạ-đa tại một ngôi tháp cổ, nơi quê hương của ngài.
Một hôm, Tổ gọi Dạ-đa đến dặn dò và nói kệ truyền pháp:
Trên tánh vốn không sanh,
Vì đối người cầu, nói.
Nơi pháp đã không được,
Đâu cần giải chẳng giải.
Bản tánh của tất cả chúng sanh vốn là vô sanh. Nhưng vì những người cầu pháp mà gượng nói thôi. Người thấy được bản tánh thì đối với tất cả pháp không có năng đắc và sở đắc, đâu còn gì nghi ngờ mà nói giải quyết hay không giải quyết.
Tổ lại dặn: Kệ này là lời diệu, do Như Lai thấy tánh thanh tịnh nói ra, ngươi nên vâng giữ. Dạ-đa cung kính đảnh lễ vâng dạy.
Tổ ngồi ngay trên tòa chắp tay hở ra như hoa sen nở. Bình thường chúng ta chắp tay hoa sen búp. Nhưng ở đây Tổ chắp tay hoa sen nở, rồi phóng hào quang soi khắp trong chúng, yên lặng thị tịch. Thật là hiếm có! Toàn chúng xây tháp phụng thờ.
Ngài người Bắc Ấn, trước đã sẵn lòng mến đạo, thông hiểu đạo lý. Nhân du lịch miền Trung Ấn gặp tổ Cưu-ma-la-đa, ngài nhờ giải nghi, rồi phát tâm xuất gia. Sau được truyền tâm ấn.
Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa các nước, lần lượt đến thành La-duyệt. Trong thành này hiện có số đông chúng tăng học đạo. Nghe tin ngài đến, họ đua nhau đến yết kiến. Chúng đến trước nhất, người lãnh đạo là Bà-tu-bàn-đầu. Ông này tu hành tinh tấn suốt ngày đêm không nằm và sáu thời lễ bái, mặc y vá, ăn một bữa, lòng đạm bạc không mong cầu. Đồ chúng nhân đó rất kính trọng ông.
Ngài gọi đồ chúng bảo:
– Người khổ hạnh tu hành thanh tịnh này (Bà-tu-bàn-đầu) có thể được Phật đạo chăng?
Chúng đáp:
– Thượng nhân này tu hành tinh tấn như thế đâu không được đạo.
Ngài bảo:
– Người này cùng đạo xa vậy. Dù khổ hạnh trải qua nhiều kiếp, chỉ giúp cho gốc vọng, đâu thể chứng đạo!
Chúng hỏi:
– Nhân giả chứa đựng được pháp gì mà chê Thầy tôi?
Ngài đáp:
– Ta chẳng cầu đạo cũng chẳng điên đảo, ta chẳng lễ Phật cũng chẳng khinh mạn, ta chẳng ngồi mãi cũng chẳng lười biếng, chẳng ăn một bữa cũng chẳng nhiều bữa, ta chẳng biết đủ, cũng chẳng tham cầu.
Bà-tu-bàn-đầu nghe lời này vui vẻ nói bài kệ tán thán:
Khể thủ Tam-muội tôn,
Bất cầu ư Phật đạo,
Bất lễ diệc bất mạn
Tâm bất sanh điên đảo,
Bất tọa bất giải đãi,
Đản thực vô sở hảo,
Tuy hoãn nhi bất trì,
Tuy cấp nhi bất tháo,
Ngã kim ngộ chí tôn,
Hòa-nam y Phật giáo.
Dịch:
Đảnh lễ đấng Tam-muội,
Chẳng cầu được Phật đạo,
Chẳng lễ cũng chẳng khinh,
Tâm chẳng sanh điên đảo,
Chẳng ngồi chẳng lười biếng,
Chỉ ăn không cần ngon,
Tuy hoãn mà không chậm,
Tuy gấp mà chẳng thô,
Nay con gặp chí tôn,
Cúi đầu vâng Phật dạy.
Ngài người Bắc Ấn, trước đã thông hiểu đạo lý. Nhân du lịch miền Trung Ân gặp tổ Cưu-ma-la-đa, nhờ Tổ giải nghi về lý nhân quả liền phát tâm xuất gia. Sau đó được truyền tâm ấn.
Sau khi đắc pháp, ngài và đồ chúng du hóa các nước lần lượt đến thành La-duyệt. Nghe tin ngài đến chúng tăng đua nhau tới yết kiến. Người lãnh đạo là Bà-tu-bàn-đầu. Vị này tu hành tinh tấn, ngày ăn một bữa, mặc y vá, suốt ngày đêm sáu thời lễ bái không nằm, lòng đạm bạc không mong cầu gì cả, đồ chúng rất kính trọng.
Tổ hỏi đồ chúng: Người khổ hạnh tu hành thanh tịnh này, có thể được Phật đạo chăng? Đệ tử Bà-tu- bàn-đầu đáp: Thượng nhân này tu hành tinh tấn như thế đâu không được đạo. Tổ liền nói: Người này cùng đạo xa vậy, dù khổ hạnh trải qua nhiều kiếp chỉ giúp cho gốc vọng đâu thể chứng đạo. Lời nói đó là một nhát búa! Nếu chúng ta là người không biết tu nghe Tổ nói câu đó thì sao? Chắc không còn tỉnh táo để mà nghe nữa. Vậy mà ngài Bà-tu-bàn-đầu vẫn bình tĩnh nghe hết câu chuyện.
Đồ chúng của Bà-tu-bàn-đầu nghe nói vậy họ tức lắm liền hỏi lại: Nhân giả chứa đựng pháp gì mà chê Thầy tôi? Tổ đáp: Ta chẳng cầu đạo cũng chẳng điên đảo, ta chẳng lễ Phật cũng chẳng khinh mạn, ta chẳng ngồi mãi cũng chẳng lười biếng, chẳng ăn một bữa cũng chẳng nhiều bữa, ta chẳng biết đủ cũng chẳng tham cầu.
Người thế gian thì sống theo điên đảo, còn người tu thì phát tâm thiết tha cầu đạo. Ngài thoát ra hai thứ đó, không điên đảo không cầu đạo, là đã vượt qua thường tình rồi. Người tu thì một bề lễ Phật đó là tâm kính trọng; người thế gian nói Phật bằng gỗ bằng xi-măng, xem thường không lễ lạy, là tâm khinh mạn. Tổ thì đã vượt qua hai tâm kính trọng và khinh mạn.
Có người cho rằng ngồi mãi là khổ hạnh vô ích, rồi nằm mãi không lo tu, đó đều là bệnh. Nghĩa là không tinh tấn thì giải đãi, chứ không trung đạo. Người tu phải vượt qua hai bệnh quá tinh tấn và quá giải đãi. Tổ đã vượt ra ngoài tinh tấn và giải đãi nên nói không ngồi mãi cũng chẳng lười biếng. Người đời mê đắm món ngon vật lạ hoặc cầu thực ăn tạp đủ thứ, người tu ràng tâm khoái khẩu, ngày chỉ ăn một bữa. Tổ không gò ép cũng chẳng ăn tạp như người đời, ngài ăn chỉ ăn chẳng cầu ngon miệng, dùng bữa như thuốc chữa bệnh xót ruột.
Người thế gian thì tham cầu không biết đủ, người tu biết đạo thì biết đủ không tham cầu; một bên thì quá buông lung, một bên thì quá khắt khe. Ở đây Tổ vượt qua hai bệnh đó. Mới nghe coi như Tổ không tu gì hết, nhưng thật sự Tổ đã vượt qua tất cả đối đãi của phàm phu và nhị thừa. Đó là điều rất cao siêu.
Bà-tu-bàn-đầu nghe lời Tổ dạy rồi, vui vẻ nói kệ tán thán:
Đảnh lễ đấng Tam-muội,
Chẳng cầu được Phật đạo,
Chẳng lễ cũng chẳng khinh,
Tâm chẳng sanh điên đảo,
Chẳng ngồi chẳng lười biếng,
Chỉ ăn không cần ngon,
Tuy hoãn mà không chậm,
Tuy gấp mà chẳng thô,
Nay con gặp chí tôn,
Cúi đầu vâng Phật dạy.
Người có trí nhìn thì biết liền ai là người siêu việt, ai là người phàm tình. Ngài đã thấy Tổ là bậc siêu phàm chứ không phải người thường.
Ngài bảo chúng:
– Người tu hạnh đầu-đà này, bọn ngươi không thể bì kịp. Vì ông ấy kiếp trước tu hạnh bất khinh nên mới được như vậy. Vừa rồi ta chê ông, bởi thấy ông đạo tâm tha thiết, sợ e như sợi dây đàn thẳng quá phải đứt, nên ta không khen ông, muốn ông tiến đến chỗ vô sở đắc và dừng trụ nơi đất An Lạc.
Ngài lại gọi Bàn-đầu hỏi:
– Ta nói trái ý ông, tâm ông được chẳng động chăng?
Bàn-đầu thưa:
– Đâu dám động tâm. Tôi nhớ bảy đời về trước sanh cõi An Lạc, vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt Tịnh làm thầy. Thầy Nguyệt Tịnh dạy tôi: “Không bao lâu nữa ngươi sẽ chứng quả Tư-đà-hàm, nên siêng năng tinh tấn. Phàm tu hành như trèo lên cao, phải cố gắng tiến lần lên, không cho sụt xuống. Nếu lỡ có sụt, muốn trèo lên lại càng khó.”
Tổ nghe Bà-tu-bàn-đầu nói những lời kệ tán thán đã biết được chỗ siêu thoát của Bàn-đầu, nên bảo chúng rằng: Người tu hạnh đầu-đà này, bọn ngươi không thể bì kịp, vì ông kiếp trước tu hạnh bất khinh, nên mới được như vậy. Nhờ kiếp trước tu hạnh bất khinh, bây giờ bị chê không tức giận, còn chúng ta tu hạnh khinh mạn nên nghe chê thì nổi nóng liền. Cho nên người nào bây giờ nghe chê mà bình tĩnh là biết kiếp trước có tu hạnh bất khinh rồi. Còn người nào nghe nói một câu trái ý nổi nóng, đó là kiếp trước có gốc khinh mạn lớn lắm. Như vậy phải ráng tu nhiều hơn nữa mới được.
Vừa rồi ta chê ông, bởi thấy ông đạo tâm tha thiết, sợ e như sợi dây đàn thẳng quá phải đứt, nên ta không khen ông, muốn ông tiến đến chỗ vô sở đắc và dừng trụ nơi đất An Lạc. Tổ chê ngài đó là để chặn đứng bớt cái quá khích. Dừng nơi đất An Lạc là không mắc kẹt chỗ thái quá và bất cập.
Tổ lại hỏi Bàn-đầu: Ta nói trái ý ông, tâm ông được chẳng động chăng? Bàn-đầu đáp: Đâu dám động tâm. Nói trái ý là chê, nhưng ngài không dám động tâm. Nhân đó ngài thuật lại việc bảy đời về trước: Tôi nhớ bảy đời về trước sanh ở cõi An Lạc, vì mộ đạo nên thờ trí giả Nguyệt Tịnh làm thầy. Thầy Nguyệt Tịnh dạy tu hành như trèo lên cao, trèo lên đến đâu thì ráng giữ đến đó, có mệt thì ngồi nghỉ, nghỉ xong rồi thì trèo lên nữa. Như vậy mới đến đích. Nếu lên nửa chừng lỡ sảy chân tuột xuống thì mệt quá, muốn leo lên cũng không nổi. Cũng vậy người tu hành phải siêng năng tinh tấn, không được để lui sụt, nếu để lui sụt muốn tinh tấn trở lại thì khó lắm. Cho nên phải ráng cẩn thận.
Bởi vậy tôi hay nhắc tăng ni phải cố gắng tiến đều, đừng có khi trồi khi sụt, nếu lỡ lui sụt thì phải ráng tiến lên. Có nhiều người đến trước Phật phát nguyện “con sẽ thế này thế kia…” nghe hay lắm, nhưng ít hôm làm không được rồi thối tâm. Chúng ta đừng sợ, đừng thối tâm, lỡ làm không được như nguyện thì làm lại. Nếu bỏ cuộc luôn thì không bao giờ tới đích.
Lúc đó, tôi đã tám mươi tuổi, nương gậy mới có thể đi được. Khi ấy, gặp Bồ-tát Đại Quang Minh ra đời, tôi muốn đến lễ ngài, bèn đi đến tinh xá, lễ bái xong trở về. Chợt gặp thầy Nguyệt Tịnh quở trách tôi: “Dốt quá, tại sao ông lại khinh cha trọng con? Hôm trước ta thấy ông sắp được chứng quả, hôm nay đã mất.” Khi ấy tôi tự cho là không có lỗi, nên không phục những lời quở ấy. Tôi cầu xin thầy Nguyệt Tịnh chỉ lỗi cho. Thầy Nguyệt Tịnh dạy: “Vừa rồi ngươi đến đảnh lễ Bồ-tát Đại Quang, tại sao lại dựng cây gậy vào mặt Phật vẽ trên vách, ngươi do lỗi này nên sụt quả vị.” Tôi nhớ kỹ lại, thật đúng như lời thầy Nguyệt Tịnh quở.
Trong luật có dạy chúng ta vào chùa không được dựng gậy bên vách chùa là lấy cái tích này. Ở đây vách chùa có vẽ hình Phật mà ngài quên, chỉ nhớ lễ Bồ-tát nên để cây gậy ngay mặt Phật, như vậy khinh Phật là khinh cha, lễ Bồ-tát là trọng con, do đó mà lui sụt một quả vị. Quý Phật tử nên dè dặt, nhiều khi tới chùa gặp quý thầy kính trọng mà quên những vị ở chung quanh, đó cũng làm cho mình tổn phước.
Từ đó về sau, phàm có nghe lời nào, chẳng dám không tin. Dù bị những lời chửi mắng vẫn coi như gió thổi ngoài tai. Huống là, nay Tôn giả dùng chánh pháp chỉ dạy thì đâu dám phiền buồn. Cúi xin đấng đại từ thương xót đem đạo mầu chỉ dạy cho con.
Ngài liền dạy:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao cho ngươi, ngươi nên truyền bá chớ để dứt mất. Nghe ta nói kệ:
Ngôn hạ hợp vô sanh,
Đồng ư pháp giới tánh.
Nhược năng như thị giải,
Thông đạt sự lý cánh.
Dịch:
Nói ra hợp vô sanh,
Đồng cùng tánh pháp giới.
Nếu hay hiểu như thế,
Suốt thông sự lý tột.
Bà-tu-bàn-đầu lễ bái vâng lời dạy. Ngài ngồi ngay trên tòa lặng lẽ quy tịch. Chúng hỏa táng thu xá-lợi xây tháp phụng thờ.
Ngài không còn cứng cỏi như xưa nữa, dù có bị mắng chửi vẫn coi như gió thổi ngoài tai. Nhưng chúng ta thì sao? Giả sử bị mắng chửi thì có coi như gió thổi bên tai hay không? Nếu chưa được như vậy thì ráng được. Đừng nghĩ rằng khi người ta mắng chửi mà coi như gió thổi ngoài tai thì bị thiên hạ khinh khi. Mà không ngờ chính chỗ nhịn không được, đó là tự khinh mình.
Bởi vì công hạnh của ngài đã được như vậy, nên một phen nghe Tổ dạy liền thấm nhuần. Sau đó theo Tổ và được truyền tâm ấn bằng bài kệ:
Nói ra hợp vô sanh,
Đồng cùng tánh pháp giới.
Nếu hay hiểu như thế,
Suốt thông sự lý tột.
Ngay lời nói mà hợp với lý vô sanh, nên đồng với pháp giới tánh, tức là nhận được cái lý vô sanh, tâm rỗng rang khắp cả pháp giới. Nếu người hay hiểu được như thế, thông đạt sự lý đến chỗ tột cùng.
Sau khi được trao pháp, ngài Bà-tu-bàn-đầu lễ bái vâng làm. Tổ ngồi ngay trên tòa lặng lẽ quy tịch, đồ chúng hỏa táng thu xá-lợi xây tháp cúng dường.