Nội dung:
Ngài họ Tỳ-xá-khư ở nước La-duyệt, cha hiệu Quang Cái, mẹ là Nghiêm Nhất. Nguyên gia đình ông Quang Cái giàu có mà không con. Hai ông bà đồng đi lễ tháp Phật ở phía bắc thành La-duyệt để cầu con. Sau đó, bà mộng thấy nuốt hai hạt châu một sáng một tối. Kế bà biết mình có thai.
Một hôm có vị A-la-hán hiệu Hiền Chúng đến nhà. Ông Quang Cái ra đảnh lễ. Đến lượt bà ra lễ, tôn giả Hiền Chúng liền tránh qua một bên ra vẻ cung kính đáp lại.
Ông Quang Cái lấy làm lạ hỏi:
Tôi là trượng phu đảnh lễ Tôn giả chẳng nhượng, tại sao vợ tôi là phụ nữ mà Tôn giả lại kính nhượng?
Tôn giả Hiền Chúng đáp:
– Bởi ông là phàm phu nên tôi nhận ông lễ, còn vợ ông đang mang thai Bồ-tát là bậc pháp khí thượng thừa nên tôi cố tránh, không phải tôi trọng nữ khinh nam.
Ông Quang Cái tạ lỗi thưa:
– Tôn giả là bậc Thánh nhân hay biết việc chưa đến.
Sau quả nhiên bà Nghiêm Nhất sanh được hai người con trai một lượt. Người con lớn đặt tên là Bà-tu-bàn-đầu tức là ngài. Thuở bé, ngài ý chí siêu việt, đến mười lăm tuổi xin xuất gia với A-la-hán Quang Độ. Khi thọ giới được Bồ-tát Tỳ-bà-ha truyền cho. Ngài mộ hạnh của tổ Ca-diếp nên tu tập theo hạnh đầu-đà.
Lúc gặp tổ Xà-dạ-đa kích khởi phát sanh đại trí tuệ và được truyền pháp.
Ngài thống lãnh đồ chúng du hóa khắp nơi, lần lượt đến nước Na-đề. Vua Na-đề tên là Thường Tự Tại, sanh được hai người con trai. Người con lớn là Ma-ha-la đã bốn mươi tuổi, người con thứ là Ma-noa-la được ba mươi tuổi. Khi ngài đến nước này, vua thỉnh vào cung cúng dường. vua hỏi ngài:
– Phong tục nước tôi chắc không bằng phong tục thuần mỹ ở thành La-duyệt?
Ngài đáp:
– Ở thành La-duyệt xưa kia có phước đức được ba đức Phật ra đời, ở nước này hiện có hai vị hiền sĩ làm phước báu.
Vua hỏi:
– Hai vị hiền là ai?
Ngài đáp:
Xưa Phật thọ ký rằng: “Gần một nghìn năm sau Ta Niết-bàn, có một thần lực đại sĩ ra nối truyền chánh pháp tại nước Na-đề tên là Ma-noa-la”, là con thứ hai của bệ hạ. Còn bần tăng tuy đức mỏng cũng đảm đang một vị vậy.
Vua nghe hoan hỷ gọi thái tử Ma-noa-la đến, bạch với ngài:
– Con tôi đây đã được Phật thọ ký, cúi xin Tôn giả nhận cho nó xuất gia.
Ngài bảo:
– Vị hoàng tử này nếu không phải tôi làm Thầy, sau này không ai độ được.
Ngài liền triệu tập thánh chúng vào hoàng cung làm lễ xuất gia truyền giới cho Ma-noa-la. Ma-noa-la rất hoan hỷ được thọ lãnh giới pháp. Sau đó, ngài dẫn Ma-noa-la sang hóa đạo nước khác.
Vị Tổ này ra đời khoảng cuối thế kỷ thứ VIII, sau Phật Niết-bàn. Đọc qua lịch sử ngài có những điều rất dễ hiểu, nên không cần giảng nhiều. Ở đây chỉ nhắc lại giai đoạn ngài còn ở trong thai mẹ. Một hôm có vị A-la-hán hiệu là Hiền Chúng đến nhà. Cha ngài ra đảnh lễ, vị A-la-hán nhận lễ. Mẹ ngài ra đảnh lễ thì vị A-la-hán tránh qua một bên không dám nhận, đó là điều lạ thường. Cho nên cha ngài mới hỏi: Tôi là trượng phu đảnh lễ Tôn giả chẳng nhượng, tại sao vợ tôi là phụ nữ Tôn giả lại kính nhượng?
Ngày xưa các vị nam nhi tự xưng là trượng phu, bên phái nữ chỉ là phụ nữ thôi. Tại sao trượng phu không được kính, trái lại phụ nữ được kính trọng? Ngài giải thích: Bởi ông là phàm phu, nên tôi nhận ông lễ, còn vợ ông đang mang thai Bồ-tát, là bậc pháp khí thượng thừa nên tôi cố tránh, không phải tôi trọng nữ khinh nam. Như vậy để thấy rằng trước khi nhập thai, những vị Bồ-tát đã từng tu hành các ngài có sẵn chủng tử lành, do đó những vị chứng A-la-hán thấy biết không nghi ngờ.
Khi được mười lăm tuổi, ngài tỏ ra một con người phi thường siêu việt, được xuất gia với vị A-la-hán hiệu là Quang Độ, thọ giới với Bồ-tát Tỳ-bà-ha. Ngài đọc kinh điển thấy ngày xưa tổ Ca-diếp tu hạnh đầu-đà, ngài bắt chước tu theo, đó là duyên ban đầu của ngài.
Lúc gặp tổ Xà-dạ-đa nhắc lại duyên xưa, ngài liền thức tỉnh và phát tâm làm đồ đệ của Tổ và được truyền pháp. Sau khi được Tổ truyền pháp, ngài qua nước Na-đề gặp vua Thường Tự Tại có hai người con trai, người con thứ hai tên là Ma-noa-la, lúc đó ba mươi tuổi.
Nhà vua hỏi ngài: Phong tục nước tôi chắc không bằng phong tục thuần mỹ ở thành La-duyệt? Ngài đáp: Ở thành La-duyệt xưa kia có phước đức được ba đức Phật ra đời. Ở nước này hiện có hai vị hiền sĩ làm phước báu. Chúng ta thấy người xưa không đặt nặng cảnh bên ngoài đẹp xấu, mà chú trọng nơi nào có những bậc hiền thánh ra đời đó là nơi tốt đẹp. Bởi vậy ngài mới nói rằng ở thành La-duyệt có phước là do Phật ra đời, còn ở nước Na-đề có phước là có hai vị hiền sĩ ra đời.
Vua hỏi: Hai vị hiền đó là ai? Ngài đáp: Một là Ma-noa-la con thứ của Bệ hạ, hai là bần tăng đang có mặt ở đây. Vua nghe vậy hoan hỷ cho thái tử Ma-noa-la xuất gia theo ngài. Ngài bảo: Nếu vị hoàng tử này không gặp tôi thì không ai giáo hóa được.
Tổ liền triệu tập thánh chúng vào hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho Ma-noa-la. Ma-noa-la hoan hỷ thọ lãnh giới pháp. Sau đó, Tổ dẫn Ma-noa-la sang nước khác hóa đạo.
Một hôm, ngài gọi Ma-noa-la lại bảo:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai nay giao phó cho ngươi, ngươi phải gìn giữ truyền bá. Nghe ta nói kệ:
Bào huyễn đồng vô ngại,
Vân hà bất ngộ liễu.
Đạt pháp tại kỳ trung,
Phi kim diệc phi cổ.
Dịch:
Bọt huyễn dồng không ngại,
Tại sao chẳng liễu ngộ.
Đạt pháp ngay trong ấy,
Chẳng xưa cũng chẳng nay.
Truyền pháp xong, ngài đang ngồi trên tòa, bỗng thân vượt lên hư không, ngồi yên trên ấy.
Bốn chúng quỳ bạch:
– Chúng con muốn thờ xá-lợi, xin Tôn giả cho chúng con được thiêu lấy xá-lợi.
Thân ngài liền hạ xuống ngồi yên chỗ cũ. Chúng làm lễ hỏa táng thu lượm xá-lợi xây tháp phụng thờ.
Một hôm ngài gọi Ma-noa-la lại dặn dò:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai nay giao phó
cho ngươi, ngươi phải giữ gìn truyền bá. Nghe ta nói kệ:
Bọt huyễn đồng không ngại,
Tại sao chẳng liễu ngộ.
Đạt pháp ngay trong ấy,
Chẳng xưa cũng chẳng nay.
Bốn câu kệ này có hai ý quan trọng. Thứ nhất thấy rõ thân này như bọt như huyễn không có gì ngăn ngại, tại sao không liễu ngộ? Ý thứ hai ngay nơi thân huyễn hóa nhận ra bản tâm bất sanh bất diệt thì không còn lệ thuộc vào thời gian xưa nay.
Truyền pháp xong, Tổ đang ngồi trên tòa, bỗng nhiên thân vượt lên hư không, rồi ngồi yên trên ấy. Bốn chúng quỳ bạch: Chúng con muốn thờ xá-lợi, xin Tôn giả cho chúng con được như ý. Thân Tổ liền hạ xuống ngồi yên chỗ cũ. Chúng làm lễ hỏa táng thu lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Ngài dòng Sát-đế-lợi ở nước Na-đề, cha là Thường Tự Tại vua nước này. Ngài là con thứ của vua, khi sanh ra có nhiều điềm lạ, nên vua không dám lấy việc thế tục ràng buộc. Khi gặp tổ Bà-tu- bàn-đầu, ngài được ba mươi tuổi, vua cha cho phép xuất gia theo Tổ. Sau ngài được Tổ truyền tâm pháp.
Ngài sang Tây Ấn giáo hóa. Vua nước này họ Cù-đàm tên Đắc Độ hằng sùng Phật pháp tinh tấn tu hành. Bảy năm hành đạo ở trong cung, một hôm bỗng hiện một bảo tháp xanh huyền, bề cao một thước tư, ngay chỗ vua tu hành. Vua đích thân lại bưng lên để thờ, nhưng bưng không nổi, lính hộ vệ hợp lực nhắc lên cũng không lay chuyển. Sau cùng vua phải mở đại hội triệu tập tất cả lực sĩ, tăng sĩ, Phạm chí, chú thuật… để hỏi nguyên nhân bảo tháp xuất hiện và dời lên thờ. Trong cuộc hội này, ngài cũng đến dự.
Trước tiên những lực sĩ ra sức nhắc tháp lên không lay động. Kế các nhà chú thuật dùng thần chú cũng bất lực. Sau cùng ngài Ma-noa-la bước ra giải thích:
– Tháp này do vua A-dục tạo ra để thờ xá lợi của Phật. Bốn mặt đều có chạm hình tiền thân Phật Thích-ca khi còn làm hạnh Bồ-tát. Ngày nay do Đại vương có duyên phước lớn nên tháp này mới hiện.
Nói xong, ngài lại nhắc bảo tháp để trên bàn thờ. Vua và toàn chúng hết lòng kính phục.
Vua thưa:
– Xin Tôn giả dạy cho chúng tôi những Phật pháp gì cần học?
Ngài bảo:
– Muốn học Phật pháp phải bỏ ba vật và đủ bảy việc.
Vua thưa:
– Ba vật gì phải bỏ và đủ bảy việc gì?
Ngài đáp:
– Tham, sân, si là ba vật phải bỏ. Đủ bảy việc là: 1- Đại từ, 2- Hoan hỷ, 3- Vô ngã, 4- Dõng mãnh, 5- Nhiêu ích, 6- Hàng ma, 7- Vô chứng.
Vua Đắc Độ nghe xong cảm ngộ, rất tiếc mình được hiểu quá muộn. Tự than: “Bậc chí thánh khó gặp, sự vui trong đời có gì lâu dài!”
Vua cho đòi Thái tử đến giao hết việc nước, xin theo ngài xuất gia học đạo. Ngài triệu tập các vị thánh chúng đến hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho vua.
Xuất gia tu không bao lâu, vua Đắc Độ chứng được quả thánh. Ngài dạy Đắc Độ ở lại trong nước giáo hóa, còn ngài sang nước Nguyệt Chi tìm người kế truyền.
Tổ thứ hai mươi hai là Ma-noa-la, vị Tổ này có công lớn trong việc giáo hóa nhà vua và sau đó nhiếp thâu được một vị là Hạc-lặc-na ở một xứ khác.
Ngài dòng Sát-đế-lợi ở nước Na-đề, con thứ của vua Thường Tự Tại, khi sanh ra có nhiều điềm lạ nên vua không dám lấy việc thế tục để ràng buộc. Khi gặp tổ Bà-tu-bàn-đầu, ngài được ba mươi tuổi, vua cha cho phép xuất gia theo Tổ. Sau đó được Tổ truyền tâm ấn.
Sau khi đắc pháp, ngài sang Tây An giáo hóa. Vua nước này sùng mộ Phật pháp tinh tấn tu hành. Một hôm bỗng hiện một bảo tháp màu xanh huyền, bề cao một thước tư, ngay chỗ vua tu hành. Vua đích thân bưng lên để thờ, nhưng không nổi, lính hộ vệ hợp lực nhắc lên cũng không lay chuyển. Sau cùng vua phải mở đại hội triệu tập tất cả lực sĩ, tăng sĩ, Phạm chí, chú thuật… để hỏi nguyên nhân. Ngài cũng đến dự hội này.
Những lực sĩ, nhà chú thuật dùng thần chú ra sức nhấc tháp lên cũng không lay động. Sau cùng ngài bước ra giải thích và nhấc bảo tháp lên để nhà vua thờ, làm mọi người đều kính phục. Điều này chúng ta thấy có vẻ huyền bí, nhưng không có gì phải học. Điều đáng học là câu hỏi của nhà vua: Xin Tôn giả dạy cho chúng tôi Phật pháp gì cần học? Ngài bảo: Muốn học Phật pháp phải bỏ ba vật và đủ bảy việc. Điều này mới nghe qua đơn giản nhưng đạo lý rất thâm sâu. Bỏ ba vật là tham sân si. Người nào muốn học Phật pháp trước hết phải bỏ ba vật đó thì học Phật pháp mới được.
Chúng ta đang học Phật pháp mà bỏ tham sân si chưa? Nếu còn chứa nó trong lòng thì học Phật pháp bị chướng ngại. Vậy mà có nhiều người chưa chịu bỏ. Kế đến phải đủ bảy việc:
1- Lòng đại từ: Là thương xót tất cả chúng sanh. Đại từ là do dứt tâm sân giận nên có tâm thương tất cả chúng sanh. Người tu bỏ được tâm sân thì phát triển tâm đại từ.
2- Hoan hỷ: Hoan hỷ là do dứt tâm tật đố. Khi bớt được tâm sân, nhưng tâm tật đố chưa chắc bớt được. Như khi nghe người khác được điều may mắn thì lòng mình không vui, vì phần nhiều là thích mình được hoặc những người thân của mình được, chứ không thích người khác được. Nhất là kẻ thù mình mà được thì tức tối khó chịu vô cùng. Người có tâm hoan hỷ thì không cho phép mình sống như thế, vì nếu còn tâm tật đố thì không có tâm hoan hỷ. Cho nên đối với bất cứ người nào họ được điều may mắn tốt đẹp, thì chúng ta đều vui vẻ như mình được, đó gọi là tâm hoan hỷ. Như vậy phải tu khá lắm mới có tâm hoan hỷ.
3- Vô ngã: Thấy thân này không thật, không chủ tể do duyên hợp tạm có, đủ duyên thì thành thân, thiếu duyên thì tan hoại. Người tu phải phá được ngã chấp thì mới phá được si mê. Mỗi đêm chúng ta tụng kinh Bát-nhã có câu Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, soi thấy năm uẩn đều không thật, không thật tức là vô ngã, luôn luôn thấy được như vậy.
4- Dõng mãnh: Là luôn luôn tinh tấn không lui sụt. Bởi vì chúng ta thương thân mình nhiều lắm, nên nghe tụng kinh ngồi thiền cũng muốn tu, nhưng bữa nào khỏe thì tụng kinh ngồi thiền, bữa nào hơi mệt thì nghỉ, vì thương mình sợ nó đau nên lo bảo vệ. Thế gian thường nói cưng như trứng hứng như hoa. Nghĩa là những cái mỏng manh tạm bợ thì phải cẩn thận tối đa để gìn giữ. Nhưng gìn giữ cho đáo để rồi bảy tám chục năm nó cũng hoại. Do vậy người tu lúc nào cũng phải dõng mãnh tinh tấn, dù thân có mệt nhọc cũng không quan trọng, chỉ làm sao đạt được đạo mới là trên hết.
5- Nhiêu ích: Luôn luôn nghĩ tới làm lợi ích cho mọi người, đó là điều quan trọng.
6- Hàng ma: Hàng ma không phải học bùa học chú để trị ma, mà phải dẹp sạch tất cả vọng tưởng điên đảo phiền não trong lòng mình. Đó là ma tham ma sân ma si, người tu phải hàng phục cho được mấy con ma này. Hàng ma đây là điều phục những con ma từ trong nội tâm dấy khởi, chúng ta chịu khó ngồi lại sẽ thấy.
7- Vô chứng: Là không có năng chứng sở chứng. Người tu phải nhận ra cái chân thật sẵn có ở nơi mình. Vì si mê chúng ta chạy theo tâm hư vọng mà quên tâm chân thật nên mới làm chúng sanh, chìm đắm trong luân hồi sanh tử. Nếu nhớ lại nhận ra mình có tâm chân thật thì hết đi trong sanh tử. Cái sẵn có của mình, bây giờ nhớ lại sống với nó không phải do tu mới được, không phải từ đâu đến, cho nên gọi là vô chứng.
Tổ dạy người học Phật pháp phải đầy đủ bảy việc và bỏ ba vật như trên. Bây giờ chưa nói đầy đủ bảy việc, chỉ nói bỏ ba vật chúng ta đã bỏ được chưa? Bởi vì còn chứa ba vật tham sân si trong lòng nên nghe kinh học đạo không thấm mà bị dội ra. Cũng như cái bình chứa đầy nước thì đổ cái khác vô không được. Trong tâm mình còn chứa tham sân si nên không thể thấm nhuần đạo lý.
Biết rồi khi bắt đầu tu ráng buông xả tham sân si thì bảy việc kia khả dĩ mới có đủ. Nhà vua đã buông xả được ba vật trước, nên khi nghe nói tới bảy việc thì ngài liền tự than: Bậc chí thánh khó gặp, sự vui trong đời có gì lâu dài! Làm vua mà cảm thấy như vậy thì thật là hiếm có! Vua liền giao việc nước cho Thái tử rồi theo Tổ xuất gia học đạo.
Tổ triệu tập những vị thánh chúng đến hoàng cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho nhà vua. Xuất gia không bao lâu nhà vua đắc thánh quả. Tổ dạy vua ở lại trong nước để giáo hóa, còn ngài thì sang nước Nguyệt Chi tìm người kế thừa.
Ngài Ma-noa-la và tăng chúng đến nước Nguyệt Chi. Vua nước này là Bảo Ấn và Tỳ-kheo Hạc-lặc-na đồng đón tiếp, thỉnh về nội cung.
– Hạc-lặc-na đem việc Long Tử hỏi trước:
Thưa Tôn giả! Tôi có một đứa đệ tử tên Long Tử tuổi tuy còn nhỏ mà thông minh tuyệt vời. Tôi thường nhập định tìm nguyên nhân đời trước mà không thấy manh mối, hôm nay gặp đây xin Tôn giả chỉ dạy cho?
Ngài hỏi:
– Ông nhập định quán thấy được mấy kiếp?
Hạc-lặc-na thưa:
– Tôi chỉ thấy được ba đời.
Ngài bảo:
– Đệ tử của ông trong kiếp thứ năm đã sanh trong nhà Bà-la-môn giàu có tại nước Diệu Hỷ. Khi ấy, trong nước có ngôi chùa mới khánh thành đại hồng chung. Con ông Bà-la-môn này dùng gỗ chiên-đàn tiện cái chày giọng chuông cúng chùa. Nhờ chày này giúp cho người được nghe chuông thức tỉnh. Bởi quả báo ấy, nên nay nó sanh ra được thông minh.
Hạc-lặc-na lại hỏi:
– Riêng tôi không biết duyên gì mà cảm được bầy hạc thường theo, xin Tôn giả chỉ dạy?
Ngài bảo:
– Xưa ông trong kiếp thứ tư làm vị Tỳ-kheo đạo đức được đầy đủ, có đến năm trăm đệ tử. Mỗi khi Long cung thỉnh ông cúng dường, ông xét trong hàng đệ tử không có người nào đủ phước đức thọ Long cung cúng, nên ông chỉ đi một mình. Nhóm đệ tử bất mãn nói: “Thầy thường thuyết pháp nói, đối sự ăn uống bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng, mà nay Thầy đi thọ trai một mình!” Sau Long Cung thỉnh, ông đều cho chúng đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống, nên sau khi tịch diệt, chúng ấy lần lượt chết sanh trong loài có cánh. Đã trải qua năm kiếp, nay họ lại làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên nay chúng cảm mến ông.
Hạc-lặc-na cảm động, lại hỏi:
– Nay phải tu pháp gì để giúp chúng trở lại làm người?
Ngài bảo:
– Ta có pháp bảo vô thượng, là kho tàng Như Lai, Thế Tôn xưa trao cho tổ Ca-diếp lần lượt đến ta, nay ta trao cho ông, ông nên truyền bá chớ nên để dứt mất. Nghe ta nói kệ:
Tâm tùy vạn cảnh chuyển,
Chuyển xứ thật năng u.
Tùy lưu nhận đắc tánh,
Vô hỷ diệc vô ưu.
Dịch:
Tâm theo muôn cảnh chuyển,
Chỗ chuyển thật kín sâu.
Theo dòng nhận được tánh,
Không mừng cũng không lo.
Hạc-lặc-na vui vẻ kính vâng phụng hành.
Ngài truyền pháp xong, ngay chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp phụng thờ.
Tổ và tăng chúng đến nước Nguyệt Chi, vua Bảo Ấn và Tỳ-kheo Hạc-lặc-na cung kính đón tiếp và thỉnh ngài về nội cung. Trước hết Hạc-lặc-na đem việc Long Tử hỏi Tổ.
Tổ hỏi Hạc-lặc-na: Ông nhập định quán thấy được mấy kiếp? Hạc-lặc-na trả lời: Tôi chỉ thấy được ba đời. Hạc-lặc-na tu thiền đã được Túc mạng thông, nên biết được nhân đời trước, nhưng thiền định còn cạn, thành ra chỉ biết có ba đời. Còn Tổ có thể biết trước được nhiều kiếp, cho nên khi Hạc-lặc-na hỏi Tổ mới giải thích rành rẽ. Lúc nhập định, nếu tâm lặng càng sâu thì trí nhớ càng xa, những điều này người mới tu nghe không hiểu nổi. Chỉ khi nào chúng ta có công phu sâu mới tin được điều đó.
Ở đây chúng tôi dạy tu theo thiền Tổ sư là đi đứng nằm ngồi đều biết vọng tưởng không theo. Bao giờ trong bốn oai nghi vọng tưởng không còn dấy khởi, đó là đại định. Nhiều người không biết, ngồi tu lại mong có thần thông, mong biết quá khứ vị lai, nhưng vọng tưởng tràn trề làm sao biết được, càng mong càng vọng tưởng. Chúng ta tu không mong gì hết, chỉ sạch vọng tưởng thì tâm Phật hiện tiền khỏi tìm kiếm. Đó là một sự thật!
Tổ bảo: Đệ tử của ông trong kiếp thứ năm, sanh trong nhà Bà-la-môn giàu có tại nước Diệu Hỷ. Trong nước có ngôi chùa khánh thành đại hồng chung. Con ông Bà-la-môn này dùng gỗ chiên-đàn tiện chày giọng chuông cúng chùa, nhờ đó giúp cho nhiều người nghe chuông được thức tỉnh. Bởi phước báo ấy nên nay sanh ra được thông minh.
Cúng chùa cái chày giộng chuông đơn giản quá mà được quả báo thông minh. Trước hết chúng ta phải hiểu ý nghĩa chuông trống nhà chùa, nếu không thì thắc mắc khuya nào chùa cũng giộng chuông chi vậy? Bởi vì tiếng chuông là để cảnh tỉnh người khi đang mê ngủ, nghe chuông giật mình thức dậy. Nếu người ở ngoài làm ăn thì lo chuẩn bị làm ăn, người tu thức dậy chuẩn bị đi tụng kinh niệm Phật tọa thiền. Đó là nhờ tiếng chuông đánh thức được cơn mê để mình tỉnh táo tu hành.
Có câu: “Mộ cổ thần chung cảnh tỉnh ái hà danh lợi khách.” Nghĩa là buổi tối đánh trống buổi sáng đánh chuông, để cảnh tỉnh khách danh lợi đang chìm trong biển ái. Bởi vậy tiếng chuông có ý nghĩa cảnh tỉnh, không chỉ đánh thức người tỉnh cơn mê ngủ, mà còn đánh thức cho người nhớ lại cuộc đời đang chìm trong mê tối, phải tỉnh thức giác ngộ chứ đừng chìm nữa. Do tiếng chuông có hiệu nghiệm gieo nhân tỉnh thức, nên người cúng dường cái chày giọng chuông được quả báo trí tuệ thông minh.
Hạc-lặc-na lại hỏi: Riêng tôi không biết duyên gì mà cảm được bầy hạc thường theo, xin Tôn giả chỉ dạy?
Tổ bảo: Xưa trong kiếp thứ tư ông làm vị Tỳ–kheo đạo đức đầy đủ, có đến năm trăm đệ tử. Mỗi khi Long cung thỉnh ông cúng dường, ông xét trong hàng đệ tử không có người nào đủ phước đức thọ Long cung cúng, nên chỉ đi một mình, không cho chúng đi theo. Nhóm đệ tử bất mãn nói: “Thầy thường thuyết pháp đối sự ăn uống bình đẳng, đối với pháp cũng bình đẳng, mà nay Thầy đi thọ trai một mình!” Sau Long cung thỉnh, ông đều cho chúng đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống, nên sau khi tịch diệt, lần lượt sanh trong loài có cánh. Đã trải qua năm kiếp nay họ lại làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên nay chúng cảm mến ông.
Trong đoạn này có một điểm quan trọng. Mỗi khi Long cung thỉnh Hạc-lặc-na cúng dường, ngài xét trong hàng đệ tử không có người đủ phước đức thọ Long cung cúng nên chỉ đi một mình. Đó là vị thầy đã đạt đạo nên biết trình độ đệ tử tới đâu. Theo trong kinh nói những thức ăn dưới Long cung rất ngon, quý hơn ở trần gian nhiều. Bởi vậy người đạo đức kém gặp thì thích, nên ngài không cho đệ tử đi theo, nhưng đệ tử thì không biết, sanh lòng bất mãn. Đó là cái nhìn nông nổi! Cho nên lần sau Long cung thỉnh nữa ngài cho đệ tử đi theo. Bởi họ chưa đủ đức mà nặng về sự ăn uống nên không được giải thoát. Sau khi chết lần lượt sanh trong loài có cánh trải qua năm kiếp, kiếp này làm thân hạc. Do nhân duyên thầy trò kiếp trước nên tìm đến và cảm mến ngài.
Bởi vậy nhiều khi trong chùa có những con vật cũng dính dáng đến chúng ta trong kiếp quá khứ.
Hạc-lặc-na cảm động, lại hỏi: Nay phải tu pháp gì để giúp chúng trở lại làm người?
Ngài bảo: Ta có pháp bảo Vô thượng, là kho tàng Như Lai, Thế Tôn xưa trao cho tổ Ca-diếp lần lượt đến ta, nay ta trao cho ông, ông nên truyền bá chớ nên để dứt mất. Nghe ta nói kệ:
Tâm theo muôn cảnh chuyển,
Chỗ chuyển thật kín sâu.
Theo dòng nhận được tánh,
Không mừng cũng không lo.
Tâm theo muôn cảnh chuyển, chỗ chuyển thật là quá sâu kín, khó nhận ra được. Nếu theo dòng lưu chuyển nhận được bản tánh bất sanh bất diệt, thì không mừng cũng không lo. Nghĩa là ngay trong tâm thức sanh diệt mà nhận ra được bản tánh không sanh diệt, thì vượt ra ngoài sự đối đãi vui mừng buồn lo, đó gọi là giải thoát.
Hạc-lặc-na vui vẻ phụng hành.
Truyền pháp xong, Tổ ngồi lặng lẽ thị tịch. Chúng hỏa táng và lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Ngài dòng Bà-la-môn sanh tại nước Nguyệt Chi, cha hiệu Thiên Thắng, mẹ là Kim Quang.
Ông Thiên Thắng đã lớn tuổi mà không con. Một hôm, ông đến trước Kim Tràng thờ bảy đức Phật dâng hương lễ bái cầu con. Sau đó bà Kim Quang nằm mộng thấy một vị thần đứng trên ngọn núi Tu-di tay cầm vòng ngọc nói với bà: “Ta lại đây.” Khi thức giấc, bà biết có thai.
Khi ngài được bảy tuổi đi chơi trong xóm, thấy một ngôi miếu thờ thần, dân gian hằng ngày giết các súc vật đến dâng cúng. Ngài đi thẳng vào miếu quở:
– Khéo bày đặt sự họa phước mà lừa gạt dân chúng, hằng năm làm hao phí của nhân dân, tổn hại sanh mạng loại vật quá nhiều!
Ngài quở xong, ngôi miếu bị sụp đổ. Dân chúng trong làng gọi ngài là ông Thánh con.
Ngài thuộc dòng Bà-la-môn, sanh tại nước Nguyệt Chi, cha mẹ ngài lớn tuổi mà chưa có con nên mới đến các nơi thờ Phật để cầu con. Thuở xưa gọi chỗ thờ Phật là kim tràng. Kim là vàng, tràng là đạo tràng. Kim tràng là ngôi điện báu thường gọi là bảo điện. Gọi như thế song thật ra chỗ thờ Phật cũng xây bằng xi-măng bằng gạch, chứ không phải bằng ngọc ngà, nhưng vì Phật là đấng cao quý nên chúng ta quý chỗ thờ ngài, gọi là bảo điện hay kim tràng.
Một hôm mẹ ngài nằm mộng thấy một vị thần đứng trên ngọn núi Tu-di, cầm vòng ngọc nói với bà: Ta lại đây! Nghĩa là đến đúng như sở nguyện của bà. Từ đó bà mang thai, sau mới sanh ra ngài. Lên bảy tuổi ngài đi chơi trong xóm thấy miếu thờ thần, dân chúng thường cúng heo gà vịt… Thấy vậy ngài đi thẳng tới quở: Khéo bày đặt sự họa phước mà lừa gạt dân chúng, hằng năm làm hao phí của nhân dân, tổn hại sanh mạng loài vật quá nhiều! Ngài quở xong miếu liền sụp đổ. Lúc đó dân chúng trong làng gọi ngài là ông Thánh con.
Ngài có oai đức nên quở miếu sụp đổ, còn chúng ta thử quở coi có sụp đổ không? Hay là gặp miếu cũng bắt chước người ta cúng vái? Người đời cho rằng cúng quỷ thần để cầu phước. Nhưng quỷ thần có ban phước cho mình không? Đức Phật từng nói: Ta không thể ban phước cho ai, ta chỉ là người thầy dẫn đường để chúng sanh biết hướng đi mà tiến tới đạo giải thoát. Đức Phật không ban phước cho ai, thì quỷ thần rất ít phước làm sao ban phước cho mình được.
Hai mươi tuổi, ngài xuất gia tu theo Phật giáo. Ngài ở ẩn trong đám rừng xanh ngót chín năm, chỉ làm bạn với bầy hạc và chuyên tụng kinh Đại Bát-nhã. Năm ba mươi tuổi, ngài gặp tổ Ma-noa-la và được truyền tâm ấn.
Ngài dẫn chúng du hóa miền Trung Ấn. Vua xứ này tên Vô Úy Hải rất sùng mộ Phật giáo nên thỉnh ngài vào cung thuyết pháp. Vua nghe ngài thuyết pháp xong rất hoan hỷ.
Ngài có đệ tử ưu tú nhất là Long Tử. Long Tử rất thông minh mà mạng yểu. Long Tử mất, cha mẹ và anh là Sư Tử đến làm lễ hỏa táng, song dời quan tài không được. Sư Tử lấy làm lạ hỏi ngài:
– Toàn chúng tận lực giở lên, tại sao không nổi?
Ngài đáp:
– Lỗi tại nơi ngươi vậy.
Sư Tử hỏi:
– Tôi có lỗi gì? Xin Tôn giả nói cho tôi biết.
Ngài bảo:
– Ngươi xưa theo Bà-la-môn, em ngươi đi xuất gia, hai bên xa cách. Em ngươi hai năm ngày đêm nhớ thương, muốn làm phước giúp cho ngươi, bảo thầy ngươi đắp một tượng Phật, đã lâu mà chưa hoàn bị. Ngươi vì ghét nên đem tượng Phật ném xuống đất. Bây giờ, ngươi đi về thỉnh tượng Phật để trên bàn lại, thì quan tài sẽ dời được.
Sư Tử làm y như ngài dạy, quả nhiên quan tài dời đi dễ dàng.
Đến hai mươi tuổi, ngài xuất gia tu theo Phật giáo, khi đi tu ngài rất chân thành. Ngài ở ẩn trong rừng xanh ngót chín năm, chỉ làm bạn với bầy hạc và chuyên tụng kinh Đại Bát-nhã. Năm ba mươi tuổi ngài gặp tổ Ma-noa-la, rồi sau đó được truyền tâm ấn.
Ngài đi giáo hóa đến miền Trung Ấn, vua xứ này tên Vô Úy Hải rất sùng mộ Phật giáo. Vua thỉnh ngài vào cung thuyết pháp, nghe xong vua rất hoan hỷ.
Ngài có đệ tử ưu tú là Long Tử, người này rất thông minh, nhưng mạng yếu chết sớm. Long Tử theo đạo Phật, nhưng có người anh tên Sư Tử theo đạo Bà-la-môn, trớ trêu như vậy. Long Tử mất, cha mẹ và anh làm lễ hỏa táng, song dời quan tài không được.
Sư Tử lấy làm lạ hỏi ngài: Tại sao mọi người tận lực mà không giở nổi quan tài? Tổ đáp: Lỗi tại nơi ngươi vậy. Sư Tử hỏi: Tôi có lỗi gì, xin Tôn giả nói cho tôi biết. Tổ bảo: Ngươi theo đạo Bà-la-môn, em ngươi xuất gia theo đạo Phật. Hai bên xa cách, ngày đêm nhớ thương muốn làm phước cho ngươi, bảo thầy ngươi đắp một tượng Phật đã lâu chưa hoàn bị. Vì ngươi không thích đạo Phật nên đem tượng Phật ném xuống đất. Bây giờ ngươi đi về thỉnh tượng Phật để trên bàn, thì quan tài sẽ dời được. Người em muốn độ người anh, nên khi nhắm mắt cũng tạo duyên để người anh thức tỉnh.
Sư Tử nghe vậy liền làm đúng như lời Tổ dạy. Làm xong trở lại khiêng quan tài lên được và dời đi dễ dàng.
Chúng ta đọc đoạn này thấy có vẻ hơi huyền bí, nhưng không biết do công đức vô lượng của Tổ muốn độ Sư Tử, hay là do cái duyên Phật của Sư Tử đối với người em mà xảy ra như vậy. Tổ biết Sư Tử là một nhân vật có pháp khí đại thừa, khả dĩ thay thế ngài, có lẽ một phần do ngài dụng ý khiến cho Sư Tử phải nể phục nên mới có việc lạ đó.
Kế đến thầy của Sư Tử tịch. Ông cảm thấy buồn bã, nghiệm lại lời ngài nói, bèn đến xin xuất gia làm đệ tử ngài.
Sư Tử hỏi ngài:
– Bạch Thầy! Con muốn dụng tâm cầu đạo, phải dụng tâm nào?
Ngài đáp:
– Không có chỗ dụng tâm.
– Đã không dụng tâm làm sao làm Phật sự?
– Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Cho nên kinh nói: “Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm.”
Sư Tử nghe nói liền phát sanh trí tuệ Phật. Ngài chỉ hướng đông bắc hỏi Sư Tử:
– Ngươi thấy gì chăng?
Sư Tử thưa:
– Con thấy.
– Ngươi thấy cái gì?
– Con thấy hơi trắng xông lên giống như cái mống bao khắp trời đất, lại có hơi đen năm lần xẹt như cây thang lên trời Đao-lợi.
– Ngươi thấy hơi ấy, có biết ứng điềm gì chăng?
– Con không biết ứng điềm gì, xin Thầy dạy cho.
– Năm mươi năm sau khi ta diệt độ, tai nạn sẽ phát khởi ở Bắc Ấn, ngươi nên biết đó.
Sư Tử thưa:
– Con muốn du phương, thỉnh Thầy chỉ dạy.
Ngài bảo:
– Nay ta đã già, giờ Niết-bàn sắp đến, đại pháp nhãn tạng của Như Lai giao lại cho ngươi, ngươi đến nước khác. Song nước ấy có tai nạn mà liên hệ đến thân ngươi. Ngươi phải dè dặt, truyền trao sớm chớ để đoạn mất. Nghe ta nói kệ:
Nhận đắc tâm tánh thời,
Khả thuyết bất tư nghì.
Liễu liễu vô khả đắc,
Đắc thời bất thuyết tri.
Dịch:
Khi nhận được tâm tánh,
Mới nói chẳng nghĩ bàn.
Rõ ràng không chỗ được,
Khi được không nói biết.
Truyền pháp xong, ngài phi thân lên hư không làm mười tám pháp thần biến, rồi trở lại chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch.
Khi Sư Tử phát tâm tu, liền xin làm đệ tử xuất gia với Tổ. Sư Tử hỏi: Bạch Thầy, con muốn dụng tâm cầu đạo, phải dụng tâm nào? Một câu hỏi rất là bình thường của người học đạo. Bởi vì theo quan niệm của người biết tu, nghe mình có nhiều tâm, nào là tâm thiện, tâm ác… Bây giờ muốn cầu đạo không biết phải dùng tâm nào để ứng dụng cho hợp lý.
Tổ đáp: Không có chỗ dụng tâm. Tại sao không có chỗ dụng tâm gọi là cầu đạo? Chữ đạo ở đây là chỉ cho tâm. Vừa dấy một niệm cầu thì mất đạo. Như vậy đạo nghĩa là vô tâm hay vô tâm là đạo, nếu vừa dấy niệm dụng tâm thì đã mất đạo rồi. Cho nên nói không có chỗ dụng tâm, chính đó mới là đạo nhiệm mầu.
Sư Tử hỏi: Đã không dụng tâm, làm sao làm Phật sự? Tổ đáp: Ngươi nếu có dụng thì chẳng phải công đức. Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Cho nên trong kinh nói: Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm. Nếu ngươi có dụng thì chẳng phải công đức, câu này còn dễ hiểu. Bởi vì có dụng tâm là sanh diệt, chỉ có phước đức chứ không có công đức.
Nếu ngươi không làm tức là Phật sự. Câu này nghe hơi khó hiểu. Không làm là ngồi không, sao nói làm Phật sự? Ở đây không làm mà làm tất cả, nghĩa là làm mà không nghĩ mình làm, chứ không phải không làm là ngồi chơi suông. Câu không làm mà làm, phù hợp với câu Lão Tử nói: “Vô vi nhi vô bất vi”, nghĩa là không làm mà làm. Hay nói ngược lại, làm tất cả mà không thấy mình làm, đó mới là Phật sự.
Đây dẫn kinh làm chứng: Ta ra làm công đức, mà không có cái ta làm. Câu này làm rõ ý nghĩa câu trước, ta ra làm tất cả công đức mà không thấy có ta làm, nói không làm tức là không có cái ta. Nhưng làm tất cả công đức như vậy mới thật là Phật sự.
Chúng ta chịu khó kiểm điểm lại coi có làm Phật sự chưa? Nếu đang làm hoặc đã làm những Phật sự mà thấy có ta làm thì chưa phải là công đức. Nhưng Phật tử làm một Phật sự gì thì chư tăng thường khen ngợi được công đức vô lượng vô biên, như vậy có mâu thuẫn không? Không có mâu thuẫn. Bởi vì ở đây Tổ là người trở về tự tánh, thành ra nói công đức tánh, công đức từ tự tánh mà phát khởi, chứ không phải nói công đức hữu dư hữu lậu. Nhưng trên phương diện hữu dư mà nói, thì làm việc lành đều có phước. Thành ra chư tăng nói làm Phật sự có công đức vô lượng vô biên là căn cứ vào cái sanh diệt mà nói. Tổ nói không có công đức là căn cứ vào cái vô sanh mà nói, do đó hai bên khác nhau nhưng không mâu thuẫn.
Sư Tử nghe tới đó liền phát sanh trí tuệ Phật, nhận ra được lý của tự tánh.
Sư Tử thưa: Con muốn du phương thỉnh Thầy chỉ dạy!
Tổ bảo: Nay ta đã già, giờ Niết-bàn sắp đến, đại pháp nhãn tạng của Như Lai trao lại cho ngươi, ngươi đến nước khác hoằng hóa. Song nước ấy có tai nạn mà liên hệ đến thân ngươi. Ngươi phải dè dặt, truyền trao sớm chớ để đoạn dứt.
Tổ truyền y pháp cho Sư Tử qua bài kệ:
Khi nhận được tâm tánh,
Mới nói chẳng nghĩ bàn.
Rõ ràng không chỗ được,
Khi được không nói biết.
Nhận được tâm tánh thì không thể nghĩ bàn, không có sở đắc. Tại sao? Nếu còn sở đắc thì còn năng còn sở thì làm sao nhận được chân tánh. Kinh Viên Giác nói nếu còn thấy có chứng đắc là còn bệnh. Khi nhận được tâm tánh rồi thì không nói biết. Tại sao? Khi nhận ra tâm tánh thì không thể nói mình biết tâm tánh, nếu nói như thế thì tâm tánh là cái bị biết, mình là cái hay biết, tự nhiên thành hai. Như con mắt thấy sự vật bên ngoài, không thể thấy được con mắt, nếu thấy được con mắt thì không phải là con mắt của mình, mà là con mắt của người khác.
Chúng ta thường lầm lẫn văn tự chữ nghĩa. Trong nhà thiền nói tu hành phải kiến tánh, chữ kiến tánh ở đây không phải thấy bằng mắt, nếu thấy bằng mắt là có vật bị thấy và con mắt hay thấy, là có đối tượng để mình thấy. Kiến tánh là nhận ra tâm tánh bằng trí tuệ và sống thật với chân tánh. Khi được không nói biết, vì khi nhận ra và sống được thì không nói nó là cái bị mình biết, mà chỉ biết mình hiện đang sống thôi.
Truyền pháp xong, Tổ phi thân lên hư không làm mười tám pháp thần biến, rồi trở lại chỗ ngồi lặng lẽ thị tịch.
Ngài dòng Bà-la-môn người Trung Ấn. Thuở nhỏ ngài rất thông minh, tài hùng biện xuất chúng. Ngài có người em tên Long Tử cũng thông minh như thế. Trước ngài thọ giáo với thầy Bà-la-môn, em ngài lại xuất gia tu theo Phật giáo. Khi Long Tử tịch, ngài có cơ hội gặp tổ Hạc-lặc-na và hồi đầu thọ giáo với Tổ. Khi Tổ sắp tịch truyền tâm pháp lại cho ngài.
Ngài dòng Bà-la-môn người Trung Ấn. Thuở nhỏ rất thông minh có tài hùng biện xuất chúng. Trước thọ giáo với thầy Bà-la-môn, sau gặp tổ Hạc-lặc-na hồi đầu thọ giáo với Tổ tu theo Phật. Khi Tổ sắp tịch truyền tâm pháp lại cho ngài. Việc sanh tử của ngài lạ hơn các vị khác.
Ngài sang nước Kế-tân hoằng hóa. Trong nước này trước có vị Sa-môn tên Bà-lợi-ca chuyên tập thiền quán của tiểu thừa. Môn đồ của Bà-lợi-ca, sau lại chia làm năm phái: 1- Thiền định, 2- Tri kiến, 3- Chấp tướng, 4- Xả tướng, 5- Tịnh khẩu. Họ tranh nhau giành phần hơn. Ngài đến các phái ấy, dùng biện tài vô ngại chiết phục được bốn phái. Duy phái Thiền định người cầm đầu là Đạt-ma-đạt hay tin này tức giận tìm đến cật nạn ngài. Vừa gặp ngài, Đạt-ma-đạt nói:
– Muốn gặp nhau vấn nạn mới đến đây.
Ngài hỏi:
– Nhân giả tập định sao lại đến đây? Nếu có đến đây thì đâu phải thường tập định?
Ma-đạt nói:
– Tôi đến chỗ này mà tâm cũng không loạn, định tùy người tập đâu phải tại chỗ nơi.
Ngài hỏi:
– Nhân giả lại đây thì cái tập kia cũng đến. Đã không phải chỗ nơi thì đâu tại người tập?
Ma-đạt nói:
– Vì định tập người, chẳng phải người tập định. Tuy tôi có đi lại mà cái định ấy vẫn thường tập.
Ngài hỏi:
– Người chẳng tập định, vì định tập người. Vậy chính khi người đi lại, thì cái định ấy tập ai?
Ma-đạt nói:
– Như hạt minh châu sạch, trong ngoài không bị che, nếu định được thông đạt cũng lại như thế.
Ngài bảo:
– Nếu định thông đạt giống như hạt minh châu. Nay thấy nhân giả không thể sánh được với hạt minh châu.
Ma-đạt nói:
– Hạt châu kia sáng suốt trong ngoài đều định. Tâm tôi không loạn ví như hạt châu ấy.
Ngài bảo:
– Châu kia không có trong ngoài, nhân giả làm sao hay định? Vật như chẳng dao động, định này chẳng phải sạch.
Đạt-ma-đạt biết nghĩa mình bị bẻ gãy, càng kính phục, đảnh lễ bạch ngài:
– Con học đạo còn sơ thiển, nếu không được lời chỉ dạy của Tôn giả làm sao biết được chỗ tột. Cúi xin Tôn giả thương xót nhận con làm học trò.
Ngài sang nước Kế-tân hoằng hóa. Trong nước này có năm phái thiền. Ngài dùng biện tài vô ngại chiết phục được bốn phái. Người cầm đầu phái Thiền định là Đạt-ma-đạt, hay tin này tức giận tìm đến vấn nạn.
Người tu thiền mà tỏ vẻ bực bội tới phỏng vấn, tức nhiên trong tâm có cái gì rồi. Cho nên vừa gặp ngài,Đạt-ma-đạt nói: Muốn gặp nhau vấn nạn nên mới đến đây. Tu thiền mà gặp nhau để vấn nạn thì tâm không định.
Tổ hỏi: Nhân giả tập định, sao lại đến đây? Nếu có đến đây thì đâu phải thường tập định? Nghĩa là nhân giả khởi ý niệm đến gặp tôi vấn nạn thì đã mất định rồi.
Ma-đạt cãi lý: Tôi tới đây hay đi đâu cũng vẫn định như thường, vì định tùy người đâu phải tùy chỗ nơi. Tổ bẻ lại: Nhân giả đi đâu thì tập định theo đó, như vậy nhân giả là một, tập định là hai. Nhân giả đi tới đây thì tập định cũng đi theo tới đây, mà đã nói không phải chỗ nơi thì đâu tại người tập.
Đã không có chỗ nơi thì cũng không có người, vì xứ sở lệ thuộc vào người, như nhân và quả không rời nhau. Ví dụ khi nói tới tôi, thì phải nói tới chỗ ở của tôi. Như vậy năng sở không rời nhau. Nếu nói tới tôi mà không nói tới chỗ tôi ở thì có người mà không có cảnh, có năng mà không có sở, năng sở rời nhau thật vô lý!
Nếu ngài chấp nhận có cảnh thì phải có người, cho nên nói đã không phải chỗ nơi, thì đâu tại người tập? Nghĩa là nếu ông nói không chỗ nơi, thì ông phải chấp nhận là không có người, mà ông đã chấp nhận có người tập, thì tức nhiên phải chấp nhận có chỗ nơi.
Ma-đạt nói: Vì định tập người chẳng phải người tập định, tuy tôi có đi lại mà định ấy vẫn thường tập. Ông trả lời định tập người, chứ không phải người tập định, đó là ngụy biện. Nhưng nói vậy để chi? Để lấy cớ tuy có đi mà vẫn còn định hoài.
Tổ hỏi: Người chẳng tập định, vì định tập người. Vậy chính khi người đi lại, thì định ấy tập ai? Vì định tập người, khi người đi lại cái định mất, vậy định tập ai? Lý của Ma-đạt coi như bị bẻ gãy rồi, nhưng ông còn gượng gạo dùng ví dụ: Như hạt minh châu sạch, trong ngoài không bị che, nếu định được thông đạt, cũng lại như thế. Tôi cũng như hạt minh châu trong sạch, trong ngoài đều không bị dơ bẩn che khuất, cho nên đi đâu làm gì cũng định.
Ngài bảo: Nếu định thông đạt giống như hạt minh châu. Nay thấy nhân giả không thể sánh được với hạt minh châu. Tại sao Tổ nói câu đó? Vì ông đi tới đây để cật vấn tôi thì trong tâm đã có bợn nhơ rồi, không thể trong sạch như hạt minh châu.
Ma-đạt nói: Hạt châu kia sáng suốt trong ngoài đều định. Tâm tôi không loạn ví như hạt châu ấy. Ông nói hạt minh châu sáng suốt trong ngoài đều định, nhưng quên rằng hạt minh châu không có trong ngoài. Cho nên kẹt hai chữ trong ngoài mà ông thua cuộc. Nếu còn thấy có trong ngoài là thấy có hai vật, vì vậy Tổ bảo: Châu kia không có trong ngoài, nhân giả làm sao hay định? Nhân giả còn thấy có trong ngoài, tức là tâm chưa định.
Tổ nói tiếp: Vật như chẳng dao động, định này chẳng phải sạch. Bởi vì ông nói cái định sáng suốt trong sạch như hạt minh châu, Tổ mới nói người nhập định không còn thấy trong ngoài như sạch, nhơ tới cũng chẳng động, sạch tới cũng chẳng định, như vậy
mới thật là đại định. Nếu còn thấy hai bên thì tâm chưa định. Ông Đạt-ma-đạt biết nghĩa lý của mình bị bẻ gãy, từ đó mới kính phục xin xuất gia làm đệ tử Tổ.
Ngài dạy thêm:
– Thiền định của chư Phật không có sở đắc. Giác đạo của chư Phật không có sở chứng. Không đắc không chứng là chân giải thoát. Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, ở trong pháp này (chân giải thoát) ắt chẳng như thế. Ngươi nếu tập định nên tập như vậy.
Đạt-ma-đạt vui vẻ vâng lời dạy.
Tổ dạy thêm: Thiền định của chư Phật không có sở đắc. Giác đạo của chư Phật không có sở chứng. Không đắc không chứng là chân giải thoát. Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, ở trong pháp này ắt chẳng như thế. Ngươi nếu tập định nên tập như vậy.
Đoạn này tuy ngắn nhưng dạy rất rõ ràng. Thiền thì không có sở đắc, giác thì không có sở chứng. Không sở đắc sở chứng mới được giải thoát. Người thể nhập tánh Viên Giác không còn thấy có người hay đắc, có pháp để đắc. Nếu thấy có chứng đắc là bệnh. Ngã và pháp hoàn toàn sạch hết, chỉ thuần một tánh Viên Giác, mới gọi là chân giải thoát. Nếu còn thấy có ngã hay được, có pháp để được thì còn bốn tướng nên không được chân giải thoát.
Đền nhân trả quả là nghiệp báo của thế gian, chứ không phải ở trong đạo giải thoát. Đã giải thoát thì không thấy đền nhân trả quả gì hết. Cho nên Phật nói đền nhân trả quả là căn cứ trên pháp sanh diệt của thế gian. Nói không đền nhân trả quả là căn cứ trong chỗ cứu cánh giải thoát. Chúng ta phải hiểu cho tường tận lời Phật dạy thì không còn nghi ngờ. Nghe được lời này, Ma-đạt vui vẻ vâng lời dạy của Tổ.
Một hôm, có ông trưởng giả dẫn đứa con đến yết kiến ngài. Trưởng giả thưa:
– Con tôi tên là Tư-đa, từ khi sanh ra cho đến nay hai mươi tuổi mà bàn tay trái vẫn nắm chặt lại chưa từng mở ra. Xin Tôn giả từ bị nói rõ nhân đời trước của nó cho tôi hiểu.
– Ngài nhìn thẳng vào mặt Tư-đa rồi đưa tay bảo:
Trả hạt châu lại cho ta!
Tư-đa liền xòe tay dâng hạt châu cho ngài. Trưởng giả và đồ chúng thấy thế đều ngạc nhiên. Ngài giải thích:
– Thuở quá khứ ta làm vị Tỳ-kheo thường được Long vương thỉnh xuống Long cung tụng kinh. Khi ấy, Tư-đa cũng theo ta xuất gia, tên Bà-xá. Một hôm, Long vương thỉnh ta đi tụng kinh, Bà-xá theo làm thị giả. Tụng kinh xong, Long vương cúng hạt châu đáp lễ. Ta nhận trao cho thị giả giữ trong tay. Ta tịch, sanh nơi đây, vì nhân duyên thầy trò chưa hết, nên lại gặp nhau tại hội này.
Trưởng giả nghe được tiền duyên của con mình, hoan hỷ cho Tư-đa theo ngài xuất gia.
Ngài xét duyên xưa và nay nên hợp hai tên lại đặt là Bà-xá-tư-đa. Nhận Bà-xá-tư-đa rồi, ngài triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới.
Sau đó, ngài gọi Bà-xá-tư-đa lại bảo:
– Nơi nước này sắp có tai nạn đến cho ta, nhưng tuổi ta đã già yếu đâu mong lánh thoát làm gì. Ta đã được truyền đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao lại cho ngươi, ngươi nên phụng trì, mau đi khỏi nước này, lấy sự giáo hóa làm nhiệm vụ. Nếu có người nghi ngờ nên trình y Tăng-già-lê của ta đây làm tin. Nghe ta nói kệ:
Chánh thuyết tri kiến thời,
Tri kiến câu thị tâm.
Đương tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức vu kim.
Dịch:
Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm.
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức hiện nay.
Bà-xá-tư-đa nhận lãnh tuân hành, ngay hôm ấy đi nơi khác.
Một hôm, có ông trưởng giả dẫn đứa con đến yết kiến Tổ, thưa: Con tôi tên là Tư-đa, từ khi sanh ra cho đến nay hai mươi tuổi, bàn tay trái vẫn nắm chặt chưa từng mở ra. Xin Tôn giả từ bị nói rõ nhân đời trước của nó cho tôi hiểu.
Ngài nhìn thẳng vào mặt Tư-đa, rồi đưa tay bảo: Trả hạt châu lại cho ta! Tư-đa liền xòe tay dâng hạt châu cho ngài. Trưởng giả và đồ chúng đều ngạc nhiên. Tổ liền nói nhân duyên đời trước. Trưởng giả nghe xong hoan hỷ cho Tư-đa xuất gia theo Tổ.
Tổ xét duyên xưa và nay, hợp hai tên lại đặt là Bà-xá-tư-đa và triệu tập thánh chúng làm lễ truyền giới. Sau đó, Tổ gọi Bà-xá-tư-đa bảo: Nước này sắp có tai nạn đến cho ta, tuổi ta già yếu đâu mong lánh thoát làm gì. Ta đã được truyền đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay trao lại cho ngươi, ngươi nên phụng trì, mau đi khỏi nước này lấy sự giáo hóa làm nhiệm vụ. Nếu có người nghi ngờ nên trình y Tăng-già-lê của ta đây để làm tin. Nghe ta nói kệ:
Chính khi nói tri kiến,
Tri kiến đều là tâm.
Chính tâm tức tri kiến,
Tri kiến tức hiện nay.
Chính khi nói tri kiến, tri kiến ấy đều là tâm. Tại sao ở đây nói tri kiến đều là tâm, có chỗ nói tri kiến không phải tâm? Muốn hiểu rõ chỗ này chúng ta căn cứ vào câu Phật nói trong kinh Lăng-nghiêm: Tri kiến lập tri, tức vô minh bản; tri kiến vô kiến, tư tức Niết-bàn. Thấy biết mà lập thấy biết là gốc vô minh; thấy biết không lập thấy biết là gốc Niết-bàn.
Thế nào thấy biết là gốc vô minh? Như khi nhìn hoa hồng trên bàn, chúng ta phân tích hoa này màu hường đẹp hơn hoa khác v.v… Khi thấy biết mà chúng ta thêm vọng tưởng để suy nghĩ phân tích về đối tượng mình thấy, đó là gốc vô minh.
Thế nào thấy biết là gốc Niết-bàn? Như nhìn hoa hồng ở trên bàn, chúng ta chỉ nhìn thôi, không suy nghĩ phân biệt đẹp xấu… đó là gốc của Niết-bàn. Nếu thấy biết mà không suy nghĩ về đối tượng, cũng như cái gương sáng trung thực phản ảnh những vật bên ngoài, mà không thêm gì cả. Chúng ta học Phật thì phải buông bỏ tri kiến vô minh, tập sống theo tri kiến Niết-bàn, tri kiến đó tức là tâm.
Chính tâm tức tri kiến, tri kiến tức hiện nay. Vì tâm là cái biết cho nên nói là tri kiến. Tri kiến này chỉ tâm ngay hiện tại, là tâm chưa khởi vọng thức phân biệt. Còn tri kiến cộng với phân biệt là thuộc về ý thức phân biệt.
Ý bài kệ này Tổ chỉ ngay tri kiến hiện hữu của chúng ta khi chưa có phân biệt chính là tâm. Tâm đó chỉ trong sát-na hiện tại, không bị lệch qua vọng tưởng phân biệt quá khứ hay tương lai. Bà-xá-tư-đa nghe rồi nhận lãnh tuân hành.
Lúc ấy, trong nước Kế-tân có hai người ngoại đạo giỏi pháp huyễn thuật mưu đồ ám sát nhà vua. Nhưng còn ngại bại lộ cơ mưu, nên chúng đổi hình Tỳ-kheo đi làm việc gian ác ấy. Quả nhiên bị quân bắt được. Vua Di-la-quật hay việc này nổi cơn phẫn nộ, ra lệnh triệt hạ chùa chiền, bắt nhốt tăng chúng. Vua trách:
– Lâu nay ta sùng kính Phật giáo, quý trọng Tỳ-kheo mà nay họ lại manh tâm ám hại ta, vậy còn đạo đức chỗ nào?
Bởi sự tức giận ấy, nhà vua đích thân cầm gươm báu đến chỗ ngài Sư Tử hỏi:
– Thầy được không tướng chưa?
Ngài đáp:
– Đã được.
– Đã được thì còn sợ sống chết chăng?
– Đã lìa sống chết thì đâu có sợ.
– Chẳng sợ có thể cho ta cái đầu chăng?
– Thân chẳng phải của ta, huống nữa là đầu.
Vua liền chặt đầu ngài rơi xuống đất. Nơi cổ sữa trắng phun lên cao chừng một trượng. Cánh tay mặt của vua Di-la-quật cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng.
Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và thỉnh chúng tăng cúng dường sám hối. Tăng chúng lo xây tháp thờ ngài.
Chúng ta nhìn theo quan niệm thông thường của mình thì trách nhà vua nông nổi. Nếu nhìn xa hơn nữa thì giữa nhà vua và Tổ có nhân quả tiền kiếp lưu lại chứ không phải là chuyện ngẫu nhiên. Khi nhà vua bắt được những người mưu hại mình là Tỳ-kheo rồi, tổ Sư Tử là người lãnh đạo chư tăng thời đó ở tại nước này, nên vua mới tức giận, xách gươm báu đi thẳng đến chỗ Tổ hỏi: Thầy được không tướng chưa? Câu hỏi nghe mạnh mẽ quá.
Tổ đáp: Đã được. Vua hỏi: Đã được, thì còn sợ sống chết chăng? Tổ đáp: Đã lìa sống chết thì đâu có sợ.
Vua nói: Ông không sợ sống chết thì cho ta cái đầu được chăng? Nếu chúng ta nghe hỏi câu đó thì khiếp sợ và van xin cho tôi sống để tu ít năm nữa. Nhưng Tổ trả lời một cách mạnh mẽ: Thân chẳng phải của ta, huống nữa là cái đầu. Nghĩa là thân ngũ uẩn không phải ta, huống nữa cái đầu sao không cho được.
Vua liền chặt đầu Tổ rơi xuống đất. Nơi cổ phun lên sữa trắng cao chừng một trượng. Cánh tay mặt của vua cũng đứt lìa. Bảy ngày sau vua băng hà.
Thái tử Quang Thủ lên ngôi, lo mai táng phụ hoàng và thỉnh chúng tăng cúng dường sám hối. Tăng chúng lo xây tháp thờ ngài.
Đọc đến đây chúng ta thấy có đau buồn không? Tổ đã đắc đạo mà sao còn quả báo bị nhà vua chặt đầu! Nhưng đối với Tổ đền nhân trả quả là pháp thế gian, chỗ cứu cánh thì thoát ngoài nhân quả. Tổ đã sống bằng tánh viên giác nên thấy thân như bọt bóng không quan trọng. Sự còn mất của thân này đối với Tổ như trò chơi, nợ trước sẵn sàng trả không có gì lo sợ. Thấy thân chẳng phải của ta, nên khi bị chặt đầu, Tổ không thấy cái đầu là của mình, do đó không thấy có người chặt đầu mình. Người tu đến chỗ cao siêu, thì chết cách nào cũng vui vẻ tự tại.
Chúng ta vì không sống được bằng tánh viên giác, nhìn theo con mắt nghiệp của thế gian, thấy có nhân quả rõ ràng, cho thân là thật đầu này thật là của mình, nên mới thấy có người ta chặt đầu. Vì vậy khi bị giết cảm thấy lo sợ bất an, bởi thấy sự còn mất của thân là tối quan trọng. Chúng ta phải tu học nhiều hơn, xả bản ngã để được an ổn khi bị ai làm tổn thương.
Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-tân, cha hiệu Tịch Hạnh, mẹ là Thường An Lạc. Một hôm bà Thường An Lạc nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai ngài. Khi sanh ra, ngài nắm chặt bàn tay trái mãi, cho đến khi gặp tổ Sư Tử mới xòe ra.
Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia theo hầu tổ Sư Tử. Tổ Sư Tử vì nợ trước phải trả nên truyền tâm ấn xong, bảo ngài phải sang Nam Ấn.
Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-tân. Một hôm, mẹ nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai. Khi sanh ra, ngài nắm chặt bàn tay trái mãi cho đến lúc gặp tổ Sư Tử mới xòe ra. Tổ kể nguyên nhân đời trước, ngài là đệ tử làm thị giả theo hầu Tổ đi tụng kinh dưới Long cung. Long vương cúng hạt châu đáp lễ, Tổ giao cho ngài giữ trong tay. Tổ tịch, ngài giữ hạt châu đó cho đến khi gặp lại Tổ.
Như vậy duyên thầy trò không phải ngẫu nhiên chỉ một đời này, mà do nhiều đời trước bây giờ mới gặp lại nhau, liền có những điềm lạ. Nên biết chúng ta có mặt trên đời này không phải một lần, mà có vô số lần rồi, đây chỉ là một chặng trên con đường luân hồi mà thôi.
Nghe xong nhân duyên đời trước, cha mẹ cho phép ngài xuất gia theo hầu Tổ. Tổ Sư Tử vì nợ trước phải trả nên truyền tâm ấn xong, bảo ngài phải sang Nam Ấn để giáo hóa.
Ra khỏi nước Kế-tân, ngài đến Trung Ấn. Vua nước này hiệu Ca Thắng ra đón tiếp ngài. Trong nước này trước có chúng ngoại đạo giỏi pháp thuật, ỷ tài, khinh chê Phật pháp, người cầm đầu tên Vô Ngã. Vua thấy thế bất bình, muốn thỉnh ngài nhiếp phục chúng. Vua mở hội nghị luận, chính vua làm chủ tọa. Vô Ngã đến hội đề xướng mặc luận, không dùng lời nói. Ngài chống:
– Nếu chẳng dùng lời làm sao phân biệt hơn thua?
Ngoại đạo nói:
– Chẳng tranh hơn thua chỉ lấy nghĩa ấy.
Ngài hỏi:
– Cái gì là nghĩa?
Ngoại đạo đáp:
– Không tâm là nghĩa.
Ngài hỏi:
– Ngươi đã không tâm thì đâu thành nghĩa?
– Tôi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa.
Ngài nói:
– Ngươi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa, ta nói phi tâm chính là nghĩa chẳng phải danh.
– Chính là nghĩa chẳng phải danh thì ai hay biện được nghĩa?
Ngài bảo:
– Ngươi nói chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì?
– Vì biện cái phi nghĩa nên không danh mà đặt danh.
Ngài bảo:
– Danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa, người biện là ai và biện vật gì?
Bàn qua luận lại như thế đến hơn năm chục lần, ngoại đạo mới bặt lời nép phục. Bỗng trong vương cung có mùi hương lạ bay đến, ngài chợt nói: “Đây là tin đưa đến, Thầy ta đã tịch.” Ngài liền xây mặt về hướng bắc chắp tay đảnh lễ. Lễ xong, ngài nói với vua:
– Khi tôi mới đi, Thầy dạy qua Nam Ấn, nay ở lại đây đã lâu là trái ý Thầy, xin tạm biệt Đại vương sang nơi ấy.
Vua và quần thần đồng tiễn ngài sang Nam Ấn.
Ra khỏi nước Kế-tân, ngài đến Trung Ấn, được vua nước này đón tiếp. Trong nước có chúng ngoại đạo giỏi pháp thuật, ỷ tài khinh chê Phật pháp, người cầm đầu tên Vô Ngã. Vua bất bình muốn thỉnh ngài nhiếp phục chúng, liền mở hội cho ngoại đạo nghị luận với ngài. Vua làm chủ tọa.
Ngoại đạo đề nghị mặc luận, tức là luận thầm, như vậy lấy ai làm bằng chứng mà biết đúng sai, cho nên ngài không chịu. Nếu luận thì phải dùng ngôn ngữ mới biết đúng sai. Ngài nói: Nếu chẳng dùng lời làm sao phân biệt hơn thua. Ngoại đạo trả lời: Chỉ được nghĩa thôi, chứ không cần nói hơn thua. Ngài hỏi: Cái gì là nghĩa? Ngoại đạo đáp: Không tâm là nghĩa. Ngài hỏi tiếp: Ngươi đã không tâm thì đâu thành nghĩa? Không tâm là tâm rỗng không, có gì đâu là nghĩa! Ý ngài đã chỉ
Ý sâu thêm một lớp nữa.
Ngoại đạo nói: Tôi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa. Ngài nói: Ngươi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa, ta nói phi tâm chính là nghĩa chẳng phải danh. Tại sao không tâm là danh không phải nghĩa, vì không tâm là danh từ chứ chưa tới thật thể. Phi tâm là nghĩa không phải danh, vì phi tâm tức là thoát ra ngoài suy tưởng phải quấy thiện ác, cái đó mới đến lẽ thật, mà đến lẽ thật thì không có danh.
Ngoại đạo nói: Nghĩa không phải danh thì lấy cái gì để biện được nghĩa. Ngài đáp: Ngươi nói chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì? Danh là để chỉ cho cái nghĩa. Ví dụ tôi nói tên ly là để chỉ cho cái ly. Nếu có tên ly mà không có cái ly, thì có danh mà không có nghĩa. Như vậy danh và nghĩa không rời nhau. Cho nên nói nếu chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì?
Ngoại đạo nói: Vì biện cái phi nghĩa nên không danh mà đặt danh. Ngài bảo: Danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa, người biện là ai và biện vật gì? Ngoại đạo nói vì biện phi nghĩa nên không danh mà đặt danh. Biện phi nghĩa tức là không có nghĩa, không có nghĩa thì làm sao mà đặt danh. Cho nên đây nói danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa. Như vậy không danh không nghĩa thì người biện là ai, biện vật gì?
Có danh, có nghĩa mới có người bàn luận. Đã không danh không nghĩa thì thử hỏi ai biện và biện cái gì? Đối đáp như vậy hơn năm chục lần, ngoại đạo mới phục. Đây là đoạn hơi khó hiểu một chút.
Nghị luận xong, vua và quần thần đồng tiễn ngài sang Nam Ấn.
Vua nước Nam Ấn hiệu là Thiên Đức nghe tin ngài đến cũng sửa sang xa giá ra đón tiếp, thỉnh ngài về hoàng cung. Nhân vua có hai thái tử, vị lớn là Đức Thắng thì thân thể mạnh khỏe mà tánh tình hung bạo, còn em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên, sẵn dịp vua hỏi ngài:
– Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào?
Ngài đáp:
– Bệnh của Thái tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu xa này Đại vương phải khéo nghe. Phật dạy người có nghiệp nặng nơi thân, ví như bệnh nội thương quá nặng, uống thuốc không có công hiệu, sắp chết bệnh càng hoành hành. Nếu là bệnh nhẹ, gặp thuốc liền bớt, bớt rồi từ từ mạnh. Người nghiệp nặng cũng vậy, tuy có công đức mà không làm gì được, đến lúc gần chết, nghiệp lại càng hiện.
Tổ đến Nam Ấn, vua Thiên Đức nghe tin sửa sang xa giá ra đón tiếp, thỉnh ngài về hoàng cung. Vua đem việc hai người con hỏi Tổ, thái tử lớn tên Đức Thắng thân thể khỏe mạnh, tánh tình hung bạo, người em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên. Vua hỏi: Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào?
Ngài giải thích: Bệnh của Thái tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu này Đại vương phải khéo nghe cho kỹ. Thường thường bệnh là do nghiệp chướng phát sanh. Ở đây Tổ nói bệnh của Thái tử do công đức phát sanh nghe hơi ngược đời. Chúng ta chịu khó nghe kỹ, rồi suy nghiệm lý sâu xa trong đó.
Tổ bảo người có nghiệp nặng nơi thân, bị bệnh trầm trọng, uống thuốc không khỏi, thì lần lần sẽ đi tới cái chết. Người nghiệp nặng phải đọa địa ngục, làm phước chút ít không giảm được, không cứu nổi thì nhất định phải đọa.
Nếu do làm phước mà giảm, giống như người bệnh uống thuốc hay mà bớt, người này bớt bệnh thì mừng hay sợ? Uống thuốc hết bệnh là vui mừng, như người làm được nhiều công đức vậy. Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ tu mà đổ nghiệp, đó là do có phước nên nghiệp nặng chuyển thành nhẹ, cho nó đổ hết thì khỏi xuống địa ngục.
Nếu nghiệp nhẹ, làm các việc công đức, nghiệp trước liền hiện, trả xong sau sẽ thanh tịnh. Hiện nay Thái tử làm việc thiện mà bị bệnh lâu, hẳn là do làm các công đức phát ra nghiệp nhẹ này. Hiện tại tuy có khổ nhỏ, về sau sẽ an ổn. Kinh đã nói: “Nếu phải chịu nghiệp báo trong ba đường ác, nguyện đời này trả xong, để khỏi vào đường ác.” Vua còn nghi ư?
Vua Thiên Ðức tín nhận, càng phát tâm làm phước. Sau đó, ngài từ giã nhà vua đi hoằng hóa nơi khác.
Người làm việc thiện mà bị bệnh lâu ắt là do làm các công đức nên đổ ra những nghiệp nhẹ hơn. Hiện tại tuy thấy có khổ nho nhỏ, nhưng bảo đảm về sau sẽ an ổn, như vậy là đáng vui mừng, chứ không đáng lo sợ.
Vậy thì chúng ta tu mà có lỡ đau thì vui hay buồn? Nếu gặp những bệnh kinh niên trị hoài không hết thì phải nhớ rằng: Bệnh này chỉ khổ nhè nhẹ, nếu xuống địa ngục còn khổ gấp trăm nghìn lần nữa, bây giờ ráng chịu cái khổ nhẹ, sau này hết khổ. Đừng than thở bi quan về bệnh của mình, mà vui vẻ chấp nhận. Tại sao? Vì bị bệnh này chỉ trả nghiệp nhẹ, không trả nghiệp nặng đọa địa ngục, chỉ chịu khổ hiện tại mà hết khổ lâu dài. Hiểu như vậy thì khi tu nghiệp có đổ bao nhiêu cũng không lo buồn.
Kinh dạy khi tu nên phát nguyện nếu lỡ tạo nghiệp ác phải đọa trong ba đường ác địa ngục ngạ quỷ súc sanh, thì hiện đời này xin trả hết, để khỏi rơi vào ba đường ác, mới là người hiểu đạo.
Tóm lại, tất cả người tu hành hiểu được lý này cho chân chánh thì chắc chắn an ổn. Trong giới tăng ni cũng có nhiều người bị bệnh kinh niên trị hoài không hết. Nếu không biết lý nghiệp báo, cứ than thân trách phận tại sao tu mà vô phước, bị bệnh trị không lành. Đừng than thở! Vì nhờ tu mà bệnh chơi chơi vậy thôi, vui vẻ chịu đựng cho hết, sau sẽ an lành. Nếu không tu thì sẽ xuống địa ngục chịu khổ biết ngần nào.
Vua Thiên Đức tín nhận, càng phát tâm làm phước.
Mười sáu năm sau, vua Thiên Đức băng hà, thái tử Đức Thắng lên nối ngôi. Vua Đức Thắng tin theo ngoại đạo, chú thuật, nghe lời xúi giục của chúng, muốn làm khó ngài. Thái tử con vua Đức Thắng tên Bất-như-mật-đa biết được ác ý đó, liền đến can vua.
Thái tử thưa:
Tôn giả Bà-xá-tư-đa xưa kia được ông nội kính trọng, nhiều người muốn hại còn không thể được, đạo đức của Ngài rất cao, xin phụ hoàng đừng làm khó Ngài.
Vua Ðức Thắng nổi giận cho Thái tử theo phe tôn giả Bà-xá-tư-đa liền bắt hạ ngục.
Sau vua cho thỉnh ngài vào chánh điện. Vua cật nạn:
– Nước tôi không có pháp tà, Thầy tu học về tông phái nào?
Ngài đáp:
– Tôi tu học theo tâm tông của Phật.
Vua hỏi:
– Phật diệt độ đã một ngàn năm, Thầy làm sao được tâm tông của Phật?
Ngài đáp:
Từ Phật truyền cho tổ Ca-diếp đã trải qua hai mươi bốn đời, đến Thầy tôi là tổ Sư Tử, tôi được người truyền lại.
Vua hỏi:
– Tôn giả Sư Tử đã bị giết, đâu thể đem pháp truyền cho Thầy? Nếu Thầy thật được truyền thì lấy gì làm tin?
Ngài đáp:
– Thầy tôi truyền bát và trao y Tăng-già-lê để làm tin, hiện nay vẫn còn.
Ngài liền lấy y đưa cho vua xem. Vua vẫn không tin bảo đem lửa đốt. Khi lửa cháy, y hiện năm sắc hào quang. Lửa tắt, y vẫn còn nguyên như cũ. Vua mới tin nhận, xin sám hối tạ tội. Đồng thời, vua truyền lệnh tha thái tử.
Sau khi được thả, thái tử Bất-như-mật-đa quyết chí xuất gia, xin phép vua cha được như nguyện. Vua thấy không thể ngăn được chí thái tử, nên đành phải cho.
Thái tử đến yết kiến ngài xin làm đệ tử xuất gia. Ngài hỏi:
– Nhà vua bằng lòng chăng?
Thái tử thưa:
– Phụ vương bằng lòng.
Ngài hỏi:
– Ông muốn xuất gia để làm việc gì?
Thái tử thưa:
Con muốn xuất gia để làm việc Phật.
Ngài thấy Thái tử tha thiết cầu đạo, liền
nhận cho xuất gia. Sau sáu năm, ngài triệu thỉnh các vị thánh chúng vào vương cung truyền giới cho Bất-như-mật-đa. Giờ truyền giới đó có nhiều điềm lành ứng hiện, toàn hội đều hoan hỷ.
Tổ từ giã nhà vua đi hoằng hóa nơi khác. Mười sáu năm sau vua Thiên Đức băng hà, thái tử Đức Thắng nối ngôi tin theo ngoại đạo chú thuật, nghe lời xúi giục của chúng làm khó dễ Tổ. Thái tử là Bất-như-mật-đa biết được ác ý của phụ hoàng liền đến can vua: Xưa kia ông nội rất kính trọng tôn giả Bà-xá-tư-đa, đạo đức của ngài rất cao, nhiều người muốn hại không thể được, xin phụ hoàng đừng làm khó ngài. Nhà vua nổi giận cho rằng thái tử theo phe tôn giả Bà-xá-tư-đa liền bắt hạ ngục.
Vua thỉnh ngài vào chánh điện cật vấn: Nước tôi không có pháp tà, Thầy tu học về tông phái nào? Câu hỏi này mới nghe vô lý nhưng mà có lý. Truyền bá chánh pháp là khi nào chỗ đó có tà pháp mới dùng chánh pháp để phá. Hiện giờ, nước tôi không có pháp tà, đem pháp chánh truyền chi cho dư.
Tổ đáp: Tôi tu học theo tâm tông của Phật. Vua hỏi: Phật diệt độ đã một ngàn năm, Thầy làm sao được tâm tông của Phật? Tổ đáp: Từ Phật truyền cho tổ Ca-diếp đã trải qua hai mươi bốn đời, đến Thầy tôi là tổ Sư Tử, tôi được người truyền lại. Vua hỏi: Tôn giả Sư Tử đã bị giết, đâu thể đem pháp truyền cho Thầy? Nếu Thầy thật được truyền, thì lấy gì làm tin? Tổ đáp: Thầy tôi truyền bát và trao y Tăng–già-lê để làm tin, hiện nay vẫn còn. Tổ lấy y đưa ra cho vua xem, vua vẫn không tin bảo đem lửa đốt. Y không cháy mà lại hiện hào quang năm sắc, khi lửa tắt y vẫn còn nguyên như cũ. Nhà vua thấy điềm lạ này mới kính phục tin nhận xin sám hối tạ tội, vua ra lệnh tha Thái tử. Sau khi được tha, thái tử Bất-như-mật-đa xin phép vua cha xuất gia theo Tổ tu hành.
Tổ hỏi: Ông muốn xuất gia để làm việc gì? Thái tử thưa: Con muốn xuất gia để làm việc Phật. Tổ thấy Thái tử tha thiết cầu đạo, liền triệu thỉnh các vị thánh chúng vào vương cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho Bất-như-mật-đa.
Một hôm, ngài gọi Bất-như-mật-đa đến dặn dò:
– Ta đã già lắm, chẳng bao lâu sẽ rời cõi này, xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:
Thánh nhân thuyết tri kiến,
Đương cảnh vô thị phi.
Ngã kim ngộ kỳ tánh,
Vô đạo diệc vô lý.
Dịch:
Thánh nhân nói tri kiến,
Ngay cảnh không phải quấy.
Nay ta ngộ tánh ấy,
Không đạo cũng không lý.
Thấy cơ duyên hóa đạo sắp viên mãn, Tổ gọi
Bất-như-mật-đa đến dặn dò và nói kệ truyền pháp:
Thánh nhân nói tri kiến,
Ngay cảnh không phải quấy.
Nay ta ngộ tánh ấy,
Không đạo cũng không lý.
Thánh nhân khi nói về tri kiến, chính ngay nơi đó nhận ra không qua phân biệt phải quấy. Người ngộ được thể tánh thì thấy không đạo cũng không lý. Ở đây dùng hai chữ đối nhau, trên thì thị và phi, dưới đạo và lý.
Tổ muốn chỉ cho chúng ta thấy rằng: Tri kiến mà chư Phật chư Tổ tán dương khen ngợi đó là Tâm. Chúng ta trực nhận không qua suy nghĩ phân biệt hai bên như thị phi đạo lý, như vậy mới là thấy đúng. Nếu mắc kẹt vào đối đãi thì chưa phải tri kiến chân chánh.
Bất-như-mật-đa thọ pháp xong, thưa:
– Còn y Tăng-già-lê Thầy không truyền cho con, là sao vậy?
Ngài bảo:
– Xưa ta được truyền y vì Thầy ta bị nạn, sợ người cho rằng truyền pháp không rõ ràng nên truyền y để làm tín vật. Nay ngươi được truyền, mọi người đều biết, cần y làm gì? Chỉ cần hóa đạo.
Nói xong, ngài thị hiện thần biến rồi vào Niết-bàn. Đồ chúng lượm xá-lợi xây tháp tôn thờ.
Tổ truyền pháp mà không truyền y nên ngài hỏi: Tại sao Thầy không truyền y cho con? Tổ bảo: Xưa ta được truyền y vì thầy ta bị nạn, truyền pháp không rõ ràng. Nay ngươi được truyền pháp mọi người đều biết cần y làm gì, chỉ cần hóa đạo. Câu nói này giống trường hợp Lục Tổ.
Khi tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, Tổ là người Ấn, Huệ Khả là người Trung Hoa làm sao biết được sự đắc đạo của Tổ, cho nên cần phải truyền y bát để làm chứng. Đến Lục tổ Huệ Năng thì đồ đệ quá đông, ngài có trụ xứ thuyết pháp đàng hoàng. Nhiều đồ đệ tu hành đắc đạo được mọi người biết đến, lúc đó truyền y chi cho dư, nên Lục Tổ không truyền nữa.
Truyền pháp xong, Tổ thị hiện thần biến rồi vào Niết-bàn. Đồ chúng hỏa thiêu lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.
Ngài dòng Sát-đế-lợi ở Nam Ấn con vua Đức Thắng. Lúc bé, ngài đã sùng mộ Phật giáo, tánh tình thuần lương, thông minh xuất chúng. Vì can thiệp với vua cha về việc hại tổ Bà-xá-tư-đa, ngài bị hạ ngục. Sau khi được thả, ngài lấy cớ bệnh, từ ngôi Thái tử, xin xuất gia với tổ Bà-xá-tư-đa. Sau đó, ngài được Tổ truyền tâm ấn, đi giáo hóa các nơi.
Ngài là con vua Ðức Thắng ở Nam Ấn. Khi còn nhỏ tánh tình thuần lương, thông minh xuất chúng, sùng mộ Phật giáo. Ngài từ bỏ ngôi thái tử, xin xuất gia với tổ Bà-xá-tư-đa và được Tổ truyền tâm ấn.
Ngài sang Đông Ấn hoằng hóa. Vua nước này hiệu Kiên Cố đang tin trọng các thầy Phạm chí. Hay tin ngài vào nước này, chúng Phạm chí họp nhau bàn mưu hãm hại. Thầy bọn Phạm chí xin theo vua lên chỗ cao, ông chỉ xa hỏi vua:
– Bệ hạ thấy gì không? Phương tây có yêu khí, ắt ma vào nước.
Vua đáp:
– Không thấy, song có gì đáng ngại?
Phạm chí thưa:
Ma này đến thì quốc gia suy vong. Xin dâng kế với Bệ hạ, chi bằng mình tiêu diệt trước đi.
Vua đáp:
– Chưa thấy họ có tội gì, đâu thể nhẫn tâm hại được!
Phạm chí lại tiến cử một đồ chúng giỏi chú thuật để theo vua trị ma.
Ngài dự biết trước việc xảy đến nên dặn đồ chúng:
Ta đến thành này ắt có nạn nhỏ, các ngươi chớ sợ.
Đến thành, ngài xin vào yết kiến nhà vua. Vừa gặp, vua liền hỏi:
– Thầy đến đây làm gì?
Ngài đáp:
– Tôi đến đây vì độ chúng sanh.
Vua hỏi:
– Sẽ lấy pháp gì? Độ những loài chúng sanh nào?
Ngài đáp:
– Tùy mỗi loài kia sẽ dùng pháp độ họ.
Vua hỏi:
– Nếu có người pháp thuật giỏi, Thầy dám chống chăng?
Ngài đáp:
– Phật pháp rất chân chánh, dù thiên ma cũng hàng phục được, huống là yêu thuật mà chẳng dám chống sao?
Ngoại đạo nghe nói nổi nóng, liền dùng pháp thuật hóa quả núi lớn, hiện trên không ngay đầu ngài, như chực sắp đè. Ngài lấy tay chỉ, quả núi bay lại trên đầu bọn Phạm chí, chúng hoảng sợ cầu ngài cứu mạng. Ngài lấy tay chỉ, quả núi tan mất. Vua và chúng Phạm chí đều kính phục xin ngài từ bi tha lỗi.
Nhân đó, ngài đem yếu lý Phật pháp giảng giải cho vua nghe. Vua hiểu rõ, thêm lòng quý kính, thỉnh ngài lưu lại trong hoàng cung. Ngài cũng cho nhà vua biết rằng trong nước nhà vua có một vị thánh nhân sẽ nối tiếp ngài truyền đạo.
Ngài sang Đông Ân để hoằng hóa, vua nước này tin trọng các thầy Phạm chí. Nghe tin ngài đến chúng Phạm chí họp nhau muốn hãm hại ngài. Họ nói với nhà vua: Bệ hạ thấy gì không? Phương tây có yêu khí, ắt ma vào nước. Nói như vậy nhưng thực tế ngoại đạo có thấy yêu khí không, tại sao dám chỉ nhà vua? Họ đặt lý do để hại ngài, nhưng nhà vua thật thà đáp: Không thấy, song có gì đáng ngại? Nhà vua đáp không thấy là tại mắt phàm tục, còn Phạm chí có thấy hay không cũng chẳng ai biết. Chúng nói: Ma này đến thì quốc gia suy vong. Xin dâng kế với Bệ hạ, chi bằng mình tiêu diệt trước đi. Vua đáp: Chưa thấy họ có tội gì, đâu thể nhẫn tâm hại được. Phạm chí đuối lý mới dùng pháp thuật để ám hại ngài. Họ cử một người giỏi về chú thuật theo hầu nhà vua để trị ma. Tổ dự biết trước việc xảy đến nên dặn dò đồ chúng: Ta đến thành này ắt có nạn nhỏ, các ngươi chớ sợ.
Ngày xưa ở Ấn Độ chia ra nhiều nước nhỏ, nên các ngài muốn hóa đạo dễ dàng, trước hết phải đến gặp nhà vua để xin phép. Nếu vua chấp thuận thì không có gì trở ngại, nếu vua không bằng lòng thì việc giáo hóa bị ngăn trở. Cho nên các ngài đến nước nào đều ra mắt nhà vua trước, rồi sau mới đi giáo hóa trong dân gian.
Ngài vào yết kiến nhà vua, vua hỏi: Thầy đến đây làm gì? Tổ đáp: Ta đến đây vì độ chúng sanh. Vua hỏi: Sẽ lấy pháp gì? Độ những loài chúng sanh nào? Tổ đáp: Tùy mỗi loài kia sẽ dùng pháp độ họ. Nghĩa là tùy duyên chứ không có cố định.
Vua hỏi: Nếu có người pháp thuật giỏi, Thầy dám chống chăng? Tổ đáp: Phật pháp rất chân chánh, dù thiên ma cũng hàng phục được, huống là yêu thuật mà chẳng dám chống sao?
Ngoại đạo nghe nói nổi nóng, ỷ có pháp thuật cao, liền dùng pháp thuật hóa ra quả núi lớn, hiện trên hư không như sắp đè đầu của Tổ.
Nếu chúng ta gặp trường hợp này thì sao? Chắc là la hoảng thầy trò kéo nhau cuốn gói chạy hết! Nhưng Tổ thì lấy tay chỉ quả núi bay ngược lại trên đầu bọn Phạm chí, chúng hoảng sợ cầu xin cứu mạng. Tổ lấy tay chỉ lần nữa, quả núi tan mất. Vua và Phạm chí đều kính phục xin Tổ từ bi tha lỗi.
Chúng ta thấy, Tổ chỉ cần lấy tay chỉ một cái là điều phục được quả núi và Phạm chí. Phạm chí bất lực với thần chú của mình hoảng hốt cầu Tổ cứu mạng. Nhân đó, Tổ đem yếu lý Phật pháp giảng giải cho vua nghe. Vua hiểu rõ, thêm lòng quý kính, thỉnh Tổ lưu lại trong hoàng cung để học đạo. Tổ cho nhà vua biết trong nước có một vị thánh nhân sẽ nối tiếp Tổ truyền bá chánh pháp.
Do những sự kiện trên, cho nên sau này khi truyền bá Phật pháp có nhiều thầy cũng học pháp thuật, để gặp những trường hợp như vậy đem ra sử dụng, khiến dân chúng dễ tín ngưỡng.
Nguyên trong nước này có một đồng tử con dòng Bà-la-môn. Cha mẹ mất sớm, đồng tử ấy phải ăn xin để sống qua ngày. Đồng tử này tánh tình phóng khoáng lạ thường, không ai biết tên họ gì. Có khi Đồng tử tự xưng là Anh Lạc, nên dân chúng gọi là Đồng tử Anh Lạc. Gặp lúc Đồng tử đi nhanh, có người hỏi:
– Sao anh đi nhanh vậy?
Đồng tử đáp:
– Sao các ngươi đi chậm quá.
Có người hỏi:
– Anh họ gì?
Đồng tử đáp:
– Tôi với các người đồng họ.
Một hôm, vua Kiên Cố cùng ngài Bất như mật-đa ngồi chung xe đi sang thành Đông. Anh Lạc ra đón, đứng trước xe làm lễ. Ngài nói với nhà vua:
– Người này là thánh nhân ở trong nước Đại vương vậy.
Ngài lại hỏi Anh Lạc:
– Ngươi nhớ việc xưa chăng?
Anh Lạc thưa:
– Tôi nhớ xưa đồng trong pháp hội, Tôn giả giảng Bát-nhã Ba-la-mật-đa, tôi giảng Tu-đa-la thậm thâm. Duyên xưa lại gặp nên mới đón nhau đây.
Ngài nói với vua:
– Đồng tử này là hóa thân của Bồ-tát Đại Thế Chí ra đời để nối dòng pháp cho tôi. Sau tôi sẽ có hai vị đại sĩ ra đời, vị trước giáo hóa ở Nam Ấn, vị sau có duyên với nước Trung Hoa, nhưng ở bên ấy chín năm rồi trở về bản quốc.
Ngài bảo Anh Lạc:
– Do xưa ta giảng Bát-nhã, ông thuyết Tu-đa-la, nay gặp lại đây, nên lấy Bát-nhã-đa-la đặt tên cho ngươi.
Bát-nhã-đa-la lễ tạ, theo Thầy xuất gia. Ngài ở Đông Ấn ngót sáu chục năm hoằng truyền chánh pháp. Thấy cơ duyên sắp mãn, ngài gọi Bát-nhã- đa-la đến dặn dò:
– Xưa Như Lai trao đại pháp nhãn tạng lần lượt truyền đến ta, nay ta đem truyền lại cho ngươi, ngươi nên lưu truyền chớ để dứt mất. Nghe ta nói kệ:
Chân tánh tâm địa tàng,
Vô đầu diệc vô vĩ.
Ứng duyên nhi hóa vật,
Phương tiện hô vị trí.
Dịch:
Kho tâm địa chân tánh,
Không đầu cũng không đuôi.
Hợp duyên tùy hóa vật,
Phương tiện gọi là trí.
Ngài từ giã vua Kiên Cố rằng:
– Đại vương gánh vác việc nước, ủng hộ Tam bảo đều được an ổn. Tôi hóa duyên đã hết, không vì quyến luyến ân đức Đại vương mà ở lâu, nay tôi sắp đi, Đại vương khéo bảo hộ Phật pháp.
Ngài nói xong, trở lại chỗ ngồi, thị hiện các thứ thần biến rồi thị tịch. Vua và môn đồ xây tháp thờ xá-lợi cúng dường.
Có một đồng tử dòng Bà-la-môn, tánh tình phóng khoáng, không ai biết tên họ gì. Cha mẹ mất sớm nên phải xin ăn để sống qua ngày. Đồng tử tự xưng là Anh Lạc. Gặp Đồng tử đi nhanh, có người hỏi: Sao anh đi nhanh vậy? Đồng tử đáp: Sao các ngươi đi chậm quá, Người ta hỏi đi nhanh, Đồng tử không đáp lại hỏi người ta sao đi chậm quá. Như vậy người ta thấy Đồng tử đi nhanh, cho nên Đồng tử phải thấy người ta đi chậm, đó là trên sự đối đãi. Sở dĩ các ông đi chậm, nên mới thấy tôi đi nhanh, cũng như tôi đi nhanh mới thấy các ông đi chậm, không cần lý luận chỉ đặt câu hỏi là được rồi.
Có người hỏi: Anh họ gì? Đồng tử đáp: Tôi với các người đồng họ. Chữ họ ở đây không phải họ hàng thế tục, mà muốn chỉ tánh giác, ai cũng có tánh giác. Đứng về tánh giác thì chúng ta đồng nhau, cho nên nói đồng họ. Như vậy là Đồng tử nói tột được lý đạo. Chúng ta thấy đó là hiện thân của một vị Tổ rồi.
Một hôm, Tổ và nhà vua đi chung xe sang thành Đông. Anh Lạc ra đón đứng trước xe làm lễ, Tổ nói với nhà vua: Người này là thánh nhân trong nước Đại vương vậy.
Tổ hỏi Anh Lạc: Ngươi nhớ việc xưa chăng? Anh Lạc thưa: Tôi nhớ xưa đồng trong pháp hội, Tôn giả giảng Bát-nhã Ba-la-mật-đa, tôi giảng Tu-đa-la thậm thâm. Duyên xưa lại gặp nên mới đón nhau đây. Chúng ta thấy các ngài dạo chơi trong tam giới chứ không dừng, đời này rồi tiếp tục đời khác qua lại hoài. Bây giờ chúng ta tu hơi khác hơn, muốn đi một lần thôi không trở lại, còn các ngài thì tự do ra vào tam giới.
Ngày xưa người thì giảng Bát-nhã, người thì giảng kinh thậm thâm, bây giờ hai người gặp lại. Ngài nói với nhà vua: Đồng tử này là hóa thân của Bồ-tát Đại Thế Chí, ra đời để nối dòng pháp cho tôi. Sau tôi sẽ có hai vị đại sĩ ra đời, vị trước giáo hóa ở Nam Ấn, vị sau có duyên với nước Trung Hoa, nhưng ở bên ấy chín năm rồi trở về bản quốc.
Tổ bảo Anh Lạc: Do xưa ta giảng Bát-nhã, ông thuyết Tu-đa-la, nay gặp lại đây, nên lấy Bát-nhã-đa-la đặt tên cho ngươi. Như vậy để thấy duyên thầy trò đời trước, bây giờ gặp lại nhau. Bát-nhã-đa-la lễ tạ theo Thầy xuất gia.
Tổ ở Đông Ấn sáu chục năm hoằng truyền chánh pháp. Thấy cơ duyên sắp mãn, nên gọi Bát-nhã-đa-la đến dặn dò và nói kệ truyền tâm ấn.
Kho tâm địa chân tánh,
Không đầu cũng không đuôi.
Hợp duyên tùy hóa vật,
Phương tiện gọi là trí.
Chân tánh là tánh chân thật của mỗi chúng ta, ở đây gọi là kho tâm địa, không đầu cũng không đuôi, tùy duyên mà giáo hóa chúng sanh, phương tiện gọi là trí. Tổ chỉ cho chúng ta thấy chân tánh không có danh tự hình tướng mà tùy duyên ứng hóa vô lượng, vì phương tiện cho người ta hiểu nên gọi là trí.
Chữ trí trong đạo Phật khác hơn chữ trí thế gian. Chữ trí thế gian là chỉ cho sự khôn ngoan lanh lẹ, còn gọi là thức. Thức là cái hiểu biết sanh diệt, trí là cái biết không sanh diệt. Nói trí là chỉ cho chân tánh bất sanh bất diệt, vì vậy mà gọi là Trí Bát-nhã. Bát-nhã là trí không phân biệt.
Tổ từ giã vua Kiên Cố: Đại vương gánh vác việc nước, ủng hộ Tam bảo đều được an ổn. Tôi hóa duyên đã hết, không vì quyến luyến ân đức Đại vương mà ở lâu, nay tôi sắp đi, Đại vương khéo bảo hộ Phật pháp.
Nói xong, Tổ trở lại chỗ ngồi, thị hiện các thứ thần biến, rồi thị tịch. Vua và môn đồ xây tháp thờ xá-lợi cúng dường.
Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông Ấn. Cha mẹ mất sớm, ngài đi theo xóm xin ăn qua ngày. Nếu có ai mượn làm việc gì, ngài sẵn sàng làm tận lực mà không cần tiền. Hành động và ngôn ngữ của ngài lạ thường, người đời không lường được. Khi tổ Bất-như-mật-đa nhắc lại duyên xưa, ngài xin xuất gia, theo hầu Tổ và được truyền tâm pháp.
Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông Ấn. Mồ côi cha mẹ nên theo hàng xóm xin ăn qua ngày. Có ai mượn làm việc gì thì sẵn sàng làm mà không cần tiền. Hành động và ngôn ngữ khác hơn người đời. Khi gặp tổ Bất-như-mật-đa nhắc lại duyên xưa, ngài xin xuất gia theo hầu Tổ và được truyền pháp.
Sau này ngài thống lãnh đồ chúng sang Nam Ấn hoằng hóa. Vua nước này hiệu Hương Chí hết lòng sùng kính Phật pháp. Vua sanh ba người con trai đều kính tin Phật pháp. Người con lớn tên Nguyệt Tịnh Đa-la thích tu pháp niệm Phật tam-muội. Người con thứ hai tên Công Đức Đa-la thích tu bố thí làm phước. Người con thứ ba tên Bồ-đề-đa-la thích thông lý Phật, lấy việc xuất thế làm trên.
Vua thỉnh ngài về cung cúng dường, bảo ba vị thái tử ra đảnh lễ. Ngài biết ba vị thái tử này đều ham tu, muốn nghiệm thử trí của mỗi người thế nào. Sẵn nhà vua cúng dường hạt châu quý vô giá, ngài lấy ra hỏi:
– Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu này chăng?
Nguyệt Tịnh thưa:
– Hạt châu này quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong nhà vua thì làm gì có hạt châu này.
Công Đức Ða-la cũng đồng ý như vậy. Bồ-đề- đa-la thưa:
– Châu này là của báu thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có Pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ tâm trong sạch là trên hết. Nhưng ánh sáng của hạt châu này không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng trí tuệ mới biện biệt được nó. Đã biện rõ mới biết là châu, đã biết là châu mới hiểu cái quý báu của nó. Nếu hiểu cái quý báu của nó, thì nó báu mà không biết báu. Nếu biện rõ nó là châu, thì nó châu mà chẳng tự biết châu. Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu. Báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ Pháp bảo. Song mà, Thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện. Chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế.
Ngài khen ngợi tài biện luận của Bồ-đề-đa-la. Lại hỏi thêm:
– Trong các vật, vật gì không tướng?
– Trong các vật, chẳng khởi là không tướng.
– Trong các vật, vật gì là tối cao?
– Trong các vật, nhân ngã là tối cao.
– Trong các vật, vật gì là tối đại?
– Trong các vật, pháp tánh là tối đại.
Ngài thầm vui biết là đại pháp khí sẽ nối dõi cho ngài sau này.
Sau khi được truyền pháp, ngài đi hóa độ tới miền Nam Ấn, gặp vua Hương Chí. Vua có ba người con trai đều hâm mộ Phật pháp, nhưng mỗi vị có cách tu khác nhau. Vua thỉnh Tổ về cung và cúng dường một hạt châu rất quý. Tổ muốn nghiệm thử trí tuệ mỗi thái tử như thế nào nên hỏi: Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu này chăng? Thái tử Nguyệt Tịnh nói rằng:
Hạt châu này quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong cung vua thì làm gì có hạt châu này?
Thái tử Công Đức Đa-la cũng đồng ý như vậy. Câu nói đó là chấp nhận hạt châu vô giá, ngoài hạt châu không còn gì cao tột hơn, nhưng đối với ngài Bồ-đề-đa-la thì khác, nên thưa rằng: Châu này là của báu thế gian, chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có Pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ tâm trong sạch là trên hết.
So sánh về sự quý báu thì châu này là của báu thế gian, không quý báu bằng Phật pháp. Hạt châu này tuy sáng nhưng thuộc về cái sáng của thế gian, nên thua ánh sáng của trí tuệ. Nói tới sự trong sạch thì hạt châu trong trẻo sạch sẽ, nhưng không bì được sự trong trẻo sạch sẽ của tâm.
Nhân hạt châu mà ngài lý luận, thứ nhất là quý báu thì hạt châu thua Pháp bảo. Thứ hai là sáng suốt, hạt châu không sáng bằng trí tuệ. Thứ ba là trong sạch, hạt châu không trong sạch bằng tâm thể. Kế đến ngài đưa ra lý luận khác nữa, mới nghe chúng ta thấy lạ: Ánh sáng của hạt châu chỉ sáng và chiếu tỏa ra ngoài, nó không tự chiếu mà phải nhờ trí tuệ của người mới biết được ánh sáng của nó. Như vậy nhờ ánh sáng trí tuệ biện biệt mới nhận nó là hạt châu có giá trị. Sự thật hạt châu không tự biết giá trị quý báu của nó, nên nói nó báu mà không biết báu, như vậy có nghĩa lý gì đâu! Ngài nói thế để cho chúng ta thấy rõ, những vật báu bên ngoài không có giá trị bằng trí tuệ con người, là để trở về tâm.
Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu, báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ pháp bảo. Như vậy tất cả những cái quý báu của thế gian, tự không thành quý báu, mà do trí tuệ con người nhận xét mới thành quý báu. Tất cả sự vật ở bên ngoài không có giá trị, mà do trí tuệ con người nhận biết nó mới có giá trị. Do đó trí tuệ của con người là trên hết, không có của báu thế gian nào bì kịp.
Song mà Thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện, chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế. Nghĩa là Thầy có đạo thì báu hiện với Thầy, chúng sanh có đạo thì báu hiện với chúng sanh. Cho nên báu đó là báu ở tâm, chứ không phải báu của thế gian.
Tổ nghe Bồ-đề-đa-la lý luận như vậy nên khen ngợi, lại hỏi thêm: Trong các vật, vật gì không tướng? Ngài trả lời: Trong các vật, chẳng khởi là không tướng. Nếu tâm chẳng khởi là không tướng, nếu có khởi là có tướng. Trả lời rất hay. Trong các vật, vật gì tối cao? Đáp: Trong các vật, nhân ngã là tối cao. Không có gì tối cao bằng chấp nhận chấp ngã, đó là cái tối cao của thiên hạ. Trong các vật, vật gì tối đại? Đáp: Trong các vật, pháp tánh là tối đại. Nghĩa là pháp tánh là tột cùng lớn nhất.
Tổ thầm vui, biết Đa-la là đại pháp khí sẽ nối pháp sau này.
Một hôm, vua Hương Chí hỏi ngài:
– Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn giả không tụng kinh?
Ngài đáp:
– Tôi hơi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, thường tụng thứ kinh này trăm ngàn muôn ức quyển.
Vua Hương Chí băng, hai hoàng tử lớn và hoàng thân đều kêu khóc, duy Bồ-đề-đa-la ngồi nhập định chỗ quân linh cữu suốt bảy ngày. An táng nhà vua xong, Bồ-đề-đa-la xin phép mẹ và hai anh theo ngài Bát-nhã-đa-la xuất gia.
Ngài thấy cơ duyên đã thuần thục nên nhận cho, rồi thỉnh thánh tăng làm lễ xuất gia thọ giới cho Bồ-đề-đa-la.
Hôm nọ, ngài gọi Bồ-đề-đa-la đến dặn dò:
– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi khéo truyền bá chớ cho đoạn dứt. Nghe ta nói kệ:
Tâm địa sanh chư chủng,
Nhân sự phục sanh lý.
Quả mãn Bồ-đề viên,
Hoa khai thế giới khởi.
Dịch:
Đất tâm sanh các giống,
Nhân sự lại sanh lý.
Quả đầy Bồ-đề tròn,
Hoa nở thế giới sanh.
Truyền pháp xong, ngài hiện các thứ thần biến rồi thị tịch.
Một hôm, vua Hương Chí hỏi Tổ: Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn giả không tụng kinh? Tổ đáp: Tôi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, thường tụng thứ kinh này trăm ngàn muôn ức quyển. Câu trả lời của Tổ nghe thật lạ! Đó là kinh gì? Chính đây là một công án, mà sau này các thiền sư đem ra dùng.
Thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, cứ bao nhiêu đó mà tụng trăm ngàn muôn ức quyển. Như vậy làm sao tụng? Ai cũng thở ra hít vào sao không thấy mình tụng kinh? Còn ngài thở ra hít vào lại tụng kinh? Chính điều này là tối quan trọng đối với người học đạo.
Thở ra không tiếp các duyên, nói thở nhưng sự thật là nhìn ra thì không dính tất cả sự vật. Hít vào chẳng ở trong ấm giới. Ấm giới là thân, nói hít vào là nhìn trong thân không chấp thân, nên không mắc kẹt ấm giới. Trong không chấp thân tức là không chấp ngã, ngoài không chấp cảnh tức là không chấp pháp, đó là một bài kinh lớn vô cùng vô tận. Tổ hằng sống như vậy, còn chúng ta nhiều khi tụng hết bộ này qua bộ kia, đếm bộ tính số, chứ không ứng dụng ý kinh để tu hành thì coi như không tụng.
Vua băng hà, hai hoàng tử lớn và hoàng thân đều kêu khóc, chỉ có Bồ-đề-đa-la ngồi nhập định chỗ quàn linh cữu suốt bảy ngày. An táng vua xong, Bồ-đề-đa-la xin phép mẹ và hai anh theo Tổ xuất gia. Tổ thấy Bồ-đề- đa-la đã thuần thục nên chấp nhận và thỉnh các vị thánh tăng làm lễ xuất gia truyền giới.
Một hôm Tổ gọi Bồ-đề-đa-la đến dặn dò và nói kệ truyền pháp.
Đất tâm sanh các giống,
Nhân sự lại sanh lý.
Quả đầy Bồ-đề tròn,
Hoa nở thế giới sanh.
Tâm địa là chỉ cho pháp môn tâm địa, tất cả pháp đều từ tâm địa lưu xuất. Muốn đạt được tâm địa thì từ nơi sự mà thấy được lý, hay từ nơi người vật mà nhận được tâm, như vậy mới viên mãn được quả Bồ-đề. Nếu tâm dấy khởi thì muôn pháp cũng theo đó mà khởi, cho nên nói hoa khai thế giới khởi. Hoa khai tức là tâm dấy lên, thế giới khởi là quả hiện ra, nghĩa là tâm sanh thì pháp sanh. Để nêu rõ ý nghĩa tất cả pháp đều từ tâm sanh. Biết tất cả pháp từ tâm sanh thì nhìn sự tướng các pháp biết không rời tâm, nên gọi là nhân sự thấy được lý, nếu từ sự thấy được lý thì viên mãn quả vị Bồ-đề. Ý bài kệ này Tổ dạy tất cả pháp đều do tâm sanh, nếu tâm không sanh thì các pháp theo đó mà diệt.
Truyền pháp xong, Tổ hiện các thứ thần biến rồi thị tịch.
Ngài dòng Sát-đế-lợi ở Nam Ấn, cha là Hương Chí vua nước này. Vua Hương Chí sanh được ba người con trai, ngài là vương tử thứ ba. Thuở nhỏ ngài đã có chí siêu việt và đặc biệt có tài hùng biện.
Nhân vua Hương Chí thỉnh tổ Bát-nhã-đa-la vào cung cúng dường, ngài mới có duyên gặp Tổ. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, Tổ đã biết ngài là người siêu quần bạt tụy sẽ kế thừa Tổ vị.
Sau khi vua cha băng hà, ngài quyết chí xuất gia cầu xin tổ Bát-nhã độ làm đệ tử. Tổ hoan hỷ làm lễ thế phát và truyền giới Cụ túc. Tổ bảo ngài:
– Hoàng tử đối các pháp đã được thông suốt, nay nên đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma.
Từ đây, ngài luôn hầu hạ bên thầy. Một hôm, Tổ gọi ngài đến truyền pháp và dặn dò:
– Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm, sau e có việc không tốt.
Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, ngài đều cầu xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài kệ.
Bồ-đề-đạt-ma là vị Tổ thứ hai mươi tám ở Ấn Độ, cũng là vị Tổ đầu tiên ở Trung Hoa. Chúng ta đọc sử thấy cuộc đời của ngài có những điều hết sức kỳ đặc, do đó cần phải học kỹ hơn để biết đường hướng truyền bá Phật pháp của ngài như thế nào.
Ngài là người mở đầu Thiền tông Trung Hoa, là vương tử thứ ba của vua Hương Chí, thuở nhỏ đã có ý chí siêu việt và đặc biệt là có tài hùng biện. Qua cuộc nghiệm vấn về hạt châu, tổ Bát-nhã-đa-la biết ngài là người siêu quần bạt tụy sẽ kế thừa Tổ vị, nên nhận cho xuất gia và truyền tâm ấn, được đổi hiệu là Bồ-đề-đạt-ma. Từ đây, ngài luôn hầu hạ bên Tổ.
Tổ Bát-nhã-đa-la dặn dò thêm: Ngươi tạm giáo hóa ở nước này, sau sang Trung Hoa mới thật là nhân duyên lớn. Song, đợi ta diệt độ khoảng sáu mươi năm sau sẽ đi. Nếu ngươi đi sớm e có việc không tốt.
Những điều kiết hung về sự giáo hóa ở Trung Hoa sau này, ngài đều xin Tổ chỉ dạy. Tổ dùng những lời sấm ký tiên đoán sự kiết hung vận số Phật pháp ở Trung Hoa, nói có hơn mười bài kệ, vì nhiều quá ở đây không dẫn hết. Những lời dặn dò thì cốt yếu làm sao tìm cho ra người kế thừa, để hạt giống Thiền tông nảy nở ở Trung Hoa không mất.
Tổ tịch rồi, ngài vẫn ở tại nước nhà giáo hóa. Người huynh đệ đồng sư với ngài là Phật Đại Tiên cùng chung sức giáo hóa. Thời nhân gọi hai ngài là “Mở hai cửa cam lồ”. Song, sau môn đồ của Phật Đại Tiên lại chia làm sáu tông: 1- Hữu tướng, 2- Vô tướng, 3- Định tuệ, 4- Giới hạnh, 5- Vô đắc, 6- Tịch tịnh, đua nhau truyền bá. Ngài thấy sự phân chia ấy, ngại cho chánh pháp suy vi. Vì thế, ngài dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Sau khi Tổ tịch, ngài ở tại nước nhà cùng huynh đệ đồng sư là Phật Đại Tiên chung sức giáo hóa. Thời nhân gọi hai ngài Mở hai cửa cam lồ. Nhưng sau đó môn đồ của Phật Đại Tiên lại chia làm sáu tông đua nhau truyền bá. Ngài thấy sự chia chẻ chi li ấy, ngại cho chánh pháp suy vi nên dùng phương tiện cảm hóa họ hồi đầu quay về chánh pháp.
Bởi vì Phật pháp không nhiều không hai, mà chia ra nhiều tông phái dễ bị phân tán rời rạc, đó là cái cớ làm Phật pháp suy vi. Cho nên ngài thâu nhiếp trở về một mối.
Vua Nguyệt Tịnh băng hà, con vua là thái tử Dị Kiến nối ngôi. Dị Kiến lên ngôi không bao lâu lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo. Ngài sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi cải tà quy chánh, vua Dị Kiến hỏi ra mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình. Nhà vua cho người thỉnh ngài về cung giáo hóa.
Về cung giáo hóa một thời gian, ngài thấy cơ duyên sang Trung Hoa đã đến, bèn đem lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho vua biết. Vua không còn lời gì dám ngăn cản, đành sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa ngài sang Trung Hoa. Vua và quần thần tiễn đưa ngài ra tới cửa biển.
Vua Nguyệt Tịnh băng hà, thái tử Dị Kiến nối ngôi, lại tin theo tà thuyết bài bác Phật giáo. Tổ sai đệ tử là Ba-la-đề đến cung vua để nhiếp hóa. Sau khi cải tà quy chánh, vua Dị Kiến mới biết Ba-la-đề là đệ tử của chú mình, nhà vua cho người thỉnh Tổ về triều giáo hóa.
Thấy cơ duyên giáo hóa ở Trung Hoa đã đến, ngài mới đem lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la thuật lại cho cháu nghe. Ông vua cháu này không có lý do gì ngăn cản được, đành phải sắm một chiếc thuyền buôn, cho thủy thủ đưa Tổ sang Trung Hoa.
Ngài ở trên thuyền gần ngót ba năm, thuyền mới cặp bến Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 TL), ngày hai mươi mốt tháng chín năm Canh Tý. Thứ sử tỉnh này ra đón tiếp ngài, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Đế. Vua được sớ, liền sai sứ lãnh chiếu chỉ đến thỉnh ngài về Kim Lăng (kinh đô nhà Lương). Vua Võ Đế hỏi:
– Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni, không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng?
Ngài đáp:
– Đều không có công đức.
Tại sao không có công đức?
– Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
Thế nào là công đức chân thật?
– Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu.
Thế nào là Thánh đế nghĩa thứ nhất?
– Rỗng rang không Thánh.
– Đối diện với trẫm là ai?
– Không biết.
Vua Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, lui về nghỉ. Ngài biết căn cơ chẳng hợp, tạm lưu lại đây ít hôm.
Tổ ở trên thuyền gần ngót ba năm. Từ Ân Độ đi đường biển lần lần đến Quảng Châu, có lẽ trong ba năm đó Tổ cũng có ghé Việt Nam. Bởi vì đường biển quá xa, cho nên sẽ thiếu lương thực, cũng có thể ghé xứ mình, mà tại lúc đó mình mù mờ quá cho nên không biết Tổ.
Con đường của tổ Đạt-ma đi từ Ấn Độ sang Trung Hoa và sau này ngài Huyền Trang từ Trung Hoa sang Ấn Độ, hai con đường khác nhau. Tổ Đạt-ma đi đường quanh vòng biển từ phương tây Ấn Độ tới phương đông, đường biển đi lâu hơn đường bộ nhưng ít nguy hiểm. Ngài Huyền Trang thì đi xuyên qua đường bộ, nên đi qua nhiều nước và rất nguy hiểm.
Chúng ta thấy người xưa vì truyền bá chánh pháp mà phải chịu gian nan, dù xa mấy cũng phải đi cho tới, khó mấy cũng làm được, vì pháp quên thân nên không sợ nguy hiểm sống chết. Còn chúng ta bây giờ phương tiện dễ dàng, nhưng ý chí yếu đuối, quý thân hơn quý pháp, nên gặp việc hơi khó thì không chịu làm.
Khi tới Quảng Châu, nhằm đời nhà Lương, niên hiệu Phổ Thông năm đầu (520 TL). Khi đó, Thứ sử tại tỉnh này ra đón tiếp Tổ, đồng thời dâng sớ về triều tâu vua Lương Võ Đế. Nhà vua vốn mộ Phật giáo, nên khi được sớ liền cho sứ đến thỉnh Tổ về Kim Lăng, Tổ nghỉ ngơi xong nhà vua mới đến hội kiến.
Vua hỏi: Trẫm từ khi lên ngôi đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ tăng ni không biết bao nhiêu, vậy có công đức gì chăng? Khi vua đem câu đó ra hỏi thì có vẻ hơi khoe công. Chính vì khoe công mà bị Tổ nói một câu như tạt gáo nước lạnh vào mặt: Đều không có công đức.
Nhà vua đang sốt sắng đem bao nhiêu công lao của mình thưa trình, ít ra cũng được một lời khen ngợi an ủi. Đằng này Tổ nói đều không có công đức. Giả sử chúng ta bây giờ có vài Phật tử quen, rước về nhà mời ngồi uống trà, rồi trình bày “con ở đây làm rất nhiều Phật sự, như vậy có phước không?”, mình trả lời sao? Quý thầy đều biết rằng đó là phước hữu vi hữu lậu, nhưng có can đảm nói như Tổ hay không? Không dám nói phước nhiều nhưng cũng nói “tốt lắm!” Còn ở đây Tổ cho một gáo nước lạnh, đều không có công đức.
Nếu khi đó chúng ta là vua Lương Võ Đế thì chắc cũng bái Tổ rồi rút lui. Nhưng vua vẫn còn gan dạ nên hỏi thêm: Tại sao không có công đức? Tổ nói: Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải thật.
Tất cả việc làm như cất chùa chép kinh độ tăng v.v… là tướng hữu vi vô thường, những việc lành thuộc về vô thường thì quả báo cũng vô thường. Cho nên Tổ nói chỉ có quả báo nhỏ ở cõi người cõi trời. Giả sử làm Tổng thống, nhưng đắc cử chừng năm năm cũng phải xuống. Như vậy năm năm oai hùng đó dưới con mắt của người biết đạo, chỉ là phước báo nhỏ chứ không phải lớn.
Vua hỏi tiếp: Thế nào là công đức chân thật? Tổ đáp: Trí thanh tịnh tròn mầu, thể tự không lặng, công đức như thế chẳng do thế gian mà cầu. Trí thanh tịnh sáng suốt mầu nhiệm, không có tướng mạo đó mới là công đức, là trí xuất thế gian không sanh diệt, chứ không phải trí phân biệt sanh diệt của thế gian.
Lương Võ Đế làm vua, nhưng cũng là một người giảng kinh hay lắm. Cho nên mới đem danh từ Phật pháp ra hỏi: Thế nào là Thánh đế đệ nhất nghĩa? Tổ đáp: Rỗng rang không Thánh. Đây là gáo nước lạnh thứ hai.
Đệ nhất nghĩa đế là nghĩa cứu cánh trong các kinh, đó là chỗ tột cùng của chư Bồ-tát hâm mộ, vua đem ra hỏi Tổ, nhưng Tổ đáp rỗng rang không Thánh. Như vậy, phước cũng không mà Thánh cũng không, thì còn lòng dạ nào mà nói chuyện nữa! Cho nên vua bực bội hỏi tiếp: Đối diện với trẫm là ai? Nói không phải Thánh, vậy đối diện với tôi là ai? Tổ đáp: Không biết. Đó là gáo nước lạnh thứ ba. Nói không biết thì còn gì để hỏi! Lương Võ Đế không lãnh ngộ được, chỉ còn cách lui về nghỉ.
Chúng ta thấy một cuộc đối đáp lạnh tanh, không có sinh khí gì hết. Nhà vua đang nồng nhiệt đưa ra những câu hỏi muốn Tổ đáp thỏa đáng, nhưng Tổ làm cho vua thất vọng, đó là tại Tổ không khế cơ, hay tại vua không khế lý. Nếu người truyền đạo thuyết pháp mà không khế cơ thì có lỗi, vì nói nghĩa lý cao siêu người nghe không hiểu nên mất niềm tin. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng, Tổ sang Trung Hoa với một trách nhiệm phi thường, vượt ra ngoài đối đãi chứ không phải trách nhiệm tầm thường, nên Tổ có những lối đối đáp lạ lùng. Chính những điều đó đã làm cho vua Lương Võ Đế không khế hợp được.
Đó cũng là một lý do sau này làm nổi dậy dư luận ở Trung Hoa. Nếu Tổ nói như những vị trước thì không có gì nổi bật. Tuy nhiên trách nhiệm của ngài sang Trung hoa không phải để làm những chuyện thông thường như dịch kinh giảng đạo, mà để truyền tâm ấn cho những người đầy đủ căn cơ pháp khí Đại thừa.
Đến ngày mười chín, ngài bỏ vua Lương, lén sang sông qua Giang Bắc. Ngài nhập cảnh nước Ngụy, đi đến Lạc Dương nhằm đời Hậu Ngụy vua Hiếu Minh Đế, niên hiệu Chánh Quang năm đầu (520 TL) ngày hai mươi ba tháng mười một.
Ngài dừng trụ tại chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu được. Người đời gọi ngài là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách” (Bích quán Bà-la-môn).
Có vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh ngài tìm đến yết kiến. Thần Quang đã đủ lễ nghi mà ngài vẫn ngồi lặng yên ngó mặt vào vách không màng đến. Thần Quang nghĩ: “Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài.” Hôm ấy, nhằm tiết mùa đông (mùng chín tháng chạp), ban đêm tuyết rơi lả tả, Thần Quang vẫn đứng yên ngoài tuyết chắp tay hướng về ngài. Đến sáng tuyết ngập lên khỏi đầu gối, mà gương mặt Thần Quang vẫn thản nhiên. Ngài thấy thế thương tình, xoay ra hỏi:
– Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì?
Thần Quang thưa:
– Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con.
– Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa?
Thần Quang nghe dạy bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước mặt ngài để tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí bèn dạy:
– Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá.
Thần Quang thưa:
– Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng?
– Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được.
– Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm.
– Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
– Con tìm tâm không thể được.
– Ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Thần Quang nhân đây được khế ngộ. Ngài liền đổi tên Thần Quang là Huệ Khả.
Lương Võ Đế là vị vua mộ đạo Phật, cho nên dù ngài hỏi Tổ đáp không hợp căn cơ nhưng vẫn kính thờ Tổ và cho người nuôi dưỡng trong nhà riêng rất là xứng đáng. Tổ biết căn cơ vua không hợp nên đến ngày mười chín, bỏ vua Lương lén sang sông qua Giang Bắc nhập cảnh nước Ngụy.
Đến Lạc Dương, Tổ đi thẳng vào núi Tung Sơn, tới chùa Thiếu Lâm, trọn ngày ngồi xây mặt vào vách im lặng. Tăng chúng đều không hiểu. Người đời gọi Tổ là “Thầy Bà-la-môn ngồi nhìn vách”, vì Tổ không cạo râu tóc nên nhìn giống thầy Bà-la-môn.
Có vị tăng tên Thần Quang học thông các sách, giỏi lý diệu huyền, nghe danh Tổ tìm đến yết kiến. Thần Quang y áo chỉnh tề đầy đủ lễ nghi, mà Tổ vẫn ngồi xây mặt vào vách lặng yên không màng đến. Thần Quang nghĩ rằng: Người xưa cầu đạo chẳng tiếc thân mạng, nay ta chưa được một trong muôn phần của các ngài. Hôm ấy, nhằm tiết đông tuyết rơi trắng xóa, Thần Quang vẫn suốt đêm đứng yên ngoài tuyết chắp tay hướng về Tổ. Tuyết lên tới khỏi đầu gối mà gương mặt vẫn thản nhiên. Chúng ta đứng suốt đêm ở ngoài trời mưa lả tả cũng quá sức rồi, huống chi ngài đứng trong tuyết lạnh lên tới đầu gối.
Tổ thấy thế thương tình xoay ra hỏi: Ngươi đứng suốt đêm trong tuyết, ý muốn cầu việc gì? Thần Quang thưa: Cúi mong Hòa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con. Con đến đây chỉ cầu mong được Tổ độ cho. Tổ đáp: Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, còn không thể đến thay! Huống là, dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa? Đứng suốt đêm mà Tổ nói chỉ dùng chút công lao nhỏ để cầu đạo vô thượng thì hết hy vọng.
Thần Quang nghe Tổ dạy như vậy, bèn lén lấy đao chặt cánh tay trái để trước mặt Tổ tỏ lòng thiết tha cầu đạo. Ngài biết đây là pháp khí đại thừa bèn dạy: Chư Phật lúc ban đầu cầu đạo, vì pháp quên thân, nay ngươi chặt cánh tay để trước ta, tâm cầu đạo như vậy cũng khá. Sau này Tổ đặt tên Thần Quang là Huệ Khả. Khả là khá. Chúng ta thấy chính cách đối xử lạnh nhạt của Tổ mới tìm ra một người khá như vậy.
Câu chuyện này có thật hay không? Đứng ngoài tuyết có thể là một sự thật, chặt cánh tay để trước mặt Tổ thì chưa biết thực hư thế nào. Nhưng ở đây hàm chứa ý nghĩa siêu tuyệt. Bởi vì chủ yếu của nhà thiền, là phải có dũng khí của người siêu quần bạt tụy thì mới có thể cầu đạo. Nếu chúng ta cầu đạo với tâm khinh thường, không nhiệt thành thì không bao giờ đạt đạo. Tại sao? Nếu thiếu ý chí thì việc lớn làm không xong, người đại chí thì cái gì muốn, dù khó thế mấy cũng làm cho được. Nếu khó một chút mà không làm thì không đạt tới chỗ cứu cánh của đạo. Ở đây Tổ muốn chọn người có đại chí, cho nên Thần Quang chặt cánh tay dâng lên Tổ để được truyền đạo.
Câu chuyện này là tấm gương lớn cho người học đạo trong nhà thiền. Mỗi khi nói tới tinh thần của người cầu đạo, đều lấy gương người dũng sĩ chặt tay để khích lệ. Người vì đạo quên thân thì mới đủ tư cách đảm đang việc lớn. Tổ chọn người xứng đáng như vậy mới đem Phật pháp truyền trao.
Người xưa cầu đạo chỉ nghe qua một câu nói là ngộ liền. Chúng ta bây giờ vô chùa học đạo, tu hoài không ngộ là tại vì ý chí quá yếu đuối, nhiều khi nghe hiểu nhưng còn nghi ngờ không dám nhận. Cho nên có người đi tu mà vui thì ở chùa, buồn thì về nhà, được chiều chuộng thì thích, mà bị quở trách thì không ưng. Lâu lâu lại than, tu hai ba mươi năm sao không thấy tiến bộ gì hết, chán quá! Bởi vì chí nguyện kém cỏi, tinh thần yếu ớt làm sao đạt đạo. Đạo không phải khó, mà khó tại mình không có ý chí.
Ví dụ nghe tôi giảng bốn tháng nay, có thể nhiều vị nhận ra, hoặc cũng biết chút ít. Nhưng sống được với cái đó là chuyện không phải dễ, cũng không phải khó. Biết rồi nhưng tập khí ngàn xưa không bỏ thì làm sao! Như người ghiền á phiện, ghiền rượu, ghiền thuốc v.v… bệnh ghiền đó không phải bỏ không được. Nếu người gan dạ, ý chí mạnh mẽ biết hút á phiện là xấu lại tốn tiền, có hại cho sức khỏe, biết rồi liền bỏ. Người khác cũng biết như vậy, nhưng thiếu nó lại chạy đi tìm kiếm đưa vô thì suốt đời bỏ không được.
Dù là kẻ yếu đuối bệnh hoạn dốt nát tối tăm, một khi thức tỉnh, đầy đủ ý chí đều làm được hết. Cũng vậy, bao nhiêu tập nghiệp tham sân si, người tu hành không thể nào không buông bỏ, tại không gan dạ nên cứ nuôi dưỡng nó hoài. Như người có nghiệp làm thơ, buổi chiều nhìn thấy biển có những chiếc thuyền nhấp nhô, gặp trăng lên thì cảm hứng muốn làm thơ. Nhưng vừa dấy niệm làm thơ, biết đó là bệnh liền bỏ. Nếu dấy niệm thấy hay, bỏ thì uổng, tiếc nuối không bỏ được. Như khi ngồi thiền, những niệm phải quấy tốt xấu sai lầm dấy lên, biết là lỗi liền buông. Nếu nghĩ những điều hay thì khó buông lắm, buông thì quên đi sẽ uổng, nên ôn tới ôn lui một hồi nó dẫn đi tuốt. Đó là bị xí gạt.
Sự tu hành cốt yếu là phải gan dạ hùng dũng. Nói gan dạ hùng dũng thì người ta cho rằng chỉ có bậc trượng phu mới làm được. Đừng nghĩ nam nhi mới là trượng phu, người nam người nữ nào có ý chí, biết điều dở liền buông, không bị những thói quen lôi dẫn, đều gọi là trượng phu. Điều Ngự Trượng Phu là một trong mười hiệu của đức Phật, ngài có sức mạnh vượt lên trên tất cả chướng ngại. Chúng ta là người kế thừa sự nghiệp to lớn của đức Phật, nếu không có ý chí như thế thì làm sao thừa đương? Do đó phải có dũng khí như chàng dũng sĩ chặt tay, hùng dũng gan dạ, gặp những điều khó khăn mới có thể vượt qua. Ngày xưa chư tổ không phải chọn lựa người thông minh học giỏi, mà chọn người có ý chí kiên cường.
Chúng ta thấy ngài Thần Quang đến với Tổ chưa nói câu nào xuất sắc, chưa luận bàn gì cả, nhưng Tổ thấy tâm quên mình cầu đạo của ngài, biết đó là bậc pháp khí đại thừa nên chấp nhận cho làm đệ tử. Chúng ta học đạo ráng nuôi dưỡng ý chí mãnh liệt như vậy. Những người vì đạo quên mình, khi ngộ rồi đi truyền bá thì ngũ dục thế gian không còn quyến rũ được, do họ không nghĩ tới thân. Chúng ta bây giờ vì quá trọng thân nên khổ một chút thì than, nếu gặp chướng ngại thì nhút nhát không vượt qua được, đều do gốc chấp ngã quá nặng mà ra. Nếu người thấy rõ bản ngã giả tạm thì không có gì quan trọng. Cho nên tăng ni kể cả người cư sĩ bắt đầu học đạo, phải nuôi ý chí vững mạnh, tinh thần kiên định thì không có gì khó cả. Nếu không thì thật là gian truân khổ sở vì đường tu còn dài lắm.
Thần Quang thưa: Pháp ấn của chư Phật con có thể được nghe chăng? Tổ đáp: Pháp ấn của chư Phật không phải từ người khác mà được. Không phải từ người khác nói để mình được, mà chính mình phải nhận lấy, vì cái đó là ở nơi mình.
Một hôm Thần Quang bạch với Tổ: Tâm con chưa an, xin Thầy dạy pháp an tâm. Tổ bảo: Ngươi đem tâm ra đây ta an cho. Thần Quang tìm một hồi trả lời: Con tìm tâm không thể được. Tổ bảo: Ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay câu nói đó Thần Quang khế ngộ và được Tổ đặt tên là Huệ Khả.
Chúng ta thấy học đạo, ngộ đạo sao dễ quá. Chỉ có một câu nói là ngộ đạo liền. Ngày xưa đọc sử đến đoạn này tôi hơi nghi. Lẽ ra khi người học đạo hỏi tâm con bất an, nhờ Thầy dạy cho phương pháp an tâm, thì phải dạy tu thế này thế kia, nhưng Tổ không dạy mà bảo đem tâm ra ta an. Bảo một cách đột ngột, Thần Quang xoay lại tìm không thấy, nên trả lời con tìm tâm không được. Tổ đáp ta đã an tâm cho ngươi rồi. Không dạy câu nào hết, chỉ nói an tâm rồi, vậy mà Thần Quang ngộ, không biết ngộ cái gì? Đoạn này đáng lý không giảng, vì giảng là có lỗi. Người nghe ai hiểu thì hiểu, tới trình rồi được ấn chứng. Nhưng nếu không giảng thì cũng có hại, người hiểu bên đông người hiểu bên tây cũng nói tôi hiểu đúng, như vậy thì loạn thiên hạ. Vì vậy buộc lòng tôi ráng nói một chút.
Lâu nay Thần Quang chấp nhận cái suy tưởng là tâm mình, cho là thật nên tìm cách này cách nọ làm cho nó an. Bây giờ Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, bất ngờ Thần Quang xoay lại tìm mãi không ra mới sực tỉnh, biết tâm vọng này không thật nên đáp: Bạch Thầy con tìm tâm không được. Tổ trả lời bằng một câu nhẹ nhàng, ta đã an tâm cho ngươi rồi. Ngay yếu chỉ đó Thần Quang thấy được pháp tu, nên nói được khế ngộ.
Sau này chư tổ dạy chúng ta biết vọng tức là tu. Biết vọng không thật, chỉ không theo vọng tâm thì tự nhiên tâm an, đó là phương pháp an tâm. Người học đạo ngay đây thấy đường lối tu là ngộ đạo.
Ở đây bất đắc dĩ tôi đưa ra đường lối Thiền Giáo song hành, nghĩa là đem kinh giảng để đối chiếu với Thiền, thấy kinh Phật dạy và lời Tổ nói phù hợp, khả dĩ người học đạo có niềm tin rồi ứng dụng tu để được lợi ích. Nếu nói như tổ Bồ-đề-đạt-ma thì bây giờ không ai lãnh hội để ứng dụng tu.
Từ đây kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến ngài, tiếng tăm vang dậy. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy sai sứ ba phen thỉnh ngài, ngài đều từ chối. Nhà vua càng kính trọng, sai sứ đem lễ vật đến cúng dường: một cây tích trượng, hai y kim tuyến, bình bát v.v… Ngài từ khước nhiều lần, nhưng nhà vua cố quyết cúng dường, rốt cuộc ngài phải nhận.
Mở cửa phương tiện, ngài có dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ:
1- Báo oán hạnh
2- Tùy duyên hạnh
3- Vô sở cầu hạnh
4- Xứng pháp hạnh.
Từ đây tiếng tăm vang dậy, kẻ tăng người tục đua nhau đến yết kiến Tổ. Vua Hiếu Minh Đế nước Ngụy ba phen sai sứ thỉnh mời, Tổ đều từ chối. Vua càng kính trọng sai sứ đem lễ vật quý báu đến cúng dường. Nhiều lần Tổ từ chối nhưng nhà vua cố ép, cuối cùng Tổ phải nhận.
Tổ mở cửa phương tiện dùng bốn hạnh để giáo hóa môn đồ:
1- Báo oán hạnh
2- Tùy duyên hạnh
3- Vô sở cầu hạnh
4- Xứng pháp hạnh.
Bốn hạnh này nằm trong quyển “Sáu cửa vào động Thiếu Thất”.
Ở Trung Hoa gần chín năm, ngài thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng nói:
– Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.
Đạo Phó ra thưa:
– Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là dụng của đạo.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần da của ta.
Ni Tổng Trì ra thưa:
– Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần thịt của ta.
Đạo Dục ra thưa:
– Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần xương của ta.
Đến Huệ Khả bước ra đảnh lễ ngài, rồi lui lại đứng yên lặng.
Ngài bảo:
– Ngươi được phần tủy của ta.
Ở Trung Hoa hơn chín năm, Tổ có bốn vị đệ tử xuất sắc. Thấy cơ duyên đã đến, liền gọi đồ chúng nói: Giờ ta trở về sắp đến. Các ngươi mỗi người nên nói chỗ sở đắc của mình.
Ngài Đạo Phó bước ra trình bày: Theo chỗ thấy của con, chẳng chấp văn tự chẳng lìa văn tự, đây là dụng của Đạo. Tổ bảo: Ngươi được phần da của ta. Vị đệ tử này chỉ mới được phần da của Tổ, vì còn nương vào văn tự để diễn bày cái thấy đạo của mình, nên nói còn ở ngoài da.
Ni Tổng Trì ra thưa: Nay chỗ hiểu của con, như tổ A-nan thấy nước Phật A-súc, chỉ thấy một lần không còn thấy lại. Bà dẫn trong kinh Duy-ma nói rằng ngài A-nan nhờ sức thần thông của Phật, thấy cõi nước Phật A-súc, nhưng khi Phật thâu nhiếp thần thông thì không thấy nữa. Cũng vậy khi Tổ chỉ dạy, ni Tổng Trì nhận ra nhưng không hằng sống được với cái đó, nên Tổ nói ngươi được phần thịt của ta. Như vậy là tiến hơn vị trước, vì ngài Đạo Phó còn mắc kẹt ở ngoài văn tự. Ở đây tuy bà có thấy có nhận nhưng chưa thấm được, nên Tổ mới nói được phần thịt của ta.
Ngài Đạo Dục ra thưa: Bốn đại vốn không, năm ấm chẳng có, chỗ thấy của con không một pháp có thể được. Tổ bảo: Ngươi được phần xương của ta. Đạo Dục thấy bốn đại vốn không, năm ấm vô ngã, nghĩa là đối với ngài không có một pháp nào thật hết, nên Tổ nói được phần xương của ta.
Huệ Khả bước ra đảnh lễ Tổ, rồi lui lại đứng yên lặng không nói câu nào. Tổ bảo: Ngươi được phần tủy của ta. Tại sao Huệ Khả được phần tủy? Vì Huệ Khả đứng yên lặng, đó mới là người sống được bằng tánh viên giác. Tánh viên giác không thể dùng ngôn ngữ để diễn bày, người sống được với nó thì không còn thiếu thốn, cho nên nói được phần tủy là phần cốt lõi của đạo. Thể nhập tánh viên giác là chỗ cứu cánh của người tu. Người được như vậy mới xứng đáng lãnh trách nhiệm truyền bá sau này, nên ngài Huệ Khả được truyền y bát.
Ngài gọi Huệ Khả đến dặn dò:
– Xưa Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho tổ Ca-diếp, lần lượt truyền đến ta. Nay ta đem trao lại cho ngươi, ngươi phải truyền trao không để dứt mất. Cùng trao cho ngươi y Tăng-già-lê và bát báu, để làm pháp tín. Mỗi thứ tiêu biểu cho mỗi việc, ngươi nên biết.
Tổ trao đại pháp nhãn tạng cho ngài Huệ Khả tiêu biểu bằng y Tăng-già-lê và bình bát. Nói trao nhưng sự thật không có trao gì cả, ấn chứng thì đúng hơn. Tổ chấp nhận cái hiểu của Huệ Khả đã tới nơi, đó là trao. Chúng ta nghe nói truyền trao rồi tưởng có vật gì để trao, sự thật không phải. Nhưng muốn cho người sau tin Huệ Khả là người được Tổ ấn chứng, nên trao y và bình bát để khi có người hỏi thì đem những vật này làm tin, gọi là pháp tín.
Huệ Khả thưa:
– Xin Thầy từ bi chỉ dạy mọi việc.
Ngài dạy:
– Trong truyền tâm ấn để khế hợp chỗ tâm chứng, ngoài trao ca-sa để định tông chỉ. Đời sau có nhiều người cạnh tranh nghi ngờ, họ nói “Ta là người Ấn, ngươi là người Hoa, căn cứ vào đâu mà được pháp, lấy cái gì để minh chứng?” Ngươi gìn giữ pháp y này, nếu gặp tai nạn ngươi đem ra làm biểu tín, thì sự giáo hóa không bị trở ngại. Hai trăm năm sau khi ta diệt độ, y bát này dừng lại không truyền, vì lúc đó Phật pháp rất thạnh hành. Chính khi ấy, người biết đạo thật nhiều, người hành đạo quá ít, người nói lý thì nhiều, người ngộ lý thì ít. Tuy nhiên, người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Nghe ta nói kệ:
Ngô bản lai tư độ,
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Khi Phật pháp thạnh hành, người biết đạo thì nhiều nhưng người hành đạo quá ít. Cũng như bây giờ người biết thiền quá nhiều, người hành thiền quá ít. Thật ra đạo không phải chỉ nói suông, mà chủ yếu ở chỗ thực hành mới có giá trị. Người nói lý thì quá nhiều, nhưng người ngộ lý thì quá ít. Nói lý thì ai nói cũng được, như nói không chấp ngã, nói hút thuốc mà không ghiền, nói ăn chiều nhưng ăn mà không thấy mình ăn là được rồi. Nói hay lắm nhưng mà ngộ được lý có mấy người! Đó là bệnh của người học đạo. Cho nên, người học đạo ngộ được lý chân thật thì mới hay. Tuy nhiên người thầm thông lặng chứng có hơn ngàn vạn. Ngươi gắng xiển dương, chớ khinh người chưa ngộ. Tuy nói vậy nhưng Tổ cũng thấy những người thầm lặng tu chứng rất nhiều, nên khuyên ngài Huệ Khả phải gắng xiển dương đạo thiền, đừng khinh người chưa ngộ.
Tổ nói kệ huyền ký:
Ta sang đến cõi này,
Truyền pháp cứu mê tình.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái tự nhiên thành.
Ngài lại bảo:
– Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, là Phật nói tột pháp yếu, cũng giúp cho chúng sanh mở, bày, ngộ, nhập kho tri kiến Phật, nay ta trao luôn cho ngươi. Ta từ Nam Ấn sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, vì thấy xứ này tuy có khí Đại thừa mà chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung vậy.
Xong rồi, ngài cùng đồ chúng đi đến Vũ Môn ở chùa Thiên Thánh dừng lại ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin ngài đến, liền tới đảnh lễ. Ông hỏi:
– Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho?
Ngài đáp:
– Rõ được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ.
– Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác?
– Cần rõ tâm ngươi, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Nếu hay hiểu như thế, cũng gọi là Tổ.
Huyễn Chi lại thưa:
– Đệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp thiện tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật tổ?
Ngài vì ông nói kệ:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độn
Bất dữ phàm thánh đồng triều,
Siêu nhiên danh chi viết Tổ.
Dịch:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng ném mê mà về ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Vượt lên, gọi đó là Tổ.
Tổ lại nói thêm: Ta có bộ kinh Lăng-già bốn quyển, Phật nói tột pháp yếu, giúp cho chúng sanh mở bày ngộ nhập tri kiến Phật, nay ta trao cho ngươi. Ta từ Nam Ân sang đây đã năm phen bị thuốc độc mà không chết, thấy xứ này tuy có khí Đại thừa nhưng chưa ứng hợp, nên ta lặng lẽ ngồi lâu chờ đợi. Nay đã truyền trao xong, đã có thủy ắt phải có chung. Có thủy là đến, có chung là đi hay về. Tới đây chưa biết đi hay về sau, sẽ phán đoán lại.
Tổ truyền pháp rồi, cùng đồ chúng đi đến Vũ Môn dừng lại ở chùa Thiên Thánh ba hôm. Quan thái thú thành này tên Dương Huyễn Chi, là người sùng mộ Phật pháp. Nghe tin Tổ đến, liền tới đảnh lễ thưa hỏi: Thầy ở Ấn Độ được kế thừa làm Tổ, vậy thế nào là Tổ, xin Thầy dạy cho. Tổ đáp: Rõ được tâm tông của Phật, không lầm một mảy, hạnh và giải hợp nhau, gọi đó là Tổ. Nghĩa là nhận được tâm tông của Phật, hay là tâm Phật của chính mình, rõ ràng không còn một mảy nghi ngờ. Thấy và hành hợp nhau, nghĩa là nhận được sống được với cái đó thì gọi là Tổ.
Huyễn Chi hỏi thêm: Chỉ một nghĩa này hay còn nghĩa nào khác? Tổ dạy: Cần rõ tâm ngươi, biết rành xưa nay, chẳng chán có không, cũng chẳng cố chấp, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Nếu hay hiểu như thế cũng gọi là Tổ. Như vậy nghĩa trước và nghĩa sau khác ở chỗ nào? Trước nói Tổ là người ngộ được tâm tông, sống bằng tâm đó, tức là nhận nơi mình mà ngộ cũng nơi mình. Sau là nói nhìn ra ngoài biết rành xưa nay, nghĩa là thấy biết tất cả mà không dính hai bên có không, hiền ngu mê ngộ, người đó cũng gọi là Tổ.
Huyễn Chi lại thưa: Đệ tử vì bị nghiệp thế tục, ít gặp được tri thức, trí nhỏ bị che lấp không thể thấy đạo. Cúi xin Thầy chỉ dạy, con phải noi theo đạo quả nào? Dùng tâm gì được gần với Phật tổ? Tổ vì ông nói kệ:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ,
Cũng đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng ném mê mà về ngộ.
Đạt đạo lớn chữ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô kể,
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai.
Vượt lên, gọi đó là Tổ.
Ý bài kệ Tổ dạy người tu không nên dính mắc hai bên. Nghĩa là không nên thấy việc ác sanh tâm hiềm khích chê bai, không nên thấy những việc lành mà hâm mộ ưa thích, cũng không nên bỏ trí gần ngu, bỏ mê cầu ngộ. Trong bốn câu này, chúng ta thấy Tổ dạy ông Huyễn Chi không nên mắc kẹt hai bên thiện ác, trí ngu, mê ngộ, người vượt ra ngoài những đối đãi mới có thể gần đạo.
Ý bốn câu kệ kế. Người không mắc kẹt hai bên là người thấy được đạo lớn, vượt hơn tất cả, thấu suốt tâm Phật, không còn dùng ngôn ngữ để diễn bày. Chẳng cùng phàm thánh đồng triền vai nghĩa là không còn mắc kẹt trong đối đãi phàm thánh, người vượt lên được, đó gọi là Tổ.
Tóm kết ý bài kệ Tổ dạy muốn gần Phật tổ thì phải bỏ hết những cái thấy hai bên, vì còn thấy hai bên là còn xa đạo. Người không thấy hai bên là người đạt đạo thành Tổ.
Huyễn Chi nghe dạy hoan hỷ đảnh lễ, lại thưa:
– Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh.
Ngài bảo:
– Đời mạt pháp, kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người.
– Từ Thầy tới đây ai thường hại Thầy, xin Thầy chỉ họ, con sẽ sắp xếp.
– Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy. Đâu cam hại người để mình được vui.
Huyễn Chi nài nỉ thưa:
– Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi.
Ngài bất đắc dĩ nói bài kệ:
Giang tra phân ngọc lãng,
Quản cự khai kim tỏa.
Ngũ khẩu tương cộng hành,
Cửu thập vô bị ngã.
Dịch:
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng.
Năm miệng đồng cùng đi,
Chín, mười không ta người.
Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ ngài lui ra.
Huyễn Chi nghe Tổ dạy vui vẻ đảnh lễ, lại thưa: Xin Thầy chớ vội tạ thế, để làm phước lợi cho quần sanh. Tổ bảo: Đời mạt pháp kẻ tệ ác quá nhiều, dù ta còn ở lâu e chẳng lợi ích mà thêm tai nạn, làm tăng trưởng tội ác cho người. Bởi vì chúng sanh thấy Tổ được nhiều người kính trọng, nên họ sanh tâm đố kỵ, mưu hại cách này không được thì bằng cách khác. Tổ không sợ họ hại mà sợ họ mang tội, cho nên đi sớm. Huyễn Chi là người phàm tình, có quyền thế trong tay, nghe nói có người mưu hại Tổ thì nóng ruột nên thưa: Ai thường hại Thầy xin Thầy chỉ, con sẽ sắp xếp. Sắp xếp nghĩa là trừng trị, chứ không thể để họ hại thầy mãi.
Tổ bảo: Nói ra ắt có tổn hại, ta nên đi vậy, đâu cam hại người để mình được vui. Tổ từ bi đáo để, thà ra đi chứ không nói để người khác mang họa tội nghiệp. Huyễn Chi nài nỉ thưa: Con không hại người, chỉ muốn biết đó thôi. Tổ bất đắc dĩ nói bài kệ:
Thuyền con rẽ sóng ngọc,
Đuốc soi mở khóa vàng.
Năm miệng đồng cùng đi,
Chín, mười không ta người.
Qua ý nghĩa bài kệ, Tổ không nói người nào hại mình, chỉ nói chuyện sắp ra đi mà thôi. Đi ngày nào tháng nào, bởi năn nỉ nên nói như vậy. Huyễn Chi nghe rồi ghi nhớ, đảnh lễ Tổ lui ra.
Ở đây đúng ba hôm, ngài ngồi an nhiên thị tịch. Hôm ấy là ngày mùng chín tháng mười năm Mậu Thân, nhằm niên hiệu Đại Thông năm thứ hai nhà Lương (528 TL). Đến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân của ngài nhập tháp tại chùa Định Lâm, núi Hùng Nhĩ.
Sau, vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp ngài tại núi Thông Lãnh, thấy ngài tay xách một chiếc dép, một mình đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi:
– Thầy đi đâu?
Ngài đáp: – Về Ấn Độ.
Ngài lại nói thêm:
– Chủ ông đã chán đời rồi.
Tống Vân ngẩn ngơ, từ giã ngài về triều. Đến triều thì vua Minh Đế đã băng. Hiếu Trang Đế lên ngôi. Ông đem việc ấy tâu lại, vua ra lệnh mở cửa tháp giở quan tài ra, quả nhiên là quan tài không, chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm (727 TL) môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Vua phong ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán.
Tập Thiếu Thất Lục Môn là tác phẩm của ngài.
Đúng như vậy, ngày mùng chín tháng mười năm Mậu Thân, niên hiệu Đại Thông năm thứ hai nhà Lương, Tổ ngồi an nhiên thị tịch. Đến ngày mười tám tháng chạp năm này, làm lễ đưa nhục thân Tổ nhập tháp tại chùa Định Lâm núi Hùng Nhĩ. Như vậy Tổ đi đâu, về Ấn Độ hay nhập tháp? Điều này còn nhiều nghi vấn, đa số người thấy Tổ đã được nhập tháp, nhưng đọc đoạn sử sau thì thấy Tổ về Ấn Độ.
Vua Hậu Ngụy sai Tống Vân đi sứ Ấn Độ về, gặp Tổ tại núi Thông Lãnh, thấy ngài tay xách một chiếc dép, đi nhanh như bay. Tống Vân hỏi: Thầy đi đâu? Tổ đáp: Về Ấn Độ. Tổ lại nói thêm: Chủ ông đã chán đời rồi. Tống Vân ngẩn ngơ từ giã Tổ về triều.
Đến triều thì vua Minh Đế đã băng hà. Hiếu Trang Đế lên ngôi, ông đem việc ấy tâu lại, vua ra lệnh mở cửa tháp giở nắp quan tài, quả nhiên trong quan tài chỉ còn một chiếc dép. Vua sắc đưa chiếc dép về thờ ở chùa Thiếu Lâm. Đến đời Đường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ mười lăm, môn đồ lại dời chiếc dép về thờ ở chùa Hoa Nghiêm.
Đọc qua đoạn này chúng ta có thể tin không? Thử đặt câu hỏi Tổ về Ấn Độ hay nhập tháp? Nếu theo đoạn sử trên thì Tổ thị tịch, nhập tháp có chỗ nơi đàng hoàng. Nhưng theo đoạn sử dưới thì Tống Vân gặp Tổ quảy chiếc dép về Ấn Độ. Vua Trang Đế cho giở nắp quan tài, thấy chỉ còn một chiếc dép là thực hay hư? Nếu hư thì tại sao sách sử còn ghi? Có lẽ rằng khi mở cửa tháp giở nắp quan tài, thường dân không dám chen vô xem, chỉ có vua quan thôi. Thành ra khi đậy nắp lại thì những vị ấy nói sao họ nghe vậy, rồi y đó truyền với nhau. Đây là vấn đề không đơn giản.
Về sau ngài Thường Chiếu, một thiền sư Việt Nam phủ nhận không tin. Khi ngài sắp tịch, đệ tử là Thần Nghi hỏi rằng: Mọi người đến thời tiết này vì sao đều theo thế tục mà chết? Ngài Thường Chiếu hỏi: Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục? Thần Nghi thưa: Một mình tổ Đạt-ma. Ngài Thường Chiếu hỏi có gì đặc biệt. Thần Nghi thưa: Một mình đạp trên sóng về Tây. Tức là người ta thấy Tổ một mình đứng trên cành lau vượt sóng, quảy chiếc dép về Ân Độ. Nếu Tổ không về Ấn Độ, tại sao Tống Vân gặp ngài? Ngài Thường Chiếu nói: Một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo. Tại sao ngài dám nói như thế, có lỗi phạm thượng hay không?
Chúng ta học sử bị lệ thuộc vào sử, nghe sao tin vậy. Nhưng ngài Thường Chiếu dám nói câu trên vì ngài không lệ thuộc vào sử mà xét theo lẽ thật. Nếu tổ Đạt-ma không chết thì có lỗi gì? Thứ nhất là tổ Đạt-ma hơn Phật. Đức Phật tám mươi tuổi nhập Niết-bàn tại rừng Câu-thi-na, dưới hai cây sa-la. Phật nhập Niết-bàn, nhưng Tổ không tịch thì có hợp đạo lý không? Thứ hai trong kinh Phật nói có sanh thì phải có tử, có hợp thì phải có tan. Nếu một vị Tổ trong đạo Phật mà không tử thì trái đạo lý, trái với chánh pháp. Thứ ba nếu Tổ không tịch mà về Ấn Độ, thì từ đó tới giờ có ai gặp Tổ không? Nếu không chết thì có người gặp, nhưng không nghe nói tổ Đạt-ma về Ấn Độ ở chỗ nào. Không tịch mà không ai gặp tức là tịch rồi. Nói không tịch là trái với lẽ thật, trái với chánh pháp. Câu chuyện trên không đúng lẽ thật, không hợp với chánh pháp, mà chúng ta tin thì có trái với lời Phật dạy không?
Do đó trong kinh A-hàm có đoạn Phật dạy: Đừng tin một điều gì dù điều đó do sách vở từ ngàn xưa để lại. Đừng tin một điều gì, dù điều đó từ miệng ông thầy nói ra. Đừng tin một điều gì, dù điều đó do một người đủ quyền lực nói lại. Đừng tin một điều gì, dù do nhiều người nói lại v.v… Khi xét đúng sự thật hợp chân lý, lợi ích cho mình cho người thì điều đó mới nên tin.
Ngài Thường Chiếu dám nhìn tường tận sự thật, điều gì đáng tin điều gì không đáng tin, dù sử sách ghi mà không đúng ngài cũng không tin, thật là can đảm. Tôi rất quý phục tinh thần của ngài, cho nên khi cất thiền viện này tôi để tên Thường Chiếu, là lấy gương của một thiền sư Việt Nam có bản lãnh, đáng cho chúng ta ghi nhớ.
Tại sao bây giờ các chùa lại thờ hình ảnh Tổ quảy cây gậy trên vai, trên đầu gậy có máng một chiếc dép, đứng trên một cành lau rẽ sóng về Ấn Độ. Qua hình ảnh này chúng ta thấy có gì đặc biệt? Hình ảnh Tổ quảy chiếc dép về Ấn Độ mang một ý nghĩa rất thâm trầm của nhà Phật hay của Thiền tông, cũng nói lên đầy đủ tinh thần của tổ Đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa truyền pháp. Bởi vì theo tinh thần của nhà thiền, thì không cho mắc kẹt hai bên. Nếu còn mắc kẹt hai bên thì chưa gọi là Tổ. Dép là một đôi tức là hai bên, bây giờ Tổ vượt qua đối đãi hai bên. Ngài truyền bá giáo pháp Tối thượng thừa cho chúng sanh, tượng trưng bằng hình ảnh một chiếc dép duy nhất.
Thờ hình ảnh biểu trưng này để nhắc chúng ta tu, chứ không phải là hình ảnh theo lịch sử. Người nào tu hành tâm vượt khỏi đối đãi, chỉ sống bằng tánh viên giác thì có năng lực mầu nhiệm phi thường. Cành lau cũng biến thành con thuyền đưa người qua biển.
Về sau vua phong ngài hiệu Viên Giác thiền sư, tháp hiệu Không Quán. Thiếu Thất Lục Môn là tác phẩm của ngài.