Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

Chư Tổ Sư Trung Hoa



29. NHỊ TỔ HUỆ KHẢ (487-593

Sư họ Cơ quê ở Võ Lao, dòng tôn thất nhà Chu. Cha mẹ Sư lớn tuổi không con, lắm phen đến chùa cầu con, sau mẹ có thai sanh ra Sư. Khi Sư lọt lòng mẹ, có hào quang lạ chiếu sáng trong nhà, nên đặt tên Sư là Quang. 

Thuở bé, Sư học hết sách đời, rất thông Lão Trang. Năm ba mươi tuổi, Sư tự cảm than: “Lão Dịch là sách thế gian chẳng tột được đạo lý.” Sư bắt đầu xem kinh Phật. 

Sư viễn du tìm thầy học đạo, đến Lạc Dương lên núi Hương Sơn chùa Long Môn gặp thiền sư Bảo Tịnh bèn xin xuất gia. Sau đó, Sư đến chùa Vĩnh Mục thọ giới ở tại Phù Du giảng tứ. Sư chuyên học Kinh Luận, chưa bao lâu thảy được tinh thông. 

Tổ Bồ-đề-đạt-ma là Sơ Tổ của Thiền tông Trung Hoa, đệ nhị tổ là Huệ Khả. Nhưng nếu xét kỹ thì tổ Huệ Khả là vị tổ đầu tiên của Trung Hoa. Vì tổ Bồ-đề-đạt-ma là người Ân, tổ Huệ Khả là người Hoa. Đây là một cuộc chuyển tiếp giữa thiền tông Ấn Độ và thiền tông Trung Hoa. Chúng ta thấy chặng đường này rất thiết yếu, nếu người học đạo nắm vững từ buổi đầu thì về sau dễ hiểu, dễ thông cảm.

Ngài là con cháu dòng tôn thất nhà Chu, thông minh học giỏi, thông suốt đạo thuyết Lão Trang. Nhưng khi thông suốt rồi ngài tự than Lão Dịch là sách thế gian chẳng tột được đạo lý. Hai quyển sách đó là triết học lớn nhất của Trung Hoa, nhưng với cái nhìn của ngài thì thuộc về thế gian, chưa nói được lý tột cùng của đạo. Do đó ngài bắt đầu nghiên cứu kinh Phật và tìm thầy học đạo.

Ngài đến Lạc Dương, chùa Long Môn ở núi Hương Sơn, gặp thiền sư Bảo Tịnh thấy khế hợp với căn cơ của mình, cho nên ngài xin xuất gia thọ giới và ở đó tu.

Năm ba mươi hai tuổi, Sư trở về bổn sư nơi Hương Sơn. Ở đây trọn ngày, Sư ngồi thiền quán trên núi. Trải tám năm như thế, một hôm khi Sư đang thiền định, bỗng có vị thần hiện ra thưa: 

 Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quả hãy đi về phương Nam. 

Hôm sau, trên đầu Sư chợt đau như kim châm không thể chịu được. Sư định đi tìm thuốc trị, chợt nghe trong hư không có tiếng nói: “Đây là đổi xương, chẳng phải bệnh thường.” Sư đem việc này thuật lại thiền sư Bảo Tịnh. Bảo Tịnh ngăn không cho trị thuốc. Sáng hôm sau, Bảo Tịnh xem trên đầu Sư quả thấy đầu xương nổi cao như năm ngọn núi, bảo: 

 Lạ thay! Ngươi có tướng tốt này ắt sẽ đắc đạo. Thần lại dạy ngươi sang miền nam, ta nghe đại sĩ Bồ-đề-đạt-ma đến ở chùa Thiếu Lâm, chắc đó là Thầy của ngươi vậy. 

Nhân có thần mách bảo, nên bổn sư Bảo Tịnh đổi hiệu Sư là Thần Quang. 

Sư tìm đến chùa Thiếu Lâm yết kiến tổ Bồ-đề- đạt-ma và được truyền tâm ấn. Sư ở đây cho đến lúc Tổ quy tịch. Sau đó, Sư sang Bắc Tề hoằng truyền Chánh pháp. 

Năm ba mươi hai tuổi ngài trở về Hương Sơn, trọn ngày ngồi thiền quán trên núi trải tám năm như vậy. Chúng ta bây giờ có ai công phu được như ngài? Khi mở khóa dạy thiền ở Chơn Không tôi đặt kỳ hạn tối đa là ba năm, mà thiền sinh chịu không nổi, rớt xuống núi liên miên. Huống nữa là ngài ngày đêm ngồi thiền suốt tám năm trời dài quá, để thấy công phu tu hành của ngài thật là đáng kể. Đây là chỗ kỳ đặc chúng ta phải noi theo.

Một đêm ngài đang ngồi thiền, có vị thần hiện ra thưa: Ngài không nên ở đây lâu, muốn được đạo quả hãy đi về phương Nam. Tu mà cảm đến các vị long thần hộ pháp ủng hộ hiện ra mách bảo chỗ tìm thầy học đạo. Thật là hiếm có!

Hôm sau ngài chợt bị đau trên đầu như kim châm, định đi tìm thuốc để trị nhưng nghe thần mách bảo nên ngài bạch với thầy Bảo Tịnh, thầy ngăn không cho trị thuốc. Bệnh này tự nó hết, không thể dùng thuốc để trị, nếu trị thuốc thì càng hại thêm. Khi ngài Bảo Tịnh xem lại thì quả nhiên trên đầu của ngài xương nổi cao như năm ngọn núi, đó là sự thay đổi tướng của ngài. Trường hợp này trong nhà thiền gọi là hoán cốt, nghĩa là đổi xương.

Nhân có thần mách bảo nên bổn sư Bảo Tịnh đổi hiệu Sư là Thần Quang. Thầy Bảo Tịnh biết mình không đủ khả năng dạy người học trò này, nên mới bảo đến phương nam tìm tổ Bồ-đề-đạt-ma. Ngài tìm đến chùa Thiếu Lâm diện kiến tổ Bồ-đề-đạt-ma và được Tổ truyền tâm ấn. Ngài ở đây cho tới lúc Tổ quy tịch, mới đi hoằng hóa ở Bắc Tề.

Ngài Huệ Khả là người giỏi về văn chương chữ nghĩa, giỏi về các môn triết học của Trung Hoa thời bấy giờ, nhưng khi nghiên cứu kinh Phật, ngài phát nguyện đi tu. Bởi vì lòng thiết tha cầu giải thoát, ngài không ngại khó khăn cực khổ mà chuyên tâm tu thiền quán trên núi đến tám năm.

Chúng ta thấy chí khí của ngài không phải là người thường. Lúc mới tu hành ngài nỗ lực như vậy, nên có hai sự cảm ứng. Thứ nhất được chư thiên, long thần hộ pháp ủng hộ chỉ đường tìm thầy học đạo. Thứ hai tự mình chuyển thành những tướng lạ. Như vậy tướng lạ là từ tâm chân thành mộ đạo thiết tha mà có. Nếu chúng ta có tướng tốt mà khởi tâm tự đắc ngã mạn thì tướng đó sẽ mất. Cho nên không lo mình có tướng xấu, cũng không mừng mình có tướng tốt, mà phải xem tâm mình xấu hay tốt. Nếu tâm mình xấu thì sửa cho tốt, phát triển những điều tốt ra hành động lời nói đó là gốc. Vậy mà chúng ta không chịu lo ở trong, cứ lo chạy theo những ảo huyền không thật bên ngoài.

Một hôm, Sư gặp một cư sĩ trạc bốn mươi tuổi, chẳng nói tên họ, đến đảnh lễ Sư thưa: 

– Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội. 

Sư bảo: 

– Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối. 

Cư sĩ đứng sững giây lâu thưa: 

– Đệ tử tìm tội không thể được. 

– Ta đã vì ngươi sám hối rồi. Nhưng, ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng. 

– Hiện giờ đệ tử thấy Thầy, đã biết được Tăng. Chẳng biết thế nào là Phật và Pháp? 

 Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật pháp không hai, ngươi có biết đó chăng? 

– Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa; như tội, tâm cũng vậy, thật Phật pháp không hai. 

Sư nghe nói rất hoan hỷ, cho cạo tóc xuất gia, bảo: 

– Ngươi là vật báu của ta, nên đặt tên Tăng Xán. 

Ngày mười tám tháng ba niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai (535 TL) Tăng Xán được thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước. Từ đó, bệnh của ông lần lần thuyên giảm. Ông theo hầu Thầy được hai năm. 

Một hôm ngài gặp vị cư sĩ chừng bốn mươi tuổi, chẳng rõ tên họ đến đảnh lễ thưa: Đệ tử mang bệnh ghẻ lở đầy mình, xin Thầy từ bi vì đệ tử sám tội. Có lẽ bệnh ghẻ lở này là bệnh thâm niên chứ không phải sơ sơ. Khi gặp tổ Huệ Khả vị cư sĩ xin ngài sám tội vì nghĩ rằng, không biết do tội nghiệp gì đời trước mà mình bị bệnh ghẻ lở.

Tổ thấy người đó có vẻ đặc biệt, nên bảo: Đem tội ra, ta sẽ vì ngươi sám hối. Cư sĩ nhìn sửng sốt tìm không ra tội, giây lâu thưa: Đệ tử tìm tội không thể được! Tổ đáp: Ta đã vì ngươi sám hối rồi. Nhưng ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng. Chúng ta thấy lối đối đáp này cũng tương tự như sự đối đáp ban đầu giữa ngài và tổ Bồ-đề-đạt-ma. Nhưng chỉ có khác nhau ở chỗ một bên hỏi phương pháp an tâm, còn vị cư sĩ thì hỏi về nghiệp, vì thấy mình mang nhiều chướng bệnh, đinh ninh rằng nghiệp chướng có thật. Bây giờ phải thành tâm sám hối mới hết, nên yêu cầu Tổ dạy phương pháp để sám hối.

Theo tinh thần Phật giáo Đại thừa cho rằng tội từ tâm sanh. Tội từ tâm sanh là do vọng tưởng tạo thành nghiệp. Vọng tưởng là gốc tạo thành nghiệp, mà gốc không thật thì ngọn là nghiệp cũng giả luôn. Tuy nhiên khi người đã tạo nghiệp cứ tưởng nghiệp là thật nên lo sợ. Tâm không thật, nghiệp cũng không thật, biết rõ tất cả pháp đều không thật, vì các pháp từ tâm sanh. Tâm sanh cho nên thành nghiệp tướng, do thấy nghiệp tướng không thật, ngay đó ngài ngộ được lý các pháp như huyễn không thật. Khi nhận được lý đó rồi Tổ dạy thêm: Ngươi nên nương tựa Phật pháp tăng.

Ngài hỏi: Hiện giờ đệ tử thấy Thầy, đã biết được Tăng, chẳng biết thế nào là Phật và Pháp? Tổ đáp: Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp, Phật pháp không hai, ngươi có biết đó chăng? Phật là tánh giác của chúng ta, chỉ cho tâm giác ngộ sáng suốt của chính mình. Pháp là chỉ cho tâm bình đẳng thanh tịnh. Như vậy thanh tịnh sáng suốt không hai, nhưng phương tiện nói là Phật là pháp. Cho nên tổ Huệ Khả nói: Tâm ấy là Phật, tâm ấy là Pháp.

Khi chúng ta mới vào tụng kinh, trước hết đánh lễ tất cả chư Phật, lễ chánh pháp, lễ chư Bồ-tát chư hiền thánh tăng đó là lễ Tam bảo ở bên ngoài. Tụng kinh xong chúng ta tụng tự quy y Phật pháp tăng. Tự quy y Phật là trở về với tâm Phật sáng suốt của chính mình. Tự quy y Pháp là trở về với tự tánh bình đẳng. Tự quy y Tăng là trở về tâm thanh tịnh hòa hợp. Như vậy là quy y tự tánh Tam bảo, vì Phật pháp tăng không ngoài tâm mình.

Cư sĩ thưa: Nay đệ tử mới biết tánh tội không ở trong, ngoài, chặng giữa. Như tội, tâm cũng vậy, thật Phật pháp không hai. Bây giờ ngài mới thấy rõ rằng, tự tánh tội không thật, bởi tội không thật nên nó không ở trong, ở ngoài và chặng giữa. Ngài nhận ra bản tâm chân thật, biết rõ nghiệp không thật nên mới nói câu trên.

Tổ nghe như vậy biết vị cư sĩ đã bước vào cửa, liền hoan hỷ cạo tóc xuất gia và đặt tên là Tăng Xán. Chúng ta thấy một cư sĩ bị bệnh ghẻ lở lù sù tới học đạo, Tổ cho đó là pháp khí, không phải đợi mặt mũi khôi ngô gì hết. Như vậy, pháp khí không phải ở dáng vẻ bên ngoài, mà ở khả năng chứng ngộ và ý chí siêu quần của người đó, mới có thể gánh vác được trách nhiệm lớn.

Ngày mười tám tháng ba niên hiệu Thiên Bình năm thứ hai, Tăng Xán được thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước. Từ đó, bệnh của ngài lần lần thuyên giảm, theo hầu thầy được hai năm.

Một hôm, sư Huệ Khả gọi ông đến bảo: 

 Tổ Bồ-đề-đạt-ma chẳng ngại xa xôi từ Ấn Độ sang, đem Chánh pháp nhãn tạng truyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươi khéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ: 

Bản lại duyên hữu địa, 

Nhân địa chủng hoa sanh. 

Bản lai vô hữu chủng, 

Hoa điệc bất tằng sanh. 

Dịch: 

Xưa nay nhân có đất, 

Bởi đất giống hoa sanh. 

Xưa nay không có giống, 

Hoa cũng chẳng từng sanh. 

Đọc bài kệ xong Sư lại tiếp: 

 Ngươi phải tìm nơi núi sâu ở ẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn. 

Tăng Xán thưa: 

– Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạy con rành rẽ. 

 Đây không phải tự ta nói, mà là lời huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la, do tổ Đạt-ma thuật lại cho ta nghe: Sau khi Tổ nhập Niết-bàn khoảng một trăm năm mươi năm sẽ có những việc xảy ra như bài kệ này: 

Tâm trung tuy kiết ngoại đầu hung,

Xuyên hạ Tăng phòng danh bất trúng.

Vị ngộ độc long sanh Võ tử, 

Hốt phùng tiểu thử tịch vô cùng. 

Dịch: 

Trong tâm tuy kiết bên ngoài hung,

Xuyên đất phòng Tăng tên chẳng trúng. 

Vì gặp độc long sanh con Võ, 

Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng. 

Xét về niên số nhằm đời của ngươi, ngươi cố gắng gìn giữ. Ta cũng có cái nợ ngày trước nay cần phải trả. 

Một hôm tổ Huệ Khả gọi Sư đến bảo: Tổ Bồđề- đạt-ma chẳng ngại xa xôi từ Ấn Độ sang, đem chánh pháp nhãn tạng truyền cho ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát, ngươi khéo giữ gìn chớ để đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ: 

Xưa nay nhân có đất,

Bởi đất giống hoa sanh.

Xưa nay không có giống, 

Hoa cũng chẳng từng sanh.

Xưa nay nhân có đất mà các loài hoa sanh ra. Đất đó là chỉ cho cái gì? Là chỉ cho tâm địa, vì xưa nay ai cũng sẵn có bản tâm. Nhân nơi đó mới phát ra bao nhiêu tướng dụng, cho nên nói bởi đất giống hoa sanh. Nhưng xưa nay không có giống, hoa cũng chẳng từng sanh. Tất cả hoa đó đều không thật, mà đã không có giống thật thì hoa cũng không sanh thật.

Trong kinh Viên Giác nói, từ vô minh tới tất cả các pháp đều huyễn hóa, chỉ có tánh Viên giác không tăng không giảm. Tánh Viên Giác dụ cho đất, vô minh và tất cả pháp dụ cho giống hoa. Các giống hoa ấy không rời đất mà có, nhưng các giống hoa không thật có. Vì vậy biết rõ các pháp đều như huyễn, chỉ có tánh Viên giác là chân thật. Cũng vậy, biết tất cả giống hoa đều không thật, chỉ có đất mới thật. Bốn câu kệ này đã chỉ bày rành rẽ cái nào giả, cái nào thật để cho ngài Tăng Xán nhận ra.

Đọc bài kệ xong Tổ nói tiếp: Ngươi phải tìm nơi núi sâu ẩn, không nên đi giáo hóa sớm, trong nước sẽ có nạn. Tăng Xán thưa: Thầy đã biết trước mọi việc, cúi xin từ bi dạy con rành rẽ. Ngài Huệ Khả dẫn bài kệ huyền ký của tổ Bát-nhã-đa-la:

Trong tâm tuy kiết bên ngoài hung, 

Xuyên đất phòng Tăng tên chẳng trúng.

Vì gặp độc long sanh con Võ,

Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng.

Nghĩa là bên trong có người ngộ đạo kế thừa Tổ vị, nhưng hoàn cảnh bên ngoài sẽ có những tai nạn xảy đến, tức là nạn Võ Đế diệt đạo Phật lần thứ nhất. Chợt nghe chuột nhỏ lặng vô cùng, tức là tới năm Tý mới yên ổn. Xét về niên số nhằm đời của ngài Tăng Xán. Tổ khuyên ngài gắng gìn giữ, vì Tổ cũng có cái nợ ngày trước cần phải trả.

Sư sang xứ Nghiệp Đô tùy nghi giáo hóa thuyết pháp độ sanh ngót ba mươi bốn năm. 

Lúc đó, có một văn sĩ nổi tiếng là thần đồng tên Mã Tăng Na. Năm hai mươi mốt tuổi, ông đã giảng được sách Lễ, kinh Dịch tại miền Đông Hải, thính giả đến nghe đông như chợ. Một phen gặp Sư, Tăng Na liền xin xuất gia đầu Phật. Từ đây về sau, ông tay chẳng cầm đến cây viết, bỏ hết sách thế gian, chỉ một y một bát, một tọa cụ, ngày ăn một bữa, dưới gốc cây ngủ một lần, chuyên tu hạnh đầu-đà. 

Lại, có ông cư sĩ Hướng là nhà văn uyên bác chẳng màng đến bả công danh, tánh thích rừng sâu quê vắng, đói ăn lá cây, khát uống nước giếng, làm bạn với nước biếc non xanh, để di dưỡng tinh thần. Nghe Sư hoằng hóa ở Bắc Tề, ông biên thư đến hỏi, thư viết: 

Bạch Thầy, 

Theo thiển ý của tôi, người đời cảnh tạm, công danh phú quý như lùm mây nổi, lạch biển cồn dâu, đài các phong lưu như hòn bọt nước. Có cái gì là chân thật, đáng để ta quý trọng. Vì bởi bóng do hình mà có, vang theo tiếng mà sanh, đuổi bóng nhọc hình, chẳng biết hình là gốc của bóng, to tiếng để ngăn vang, đâu biết tiếng là cội của vang. Trừ phiền não mà thú hướng Niết-bàn, dụ bỏ hình mà tìm bóng; lìa chúng sanh mà cầu Phật quả, dụ im tiếng mà tìm vang. Cho nên biết, mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác, không tên mà đặt tên, nhân tên mà có thị phi. Không lý mà tạo thành lý, nhân lý mà khởi tranh luận. Huyễn hóa chẳng phải chân thì cái gì phải, cái gì quấy? Hư vọng chẳng thật thì cái gì không, cái gì có? Muốn đem cái biết “được mà không chỗ được, mất mà không chỗ mất” trình với Thầy mà chưa có dịp gặp. Nay thố lộ ý này, mong Thầy từ bi đáp cho.

Tổ trao y bát cho ngài Tăng Xán, coi như là trao hết gánh nặng. Tổ sang xứ Nghiệp Đô, tùy nghi thuyết pháp giáo hóa độ sanh, ngót ba mươi bốn năm rày đây mai đó không có trụ xứ ổn định.

Lúc đó có văn sĩ nổi tiếng thần đồng là Mã Tăng Na. Ông giảng được sách Lễ, kinh Dịch thính giả đến nghe rất đông. Giỏi như vậy rồi nhưng khi gặp Tổ, Tăng Na liền xin xuất gia đầu Phật. Từ đó về sau ông bỏ hết sự nghiệp văn chương của thế gian, chuyên tu hạnh đầu-đà. Thật là ít có! Con người tài hoa mà khi thấy đạo rồi thì buông bỏ mọi việc, chỉ sống đời đơn giản của một tăng sĩ.

Cư sĩ Hướng cũng là một nhà văn uyên bác, chán bả công danh, thích ở chỗ vắng vẻ, làm bạn với nước biếc non xanh. Nghe ngài hoằng hóa ở Bắc Tề, ông biên thư đến hỏi. Nội dung bức thư trình bày rất phù hợp với đạo, những điều ông nói thật thiết tha. Một vị cư sĩ mà hiểu Phật pháp như thế, rất là hiếm có!

Trong thư ông nói cuộc đời giả tạm, chẳng có gì chân thật đáng quý trọng, thế nhưng chúng ta cứ đuổi theo bóng, tìm tiếng vang, không biết vang từ tiếng mà có, không biết bóng từ hình mà ra. Cứ chạy theo bóng chạy tìm vang, vang và bóng là từ tiếng và người mà có. Bỏ tiếng bỏ người để đi tìm bóng tìm vang, đó là đuổi theo ảo ảnh. Cho nên nói tới tu hành thì lo trừ phiền não thú hướng Niết-bàn. Nhưng ngay nơi phiền não tức là Niết-bàn mà chúng ta không biết, bỏ phiền não chạy tìm Niết-bàn giống như bỏ hình tìm bóng. Lìa chúng sanh mà cầu Phật quả, như bỏ tiếng tìm vang. Nhưng Phật đâu rời chúng sanh mà có, bỏ chúng sanh đi cầu Phật thì làm sao mà kiếm cho ra.

Như vậy là để chỉ cho lối tu mà không biết nguồn cội, chỉ biết chạy theo ngọn ngành hư ảo cả ngày, không bao giờ nhận ra mê giác nơi mình, cứ lo chuyện ở bên ngoài cho đó là tu, nên càng tu càng xa với Phật pháp. Cho nên ông nói mê ngộ một đường, ngu trí chẳng khác. Quên là ngu, nhớ là trí không hai không khác. Chúng ta đặt tên ngu, trí rồi từ đó mới có thị phi, thấy người ngu thì chê, người trí thì khen. Ai nói mình ngu thì giận, ai khen mình trí thì mừng, nói tới người trí thì thấy đó là người tốt, nói tới người ngu thì thấy là người xấu. Do đó có phải quấy.

Giả sử có ai chỉ mặt mình nói “chú mày ngu quá!”, có chịu không? Nếu tu kha khá, giữa hội chúng mà nói như vậy thì lúc đó mặt cũng đỏ lên. Nếu giữa hội chúng mà nói: “Chú mày thật là người thông minh trí tuệ!”, nếu mình không cười to lộ liễu, thì mặt mày cũng tươi hẳn lên. Đó là biểu hiện bệnh chấp ngã thông thường của chúng sanh. Thành ra chúng ta đang mắc kẹt ở danh từ, người ta nói mình ngu thì nổi giận, nói mình trí thì vui mừng, chứ không biết mình thật có như vậy hay không. Rõ ràng chúng ta không tìm được lẽ thật, chỉ bị danh từ làm cho mình thấy có phải quấy tốt xấu, nhân đó mà khởi tranh luận. Nếu biết tất cả đều huyễn hóa thì trí ngu hay dở, phải quấy tốt xấu cũng là huyễn hóa, còn gì bận tâm mà tranh luận.

Ông đem cái biết “được mà không chỗ được, mất mà không chỗ mất” để trình lên Tổ mong ngài giải đáp.

Sư đáp thư ông cư sĩ Hướng: 

Bị quán lại ý giai như thật,

Chân u chỉ lý cánh bất thù. 

Bản mê ma-ni vị ngõa lịch, 

Hoát nhiên tự giác thị chân châu. 

Vô minh trí tuệ đẳng vô dị, 

Đương tri vạn pháp tức giai như.

Mẫn thử nhị kiến chi đồ bối, 

Thân từ tá bút tác tư thư. 

Quán thân dữ Phật bất sai biệt, 

Hà tu cánh mịch bỉ vô đư 

Dịch: 

Xem rõ ý ông gửi đến đây, 

Đối lý chân u có khác gì. 

Mê bảo ma-ni là ngói gạch, 

Bỗng nhiên giác ngộ biết chân châu.

Vô minh trí tuệ đồng chẳng khác,

Muôn pháp đều như, phải liễu trị.

Thương kẻ chấp thường và chấp đoạn,

Bày lời mượn bút viết thư này. 

Quán thân với Phật không sai khác,

Nhọc gì tìm kiếm Niết-bàn chi? 

Ý bốn câu kệ đầu, khi mê thì bảo hạt chân châu là ngói gạch, lúc ngộ biết là chân châu chứ không có cái nào khác. Như vậy là chỉ rõ ông đã nhận không còn lầm nữa.

Bốn câu kệ kế, vô minh trí tuệ đồng một nguồn, phải biết muôn pháp đều như. Vì sợ những người chấp thường đoạn hai bên, cho nên mới viết thư này.

Hai câu kệ cuối, nếu thấy chúng sanh và Phật không hai thì khỏi cần tìm Niết-bàn, vì chúng sanh và Phật không hai thì sanh tử Niết-bàn đâu có hai. Do đó nếu càng tìm Niết-bàn càng xa, khi chúng ta hết tìm thì Niết-bàn liền hiện bày trước mắt.

Cư sĩ Hướng được thư Sư, đọc xong ông tìm đến đảnh lễ và nhận thọ ấn ký. 

Sau này, Sư đổi đạo phục, giả dạng thế gian, có khi vào quán rượu, hoặc lúc đến hàng thịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, hoặc làm người khuân vác v.v… 

Có người biết, hỏi Sư: 

– Thầy là nhà tu, tại sao làm như thế? 

Sư đáp: 

Ta tự điều phục tâm, đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi. 

Sư đến huyện Quản Thành, ở trước tam quan chùa Khuông Cứu diễn nói đạo vô thượng. Nhằm lúc trụ trì là pháp sư Biện Hòa đang giảng kinh Niết-bàn, thính giả bên trong từ từ rút lần ra nghe Sư diễn hóa. Biện Hòa bực tức mới đi cáo gian với quan ấp tể tên Địch Trọng Khản rằng “Sư giảng tà thuyết làm việc phi pháp”. 

Địch Trọng Khản không biết nhận xét, cứ nghe bướng liền bắt Sư gia hình. Sư không đối kháng vẫn mặc nhiên thừa nhận để trả nợ trước cho xong. Ngay lúc gia hình, Sư thị tịch nhằm niên hiệu Khai Hoàng năm thứ mười ba nhà Tùy (593 TL). Sư hưởng thọ được một trăm lẻ bảy tuổi. 

Thiện tín thương xót đem di thể của Sư về chôn ở Từ Châu phía đông bắc huyện Phủ Dương. 

Đến đời vua Ðức Tông nhà Đường truy phong Đại Tổ thiền sư. 

Đây là giai đoạn quan trọng trong cuộc đời của tổ Huệ Khả. Chúng ta thấy rất lạ lùng. Lúc đó ngài khoảng sáu bảy mươi tuổi, công phu tu hành và đạo đức của ngài đáng lẽ làm một vị tổ sư, ở một trú xứ có đệ tử hầu hạ, có đồ chúng đến đảnh lễ học đạo. Nhưng ngài đổi đạo phục mặc áo thế gian, đi vào quán rượu hàng thịt, hoặc ở giữa đám đông thuyết pháp, rồi làm phu khuân vác đồ cho người.

Ngài làm như vậy có phá đi niềm tin của mọi người hay không? Khi ngài đang mang trách nhiệm hoằng pháp của tổ Bồ-đề-đạt-ma trao, lúc đó ngài phải xứng đáng là một vị Hòa thượng để truyền pháp. Đến khi truyền pháp cho Tăng Xán rồi, ngài hết trách nhiệm và tự do. Nếu hiểu theo nhà thiền thì chúng ta không lấy làm lạ.

Cho rằng những người lớn lại không ở địa vị cao mà lang thang không ra gì hết. Chúng ta nhìn bằng con mắt phàm tục, thấy ngài buông hết đạo nghiệp như vậy chắc là tiếc lắm. Hòa thượng tu hành đức hạnh như thế tại sao lại hoàn tục? Nhưng ngài làm không chút ngại ngùng. Có người biết hỏi ngài: Thầy là nhà tutại sao làm như thế? Ngài đáp: Ta tự điều phục tâm, đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi.

Giai đoạn này nếu nói theo Thiền tông, đó là giai đoạn Tổ buông thõng tay vào chợ. Tại sao? Vì chúng ta ở trong chùa, những nơi duyên cảnh thuận thì tâm yên, nhưng khi đụng duyên cảnh nghịch thì chưa chắc yên. Muốn biết thực tế ra sao ngài phải gan dạ ra đi để gặp duyên cảnh thuận nghịch mà nhìn lại thấy rõ con người thật của mình. Cho nên mới nói ta tự điều phục tâm đâu có quan hệ gì đến việc của ngươi. Đi như vậy là cố điều phục tâm, chứ không phải để thụ hưởng dục lạc thế gian. Đi là để va chạm những sự khinh bạc, những cảnh trớ trêu mà người ta không thể nào tưởng tượng xảy ra với một nhà tu, để ngài biết được lòng mình một cách chắc chắn.

Điều này nói lên sự tu hành có hai ý nghĩa rất quan trọng. Thứ nhất, nếu địa vị càng cao thì vô tình bản ngã nổi dậy mà mình không hay. Nghĩa là càng ở địa vị cao chừng nào thì bản ngã càng lớn chừng nấy. Tổ muốn không còn dính một chút hư danh, nên từ địa vị cao cả ấy rớt xuống làm kẻ phàm tục. Khi ngài mặc áo thế tục, bị nhiều người xầm xì chê trách, còn đồ đệ thì khóc nức nở, nhưng ngài cứ an nhiên làm việc của mình. Như vậy cho thấy bản ngã của ngài không lớn.

Thứ hai là để gặp những cảnh đúng với hình thức phàm tục của mình, nếu ngài đi đâu có đồ đệ theo hầu ra vẻ một vị Tổ thì không ai dám đụng tới, làm sao ngài gặp những nghịch cảnh thử thách lòng mình, do đó không thể biết được là đã xong việc hay chưa. Vì vậy ngài phải gan dạ, bỏ hết đạo nghiệp để làm hình thức người thế gian, ở đâu cũng có thể tới được, để thấy tâm mình còn nhiễm ngũ dục hay không.

Bây giờ cũng có nhiều người bắt chước học theo hành động của Tổ, bào chữa bằng câu “Dâm phòng tửu tứ vô vi thanh tịnh đạo tràng”, nghĩa là ở trong phòng dâm, chỗ quán rượu… đâu đâu cũng là thanh tịnh đạo tràng, nhưng họ tới đó với một tâm niệm khác. Đến quán rượu phòng nhạc là để thưởng thức ngũ dục thế gian. Nói như vậy mà tâm niệm không phải thì thật đáng thương, vì đã lầm tưởng mình là Tổ, nhưng rốt cuộc lại là kẻ phàm phu. Phàm phu mà nói lời Tổ thì bị đọa lớn, không biết ngày sau họ sẽ ra sao!

Khi Tổ đến huyện Quản Thành, ngài nói pháp ở trước tam quan chùa Khuông Cứu, nhằm lúc trụ trì là pháp sư Biện Hòa đang giảng kinh Niết-bàn, thính giả bên trong từ từ rút lần ra nghe ngài thuyết pháp. Pháp sư bực tức đi báo gian với quan, ngài giảng tà pháp và làm việc phi pháp. Quan không biết nhận xét liền bắt giam vào khám, đánh đập tra tấn. Ngài không đối kháng, an nhiên thọ nhận sự gia hình, để đền trả nợ trước cho xong.

Khi đó Tổ đã một trăm lẻ bảy tuổi rồi, tuổi già sức yếu mà bị đánh đập làm sao chịu nổi, cho nên Tổ tịch ở trong khám. Nghe tin, thiện tín rất thương xót, đem thi thể của Tổ về chôn tại Từ Châu phía đông bắc huyện Phũ Dương.

Ở Ấn Độ tổ Sư Tử tịch vì bị vua Kế-tân chặt đầu, còn ở Trung Hoa ngài là Tổ thứ hai bị nhốt vô khám rồi tịch. Đối với chúng ta như vậy thật là thương tâm, còn đối với chư tổ thì sao? Chịu khó đọc đoạn sau sẽ biết.

PHẦN PHỤ

1- Sư Mã Tăng Na sau có đệ tử hiệu là Huệ Mãn. Sư bảo Huệ Mãn: 

 Tâm ấn của Tổ sư chẳng phải chuyện khổ hạnh, khổ hạnh chỉ là giúp đạo mà thôi. Nếu người khế hợp được bản tâm, phát cái dụng tùy ý chân quang thì khổ hạnh như nắm đất thành vàng. Nếu người chỉ chú trọng khổ hạnh mà không rõ bản tâm, lại bị yêu ghét trói buộc thì khổ hạnh như đêm ba mươi đi trong đường hiểm. 

Đọc qua phần phụ thứ nhất, chúng ta thấy ngài Tăng Na phản đối khổ hạnh hay khen ngợi khổ hạnh? Nếu khổ hạnh mà ngộ được bản tâm thì rất đáng khen, còn khổ hạnh mà không ngộ bản tâm, lại bị trói buộc trong tình yêu ghét thì rất là nguy hiểm. Bây giờ có nhiều người tu khổ hạnh mà không ngộ bản tâm, cho khổ hạnh là trên hết, xem thường những người không tu khổ hạnh như mình. Như vậy là buộc trong tình yêu ghét, là kẻ đi đường hiểm trong đêm ba mươi dễ bị sảy chân, gặp những tai nạn bất thường. Ngài Tăng Na chỉ rõ ý nghĩa khổ hạnh sẽ bất lợi nếu người tu không nhận ra bản tâm.

Ngươi muốn rõ được bản tâm, phải suy cùng xét cạn, khi gặp sắc gặp thanh mà chưa khởi suy nghĩ, tâm ở chỗ nào? Là không chăng? Là có chăng? Đã chẳng rơi vào chỗ có không thì tâm chân tự sáng, thường chiếu thế gian, chưa có một mảy bụi làm gián cách, chưa từng có tướng khoảng sát-na đứt nối. 

Huệ Mãn sau cũng hành hạnh đầu-đà. 

Đây là lời chỉ thẳng bản tâm không giấu giếm. Khi gặp thanh sắc chưa khởi suy nghĩ lúc đó tâm ở chỗ nào, nếu không thấy ở chỗ nào thì hỏi là có chăng, là không chăng? Khi nào không thấy có không thì bản tâm hiện. Ngài chỉ thẳng như vậy mà người nghe không nhận ra là tại không chịu mở mắt, tôi cũng chẳng biết làm gì hơn!

2- Thiền sư Hạo Nguyệt hỏi thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm: 

– Cổ đức nói: “Liễu tức nghiệp chướng bản lai không, vị liễu ưng tu hoàn túc trái.” Như tổ Sư Tử và tổ Huệ Khả vì sao lại đền nợ trước? 

Trường Sa bảo: 

– Đại đức chẳng biết bản lại không. 

Hạo Nguyệt hỏi: 

– Thế nào là bản lai không? 

– Nghiệp chướng. 

Thế nào là nghiệp chướng? 

– Bản lai không. 

Hạo Nguyệt lặng thinh. 

Trong phần phụ thứ hai, thiền sư Hạo Nguyệt dẫn lời thiền sư Huyền Giác hỏi Trường Sa Cảnh Sầm về cái chết của tổ Huệ Khả. Liễu ngộ rồi thì nghiệp chướng xưa nay không, nếu chưa liễu ngộ phải đền nợ trước. Vậy tổ Sư Tử và tổ Huệ Khả đã liễu ngộ chưa mà lại đền nợ trước? Nếu chưa liễu sao được Tổ truyền y, còn liễu rồi tại sao còn đền nợ trước? Đây là chỗ nghi chết người trong thiên hạ. Vị bị vua Kế-tân chặt đầu, vị bị bỏ tù rồi chết trong khám. Rõ ràng là đền nợ trước.

Trường Sa Cảnh Sầm đáp hết sức đúng lý. Tại sao? Bởi vì liễu ngộ thì nghiệp chướng xưa nay không, tức là thấy thân không thật, nghiệp cũng không thật thì cái gì đền nợ trước? Nếu chưa liễu ngộ thì thấy có thân có nghiệp nên thấy có đền trả thật. Còn các ngài tuy đền mà không thấy có đền, nhưng trên thân tứ đại vẫn phải chịu trả. Sự đền trả đó là qua cái nhìn của mỗi người mà thành sai khác.

Chúng ta tu ai cũng mong lúc chết thở cái khì ra đi nhẹ nhàng, còn chết bị hành khổ sở thì không muốn. Nhưng giả sử hồi xưa tạo những nghiệp ác với vài người nào đó, thì ngang đây phải vui lòng đền trả món nợ đó cho xong. Có nợ mà không chịu trả đó là tham.

Trường Sa dùng kệ chỉ bày: 

Giả hữu nguyên phi hữu, 

Giả diệt diệc phi vô. 

Niết-bàn thường trái nghĩa,

Nhất tánh cánh phi thù. 

Dịch: 

Giả có vốn chẳng có, 

Giả diệt cũng chẳng không. 

Nghĩa Niết-bàn, đền nợ, 

Một tánh lại nào hai. 

Giả có nhưng không phải có. Giả diệt, diệt tức là mất đi, cũng không phải không. Có và mất cả hai đều giả, bởi giả nên không thật có cũng không thật không. Nghĩa Niết-bàn và nghĩa đền nợ trước, chỉ là một tánh trọn không thể khác. Tại sao? Bởi vì Niết-bàn và đền nợ trước cũng giả danh mà thôi. Nếu ngộ tức nhiên thấy thân cảnh không thật, nên không thấy đền nợ trước, tâm luôn an lạc đó là Niết-bàn. Mê thì thấy người thật cảnh thật, nên thấy có đền nợ trước. Như vậy, đền hay không đền, nói một bên không bao giờ đúng.

Kinh A-hàm và kinh Đại thừa nói khác nhau ở chỗ đó. A-hàm thì nói đức Phật còn phải chịu nạn kim thương mã mạch, chính đức Phật còn trả nợ đời trước huống là phàm phu. Đại thừa thì cho rằng, nói Phật còn trả nợ trước là không hiểu Phật. Chúng ta mới nghe thấy dường như hai bên nói mâu thuẫn nhau, nhưng sự thật không phải vậy. Bởi vì kinh A-hàm là nhìn trên tướng nghiệp báo và lý nhân quả mà nói có đền trả. Kinh Đại thừa nhìn trên lý liễu ngộ tự tánh mà nói, nên không thấy có gì là đền trả. Một bên đứng về tướng để giải thích nhân quả, một bên đứng về tánh thấu triệt các pháp, nên nói nghiệp chướng bản lai không. Như vậy không có gì chống đối nhau hết. Hiểu rõ tinh thần của các kinh thì không nghi, nếu không hiểu thì đọc tới đâu nghi tới đó.

30. TAM TỔ TĂNG XÁN (496(?) 606) 

Không ai biết quê quán và gốc gác Sư thế nào. Chỉ biết Sư với hình thức cư sĩ mắc bệnh ghẻ lở đến lễ tổ Huệ Khả xin sám tội. Nhân đó được ngộ đạo. Được Tổ cho thọ giới Cụ túc tại chùa Quang Phước, nhằm niên hiệu Thiên Bình thứ hai (535 TL) nhà Đông Ngụy ngày mười tám tháng ba. Sư theo hầu hạ Tổ được hai năm, Tổ truyền kệ và y bát bảo phải đi phương xa ẩn tránh kẻo có nạn. Sư đến ở ẩn nơi núi Hoàn Công thuộc Thư Châu. 

Đời Chu Võ Đế ra lệnh diệt Phật pháp (574 TL), Sư sang ở núi Tư Không huyện Thái Hồ. Sư thường đổi dời ít khi ở lâu một chỗ, nên hơn mười năm mà không ai biết tông tích. 

Ngài Tăng Xán ra đời nhằm thời Phật giáo Trung Hoa bị ách nạn, tức là bị phế giáo. Đời Chu Võ Đế ở Trung Hoa có nạn gọi là “Tam Võ nhất Tông chi ách”, nghĩa là ách nạn ba đời vua Võ, một đời vua Tông. Chu Võ Đế ra lệnh diệt Phật pháp là một trong ba đời đó, nên ngài phải đi ẩn ở vùng núi Tư Không huyện Thái Hồ, nhưng không ở một chỗ, không ai biết tông tích, hơn mười năm như vậy. Phật giáo Thiền tông Trung Hoa liên hệ tới Thiền tông Việt Nam sâu đậm là ở giai đoạn này.

Thời gian Sư ở núi Tư Không có một vị sư người Ấn tên Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Trung Hoa cầu pháp. Gặp Sư, Lưu-chi hết lòng kính mộ xin làm đệ tử, Sư truyền tâm ấn cho và khuyên qua phương Nam tiếp độ chúng sanh. 

Đó là nguyên nhân mà ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam, và là vị Tổ đầu tiên truyền Thiền tông ở Việt Nam. Khi học tới Thiền sư Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rõ hơn. Như vậy, phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi là một chi nhánh dưới tổ Tăng Xán.

Đời nhà Tùy, khoảng niên hiệu Khai Hoàng có Sa-di hiệu Đạo Tín được mười bốn tuổi đến lễ Sư thưa: 

 Xin Hòa thượng từ bi ban cho con pháp môn giải thoát. 

Sự hỏi: 

– Ai trói buộc ngươi? 

– Không ai trói buộc. 

– Đã không trói buộc, đâu cần cầu giải thoát. 

Đạo Tín nghe liền đại ngộ. 

Từ đây, Đạo Tín theo hầu hạ Sư suốt chín năm. 

Đa số chúng ta hay nói, phiền não tham sân si trói buộc mình. Nhưng thử hỏi phiền não là cái gì mà trói buộc? Nhìn lại chẳng thấy chú nào, có trói buộc gì đâu. Nhưng khi có ai làm trái tai gai mắt, mình thấy dường như bị trói buộc. Nếu ai làm trái tai gai mắt mà mình vẫn thản nhiên, thì không có gì trói buộc cả. Như vậy trói buộc hay không là tại mình. Chúng ta lâu nay cứ tưởng như mình đang bị trói buộc, nên than khổ. Than khổ là tại mình tưởng, sự thật không ai trói buộc hết.

Trường hợp Sa-di này cũng vậy, khi ngài xoay lại tìm không thấy có ai trói buộc, nên trả lời không ai trói buộc. Tổ Tăng Xán mới bảo: Đã không trói buộc, thì đâu cần cầu giải thoát. Nghĩa là có ai trói mới kêu mở, bây giờ không ai trói kêu mở làm chi. Thử hỏi ai có thể mở cho người không bị trói? Chuyện đó không bao giờ có. Bị trói mới mở, không bị trói lấy gì để mở.

Nói như vậy chúng ta ắt nghi, không trói buộc tại sao Phật dạy tu để giải thoát, mà giải thoát cái gì? Tất cả những sự trói buộc ở thế gian này, không phải ai mà chính mình tự trói, nhưng không biết tự mở rồi đi cầu người khác mở trói cho mình, thật không có lý chút nào!

Những thứ trói buộc chúng ta là nghiệp, mà nghiệp là thói quen, vậy thói quen đó ai tạo cho mình? Ví dụ một người khi chưa biết đạo ghiền rượu ghiền thuốc, ghiền cà-phê, cờ bạc, hát xướng… nhưng khi phát tâm tu, bỏ những thứ ghiền đó, là ai bỏ cho mình hay mình phải tự bỏ? Tự mình tập lâu thành ghiền, bây giờ muốn hết ghiền chỉ bỏ là hết, không ai có tài ba gì bỏ giúp mình được. Chúng ta thấy rõ ràng, tất cả nghiệp không thật, tự mình tạo ra rồi nó ràng buộc khổ sở. Muốn hết những khổ sở đó thì đừng huân tập nữa, lỡ tập thì gan dạ bỏ tự nhiên hết khổ. Ngài Đạo Tín nghe câu này nhận ra sự trói buộc không thật, mà lâu nay lầm tưởng là thật. Do đó khi nghe Tổ khai thị liền ngộ.

Chúng ta thấy, tổ Huệ Khả, tổ Tăng Xán và ngài Đạo Tín. Ba vị nghe thầy khai thị đều xoay lại tìm nơi mình, thấy được lẽ thật gọi đó là ngộ đạo. Vậy đạo là gì? Là lẽ thật nơi chính mình. Tất cả pháp tu Phật dạy pháp nào cũng xoay lại nơi chính mình, chứ không phải tìm kiếm bên ngoài, đó là gốc của đạo Phật.

Hiểu như vậy mới thấy cội gốc của sự tu hành, nếu không hiểu thì tưởng đạo là cái gì cao siêu ở đâu đó, nên khổ công đi cầu đạo chỗ này, học đạo chỗ kia. Đạo chính là lẽ thật ở nơi mình, nhận ra tâm chân thật của chính mình, gọi đó là thấy đạo.

Sau Đạo Tín đến Kiết Châu thọ giới, rồi trở lại hầu thầy rất cần mẫn. Sư thường dùng lý huyền diệu gạn hỏi, biết Đạo Tín cơ duyên đã thuần thục, bèn truyền y pháp cho ông. Sư bảo: 

– Đại pháp nhãn tạng của Như Lai, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát. Ngươi gắng mà gìn giữ. Nghe ta nói kệ: 

Hoa chủng tuy nhân địa,

Tùng địa chủng hoa sanh. 

Nhược vô nhân hạ chủng, 

Hoa địa tận vô sanh. 

Dịch: 

Giống hoa tuy nhân đất,

Từ đất giống hoa sanh.

Nếu không người gieo giống,

Hoa đất trọn không sanh. 

Sư dạy tiếp: 

Xưa tổ Huệ Khả trao pháp cho ta rồi, ngài đến xứ Nghiệp Đô hoằng hóa hơn ba chục năm mới thị tịch. Nay đã có người thừa kế cho ta thì việc của ta đã xong, còn ở đây làm gì! 

Khi ngộ rồi ngài Đạo Tín ở hầu hạ thầy suốt chín năm. Bởi vì mới mười bốn tuổi trẻ quá, cho nên ở lại hầu thầy chín năm. Năm hai mươi ba tuổi Đạo Tín tới Kiết Châu thọ giới Tỳ-kheo, rồi trở về hầu thầy rất cần mẫn. Tổ thường dùng lý huyền diệu gạn hỏi, biết Đạo Tín cơ duyên đã thuần thục, bèn nói bài kệ truyền pháp.

Giống hoa tuy nhân đất,

Từ đất giống hoa sanh.

Nếu không người gieo giống,

Hoa đất trọn không sanh.

Nghĩa là có hạt giống hoa và có đất thì hoa sanh, nhưng không có người gieo giống thì hoa không sanh. Cũng như tất cả chúng ta đều có tánh giác, nhưng bị phiền não phủ che, nếu không có ai chỉ thì không biết. Nhờ học đạo, nghe lời Phật tổ dạy qua sự truyền đạt của quý thầy mới biết mình có tánh giác. Khi biết có tánh giác, đủ duyên tu hành, mà không ai hướng dẫn thì không có kết quả. Sở dĩ sự tu hành có tiến bộ, đạt đến kết quả là nhờ có người giúp đỡ chỉ bày cho mình.

Có đất, có hoa, có người gieo giống thì hoa tăng trưởng. Nhưng nếu không hoa không đất, không ai gieo giống thì đất là đất, hoa là hoa, không làm sao phát triển được.

Sư đến núi La Phù ngao du hai năm, lại trở về Châu Thư, ngụ tại chùa Sơn Cốc. Dân chúng ở đây nghe Sư đến đều vui mừng, tấp nập kéo đến thừa sự cúng dường. 

Sư thăng tòa thuyết pháp cho tứ chúng nghe. Thuyết xong, Sư đứng ngay thẳng dưới cây đại thọ chắp tay thị tịch. Nhằm ngày rằm tháng mười năm Bính Dần, niên hiệu Đại Nghiệp thứ hai (606 TL) đời Tùy. 

Sư có trước tác bài “Tín Tâm Minh” là một tác phẩm trọng yếu của thiền tông hiện còn lưu hành.

Vua Huyền Tông đời Đường truy phong hiệu là Giám Trí thiền sư.

 

PHẦN PHỤ

Đời Đường niên hiệu Thiên Bảo thứ năm (746 TL) có quan doãn huyện Hà Nam tên Lý Thường đến khai mộ Sư, thỉnh thi hài làm lễ trà-tỳ. Ông lượm xá-lợi xây tháp thờ, một phần tặng sư Thần Hội ở chùa Hà Trạch, một phần mang luôn theo mình. 

Sau khi truyền pháp và dặn dò ngài Đạo Tín, là đã có người kế thừa, việc truyền bá ngang đó coi như xong, tổ Tăng Xán từ giã đi ngao du. Đăng tòa thuyết pháp cho tứ chúng nghe xong, Tổ đứng ngay thẳng dưới cây đại thọ, chắp tay thị tịch. Đây là điểm đặc biệt của Tổ. Ngài tịch nhẹ nhàng sung sướng quá, chúng ta có thích không? Muốn được như vậy thì mỗi người phải ráng tu, đạo lực kiên cố thì chết tùy ý.

Ngài có trước tác bài Tín Tâm Minh, là một tác phẩm trọng yếu của Thiền tông hiện còn lưu hành. Tín tâm là tin tâm của mình, minh là ghi lại. Bài minh này hơi dài. Tôi dẫn hai câu đầu: “Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.” Nghĩa là chỗ tột của đạo không khó, chỉ tại mình suy nghĩ chọn lựa. Nếu suy nghĩ chọn lựa thì không đạt đến chỗ chí đạo.

Hai câu cuối: “Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm.” Người tin tâm mình thì không có hai, còn có hai là chưa tin tâm mình. Tại sao? Bởi vì thấy có tốt xấu hay dở phải quấy v.v… là thấy hai, thấy như thế là thấy theo tâm phân biệt, mà phân biệt là vọng tưởng. Nếu không vọng tưởng phân biệt thì tâm chân thật hiện tiền.

Tâm chân thật không mắc kẹt hai bên, người nào hay nói phải quấy là quên mất tâm mình và không tin có tâm. Tâm có sẵn đủ tất cả nên nói tròn đồng thái hư, không thiếu không dư. Khi tâm lặng lẽ thì mọi việc đều tròn đầy. Bao nhiêu pháp tu của Phật dạy, chủ yếu đưa chúng ta tới chỗ tâm được an vui thanh tịnh.

Tóm lại, bài Tín Tâm Minh tổ Tăng Xán dạy, nếu tin tâm chân thật của mình thì không mắc kẹt hai bên, nếu kẹt hai bên là chúng ta không tin tâm, nếu không tin tâm thì phiền não bất an. Đó là trọng tâm của sự tu hành.

31. TỨ TỔ ĐẠO TÍN (580 – 651) 

Sư họ Tư Mã, tổ tiên quê ở Hà Nội, thân phụ Sư dời về Kỳ Châu huyện Quảng Tế, mới sanh Sư. 

Sư xuất gia khi còn để chóp. Tuy tuổi ấu thơ, mà Sư có ý chí siêu việt, ngưỡng mộ Không tông và các môn giải thoát. 

Năm mười bốn tuổi là một Sa-di, Sư gặp tổ Tăng Xán cầu xin pháp môn giải thoát, được Tổ khai ngộ cho. Sư theo hầu Tổ suốt chín năm, mới được truyền pháp. Sau khi được pháp, Sư một bề tinh tấn trọn ngày đêm không nằm. 

Niên hiệu Đại Nghiệp thứ mười ba (617 TL) đời Tùy, Sư thống lãnh đồ chúng sang Kiết Châu. Đến đây bị bọn giặc Tào Võ Vệ vây thành suốt bảy tuần. Dân chúng trong thành kinh hoàng. Sư dạy họ chí tâm niệm Ma-ha Bát-nhã. Toàn dân trong thành đều thành kính tụng niệm. Quả nhiên bọn giặc nhìn trên thành có thần binh trùng điệp, chúng sợ hãi rút quân. 

Niên hiệu Võ Đức thứ hai (619 TL) đời Đường, Sư sang đất Loa Xuyên. Ở đây, Sư giáo hóa ngót bảy năm. 

Sau Sư trở về an trụ tại Kỳ Xuân trên núi Phá Đầu. Ở đây, tăng chúng bốn phương đua nhau tìm đến tham vấn rất đông. 

Đây là vị Tổ thứ tư của Trung Hoa, ngài có những điểm đặc biệt: Thứ nhất, ngài mới mười bốn tuổi, xuất gia làm Sa-di gặp tổ Tăng Xán, được Tổ khai thị liền ngộ đạo. Thứ hai, ngài ngộ đạo rồi mà ngày đêm vẫn tinh tấn tọa thiền, chứ không nằm nghỉ.

Ngài ngộ từ năm mười bốn tuổi, vì tuổi còn nhỏ nên ngài theo hầu tổ Tăng Xán tới chín năm mới được truyền pháp. Sau khi được truyền pháp, ngài một bề tinh tấn trọn ngày đêm không nằm. Người xưa ý chí phi thường, là tấm gương sáng xứng đáng cho chúng ta kính lễ noi theo. Ngày nay có người nói thiền nói đạo hay lắm, nhưng cứ uống trà nói dóc không chịu cố gắng tu. Thấy những điều đó chúng ta phải dè dặt không nên bắt chước.

Đến cuối đời Tùy, ngài thống lãnh đồ chúng sang Kiết Châu để hoằng hóa, bị bọn giặc Tào Võ Vệ vây hãm thành suốt bảy tuần. Dân chúng trong thành hoảng sợ. Ngài khuyên dân chúng tụng Ma-ha Bát-nhã, bọn giặc nhìn lên trên thành thấy có thần binh trùng điệp, chúng sợ hãi rút quân, dân chúng khỏi tai họa. Sau đó ngài sang đất Loa Xuyên giáo hóa bảy năm, rồi trở về an trụ tại Kỳ Xuân trên núi Phá Đầu. Tăng chúng bốn phương đua nhau tìm đến tham vấn rất đông.

Đời Đường niên hiệu Trinh Quán thứ tư (630 TL), Sư đang ở trên núi Phá Đầu nhìn xem khí tượng, biết trên núi Ngưu Đầu có bậc dị nhân. Sư đích thân tìm đến núi này, vào chùa U Thê hỏi thăm những vị tăng rằng: 

– Ở đây có đạo nhân chăng? 

Có vị tăng đáp: 

– Phàm là người xuất gia ai chẳng phải đạo nhân? 

Sự hỏi: 

– Cái gì là đạo nhân? 

Tăng im lặng không đáp được. Có vị tăng khác thưa: 

 Cách đây chừng mười dặm bên kia núi, có một vị sư tên Pháp Dung, lười biếng đến thấy người chẳng đứng dậy chào cũng không chắp tay, phải là đạo nhân chăng? 

Sư liền trèo núi tìm đến thấy Pháp Dung đang ngồi thiền trên tảng đá, dường như chẳng để ý đến ai. 

Người đem hết tâm lực lo tu hành, không có thời giờ rảnh để chào hỏi ai, lại bị thiên hạ kết tội là lười biếng. Nhưng đối với Tổ thì biết đó là bậc pháp khí, nên liền trèo núi tìm đến. Thấy Pháp Dung đang ngồi thiền trên tảng đá, dường như chẳng để ý đến ai.

Ngày nay chúng ta cũng có bệnh như thế, nếu tới chùa được thầy trụ trì niềm nở rót nước trà mời uống, nói chuyện đủ thứ thì nói thầy đó tốt. Nếu tới chùa thấy thầy ngồi tu không thèm ngó ngàng gì tới mình thì nói thầy đó không biết điều, kém xã giao. Chúng ta đến chùa học đạo mà gặp người chuyên tu là việc đáng mừng, nếu gặp người tiếp khách giỏi thì giỏi về xã giao, chứ không giỏi về tu hành thì chúng ta học hỏi được gì? Cho nên phải nhìn cho chính xác, không nên nhìn theo tình cảm, ai tiếp đón niềm nở thì cho người đó là tốt, ai lơ là chỉ lo tu thì nói người đó không biết điều, đó là cái nhìn sai lầm.

Sư hỏi: 

– Ở đây làm gì? 

Pháp Dung đáp: 

– Quán tâm. 

– Quán là người nào, tâm là vật gì? 

Pháp Dung không đáp được, bèn đứng dậy làm lễ, thưa: 

– Đại đức an trụ nơi nào? 

Sư đáp: 

Bần tăng không có chỗ ở nhất định, hoặc đông hoặc tây. 

Tâm là tâm của mình, mà nói quán tâm vậy ai quán? Nếu mình dùng tâm quán tâm là hai cái tâm. Cho nên Tổ đặt câu hỏi: Quán là người nào, tâm là vật gì? Pháp Dung không đáp được. Khi Tổ mới đến Pháp Dung xem thường, cứ ngồi nói chuyện không đứng dậy làm lễ, sau khi nghe Tổ hỏi câu trên, mới đứng dậy làm lễ thưa hỏi.

– Ngài biết thiền sư Đạo Tín chăng? 

– Vì sao hỏi ông ấy? 

– Vì nghe danh đức đã lâu, khao khát muốn đến lễ yết. 

– Thiền sư Đạo Tín là bần đạo đây. 

– Vì sao Ngài quang lâm đến đây? 

– Vì tìm đến thăm hỏi ngươi, lại có chỗ nào nghỉ ngơi chăng? 

Pháp Dung chỉ phía sau thưa: 

– Riêng có cái am nhỏ. 

Pháp Dung liền dẫn Sư đến am. Chung quanh am toàn loài cọp sói nằm đứng lăng xăng, Sư giơ hai tay lên làm thế sợ. Pháp Dung hỏi: 

– Ngài vẫn còn cái đó sao? 

Sự hỏi: 

– Cái đó là cái gì? 

Pháp Dung không đáp được. Giây lát, Sư lại phiến đá của Pháp Dung ngồi vẽ một chữ “Phật”. Pháp Dung nhìn thấy giật mình. 

Sư bảo: 

– Vẫn còn cái đó sao? 

Pháp Dung không hiểu, bèn đảnh lễ cầu xin Sư chỉ dạy chỗ chân yếu. 

Pháp Dung dẫn Tổ về am, chung quanh toàn loài cọp sói, nằm đứng lăng xăng. Tổ thấy vậy liền đưa hai tay lên như hoảng sợ. Pháp Dung hỏi: Ngài vẫn còn cái đó sao? Ý muốn nói hoảng sợ là còn chấp ngã. Cái đó là cái chấp ngã vậy. Tổ liền hỏi: Cái đó là cái gì? Pháp Dung không đáp được. Giây lát Tổ đến phiến đá của Pháp Dung ngồi vẽ một chữ Phật, Pháp Dung nhìn thấy giật mình. Tổ bảo: Vẫn còn cái đó sao? 

Thấy cọp sói hoảng lên và thấy vẽ chữ Phật chỗ mình ngồi hoảng lên, cái nào hợp lý? Nghĩa là tổ Đạo Tín nhìn thấy cọp sói đưa hai tay lên như hoảng sợ, thì Pháp Dung nghĩ rằng ngài còn chấp ngã nên sợ. Nhưng khi Tổ tới chỗ ông ngồi vẽ một chữ Phật to tướng, ông liền hoảng lên là tại sao? Vì sợ tội. Như vậy cọp sói là tai họa cụ thể, còn chữ Phật là tai họa linh thiêng phải không? Nhưng chữ Phật là do phấn vẽ thành, không thật mà hoảng sợ, như vậy ai chấp ngã nặng hơn? Cho nên khi Tổ hỏi vẫn còn cái đó sao thì Pháp Dung không hiểu, nên không đáp được, bèn xin Tổ chỉ dạy chỗ chân yếu. 

Sư bảo: 

– Phàm trăm ngàn pháp môn đồng về một tấc vuông. Diệu đức như hà sa thảy ở nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới định tuệ, thần thông biến hóa, thảy đều đầy đủ nơi tâm ngươi. Tất cả phiền não xưa nay đều không lặng. Tất cả nhân quả đều như mộng huyễn, không có tam giới có thể ra, không có Bồ-đề có thể cầu. Người cùng phi nhân tánh tướng bình đẳng. Đại đạo thênh thang rộng lớn bặt suy dứt nghĩ. Pháp như thế, nay ngươi đã được không thiếu khuyết, cùng Phật không khác, lại không có pháp gì lạ. 

Tấc vuông là chỉ trái tim của mình, ngày xưa một tấc chỉ bằng bốn phân bây giờ. Ý muốn nói tất cả pháp môn từ nơi tâm, muôn ngàn diệu đức cũng ở nơi tâm mà ra. Tổ chỉ thẳng tâm là gốc của muôn đức, tâm là nguồn của tất cả pháp, tất cả môn giới định tuệ, thần thông biến hóa, thảy đều đầy đủ nơi tâm.

Chúng ta có thấy điểm trọng yếu của tâm chưa? Không gì ngoài tâm mình mà có, nó đầy đủ diệu dụng muôn đức; bởi vì chúng ta chạy theo phiền não tham sân si, nên mất hết tất cả những công đức nhiệm mầu đó. Nếu chịu khó buông bỏ những phiền não thì sẽ đầy đủ công đức.

Chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi quán hạnh, cũng chớ lóng tâm, chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn, rỗng rang không ngại, mặc tình tung hoành, chẳng làm các việc thiện, chẳng làm các việc ác, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Vì vui vẻ không lo buồn nên gọi là Phật. 

Ai vui vẻ không lo buồn đó là Phật tại tiền. Nếu lo buồn dù lạy Phật bao nhiêu cũng không thấy Phật. Ở đây Tổ chỉ tột cái gốc cho chúng ta tu hành, chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi quán hạnh. Chỉ cần tâm tự tại, không dính mắc các duyên thì khỏi quán hạnh.

Lục Tổ nói: Phật dạy tất cả pháp để trị tất cả tâm, ta không có tất cả tâm, thì đâu cần tất cả pháp. Như chúng ta có bệnh nóng giận, nên Phật dạy phải khởi quán từ bi để trị bệnh nóng giận, nếu bây giờ không nóng giận thì không cần quán từ bi. Như vậy bao nhiêu pháp của Phật dạy là để trị bệnh của chúng sanh, nếu không bệnh thì không cần trị, chỉ cần không ôm lòng giận ghét thù oán ai, nếu có buồn giận ai phải buông bỏ hết, thì khỏi quán gì cả, đó là chỗ thảnh thơi nhất.

Ở đây ngài dạy, cũng chớ lóng tâm. Lóng tâm là kìm, nếu tâm yên ổn không phiền giận, không suy nghĩ tính toán thì kìm làm chi. Chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn thì sẽ được rỗng rang không ngại, mặc tình tung hoành. Điều này chúng ta nghe qua thì dễ nhưng làm thì rất khó! Tại sao? Bởi có tham sân là từ chấp thân mà ra. Nhưng xét lại xem, tham sân do mình mà ra, đâu phải ở trên trời rớt xuống hay ai đó áp đặt bắt mình phải tham sân. Bây giờ Phật dạy nếu biết tham sân là không tốt, thì bỏ đi khỏe ru chứ gì, tại sao nói khó? Vì bám vào thân này chấp là mình, nên tham muốn đủ thứ, tham không được thì nổi sân. Nếu đừng cho thân này là quan trọng thì sẽ bớt tham sân.

Như người có lòng lương thiện, thương người thương vật, tu hành đàng hoàng mà có ai nói là tu giả dối lừa gạt người ta, nghe như vậy buồn liền. Nhưng buồn làm chi vì họ không biết nên nói bậy có gì đâu mà buồn, nếu thật tu thì tự mình biết rõ hơn hết, còn người khác không biết họ chê khen gì cũng mặc kệ, miễn mình không giả tu là được rồi. Tu như vậy mới là thứ thiệt, nếu bị người ta chê mà chán nản bực bội thì không phải.

Chẳng làm các việc thiện, chẳng làm các việc ác. Nghe câu này chúng ta dễ nghi quá, vì quý thầy thường dạy Phật tử bỏ ác làm thiện, nhưng tại sao ở đây Tổ lại nói chẳng làm thiện chẳng làm ác? Bởi vì chúng ta còn nghĩ ác nhiều, nên quý thầy khuyên làm thiện để giảm bớt nghiệp ác. Khi chúng ta thuần thục làm thiện rồi thì khỏi khuyên làm thiện.

Ví dụ thấy người già cả bị vấp té, chúng ta không nghĩ suy gì hết tự nhiên chạy lại đỡ, không phải đợi nghĩ thiện mới giúp đỡ mà có sẵn ở trong lòng mình. Nhà Phật gọi là vô duyên từ, lòng từ bi không duyên cớ, thấy người khổ thì giúp liền, đó là do trong lòng chúng ta đã thuần thiện nên khi gặp duyên tự nó hiện ra. Nếu còn cố gắng làm thiện thì còn kẹt ở hai bên. Thứ nhất vì mình còn ác cho nên cố gắng làm thiện, đó là còn trong giới hạn. Thứ hai làm thiện cho có phước để về sau hưởng sung sướng, đó là làm thiện vì bản ngã.

Nếu thật tình tâm chúng ta không chấp thiện không làm ác thì khi gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Nghĩa là khi không có niệm ghét thương oán hờn, đối duyên xúc cảnh đều từ bị giống như Phật. Phật từ bi cho nên gặp ai khổ cũng sẵn sàng cứu giúp không phân biệt người nào. Còn chúng ta bởi có thương ghét nên người thương thì giúp, người ghét thì bỏ. Dù họ có bị ai ăn hiếp đánh đập mình cũng làm lơ, không tội nghiệp không cứu giúp. Chúng ta muốn giống Phật thì ráng làm điều đó, cả ngày không buồn giận thương ghét, tâm thản nhiên tự tại, là giống Phật rồi, đó mới thật là con của Phật.

Pháp Dung thưa: 

– Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật, cái gì là tâm? 

Sư đáp: 

 Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm. 

Pháp Dung thưa: 

– Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị? 

Sư đáp: 

– Cảnh duyên không có tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh (tên), vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chân tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tùy tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là Pháp thân thường trụ, không có đổi thay. Ta thọ pháp môn đốn giáo của tổ Tăng Xán, nay trao lại cho ngươi. Nay ngươi nhận kỹ lời ta, chỉ ở núi này sau có năm vị đại nhân đến nối tiếp giáo hóa. 

Ngài Pháp Dung chưa nhận ra lý tức tâm tức Phật, nên mới hỏi: Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật, cái gì là tâm? Tổ đáp: Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm. Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, nghĩa là ông hỏi đó chính là tâm ông, nếu không có tâm thì cái gì biết hỏi. Khi hỏi Phật chính là tâm, ngay đó chứ không có đâu xa.

Pháp Dung thưa: Đã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị? Câu hỏi này gần với chúng ta. Tổ dạy: Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh để phân biệt thì vọng tình từ đâu mà khởi. Ví dụ tâm mình duyên theo người A, người B rồi phân biệt người A tốt, người B xấu. Tại tâm phân biệt cho nên cảnh mới thành sai khác, nếu tâm không chấp vào danh để phân biệt thì vọng tình từ đâu mà khởi.

Vọng tình không khởi thì cái biết khắp đó là cái biết của chân tâm. Chỉ tùy tâm tự tại chẳng cần đối trị. Không phân biệt là đủ rồi đối trị làm gì! Tâm tự tại như như đó là pháp thân thường trụ, không bao giờ đổi thay.

Tổ dạy, nhận hiểu được pháp rồi y đó mà tu, về sau sẽ có năm vị đại nhân đến để tiếp nối giáo hóa.

Phái thiền Ngưu Đầu phát xuất từ đây.

Trong sử có ghi lại, trước lúc ngài Pháp Dung gặp Tứ tổ Đạo Tín, ngài ngồi thiền được chim hái trái bẻ hoa đến cúng dường, nhưng sau khi lãnh thọ pháp nơi Tổ rồi, chim không còn đến cúng dường nữa. Đây là điều nghi vấn của người sau. Tại sao hiểu pháp tu thì chim không cúng dường nữa, có phải ngài tu hành lui sụt không? Bởi vì trước kia ngài còn quán tâm, nên chim thấy được tâm ngài mà cảm mến cúng dường. Bây giờ ngài đã tự tại, không còn thấy có năng sở, vì thế chim không thấy tâm ngài đâu để cúng dường nữa. Đó là chỗ sâu xa đáo để của người tu. Cho nên khi chúng ta tu, dù được một hai điều linh nghiệm bên ngoài, cũng không lấy đó làm hãnh diện cho là mình tu khá. Bởi vì đó vẫn chưa phải là chỗ cứu cánh.

Một hôm Sư đến huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp một đứa bé dáng vẻ khôi ngô, độ chừng bảy tuổi. Sư để tâm nơi đứa bé, bèn hỏi: 

– Ngươi họ gì? 

Đứa bé đáp: 

– Họ thì có, mà không phải họ thường. 

 Là họ gì? 

– Là họ Phật. 

– Ngươi không họ à? 

– Vì họ ấy là không. 

Sư nhìn những người thị tùng bảo: 

– Đứa bé này không phải hạng phàm, sau này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh. 

Sư cùng thị tùng tìm đến nhà đứa bé, thuật những lời đối đáp lạ thường của nó và xin cha mẹ cho nó xuất gia. Cha mẹ đứa bé đồng ý cho nó xuất gia. Thế là, Sư nhận đứa bé làm đệ tử xuất gia, đặt tên là Hoằng Nhẫn. 

Một hôm Sư gọi Hoằng Nhẫn đến bảo: 

 Xưa Như Lai truyền Chánh pháp nhãn tạng truyền đến đời ta, nay ta trao lại cho ngươi cùng với y bát. Ngươi phải giữ gìn, cố gắng truyền trao không cho dứt bặt. Nghe ta nói kệ: 

Hoa chủng hữu sanh tánh, 

Nhân địa hoa sanh sanh. 

Đại duyên dữ tín hợp, 

Đương sanh sanh bất sanh. 

Dịch: 

Giống hoa có tánh sống, 

Nhân đất hoa nảy mầm. 

Duyên lớn cùng tín hợp, 

Chính sanh, sanh chẳng sanh. 

Sư lại bảo Hoằng Nhẫn: 

– Trước, trong thời Võ Đức ta có viếng Lê Sơn, lên tột trên đảnh nhìn về núi Phá Đầu thấy một vầng mây màu tía giống như cái lọng, dưới phát ra lằn hơi trắng chia ra sáu đường, ngươi cho là điềm gì? 

Hoằng Nhẫn thưa:

– Đó là điềm sau Hòa thượng con cháu sẽ chia thêm một nhánh Phật pháp. 

Sư khen: 

– Hay thay, ngươi khéo biết đó. 

Một hôm Tổ đến huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp đứa bé dáng vẻ khôi ngô độ chừng bảy tuổi. Ngài hỏi đứa bé: Ngươi họ gì? Họ thì nhưng không phải họ thường. Mới có bảy tuổi mà đáp kiểu này thì thật là phi thường. họ gì? Là họ Phật. Nói là họ Phật ngài không chịu, nên hỏi: Ngươi không họ à? Đứa bé đáp: Vì họ ấy là không. Họ là giả danh không thật, nên trả lời họ ấy là không. Ngài nhìn những người thị tùng bảo: Đứa bé này không phải hạng phàm, sau này sẽ làm Phật pháp hưng thịnh. Thật đúng như vậy!

Tổ đi tới nhà đứa bé thuật lại những lời đối đáp lạ thường rồi xin cho nó xuất gia và đặt tên là Hoằng Nhẫn. Sau đó Tổ truyền pháp cho Hoằng Nhẫn qua bài kệ:

Giống hoa có tánh sống,

Nhân đất hoa nảy mầm,

Duyên lớn cùng tín hợp,

Chính sanh, sanh chẳng sanh.

Giống hoa có tánh sống, nhân đất hoa nảy mầm. Giống hoa biểu trưng cho Phật tánh hằng giác không phải vật vô tri như cây cỏ, tánh sống của giống hoa tự nó không phát triển được mà phải nhờ đất mới nảy mầm sanh trưởng. Cũng như chúng ta có sẵn Phật tánh, nếu không được Phật tổ chỉ dạy cho thì không phát triển được.

Duyên lớn cùng tín hợp, chính sanh, sanh chẳng sanh. Duyên lớn cùng lòng tin hợp nhau, nghĩa là tin nhận nơi mình có Phật tánh thì chính sanh, sanh chẳng sanh. Khi ta nhận ra Phật tánh thì như nó sanh ra, nhưng sự thật nó không sanh vì đã có sẵn từ bao giờ. Tâm thể hằng giác vì bị phiền não vô minh che đậy, khi thoát ra khỏi phiền não vô minh tạm gọi là sanh, nhưng không có gì sanh hết, nên nói sanh mà chẳng sanh.

Niên hiệu Trinh Quán thứ mười tám (644 TL) nhà Đường, vua Thái Tông ngưỡng mộ đạo hạnh của Sư sai sứ mang chiếu thỉnh Sư về kinh đô để tham vấn đạo lý. Sứ đi đến ba phen mà thỉnh không được. Sư cứ từ chối là già bệnh. 

Lần thứ tư, vua hạ lệnh nếu Sư không chịu đi thì lấy thủ cấp đem về, vì Sư phạm tội trái lệnh. 

Sứ giả đọc chiếu chỉ xong, Sư ngửa cổ cho sứ chém, mà thần sắc vẫn thản nhiên. 

Sứ giả thấy thế không dám hạ thủ, trở về tâu lại nhà vua. Vua nghe việc này càng thêm kính phục, gửi đồ lụa gấm đến cúng dường. 

Đến niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ hai (651 TL) đời Đường, ngày mùng bốn tháng chín nhuần năm Tân Hợi, Sư gọi môn nhân vào dặn: 

– Tất cả các pháp thảy đều là giải thoát, các ngươi phải tự gìn giữ và giáo hóa đời sau. 

Nói xong, Sư ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi. Môn nhân xây tháp thờ tại núi Phá Đầu. 

Sư từ khi ngộ đạo cho đến lúc thị tịch gần sáu chục năm mà vẫn tinh tấn tu hành không khi nào nằm nghỉ. Thật là một gương sáng về hạnh giải đều tuyệt đỉnh. 

Ngày mùng tám tháng tư năm sau, tự nhiên cửa tháp mở ra, nghi dung của Sư xinh tươi như lúc sống. Từ đây về sau môn nhân không đóng cửa tháp. 

Khoảng niên hiệu Đại Lịch (766-779) vua Đường Đại Tông truy phong Sư hiệu Đại Y thiền sư. 

Chỗ này cho chúng ta thấy lời nói và việc làm của Tổ đi đôi, nói được là làm được, vì không còn chấp ngã nên khi gặp những cảnh đó ngài hết sức tự tại! Nhất là khi nghe mời lần thứ tư, nếu từ chối thì sẽ lấy thủ cấp đem về, nếu chúng ta thì chắc chắn là run sợ. Sở dĩ sợ là vì còn bản ngã, các ngài hết chấp ngã nên không có gì quan trọng. Tu hành như vậy mới đạt đến chỗ cứu cánh. Chúng ta bây giờ vì còn chấp ngã nên còn nhát nhúa sợ sệt đủ thứ! Phải cố gắng mới xứng đáng là người tu.

Đến niên hiệu Vĩnh Huy, năm thứ hai nhằm 651 Tây lịch đời Đường, ngày mùng bốn tháng chín nhuần năm Tân Hợi, Sư gọi môn nhân vào dặn: Tất cả các pháp thảy đều là giải thoát, các ngươi phải biết tự gìn giữ và giáo hóa đời sau. Lời dặn này ý nghĩa như thế nào? Chúng ta thấy tất cả pháp đều sanh diệt. Sanh diệt tức là luân hồi, ngược lại Tổ thấy tất cả pháp đều là giải thoát. Câu này ngài ngộ ở tổ Tăng Xán, trong đời ngài không bao giờ quên được, nên khi sắp từ biệt đồ đệ ngài đem câu này dặn đồ đệ phải gìn giữ để giáo hóa đời sau.

Dặn rồi Tổ ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi hai tuổi. Tổ nói chuyện rồi ra đi an lành tự tại. Chúng ta muốn thế thì phải cố gắng tu. Tổ từ khi ngộ đạo cho đến lúc thị tịch, gần sáu chục năm mà vẫn tinh tấn tu hành không khi nào nằm nghỉ. Thật là một tấm gương sáng về hạnh giải cho chúng ta noi theo.

Ngày mùng tám tháng tư năm sau, tự nhiên cửa tháp mở ra, nghi dung của Tổ xinh tươi như lúc sống. Từ đây về sau môn nhân không đóng cửa tháp để cho mọi người chiêm ngưỡng lễ bái. Đến đời vua Đường Đại Tông truy phong Tổ hiệu là Đại Y thiền sư.

1. TÀI TÒNG ĐẠO GIẢ 

PHẦN PHỤ

Một hôm, tổ Đạo Tín đi viếng núi Song Phong gặp một vị sư già trồng tùng, thời nhân gọi là Tài Tòng đạo giả. Vị sư ấy hỏi Tổ rằng: 

– Đạo pháp của Như Lai có thể cho tôi nghe được chăng? 

Tổ đáp: 

– Tuổi ông đã già, dù có nghe được cũng không hoằng hóa kịp. Nếu có tái sanh được thì ta cũng nán chờ. 

Đạo giả nghe dạy rồi từ tạ đi xuống núi. Đến huyện Hoàng Mai, thấy một cô gái đang giặt áo ở bờ sông, ông chào và hỏi: 

– Nhà cô ở gần xa, cô vui lòng cho tôi nghỉ nhờ được chăng? 

Cô đáp: 

– Tôi còn cha mẹ không dám tự quyền, mời Sư vào nhà hỏi cha mẹ tôi là hơn. 

Ông bảo: 

– Vậy cô có bằng lòng không, cho tôi biết? 

Cô đáp: 

– Riêng tôi bằng lòng. 

Đạo giả nghe cô hứa chịu, bèn trở về núi ngồi ngay thẳng viên tịch. 

Cô gái kia là con út của nhà họ Châu, sau khi hứa lời với Đạo giả rồi, không bao lâu có thai. Cha mẹ thấy cô chưa chồng mà có thai, là làm ô nhục gia phong, quyết định đuổi cô đi. 

Cô đang tuổi trẻ mà mang phải cái nợ giữa đường, sống bơ vơ không chỗ nương đỡ, phải đi kéo chỉ mướn nuôi miệng qua ngày. 

Đến ngày, cô sanh ra một đứa con trai xinh xắn, nhưng vì sự kỳ dị không chồng có con, nên cô đành đem thả xuống sông. Sáng ngày, cô thấy đứa bé ngồi xếp bằng trên mặt nước, khí sắc tươi tỉnh lạ thường. Cô vừa lấy làm lạ vừa xót thương nên bồng về nuôi dưỡng. 

Đến bảy tuổi, đứa bé gặp tổ Đạo Tín đối đáp một cách phi thường, được Tổ xin về cho xuất gia đặt tên là Hoằng Nhẫn. 

Hoằng Nhẫn có nghĩa là mẹ nhẫn nhục nuôi con, cũng có nghĩa tổ Đạo Tín nhẫn chờ đứa bé khôn lớn truyền pháp. 

Theo truyện này, tổ Hoằng Nhẫn là thân sau của Tài Tòng đạo giả. 

Qua câu chuyện này, chúng ta biết ngài Hoằng Nhẫn là thân sau của Tài Tòng đạo giả, nên mới bảy tuổi mà có những đối đáp phi thường. Tài Tòng tuy chưa ngộ đạo viên mãn nhưng sanh tử thật là tự tại. Ưng chết thì chết, ưng sanh thì chọn lựa nơi sanh. Đó là điểm đặc biệt, cũng do câu chuyện này mà Tứ tổ Đạo Tín đặt tên ngài là Hoằng Nhẫn.

Sau Tứ Tổ dòng thiền chia hai nhánh: thiền Ngưu Đầu và thiền của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nhánh của Ngũ Tổ gọi là chánh truyền, nhánh của ngài Pháp Dung gọi là phụ truyền.

2. THIỀN SƯ PHÁP DUNG ở núi Ngưu Đầu (594-657 TL) 

Sư họ Vi quê ở Diên Lăng, Nhuận Châu. Năm mười chín tuổi, Sư đã học thông kinh sử, tìm xem bộ Đại Bát-nhã hiểu thấu lý chân không. 

Một hôm, Sư tự than: 

– Đạo Nho sách đời, không phải pháp cứu cánh. Bát-nhã chánh quán là thuyền bè xuất thế. Sư bèn vào ở ẩn Mao Sơn theo Thầy xuất gia học đạo. 

Sau, Sư đến núi Ngưu Đầu ở trong thất đá trên ngọn núi phía bắc chùa U Thê. Lúc đó, có các loài chim tha bông đến cúng dường. Các loài thú dữ quanh quẩn bên Sư không ngớt. 

Khoảng niên hiệu Trinh Quán nhà Đường (627-650 TL) tổ Đạo Tín nhân thấy khí tượng lạ tìm đến gặp Sư. Nhân đó, Sư được đại ngộ. 

Từ khi đắc pháp về sau, nơi pháp tịch của Sư đại thạnh. Khoảng niên hiệu Vĩnh Huy đời Đường (650-655 TL) đồ chúng thiếu lương thực, Sư phải sang Đơn Dương hóa duyên. Đơn Dương cách núi Ngưu Đầu đến tám mươi dặm, Sư đích thân mang một thạch tám đấu, sáng đi chiều về để cúng dường ba trăm tăng. Như vậy, mà ngót ba năm Sư cung cấp không thiếu. 

Sư họ Vi quê ở Diên Lăng, Nhuận Châu. Khi còn tại gia ngài đã học thông kinh sử, tìm xem bộ Đại Bát-nhã hiểu thấu lý chân không, ngài cho rằng Đạo và Nho sách đời không phải pháp cứu cánh, Bát-nhã chánh quán mới là thuyền bè xuất thế. Ngài mới theo Thầy xuất gia học đạo. Ngài lên núi Ngưu Đầu ở trong thất đá phía Bắc chùa U Thê. Các loài chim tha bông trái đến cúng dường, các loài thú quanh quẩn một bên không ngớt.

Tổ Đạo Tín tìm đến gặp ngài. Sau khi đắc pháp, ngài mở mang giáo hóa, pháp tịch của ngài rất thạnh hành. Khi ấy chúng tăng ở đó đến ba trăm vị, trên núi không đủ gạo ăn, ngài phải sang Đơn Dương hóa duyên. Đơn Dương cách núi Ngưu Đầu đến tám mươi dặm, bằng năm mươi cây số bây giờ. Sư đích thân mang một thạch tám đấu bằng với một tạ gạo, sáng đi chiều về bữa nào cũng vậy. Ngài làm việc thật phi thường, một lần mang một tạ gạo, chúng ta tưởng tượng sức mạnh của ngài cỡ nào. Ngót ba năm trời như vậy chứ chẳng phải một hai tháng!

Quan ấp tể tên Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư giảng kinh Bát-nhã tại chùa Kiến Sơ. Thính giả vân tập, Sư giảng đến phẩm Diệt Tĩnh, đất chấn động. 

Bác Lăng Vương hỏi Sư: 

Khi cảnh duyên sắc phát

Không nói duyên sắc khởi,

Làm sao biết được duyên

Muốn dứt cái khởi ấy? 

Sư đáp: 

Cảnh sắc khi mới khởi,

Sắc cảnh tánh vẫn không; 

Vốn không người biết duyên,

Tâm lượng cùng tri đồng; 

Soi gốc phát chẳng phát, 

Khi ấy khởi tự dứt. 

Ôm tối sanh hiểu duyên, 

Khi duyên, tâm chẳng theo; 

Chí như trước khi sanh,

Sắc tâm không nuôi dưỡng;

Từ không vốn vô niệm, 

Tưởng thọ ngôn niệm sanh;

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy. 

Hỏi: 

Nhắm mắt không thấy sắc

Cảnh lự lại thêm phiền

Sắc đã chẳng quan tâm

Cảnh từ chỗ nào phát? 

Sư đáp: 

Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều,

Huyễn thức giả thành dụng,

Há gọi trọn không lỗi.

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người, 

Tùy đi có tướng chuyển, 

Thật chim bay trong không. 

Hỏi: 

Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh,

Cảnh mất hiểu lại chuyển,

Hiểu bèn biến làm cảnh. 

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết,

Theo đó cùng nhau đi,

Chẳng lìa mé sanh diệt? 

Sư đáp: 

Tâm sắc, trước sau giữa

Thật không cảnh duyên khởi

Một niệm tự ngừng mất 

Ai hay tính động tịnh. 

Đây biết tự không biết

Biết, biết duyên chẳng hợp 

Nên tự kiểm bản hình 

Đâu cần tìm ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất 

Niệm sau chẳng hiện ra 

Tìm trăng chấp bóng huyền 

Bàn dấu đuổi chim bay. 

Muốn biết tâm bản tánh 

Lại như xem trong mộng 

Ví đó băng tháng sáu

Nơi nơi đều giống nhau.

Trốn không trọn chẳng khỏi

Tìm không lại chẳng thành

Thử hỏi bóng trong gương 

Tâm từ chỗ nào sanh? 

Hỏi: 

Khi đều đặn dụng tâm, 

Nếu là an ổn tốt? 

Sư đáp: 

Khi đều đặn dụng tâm

Đều đặn không tâm dụng

Bàn quanh danh tướng nhọc

Nói thẳng không mệt phiền.

Không tâm đều đặn dụng

Thường dụng đều đặn không

Nay nói chỗ không tâm

Chẳng cùng có tâm khác. 

Hỏi: 

Người trí dẫn lời diệu 

Cùng tâm phù hợp nhau 

Lời cùng tâm đường khác 

Hợp thì trái vô cùng? 

Sư đáp: 

Phương tiện nói lời diệu 

Phá bệnh đạo Đại thừa

Bàn chẳng quan bản tánh 

Lại từ không hóa tạo. 

Vô niệm là chân thường

Trọn phải bặt đường tâm

Lìa niệm tánh chẳng động

Sanh diệt chẳng trái lầm

Cốc hưởng đã có tiếng 

Bóng gương hay ngó lại. 

Quan ấp tể thỉnh ngài giảng kinh Bát-nhã, đồ chúng đến học rất đông, tông phong của ngài từ đây về sau phát huy mạnh. Khi giảng Bát-nhã đến phẩm Diệt Tĩnh thì đất chấn động. Trong nhà thiền phần nhiều các thiền sư đều thông về lý Bát-nhã.

Sau đây là đoạn Bác Lăng Vương hỏi đạo ngài. Bác Lăng Vương là nhà văn cho nên hỏi Sư toàn dùng văn chương:

Khi cảnh duyên sắc phát Không nói duyên sắc khởi, Làm sao biết được duyên Muốn dứt cái khởi ấy? 

Khi cảnh duyên nơi sắc phát ra, thì không nói duyên theo sắc mà khởi, vì trong nhà Phật luôn luôn nói tâm sanh các pháp sanh, chứ không nói sắc sanh tâm. Nếu không phải do sắc sanh thì làm sao biết từ đâu phát ra duyên đó, làm sao dứt được lý do dấy khởi? Nói cho dễ hiểu, do có cảnh thì tâm mới sanh, tâm sanh do duyên cảnh, sao không nói do nơi cảnh mà khởi tâm, làm sao biết và dứt được tâm năng duyên.

Tổ đáp:

Cảnh sắc khi mới khởi, 

Sắc cảnh tánh vẫn không;

Vốn không người biết duyên, 

Tâm lượng cùng tri đồng.

Cảnh và sắc bên ngoài tự tánh vốn là không. Nếu biết rõ cảnh sắc tánh không thì vốn không có người biết duyên, người năng duyên không thật thì tâm lượng mới đồng với tánh chân thật.

Soi gốc phát chẳng phát 

Khi ấy khởi tự dứt.

Ôm tối sanh hiểu duyên, 

Khi duyên tâm chẳng theo.

Soi lại cái gốc duyên theo cảnh phát, biết không thật vì nó là vọng, khi ấy cái khởi tự dứt. Nếu ôm vô minh để hiểu về duyên thì tâm duyên không thể dứt được.

Chí như trước khi sanh,

Sắc tâm không nuôi dưỡng,

Từ không vốn vô niệm,

Tưởng thọ ngôn niệm sanh, 

Khởi pháp chưa từng khởi,

Đâu cầu Phật chỉ dạy.

Trước khi sanh, sắc tâm chưa khởi thì không có gì nuôi dưỡng nhau, vì từ nơi không vốn là vô niệm. Sở dĩ có niệm là sau khi có thân và tâm hợp nhau. Nếu biết rõ sắc tâm không thật, thân không thật, vọng tưởng cũng không thật, hai cái đó tự tánh là không thì nghĩ về cái gì, cho nên tự nhiên vô niệm. Biết rõ nó vốn vô niệm, tại sao lại có niệm sanh khởi? Do có thọ tưởng hành thức mà niệm sanh khởi.

Niệm dấy khởi là hư giả, nên thấy sanh mà chưa từng sanh, khởi mà chưa từng khởi. Nếu hiểu được vậy rồi thì không cần nhờ Phật chỉ dạy mà tự nhận ra cái chân thật.

Hỏi: Nhắm mắt không thấy sắc 

Cảnh tự lại thêm phiền 

Sắc đã chẳng quan tâm 

Cảnh từ chỗ nào phát? 

Khi ngồi thiền hay ngồi yên nhắm mắt, lúc đó không đối duyên đối cảnh, lý đáng không nghĩ gì, nhưng ngược lại thì lăng xăng nghĩ nhiều hơn lúc nào hết. Vậy nhắm mắt không thấy sắc tại sao duyên lự lại nhiều? Đã chẳng quan tâm đến sắc thì cảnh từ chỗ nào mà phát, ở đâu mà nó cứ phát lăng xăng ở trong tâm mình hoài vậy? Đó là hỏi lý do khi năm căn không tiếp xúc với năm trần, lý đáng lúc đó niệm phải vắng bặt, tại sao lại dấy khởi.

Đáp: Nhắm mắt không thấy sắc,

Trong tâm động lự nhiều, 

Huyễn thức giả thành dụng, 

Há gọi trọn không lỗi.

Nhắm mắt không thấy sắc nhưng tại tâm động nên duyên lự nhiều. Duyên lự là do huyễn thức biến hiện, đó là hư vọng lỗi lầm.

Biết sắc chẳng quan tâm,

Tâm cũng chẳng quan người,

Tùy đi có tướng chuyển, 

Thật chim bay trong không.

Nếu thấy sắc, biết sắc mà tâm không liên hệ gì với sắc, tâm không dính với sắc cũng chẳng liên quan với người. Tâm không phân biệt nhân, không phân biệt pháp thì khi chúng ta tùy duyên mà chuyển động, nhưng tâm thể vẫn như như, cũng như chim bay trong hư không, bay qua rồi không để lại dấu vết.

Chúng ta có hoạt động, đối duyên xúc cảnh mà không lưu lại bóng dáng nào trong tâm, đó là điểm đặc biệt. Nếu đối sắc sanh tâm là bệnh, hoặc nhắm mắt mà tâm cứ dấy động hoài, đó cũng là lỗi. Những câu trả lời này thật hay, nếu chúng ta biết rõ ứng dụng tu thì công phu nhẹ nhàng mà có kết quả tốt.

Hỏi: Cảnh phát không chỗ nơi,

Duyên đó hiểu biết sanh,

Cảnh mất hiểu lại chuyển, 

Hiểu bèn biến làm cảnh.

Cảnh phát ra không chỗ nơi vì nó không có tự tánh. Nếu cảnh phát mà không tâm phân biệt thì cảnh không thành cảnh. Duyên theo cảnh, tâm hiểu biết phân biệt liền sanh. Khi cảnh qua mất rồi hiểu biết cũng chuyển theo, lúc đó hiểu biết bèn biến thành cảnh.

Tại sao? Như chúng ta đang nói chuyện với người quen, người quen là cảnh mà mình duyên theo nên khởi tâm phân biệt. Khi người đó đi rồi mình ngồi yên một chỗ, câu chuyện nói với họ hồi nãy và hình ảnh người đó cứ lảng vảng trong đầu mình. Hình ảnh lảng vảng ấy từ đâu?

Ý hỏi thứ nhất nêu lên cảnh ở ngoài là cảnh, còn hiểu biết thì ở trong đầu, tại sao khi tiếp xúc với cảnh, khi cảnh qua rồi hiểu biết lại biến thành cảnh?

Nếu dùng tâm kéo tâm,

Lại thành biết bị biết,

Theo đó cùng nhau đi, 

Chẳng lìa mé sanh diệt? 

Nếu dùng tâm kéo tâm nghĩa là dùng tâm mà trị tâm vọng. Ví dụ khi ngồi thiền vừa khởi nghĩ thì cảnh hiện ra, cảnh ấy cũng từ tâm biến ra, rồi tâm duyên theo. Khi ấy dùng tâm trị vọng, tức là dùng cái biết trị cái vọng. Như vậy lấy tâm này trị tâm kia, cùng là tâm mà một cái thành hay biết và một cái bị biết, hai cái hay biết và bị biết cùng đi chung với nhau. Khi cái bị biết diệt thì cái hay biết cũng diệt, cái bị biết sanh thì cái hay biết cũng sanh. Hai cái sanh sanh diệt diệt thì đâu lìa được mé sanh diệt.

Ý hỏi thứ hai là tâm đã vọng, biết vọng cũng là vọng, hai cái vọng biết nhau, dẹp nhau như vậy thì cũng nằm trong sanh diệt, đâu phải là vô sanh.

Đáp: Tâm sắc, trước sau giữa 

Thật không cảnh duyên khởi 

Một niệm tự ngừng mất 

Ai hay tính động tịnh.

Trong ba thời, tâm quá khứ tâm hiện tại tâm vị lai đều không thể được. Cảnh cũng vậy, quá khứ hiện tại vị lai đều không thật, thì không có cảnh để tâm duyên. Tâm và cảnh đều dừng, tức là một niệm dừng bặt không chạy theo tâm cảnh, thì cái gì là động, cái gì là tịnh. Như vậy là tâm thể nhất như.

Đây biết tự không biết

Biết, biết duyên chẳng hợp

Nên tự kiểm bản hình 

Đâu cần tìm ngoại cảnh.

Vọng niệm không chạy theo ngoại cảnh thì dứt tâm động tịnh. Khi dứt tâm động tịnh, đây là cái biết tự không biết. Biết mà không biết vì cái biết đó không chạy theo cảnh, gọi là tịch diệt thường tri, chứ không phải là cái biết do động tâm duyên cảnh. Cái biết này cùng với cái biết duyên theo cảnh không hợp nhau. Cái biết trước là cái biết chân thật, nó không hợp với cái biết giả dối kia, như vậy cái biết thật và cái biết duyên theo cảnh không phải là một, nên không hợp nhau. Nhìn lại bản hình sẵn có nơi chính mình, bản hình là chỉ cho cái biết chân thật ban đầu, thì tự nhiên trở lại với bản tánh linh tri chứ không chạy theo ngoại cảnh.

Cảnh trước không biến mất 

Niệm sau chẳng hiện ra 

Tìm trăng chấp bóng huyền 

Bàn dấu đuổi chim bay.

Cảnh trước mắt không biến mất, niệm sau chẳng hiện ra, nói cho dễ hiểu nghĩa là khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, sáu trần hiện có trước mặt nhưng tâm không dấy động thì đối cảnh mà không sanh tâm, đó là tâm chân thật. Nếu đối cảnh sanh tâm chẳng khác nào tìm trăng trong đáy nước. Vì trăng trong đáy nước không thật thì có gì mà tìm. Chẳng khác nào tìm dấu chim bay trong hư không. Chim bay trong hư không chẳng có dấu vết mà chúng ta cứ bàn tán là đường bay của chim có dấu vết này kia trong hư không, nếu như vậy thì chỉ là chuyện đùa vô ích.

Muốn biết tâm bản tánh 

Lại như xem trong mộng 

Vi đó băng tháng sáu 

Nơi nơi đều giống nhau.

Nếu muốn biết bản tánh của tâm thì giống như xem trong giấc mộng. Ví đó là băng tháng sáu, vì tháng sáu là mùa hè làm gì có băng!

Trốn không trọn chẳng khỏi 

Tìm không lại chẳng thành 

Thử hỏi bóng trong gương 

Tâm từ chỗ nào sanh? 

Đây là lối diễn tả đẹp làm sao! Thử hỏi chúng ta có trốn hư không được không? Không thể trốn được! Có người sợ hư không cứ chạy hoài, chạy đến chừng nào mới ra khỏi hư không? Hư không là dụ cho bản thể chân tâm bất sanh bất diệt, nó trùm khắp cũng như hư không. Bây giờ giả sử chúng ta muốn đừng có chân tâm cũng không được, nhưng mà khởi tâm tìm nó thì cũng không thành.

Tìm hư không thì chẳng thành, hư không không thể nắm bắt thì tìm nó cũng là thừa. Cũng như khởi tâm mà tìm chân tâm sai. Hãy chịu khó hỏi bóng ở trong gương xem là tâm từ chỗ nào sanh, nó sẽ đáp cho các ông! “Này anh, tâm của tôi từ chỗ nào sanh?” Chừng nào cái bóng nó đáp cho mình? Như vậy, nếu chúng ta thấy rõ các pháp là hư huyễn thì mới nhận ra bản tâm trùm khắp và không còn nói là sanh là diệt, nếu nói sanh diệt là chuyện hỏi bóng trong gương vô ích.

Hỏi: Khi đều đặn dụng tâm 

Nếu là an ổn tốt? 

Khi dụng tâm tu, làm sao được an ổn?

Đáp: Khi đều đặn dụng tâm,

Đều đặn không tâm dụng.

Bàn quanh danh tướng nhọc 

Nói thẳng không mệt phiền.

Nghĩa là người biết tu khi dụng tâm thì phải biết không có tâm dụng. Nếu còn tâm dụng tức là còn sanh diệt, mà phải ngay đó không có tâm dụng. Cứ nói quanh co dụng tâm thế này dụng tâm thế kia, chạy theo danh theo tướng chỉ thêm nhọc nhằn, thẳng nơi đó thấy tâm là hư vọng không thật, khỏi nhọc nhằn gì hết.

Không tâm đều đặn dụng,

Thường dụng đều đặn không

Nay nói chỗ không tâm,

Chẳng cùng có tâm khác.

Hằng ngày cứ không tâm mãi như vậy, ngay đó dụng không tâm. Cả hai câu này đều chỉ cho chúng ta hằng dùng cái tâm không. Nay nói chỗ không tâm, cái không tâm đó không khác với cái có tâm. Tại sao? Vì chính cái không tâm mới hiển hiện được tâm chân thật.

Hỏi: Người trí dẫn lời diệu 

Cùng tâm phù hợp nhau 

Lời cùng tâm đường khác,

Hợp thì trái vô cùng?

Chúng ta hiểu câu hỏi này không? Thường thường người trí lời nói và tâm nghĩ, hai cái tương ưng nên nói người trí dẫn lời diệu, cùng tâm phù hợp nhau. Nhưng theo nhận xét của ông thì tâm và lời nói hai cái khác nhau. Lời nói là cái động phô diễn ra bên ngoài, tâm là cái nghĩ ở bên trong, hai đường khác nhau làm sao hợp được. Nếu nói hai cái hợp nhau thì hoàn toàn vô lý.

Đáp: Phương tiện nói lời điệu 

Phá bệnh đạo Đại thừa 

Bàn chẳng quan bản tánh 

Lại từ không hóa tạo.

Người trí phương tiện đem những lời diệu nói ra, cốt phá bệnh chấp của chúng sanh để nhận được thâm ý của Đại thừa. Như vậy khi nói không dính gì với bản tánh, đó là phương tiện khéo léo của các ngài từ không mà tạo ra, chứ không nên cho lời nói đó là chân thật, nếu chấp ngôn ngữ là chân thật đó là lầm.

Vô niệm là chân thường

Trọn phải bặt đường tâm

Lìa niệm tánh chẳng động 

Sanh diệt chẳng trái lầm.

Khi vô niệm thì đó là tánh chân thường hiển lộ, phải dứt bặt suy nghĩ, lìa vọng niệm rồi thì mới thấy tánh là chẳng sanh chẳng diệt, không còn trái lầm. Nghĩa là lúc hết vọng niệm thì không còn nói trái nói phải nữa.

Cốc hưởng đã có tiếng 

Bóng gương hay ngó lại.

Chúng ta đứng trước hang, vừa phát ra tiếng nói thì trong hang liền đáp lại. Gương đặt trước mặt, chúng ta nhìn vào gương thì bóng trong gương nhìn lại. Bóng trong gương, tiếng vang của hang là hư giả, tùy bản chất động tịnh liền theo đó mà hiện ra. Tiếng và vang, hai cái khác nhau mà vẫn phù hợp, bóng và hình khác nhau nhưng hình làm gì thì bóng theo đó.

Ngài dùng hai hình ảnh tiếng và vang, hình và bóng để đáp rằng một bên là thật một bên là giả, tuy hai bên khác đường mà hợp nhau. Ông cho rằng tâm và lời nói không hợp, nếu hợp thì phi lý là không đúng.

Ngài đã trả lời rõ ràng những câu hỏi của Bác Lăng Vương, vì ông dùng thơ để hỏi nên hơi cô đọng, người đọc nghe khó hiểu, nhưng ngài trả lời rất hay.

Niên hiệu Hiển Khánh năm đầu (656 TL) nhà Đường, ấp tể Tiêu Nguyên Thiện thỉnh Sư xuống núi trụ trì chùa Kiến Sơ. Sư hết lời từ chối mà không được. Bất đắc dĩ, Sư gọi đệ tử thượng thủ là Trí Nham truyền trao pháp ấn và dặn dò tiếp nối truyền dạy tại núi này.  

Sư sắp xuống núi bảo chúng: 

– Ta không còn bước chân lại núi này. 

Lúc đó chim thú kêu buồn gần suốt tháng không dừng. Trước am có bốn cây ngô đồng, giữa tháng hè bỗng nhiên rụng lá. 

Năm sau (657 TL) ngày hai mươi ba tháng giêng, Sư thị tịch tại chùa Kiến Sơ, thọ sáu mươi tư tuổi, tuổi hạ được bốn mươi mốt. Ngày hai mươi bảy đưa quan tài lên núi Kê Lung an táng, số người tiễn đưa hơn vạn. 

Phái thiền của Sư truyền, sau này gọi là Ngưu Đầu Thiền, vì lấy tên núi mà đặt tên. Số môn đồ khá đông, lưu truyền thạnh hành đến sáu đời mới dứt. 

Sau này quan ấp tể Tiêu Nguyên Thiện thỉnh ngài xuống núi trụ trì chùa Kiến Sơ, ngài hết lời từ chối mà không được. Có lẽ quan ấp tể là người tri thức, phụ ngài trong lúc hoằng hóa, vì muốn hỗ trợ nhau nên ngài không thể từ chối, bất đắc dĩ ngài nhận lời xuống núi.

Trước khi xuống núi ngài gọi đệ tử thượng thủ là Trí Nham truyền trao pháp ấn, dặn dò tiếp nối truyền dạy tại núi này và nói rằng: Ta không còn bước chân lại núi này nữa.

Ngài rời núi là năm 656 TL, lúc ngài tịch là năm 657 TL. Như vậy là ngài biết trước một năm trước khi tịch. Sự cảm ứng của ngài đối với các loài chim thú cây cối chung quanh rất nhiều, cho nên ngài ra đi chim thú kêu buồn gần suốt tháng, trước am có bốn cây ngô đồng giữa tháng hè cũng rụng lá. Khi ngài tịch môn đồ tứ chúng đưa quan tài lên núi Kê Lung an táng, có hơn vạn người.

Ngài tu hành đắc lực như vậy mà không được truyền y pháp chính thức, chỉ là một dòng phụ thôi, nhưng chúng ta thấy ngài rất xứng đáng, vì phái thiền của ngài truyền rất thạnh hành đến sáu đời mới dứt. Số môn đồ tu theo khá đông, sau này gọi là Ngưu Đầu Thiền vì lấy tên núi mà đặt.

32. NGŨ TỔ HOẰNG NHẪN (602 – 675) 

Sư họ Châu quê ở Châu Kỳ thuộc huyện Hoàng Mai. Thuở nhỏ, Sư thông minh xinh đẹp. Có ông thầy xem tướng khen rằng: “Đứa bé này có đầy đủ tướng tốt, chỉ thua Phật bảy tướng thôi.” 

Năm bảy tuổi, Sư gặp tổ Đạo Tín độ cho xuất gia. Từ đây về sau, Sư theo hầu Tổ đến khi được truyền tâm ấn. Khi Tổ tịch, Sư kế thừa trụ trì tại núi Phá Đầu, giáo hóa nơi đây rất thạnh hành. Khi ấy, dân chúng kính mộ tông phong, dù ở xa nghìn dặm cũng tìm đến tham học. Tại đạo tràng này, tăng chúng thường trực không dưới năm trăm người. 

Tổ thứ ba mươi hai là ngài Hoằng Nhẫn. Hoằng Nhẫn nghĩa là đức nhẫn nhục rất rộng lớn. Bởi vì mẹ ngài không có chồng mà sanh con nên bị bao nhiêu tiếng tăm cay đắng, nhưng bà cũng ráng nhẫn nhục để nuôi ngài tới lúc khôn lớn. Đó là cái nhẫn của bà mẹ. Kế đến là tổ Đạo Tín tuổi đã già nhưng biết ngài là bậc đại pháp khí nên ráng nhẫn nại chờ cho đến khi ngài khôn lớn để truyền chánh pháp.

Ngài họ Châu, vì không có cha nên lấy họ mẹ, quê ở Châu Kỳ thuộc huyện Hoàng Mai. Thuở nhỏ ngài thông minh, thầy xem tướng khen rằng, đứa bé này có đủ tướng tốt, chỉ thua Phật bảy tướng. Như vậy là ngài có hai mươi lăm tướng tốt, bởi vì ngài đã thấm nhuần đạo đức nên những tướng tốt hiện ra khá nhiều. Năm bảy tuổi ngài gặp tổ Đạo Tín, đối đáp tỏ ra lanh lợi khác hơn người thường, Tổ liền nhận cho xuất gia. Ngài theo hầu Tổ đến khi được truyền tâm ấn. Sau khi Tổ tịch, ngài kế thừa trụ trì tại núi Phá Đầu. Khi ấy dân chúng kính mộ tông phong của ngài, dù ở xa nghìn dặm cũng tìm đến tham học. Tại đạo tràng của ngài tăng chúng thường trực từ năm trăm người trở lên, ngài giáo hóa nơi đây rất thạnh hành.

Khoảng niên hiệu Hàm Hanh (670-674 TL) nhà Đường, có người cư sĩ họ Lư tên Huệ Năng, từ phương nam đến yết kiến Sư. Sự hỏi: 

– Ngươi từ đâu đến? 

Huệ Năng thưa: 

– Đệ tử ở Lãnh Nam đến. 

– Ngươi đến ý muốn cầu việc gì? 

– Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật. 

– Người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao làm Phật được? 

– Người thì có nam bắc, Phật tánh há có nam bắc sao? 

Sư biết là bậc lợi căn, giả vờ nạt bảo: 

– Lại nhà sau đi! 

Huệ Năng đảnh lễ, đi xuống nhà sau lãnh phần bửa củi giã gạo. 

Một hôm, Sư dự biết thời kỳ truyền pháp đã đến, liền gọi đồ chúng đến bảo: 

– Chánh pháp khó hiểu không nên nhớ ghi lời nói suông của ta, giữ làm nhiệm vụ của mình. Các ngươi, tùy ý mỗi người thuật một bài kệ, nếu ý ngộ thầm phù hợp, ta sẽ truyền pháp và y bát. 

Đời Đường niên hiệu Hàm Hanh, có cư sĩ họ Lư tên Huệ Năng đến yết kiến Tổ. Đây là một người cư sĩ nhà quê đến yết kiến ngài.

Tổ hỏi: Ngươi từ đâu đến? Huệ Năng thưa: Đệ tử ở Lãnh Nam đến. Lãnh Nam là miền Nam của nước Trung Hoa, đó là miền núi gọi là Ngũ Lãnh, tức là năm ngọn núi ở phía nam. Khi nghe Huệ Năng thưa ở Lãnh Nam đến, Tổ liền hỏi: Ngươi đến ý muốn cầu việc gì? Huệ Năng thưa: Đệ tử chỉ muốn cầu làm Phật.

Đa số Phật tử khi tới chùa xin học đạo, nếu quý thầy hỏi xin học đạo để cầu làm gì thì trả lời sao? Cầu được bình an mạnh khỏe, gia đình yên ổn v.v… chứ ít ai dám cầu làm Phật, còn nói mạnh hơn một chút là con cầu đời sau sanh vào cõi Phật, chứ không bao giờ dám nói cầu làm Phật. Vậy mà ông cư sĩ này dám nói chỉ cầu làm Phật. Cho nên Tổ liền bảo: Người Lãnh Nam không Phật tánh, làm sao thành Phật được? Nói câu này là Tổ dọ dẫm, thử coi người có tâm cầu đạo như vậy, thấy được đạo lý gì chưa mà nói năng như trên.

Huệ Năng thưa: Người thì có nam bắc, Phật tánh há có nam bắc sao? Lãnh Nam là phương nam, còn chỗ Ngũ Tổ truyền bá là phương bắc. Như vậy người phương nam với người ở phương bắc có khác, nhưng Phật tánh thì đâu có nam bắc. Qua câu nói đó Tổ biết người này là bậc lợi căn không phải hạng tầm thường, nhưng còn là cư sĩ quê mùa, nếu không khéo thì bị người ta hại. Cho nên Tổ giả vờ nạt ra nhà sau đi, Huệ Năng vâng lời đảnh lễ xuống nhà sau lãnh phần bửa củi giã gạo, đó chỉ là công quả thôi.

Ngài tới chùa học đạo bị Tổ đối xử lạnh nhạt, nhưng vẫn bền chí bửa củi giã gạo không chút nản lòng. Năm 1993 tôi qua chùa Nam Hoa, thấy cối giã gạo và cục đá ngài đeo trên lưng vẫn còn.

Ngày xưa giã gạo bằng chày đạp, người đạp phải nặng ký thì cái chày mới cất lên. Nhưng ngài ốm quá không đủ ký nên phải đeo thêm cục đá chừng chục cân để cho đủ sức nặng cất chày lên. Đó là tinh thần học đạo của ngài, dù cho gian nan cực khổ vẫn cố gắng vượt qua.

Một hôm, Tổ dự biết thời kỳ truyền pháp đã đến, liền ra lệnh cho toàn chúng trình kệ. Học chánh pháp của Phật, không phải học thuộc lòng suông, nếu học suông thì cũng chưa tới đâu hết, mà phải thâm nhập ở trong tâm. Cho nên Tổ bảo mỗi người trình một bài kệ, nếu Tổ thấy được tâm ý của họ hợp với đạo thì sẽ truyền y bát cho.

Lúc đó, hội chúng hơn bảy trăm người, ai cũng tôn sùng thượng tọa Thần Tú làm bậc thầy. Họ đồng bảo nhau: 

 Nếu không phải thượng tọa Tú, còn ai đảm đương nổi. 

Họ đồng nhường phần trình kệ cho Thần Tú. 

Thần Tú thầm nghe lời bàn tán của chúng như vậy, tự suy nghĩ phải làm kệ. Làm kệ xong, ban đêm ông lén biên lên vách chùa phía ngoài hành lang: 

Thân thị bồ-đề thọ 

Tâm như minh cảnh đài 

Thời thời cần phất thức 

Mạc sử nhạ trần ai. 

Dịch: 

Thân là cội bồ-đề 

Tâm như đài gương sáng 

Luôn luôn phải lau chùi 

Chớ để dính bụi bặm. 

Sáng ngày, Sư đi kinh hành qua thấy bài kệ, đọc qua biết là của Thần Tú làm. Sư khen rằng: 

– Người đời sau, nếu y bài kệ này tu hành cũng được thắng quả. 

Toàn chúng đều đua nhau đọc tụng. 

Ở nhà trù, Huệ Năng đang giã gạo, có một ông đạo đi qua tụng bài kệ ấy. Hỏi ra biết của Thần Tú làm, Huệ Năng bèn nhờ dẫn đến chỗ biên kệ đánh lễ, đồng thời nhờ biên giùm một bài kệ hòa lại: 

Bồ-đề bản vô thọ 

Minh cảnh diệc phi đài 

Bản lai vô nhất vật 

Hà xứ nhạ trần ai? 

Dịch: 

Bồ-đề vốn không cội 

Gương sáng cũng chẳng đài 

Xưa nay không một vật 

Chỗ nào dính bụi bặm? 

Sư thấy bài kệ này thầm nhận, song không dám nói sợ e có người tật đố hại Huệ Năng. Sư bôi đi nói: 

– Ai làm bài kệ này cũng chưa thấy tánh. 

Sư bèn gọi Huệ Năng nửa đêm vào thất. Sư lấy y che xung quanh thất, giảng kinh Kim Cang cho Huệ Năng nghe. Đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng bừng ngộ, Sư dạy: 

– Chư Phật ra đời chỉ vì một đại sự nhân duyên, bởi chúng sanh căn cơ có lớn nhỏ, tùy đó hướng dẫn, mới có nói ra ba thừa, mười địa đốn tiệm, gọi đó là giáo môn. Như Lai riêng đem Chánh pháp nhãn tạng vô thượng chân thật vi diệu trao cho tổ Ma-ha Ca-diếp, lần lượt truyền đến đời thứ hai mươi tám là tổ Bồ-đề-đạt-ma. Tổ Đạt-ma sang Trung Quốc truyền nối đến đời ta, nay ta đem đại pháp và y bát đã thọ trao lại cho ngươi. Ngươi phải gắng gìn giữ truyền trao đừng cho bặt dứt. Nghe ta nói kệ: 

Hữu tình lại hạ chủng,

Nhân địa quả hoàn sanh. 

Vô tình ký vô chủng, 

Vô tánh diệc vô sanh. 

Dịch: 

Hữu tình đến gieo giống,

Nhân đất quả lại sanh.

Vô tình đã không giống,

Không tánh cũng không sanh.

Số chúng tăng của tổ Hoằng Nhẫn lúc bấy giờ hơn bảy trăm người, ai cũng tôn sùng ngài Thần Tú là bậc thầy, nên họ cùng bảo nhau nhường phần trình kệ cho Thần Tú. Ngài Thần Tú lúc đó là giáo thọ sư, thay thế Tổ dạy chúng học kinh điển. Ngài là thầy thì học trò ai dám trình, thôi để Thầy đại diện cho chúng trình kệ lên Tổ. Nghe lời bàn tán của họ, ngài Thần Tú rất khổ tâm, biết mình chưa ngộ mà đem cái hiểu biết tầm thường trình lên sợ e Tổ chê. Nhưng toàn chúng không ai chịu trình hết, nhường cho mình thì biết làm sao đây! Hoàn cảnh này thật là khó xử, muốn tránh né cũng không được. Cho nên bất đắc dĩ ngài phải làm bài kệ, nhưng làm xong ban đêm lén biên lên vách chùa phía ngoài hành lang, chứ không dám trình thẳng với Tổ.

Tại sao làm rồi mà không trình lại biên lên vách chùa? Nếu đủ lòng tin nơi mình, làm rồi thì trình lên thầy, để thầy gật đầu thì được truyền y pháp, nhưng chưa đủ lòng tin nên mới lén biên lên vách chùa, thầm nghĩ rằng nếu sáng ra Tổ thấy mà khen thì nhận bài kệ này là của con làm, nếu Tổ không bằng lòng thì thôi nép luôn để khỏi mất mặt với chúng. Đó là một cái thuật rất khéo nhưng Tổ biết đây là bài kệ của Thần Tú.

Thân là cội bồ đề 

Tâm như đài gương sáng 

Luôn luôn phải lau chùi 

Chớ để dính bụi bặm.

Bài kệ rất là hay. So sánh thân như cây bồ-đề, tâm như đài gương sáng, nhưng tuy đài gương sáng mà bị bụi phủ thì nó tối, vì vậy mà phải luôn lau chùi, không nên để dính bụi bặm.

Sáng ngày, Tổ đi kinh hành nhìn thấy bài kệ, đọc qua biết là của Thần Tú làm, Tổ khen: Người đời sau nếu y bài kệ này tu hành thì được chứng thẳng quả. Toàn chúng nghe Tổ nói như thế ai cũng phấn khởi đua nhau đọc tụng. Cho rằng bài kệ này là của người đắc đạo, cho nên mình y theo mà tu sẽ được kết quả tốt, do đó ai cũng học thuộc lòng. Bởi người nào cũng thuộc lòng, một hôm Huệ Năng đang giã gạo ở nhà trù, có ông đạo đi qua tụng bài kệ ấy, hỏi ra biết của Thần Tú làm. Huệ Năng nghe đọc biết bài kệ đó chưa thấy tánh, nhưng ngài là cư sĩ, mới vào chùa công quả giã gạo ở dưới bếp có mấy tháng làm sao nói trình kệ để người ta tin. Ngài Huệ Năng bèn nhờ ông đạo dẫn đến chỗ bài kệ để đảnh lễ, đồng thời nhờ người biên giùm một bài kệ họa lại.

Ông đạo dẫn ngài lên chỗ bài kệ, vì ngài không biết chữ nên nhờ người đọc giùm. Nghe xong ngài nói tôi cũng có bài kệ nhờ biên giùm lên vách.

Bồ-đề vốn không cội,

Gương sáng cũng chẳng đài.

Xưa nay không một vật, 

Chỗ nào dính bụi bặm? 

Chúng ta thấy ý nghĩa hai bài kệ không giống nhau. Bài trước Thần Tú nói thân là cội bồ-đề. Bồ-đề nghĩa là giác ngộ, là tâm sáng suốt của mình. Tâm giác ngộ không có hình tướng, bởi vậy nên ngài Thần Tú nói thân là cội bồ-đề, nghĩa là thân là cây giác ngộ. Thân này là tướng tứ đại vô tri bại hoại, mà sao nói giác, ngài nói như thế là chưa nhận ra tâm giác ngộ của chính mình. Ngài Huệ Năng nói ngược lại, Bồ-đề vốn không cội. Tại sao? Vì Bồ-đề là tánh giác, mà tánh giác thì không có hình tướng, cho nên nói không cội.

Câu kế nói tâm như đài gương sáng. Như vậy thì đài sáng hay gương sáng? Gương sáng, chứ không phải đài sáng. Ngài Huệ Năng thì nói gương sáng cũng chẳng đài, nghĩa là tâm mình giống như gương sáng, tự bản thân gương là sáng, không phải đợi có đài nó mới sáng.

Câu thứ ba ngài Thần Tú nói luôn luôn phải lau chùi, gương còn bụi nên phải lau chùi, cũng như tâm chưa hết phiền não nên phải khởi tâm dẹp trừ phiền não. Huệ Năng nói xưa nay không một vật, mà không một vật thì đâu có lau chùi. Bởi vì tâm thể là tánh sáng suốt, không hình tướng không sanh diệt, thì nó không phải một vật. Bởi không phải một vật, nói lau chùi thì lau chùi cái gì?

Câu kệ cuối Thần Tú nói chớ để dính bụi bặm, ngài Huệ Năng nói chỗ nào dính bụi bặm. Đã không một vật thì dính cái gì? Dính là tại còn hình tướng, nếu không còn hình tướng thì cái gì nhiễm dính.

Ý nghĩa hai bài kệ trái ngược nhau. Bài kệ của ngài Thần Tú dạy mình tu phải dẹp trừ phiền não. Còn bài kệ của ngài Huệ Năng thì nói rằng tâm thể không có hình tướng, không phải là một vật thì còn chỗ nào phiền não bám mà phải lau chùi. Đó là chỉ rõ ngài nhận ra thể tánh của chính mình.

Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đọc bài kệ này thầm nhận Huệ Năng được vào cửa. Nhưng Tổ không dám nói sợ e có người tật đố hại Huệ Năng, Tổ liền xóa và nói ai làm bài kệ này cũng chưa thấy tánh, để mọi người không nghi ngờ. Như vậy là Tổ yên lòng không ai để ý tới Huệ Năng. Trường hợp này giống chúng ta bây giờ, hễ người lớn khen thì ai cũng cho là đúng, chê thì cho là sai là dở hết.

Tổ bèn gọi Huệ Năng nửa đêm vào thất, lấy y che xung quanh. Tại sao Tổ giảng kinh lại che hết các cửa sổ. Vì lúc đó Huệ Năng là một cư sĩ vào chùa công quả mới có mấy tháng, còn thượng tọa Thần Tú xuất gia đã lâu, là giáo thọ sư dạy năm bảy trăm tăng. Y bát là biểu tín của Tổ vị, được mọi người sùng kính, chẳng lẽ đem trao cho cư sĩ. Nếu mọi người biết Tổ trao y bát cho cư sĩ thì trong chùa sẽ náo loạn lên. Vì vậy Tổ phải che kín để mọi người không thấy.

Tổ giảng kinh Kim Cang cho Huệ Năng nghe, đến câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, Huệ Năng bừng ngộ. Kinh Kim Cang, ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật hai câu quan trọng “Làm sao hàng phục tâm? Làm sao an trụ tâm?” Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.” Nghĩa là không nên để cho sáu căn duyên dính với sáu trần, đó là an trụ tâm. Tới câu này ngài Huệ Năng liền ngộ.

Khi Huệ Năng còn làm cư sĩ đã nghe tụng kinh Kim Cang, ngài đã sơ ngộ nên khi viết bài kệ lên vách ngài trình Tổ rằng tâm đó không có một vật, vì nó không hình tướng. Khi ấy Tổ biết Huệ Năng được vào cửa, nhưng mới vào cửa thôi, chứ chưa nhận ra chỗ tột cùng của đạo. Tới lúc Tổ giảng đến câu ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thì Huệ Năng thốt lên rằng:

Đâu ngờ tự tánh uốn tự thanh tịnh,

Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,

Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,

Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,

Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp… 

Tổ biết Huệ Năng đã triệt ngộ bản tâm, nên truyền y bát qua bài kệ:

Hữu tình đến gieo giống,

Nhân đất quả lại sanh.

Vô tình đã không giống,

Không tánh cũng không sanh.

Hữu tình đến gieo giống, nhân đất quả lại sanh. Hữu tình chỉ cho người có chủng duyên với chánh pháp hay nói cách khác là người có duyên với Thiền tông. Nếu người có duyên với Thiền tông đến thì nên truyền dạy. Gieo giống rồi thì từ nơi đất nảy mầm kết quả. Người có sẵn hạt giống Đại thừa hay Thiền tông thì chúng ta trợ duyên cho phát triển.

Vô tình đã không giống, không tánh cũng không sanh. Nếu người không có duyên tức là không có giống thì khó nảy sanh. Ý bài kệ Tổ dạy sau này truyền bá chánh pháp thì phải khéo lựa người có duyên, dùng phương tiện để giáo hóa họ mới có thể đạt đạo, còn người không có duyên với Thiền tông thì khó mà giáo hóa, vì họ không tin.

Huệ Năng thọ pháp và y bát xong, lễ bái thưa: 

– Pháp đã nghe dạy, còn y bát có nên truyền cho người sau chăng? 

Sư bảo: 

– Xưa tổ Đạt-ma sang là người nước khác, truyền pháp cho tổ Huệ Khả, vẫn ngại người đời không tin sự truyền thừa của thầy trò, nên lấy y bát truyền cho để làm tín nhiệm. Nay tông môn của ta thiên hạ đều biết rõ, không còn ai chẳng tin, nên y bát dừng ngay đời ngươi. Song chánh pháp đến đời ngươi truyền bá càng rộng, nếu còn truyền y sẽ sanh sự tranh giành. Cho nên nói: “Người nhận y mạng như chỉ mành.” Ngươi nên đi liền, khéo tránh, thời gian sau sẽ ra hoằng hóa. 

Huệ Năng lại hỏi: 

– Nay con phải đi về đâu? 

Sư bảo: 

– Đến Hoài thì dừng, gặp Hội thì ẩn. 

Huệ Năng lãnh dạy, lễ tạ rồi ra đi ngay đêm ấy. 

Huệ Năng thọ pháp và y bát xong lễ bái thưa: Pháp Tổ đã dạy cho con rồi nhưng y bát có nên truyền cho người sau không? Tổ bảo: Xưa tổ Đạt-ma là người Ấn Độ, truyền pháp cho tổ Huệ Khả là người Trung Hoa, sợ người đời không tin sự truyền thừa của thầy trò, nên truyền y bát để làm tin. Như vậy từ ban đầu muốn người ta tin nên Tổ mới truyền y bát. Bây giờ thiên hạ đều biết rõ Thiền tông, không còn ai chẳng tin, nên đến đời của ngươi thì dừng ngay.

Khi ấy số chúng của tổ Hoằng Nhẫn hơn bảy trăm tăng. Đến đời Lục tổ Huệ Năng còn đông hơn nữa, ai cũng biết đạo lý thiền hết rồi, truyền y bát là thừa. Ngày xưa một thầy độ một đệ tử ngộ đạo thì chỉ có một y bát truyền cho một đệ tử. Hiện giờ một vị thầy có trăm đệ tử ngộ đạo thì y bát đâu đủ để truyền, nếu có truyền thì biết cái nào thật cái nào giả, thêm sự tranh cãi rắc rối, cho nên tới đây không truyền.

Tổ dạy Huệ Năng nên đi liền. Huệ Năng vâng dạy lễ tạ Tổ rồi đi ngay đêm ấy không kịp cạo tóc.

Sau khi truyền pháp, liên tiếp ba hôm, Sư không thượng đường thuyết pháp. Toàn chúng đều nghi ngờ, đồng đến thưa thỉnh. 

Sư bảo: 

– Pháp của ta đã đi về phương Nam rồi. Giờ lại nói gì? 

Chúng thưa: 

– Người nào được? 

Sư bảo: 

– Năng thì được đó. 

Chúng biết là cư sĩ Huệ Năng. Họ đồng đuổi theo, song tìm không gặp. 

Bốn năm sau, một hôm chợt Sư gọi đại chúng bảo: 

– Việc ta đã xong, đến lúc nên đi. 

Sư vào trong thất ngồi an nhiên thị tịch, nhằm niên hiệu Thượng Nguyên thứ hai (675 TL) nhà Đường, thọ bảy mươi tư tuổi. 

Chúng xây tháp ở Đông Sơn huyện Hoàng Mai tôn thờ. 

Vua Đường Đại Tông truy phong là Đại Mãn thiền sư, tháp hiệu Pháp Vũ. 

Sư có trước tác tập “Tối Thượng Thừa Luận”, hiện giờ còn lưu hành. 

Sư được ba đệ tử ưu tú: Huệ Năng, Thần Tú, Huệ An. 

Sau khi truyền pháp, liên tiếp ba hôm Tổ không thượng đường thuyết pháp, toàn chúng đều nghi ngờ đến thưa thỉnh, Tổ bảo: Pháp của ta đi về phương Nam rồi, giờ lại nói gì? Chúng thưa: Người nào được? Tổ bảo: Năng thì được đó. Chúng ngầm biết là cư sĩ Huệ Năng, họ đồng đuổi theo song tìm không gặp. Họ đuổi theo để làm gì? Để lấy lại y bát.

Trước kia khi đọc đến đoạn này tôi nghĩ người xưa sao cũng có lắm chuyện kỳ lạ, người xứng được truyền y bát, mình không được mà đuổi theo giành lại để làm gì! Nhưng sau này tôi mới thấy đó là chuyện thường. Ví dụ ở trong chùa có chừng một trăm tăng, người đáng tin cậy nhất sẽ được Thầy giao phó công việc quan trọng, nhưng Thầy không giao, lại giao cho vị cư sĩ quê mùa dốt nát ở đâu đến, tất nhiên không ai bằng lòng.

Tổ Hoằng Nhẫn trao y bát cho Huệ Năng rồi, bốn năm sau ngài gọi chúng bảo Việc ta đã xong, đến lúc nên đi. Tổ vào trong thất ngồi an nhiên thị tịch, thọ bảy mươi bốn tuổi. Thấy xong việc rồi thì ra đi không một chút luyến tiếc. Khỏe quá!

Chúng xây tháp ở Đông Sơn huyện Hoàng Mai để tôn thờ. Vua Đường Đại Tông truy phong là Đại Mãn thiền sư, tháp hiệu là Pháp Vũ. Tổ có trước tác tập Tối Thượng Thừa Luận, hiện giờ còn lưu hành. Tổ được ba đệ tử ưu tú là Huệ Năng, Thần Tú và Huệ An.

 

33. LỤC TỔ HUỆ NĂNG (638 – 713) 

Sư họ Lư, tổ tiên quê ở Phạm Dương, cha tên Hành Thao, mẹ là Lý Thị. Đời Võ Đức (618-627 TL) nhà Đường, cha Sư làm quan ở Nam Hải, sau dời về Tân Châu. Sư sanh tại Tân Châu. 

Sư được ba tuổi, cha mang bệnh rồi mất, mẹ thủ chí nuôi con. Sự lớn lên trong gia đình rất nghèo túng. Mỗi ngày Sư phải vào rừng đốn củi đem ra chợ đổi gạo nuôi mẹ. 

Một hôm, nhân gánh củi ra chợ bán, có người mua bảo gánh đến nhà. Sư gánh ngang qua một căn nhà, bỗng nghe người trong nhà tụng kinh, âm ba vang ra. Sư vừa nghe chợt tỉnh ngộ, Sư hỏi khách: 

Tụng đó là kinh gì? Phát xuất từ đâu? 

Khách đáp: 

– Kinh Kim Cang, phát xuất từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở chùa Đông Sơn, tại huyện Hoàng Mai. 

Nghe nói xong, Sư tỏ chí muốn tìm đến đó học đạo, song gia cảnh còn mẹ già không ai nuôi! Có người khách hàng quen xin đài thọ số tiền để Sư cung cấp mẹ già. Gặp cơ hội tốt, Sư về xin phép mẹ cho xuất gia, mẹ hoan hỷ cho Sư xuất gia. 

Lục Tổ là vị Tổ gần gũi chúng ta nhất. Lâu nay chúng ta nghĩ rằng người tu hành đạo đức cao siêu nếu trở lại độ chúng sanh thì đầy đủ phước đức, sanh trong nhà giàu có rồi đi tu đắc đạo, giáo hóa. Nhưng Lục Tổ lại sanh trong gia đình nghèo khó, đến nỗi phải đi đốn củi gánh ra chợ bán nuôi sống qua ngày. Trong đạo thường nói các vị Bồ-tát ra đời không phải chỉ nhất định ở một hạng người nào đó trong xã hội, mà có mặt trong mọi tầng lớp dân chúng. Biết như thế thì chúng ta chẳng dám khinh ai, vì chung quanh chúng ta người nào cũng có thể là Bồ-tát. Khi đủ duyên đi tu thì cũng có thể đắc đạo và đủ cơ duyên giáo hóa. Như vậy ai cũng là người đáng quý chứ không nên xem thường. Nếu cho rằng Phật Bồ-tát ra đời phải là những vị phước đức đầy đủ, sanh trong cảnh giàu sang vua chúa, đó là hiểu lầm.

Ngài Huệ Năng họ Lư, quê ở Phạm Dương, cha mất sớm chỉ còn mẹ tên là Lý Thị. Mới ba tuổi đã mồ côi cha thì làm sao có đủ điều kiện để đi học, bởi vậy phải chịu nghèo dốt. Một hôm nhân gánh củi ra chợ bán, có người khách mua bảo gánh đến nhà. Khi gánh củi tới nhà người, nghe người nhà bên cạnh tụng kinh bỗng chợt tỉnh ngộ.

Tuy ngài ở trong cảnh nghèo khổ dốt nát, nhưng tâm thì sáng suốt cho nên nghe một câu kinh liền tỉnh ngộ. Khi ấy ngài hỏi khách: Tụng đó là kinh gì, phát xuất từ đâu? Khách đáp: Kinh Kim Cang, phát xuất từ Ngũ tổ Hoằng Nhẫn ở chùa Đông Sơn tại huyện Hoàng Mai, ngài khuyến khích chư tăng Phật tử nên tụng kinh Kim Cang, để phá hết tất cả những chấp trước mê lầm.

Trong thiền viện chúng ta thường tụng kinh Bát-nhã, vì Bát-nhã thu gọn ý nghĩa kinh Kim Cang. Khi tụng kinh Bát-nhã, thâm nhập được lý Bát-nhã thì cũng bớt chấp bớt khổ. Chúng ta chỉ cần ứng dụng câu Bồ-tát Quán Tự Tại khi thực hành lý Bát-nhã sâu xa, soi thấy thân năm uẩn không thật, thì tất cả khổ nạn đều qua hết. Nếu tụng và thực hành được thì cả đời mình an lành tự tại.

Giả sử đang đi ngoài đường bị ai đó kêu tên chửi, nếu khi ấy biết thân này không thật, họ chửi mà mình vẫn đi thản nhiên là qua được khổ ách. Cho nên người tu thiền đặt nặng ở trí tuệ Bát-nhã, mà Bát-nhã là tinh túy cho kinh Kim Cang.

Nghe khách nói xong, ngài muốn tìm đến đó học đạo, nhưng hoàn cảnh mẹ già không có người nuôi nên hơi khó xử. Đang suy nghĩ không biết giải quyết thế nào, có người khách quen tốt bụng biết ngài ham học đạo, xin đứng ra thay thế trách nhiệm nuôi dưỡng mẹ già để ngài yên tâm đi tu.

Khi có người hứa giúp đỡ nuôi mẹ già rồi, ngài xin phép mẹ đi xuất gia. Bà cũng là người trọng đạo, nên đồng ý ngay. Chúng ta thấy mẹ ngài là người rất can đảm, chỉ có một đứa con để nhờ cậy trong lúc tuổi già, nhưng thấy con ham tu sẵn sàng hoan hỷ cho đi, mặc dù mình phải sống cô đơn. Đó là gương của một bà mẹ kỳ đặc chúng ta nên học theo.

Bây giờ thì không được như thế, đứa con nào hiếu thảo mà thích đi tu thì cha mẹ không muốn cho, nếu nó đi sẽ bỏ mình bơ vơ. Nghĩ như vậy là vì mình hay vì con? Nếu sợ mình bơ vơ là do tâm ích kỷ. Con phát tâm tốt cha mẹ nên hoan hỷ thuận theo, vì tôn trọng điều lành của con, chứ không vì sự ích kỷ của riêng mình. Đó mới là cha mẹ cao thượng.

Sư khăn gói lên đường, trải hơn một tháng mới đến huyện Hoàng Mai, Sư vào yết kiến Tổ. Tổ hỏi: 

– Ngươi từ đâu đến? 

Sư thưa: 

– Từ Lãnh Nam đến. 

– Đến đây để cầu việc gì? 

– Đến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác. 

– Người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao cầu làm Phật được? 

– Người thì có nam bắc, chứ Phật tánh không chia nam bắc. 

Tổ biết Sư là hàng pháp khí, bèn bảo xuống nhà trù làm công quả. 

Ở đây, Sư chuyên bửa củi, giã gạo. Cối gạo to, chày đạp lớn, người Sư ốm, không đủ sức nặng cất được chày đạp, Sư phải cột thêm cục đá vào lưng để đủ sức giã gạo. Sư làm công việc nặng nhọc như vậy gần ngót sáu tháng, mà chưa khi nào trễ nải thối chí.

Khi được mẹ hoan hỷ cho đi, ngài khăn gói lên đường, đi bộ một tháng mới tới huyện Hoàng Mai. Ngài yết kiến Ngũ Tổ. Tổ hỏi: Ngươi từ đâu đến? Ngài thưa: Từ Lãnh Nam đến. Tổ hỏi: Đến đây để cầu việc gì? Ngài đáp: Đến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác. Đi tu chỉ muốn làm Phật chứ không muốn làm gì khác.

Bây giờ có nhiều người đi tu không muốn làm Phật, mà muốn làm thần thánh hoặc đời sau giàu có sung sướng, chứ ít ai chịu làm Phật vì Phật khó làm. Bởi vì Phật là giác ngộ giải thoát sanh tử, mục đích duy nhất của người tu cũng là được giác ngộ giải thoát sanh tử, chứ không có gì khác.

Ngũ Tổ bảo người Lãnh Nam không có Phật tánh, làm sao cầu làm Phật được? Ngài nói câu này để dọ dẫm trình độ Phật pháp của người cư sĩ mới đến. Lãnh Nam tức là xứ quê mùa, như vùng sơn cước hay cao nguyên ở xứ mình. Vì người ở chỗ quê mùa không có Phật tánh làm sao cầu thành Phật. Ngài thưa: Người thì có nam bắc, chứ Phật tánh không chia nam bắc. Câu nói đó chứng tỏ ngài đã hiểu đạo như thế nào rồi. Khi nghe cư sĩ nói như thế, Tổ biết là bậc pháp khí, tức là người có thể gánh vác Phật sự lớn lao sau này. Biết như vậy, nhưng nói nhiều sợ mọi người để ý, Tổ bèn bảo ngài xuống nhà trù làm công quả. Ngài tới đây chưa học đạo gì cả, chỉ làm công quả thôi.

Ở nhà trù ngài chuyên bửa củi giã gạo. Ngày xưa người học đạo có ý chí rất mạnh mẽ, tự mình sáng kiến để vượt qua sự khó khăn trong việc làm cũng như việc tu. Ngài nhẹ ký quá, chày không cất lên thì lấy đá đeo thêm cho đủ sức nặng. Nếu chúng ta bây giờ vào chùa công quả, một mình không đủ sức nặng để cất cái chày thì kêu thầy tri sự cho thêm người nữa, chứ không ai có thể làm như ngài.

Chỗ khác còn nói chi tiết hơn, là khi ngài cột cục đá sau lưng do cái chày cất lên xuống, sợi dây siết sâu vô trong thịt bị hư thối có giòi, mỗi khi giòi rớt xuống đất ngài lượm để vô. Đó là chuyện người xưa thuật lại không biết có thêm bớt gì không. Nhưng thực tế năm 1993 chúng tôi đi Trung Quốc có ghé chùa Nam Hoa, là chỗ Lục Tổ ở, người ta còn để cái cối giã gạo, cái chày và cục đá ngày xưa ngài đeo. Thấy những vật còn như vậy, nhưng không biết người sau tái tạo hay những vật cũ ngày xưa còn để lại.

Chúng ta thấy trên phương diện tu hành, khi còn là cư sĩ ngài chỉ nghe được một câu kinh liền tỉnh ngộ. Khi vào chùa làm công quả, công việc hết sức nặng nhọc mà ngài vẫn làm chưa khi nào trễ nải hay thối chí. Tám tháng trời giã gạo, bửa củi mà không hề chán nản thối lui, người xưa dám chết sống vì đạo, chừng nào đủ duyên thì xuất gia chứ không đòi hỏi. Chúng ta bây giờ muốn tu mà ý chí không bền vững, nên thầy bắt làm công quả một tháng coi bộ ngán rồi.

Một hôm, Tổ xuống nhà trù, đi ngay đến chỗ Sư giã gạo, thấy Sư mang đá giã gạo, Tổ bảo: 

– Ngươi vì đạo quên mình như thế ư? Ta biết ngươi căn tánh lanh lợi, nhưng ngại kẻ khác hại ngươi nên ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? 

Sư thưa: 

– Con đã biết thế. 

Tổ biết thời cơ truyền pháp đã đến, liền ra lệnh cho toàn chúng trình kệ. Trong số chúng bảy trăm người đều suy nhường thượng tọa Thần Tú. Sư nghe bài kệ của Thần Tú biết là chưa thấy tánh, nên họa lại một bài kệ. Đọc kệ của Sư, Tổ biết Sư đã thấy tánh. Mấy hôm sau, Tổ tìm cơ hội xuống nhà trù, đến chỗ Sư giã gạo hỏi: 

– Gạo trắng chưa? 

Sư thưa: 

– Đã trắng mà chưa có sàng.

Tổ bèn cầm gậy gõ trên tay cối ba cái, rồi đi lên.

Canh ba đêm ấy Sư vào thất Tổ. Tổ truyền pháp và trao luôn y bát cho Sư, dạy đi về phương Nam. 

Một hôm Ngũ Tổ xuống nhà trù thấy ngài mang đá giã gạo, Tổ bảo: Ngươi vì đạo quên mình như thế ư? Ta biết ngươi căn tánh lanh lợi, nhưng ngại kẻ khác hại ngươi, nên ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? Như vậy là giữa thầy trò có sự thông cảm, học trò vì đạo quên mình, không nghĩ tới bản thân, một mình đeo đá giã gạo nhọc nhằn, Tổ cũng cảm thấy xót xa. Cho nên mới hỏi, lâu nay ta không nói chuyện với ngươi, ngươi có biết chăng? Ngài thưa: Con đã biết thế. Tức là con biết Tổ đã hiểu con rồi.

Tổ biết thời cơ truyền pháp đã đến, nên ra lệnh cho toàn chúng trình kệ, trong số chúng bảy trăm người đều nhường cho thượng tọa Thần Tú. Ngài Huệ Năng nghe bài kệ của Thần Tú biết là chưa thấy tánh nên họa lại một bài kệ. Đọc kệ của ngài, Ngũ Tổ biết đã thấy tánh nên mấy hôm sau xuống nhà trù, đến chỗ ngài giã gạo, hỏi: Gạo trắng chưa? Ngài đáp: Đã trắng mà chưa có sàng. Tổ cầm gậy gõ trên tay cối ba cái, rồi chắp tay sau lưng đi lên. Đúng canh ba đêm ấy, ngài đến gõ cửa sau, Tổ liền mở cửa cho vào thất.

Ngũ Tổ lấy y che hết các cửa sổ chung quanh, rồi đem kinh Kim Cang ra giảng cho Huệ Năng nghe, đến câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng bừng ngộ. Canh ba đêm ấy Ngũ Tổ truyền y bát cho Huệ Năng và đưa xuống thuyền qua sông đi về phương Nam.

Sư mang y bát đi được mấy hôm vừa đến Dữu Lãnh bị một người hiệu Huệ Minh đuổi theo. Sư để y bát trên tảng đá, vào rừng ẩn. Huệ Minh đến giờ y bát lên không nổi, đành phải kêu: 

– Hành giả! Tôi đến đây vì pháp chứ không vì y bát. 

Sư nghe nói, bước ra ngồi trên tảng đá bảo: 

– Nếu ông vì pháp, hãy bình tâm lại nghe tôi nói. 

Huệ Minh đứng lặng yên giây lâu. Sư bảo: 

– Khi không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? 

Huệ Minh nghe câu này liền đại ngộ. 

Sư thường tàng ẩn nơi hai ấp Hoài và Hội. Có lúc gặp phải cuộc sống khó khăn, Sư lại gia nhập vào đoàn thợ săn. Đến bữa ăn, Sư hái rau luộc nhờ trong nồi thịt, rồi chỉ ăn rau, không ăn thịt. Như vậy Sư với hình thức cư sĩ, thường tùy nghi nói pháp cho họ nghe. 

Ngày xưa Ngũ Tổ dạy đệ tử tụng kinh Kim Cang, khi gặp Huệ Năng, Tổ đem kinh Kim Cang ra giảng, ngài Huệ Năng ngộ đạo từ kinh Kim Cang. Bây giờ chúng tôi dạy thiền, giảng kinh cho tăng ni Phật tử nghe hiểu rồi ứng dụng tu, đâu có trái với đạo lý, không sai tông chỉ.

Sau khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh, ngài Huệ Năng ngộ đạo và được truyền y bát. Truyền y bát tiêu biểu ý nghĩa gì? Ý nghĩa làm chứng tín cho người sau tin. Như ngày xưa tổ Bồ-đề-đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa, độ tổ Huệ Khả ngộ đạo, vì muốn cho người tin đây là người ngộ đạo thật, nên mới trao y bát để làm chứng. Bởi vậy trọng tâm là ngộ đạo, chứ không phải y bát. Nhưng người sau hơi đặt nặng y bát, quên chỗ ngộ đạo.

Khi ngài Huệ Năng mang y bát đi được mấy hôm, đến Dữu Lãnh bị một người tên là Huệ Minh đuổi theo. Huệ Minh vốn là một võ tướng đi tu, gặp chuyện này liền nổi xung đuổi trước. Tổ để y bát trên tảng đá rồi vào rừng ẩn, bởi vì y bát để làm chứng cho người tin rằng, vị này được Tổ chứng nhận, chứ không phải gốc của sự tu. Cho nên ngài để y bát trên tảng đá, tùy ý ai muốn lấy thì lấy, ngài không giữ làm gì.

Huệ Minh đến giở y bát lên không nổi, đành phải kêu: Hành giả! Tôi đến đây vì pháp, chứ không vì y bát. Khi ấy ngài Huệ Năng bước ra khỏi bụi rậm nói: Nếu ông vì pháp, hãy bình tâm lại nghe tôi nói. Huệ Minh đứng lặng yên giây lâu. Ngài bảo: Khi không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Ngay câu nói này Huệ Minh liền ngộ bản lai diện mục, tức là nhận ra mặt mày xưa nay của chính mình, gọi là ngộ đạo.

Tại sao nhận ra con người xưa nay của chính mình gọi là ngộ đạo? Đa số chúng ta chỉ cho thân này là mình, ngoài ra không biết gì nữa, nếu khá hơn một chút thì cho cái suy nghĩ là mình, nhưng những cái đó thật sự chưa phải là mình xưa nay, chỉ là thân hiện nay thôi.

Thân xưa nay của chính mình không phải là thân tứ đại. Tôi thường nhắc thân tứ đại đất nước gió lửa, chất cứng trong người là đất, chất ướt trong người là nước, sự chuyển động trong người là gió, hơi ấm trong người là lửa, bốn thứ đó không phải là mình, vì nó không có tri giác. Nếu chấp cái không tri giác là mình thì sai lầm. Tại sao? Ví dụ móng tay khi còn ở trong da thịt là của mình, khi nó dài cắt rớt xuống đất là của ai? Tóc còn ở trên đầu nói tóc của tôi, khi cạo rớt xuống đất thì đâu có gì là của tôi. Vậy mà khi đầu tóc còn nguyên vẹn ai nhổ một sợi là tức lắm. Như vậy tất cả những cái mình cho là tôi đều không thật, mà bám chặt vào đó thật là vô lý! Đó là không biết được con người thật xưa nay của chính mình.

Kế đến là chấp cái suy nghĩ cho là mình. Nhưng chúng ta suy nghĩ cái gì? Suy nghĩ hơn thua, phải quấy, tốt xấu, hay dở v.v… Chúng ta đều bị mắc kẹt trong đối đãi hai bên. Ngoài ra không có gì để suy nghĩ. Những suy nghĩ đó là cái tâm sanh diệt, bám vào thân tâm sanh diệt không thật không bền cho là mình, vì vậy mà không thấy được mặt thật xưa nay của chính mình.

Muốn thấy mặt thật xưa nay của chính mình phải làm sao? Đơn giản vô cùng: không nghĩ thiện không nghĩ ác, tâm an định hằng giác hằng trị, mới thật là mình. Lâu nay chúng ta quên mất, cứ nhận cái thân tâm sanh diệt cho là mình, nên gọi là mê. Nếu buông hết hai bên thì cái chân thật hiện tiền, đó là nhận được bộ mặt thật xưa nay của chính mình, cái đó không bị bại hoại không bị sanh tử, gọi là giác ngộ.

Đạo Phật nói giác ngộ không phải giác ngộ chuyện đâu đâu, mà giác ngộ chính mình. Biết nơi mình cái gì là giả cái gì là thật, không bị mê lầm. Biết mình đúng như thật thì biết sự vật chung quanh cũng đúng như thật. Nếu chưa biết mình mà muốn biết tất cả cái bên ngoài thì biết để mà chơi thôi, chứ không đưa mình tới chỗ giác ngộ chân thật.

Nhiều người hiểu lầm cho đạo Phật là bi quan. Vì quý thầy cứ giảng pháp cho Phật tử nghe, chứ không làm việc bố thí từ thiện. Phật tử đi chùa nghe pháp tụng kinh thì người ta cho là tiêu cực. Nhưng thật tình chúng ta đi chùa đem hết tâm tư nghe giảng, ngồi thiền để bỏ cái tâm chạy theo hai bên nghĩ thiện nghĩ ác. Tâm hai bên lặng đi thì cái chân thật hiện ra.

Kinh Pháp Hoa ví dụ bản lai diện mục là hạt minh châu cột trong chéo áo, để chỉ cho chúng ta có cái quý báu mà không biết, cả đời si mê chạy theo cái tạm bợ hư dối. Vì si mê nên giành giật hơn thua rất đáng thương. Có nhiều người khi còn sống giành giật đủ thứ, lúc chết rồi buông tay, ai làm gì thì làm, chẳng biết chi hết. Vậy mà ít ai chịu tỉnh! Như một món đồ đẹp, một bữa ăn ngon không đáng giá, đồ đẹp rồi cũng hư, thức ăn ngon rồi cũng tiêu mất. Vậy mà chúng ta cứ muốn giành về mình, rốt cuộc mình cũng bại hoại.

Tọa thiền là phương tiện quay lại cố tìm cho ra cái chân thật để thấy mình là gì. Thấy thân này lỗ mũi hít vô thở ra, tim đập máu chảy, những tâm niệm sanh rồi diệt, diệt rồi sanh, có cái gì là mình thật đâu. Dù chưa giác ngộ mà thấy được những cái giả đó cũng giảm phiền não năm mươi phần trăm. Nếu đinh ninh mình là thật, những hơn thua phải quấy đối đãi đều thật thì mê trọn vẹn một trăm phần trăm.

Sau khi nghe lời dạy của ngài Huệ Năng, Huệ Minh quay trở về không đuổi theo nữa.

Ngài Huệ Năng thường ẩn ở hai ấp Hoài và Hội, có lúc gặp phải cuộc sống khó khăn, ngài gia nhập vào đoàn thợ săn, đến bữa ăn hái rau gửi luộc nhờ trong nồi thịt, chỉ ăn rau không ăn thịt. Nghĩa là ngài tránh sự giết hại sinh vật, chỉ ăn cơm rau sống qua ngày, chờ thời cơ để ra giáo hóa. Dưới hình thức cư sĩ nhưng ngài tùy nghi nói pháp cho họ nghe.

Có lần Sư đến Thiều Châu, gặp ông cư sĩ Lưu Chí Lược kết bạn. Chí Lược có người cô làm Ni hiệu Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Niết-bàn. Sư vừa nghe tụng qua đã hiểu được thâm ý, vì cô giải nói nghĩa thú. 

Sư cô đem quyển kinh ra hỏi chữ, Sư bảo: 

– Chữ thì tôi không biết, nghĩa tùy cô cứ hỏi. 

Sư cô bảo: 

– Chữ còn không biết, nghĩa làm sao hiểu nổi? 

Sư bảo: 

– Diệu lý của chư Phật, chẳng liên quan gì đến văn tự. 

Sư cô nghe nói kinh ngạc, liền báo tin cho các bậc kỳ lão trong làng hay rằng: 

 Có bậc đạo sĩ đáng cúng dường. 

Dân chúng trong làng nghe tin, đua nhau đến chiêm lễ Sư. Gần đó có ngôi chùa cổ hiệu Bảo Lâm, lâu đời bị đổ nát, dân chúng trong làng hợp sức tu bổ lại, thỉnh Sư về trụ trì. Hằng ngày tứ chúng bốn phương tụ hội về đông đảo, không bao lâu ngôi chùa Bảo Lâm biến thành một đạo tràng xinh đẹp. 

Chẳng bao lâu có người theo dõi, Sư lại tìm nơi ẩn tránh. 

Ngót mười sáu năm ẩn tránh. Sự biết cơ duyên hoằng pháp đã đến, bèn đến Quảng Châu, nhằm ngày mùng tám tháng giêng năm Bính Tý, niên hiệu Nghi Phượng năm đầu (676 TL) nhà Đường. Sư vào nghỉ nhờ ngoài hiên chùa Pháp Tánh. 

Sư đến Thiều Châu kết bạn với cư sĩ Lưu Chí Lược. Ông có người cô là ni Vô Tận Tạng, thường tụng kinh Niết-bàn, ngài vừa nghe qua là hiểu thâm ý, nên vì cô giải nói nghĩa thú. Vì ngài ngộ được đạo lý thiền nên nghe qua là hiểu liền, còn chúng ta cũng nghe kinh Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm… mà chưa ngộ nên nghe hoài không hiểu.

Khi ấy Sư cô đem quyển kinh ra hỏi chữ, Sư bảo tôi không biết chữ chỉ hiểu nghĩa lý, cô hỏi nghĩa lý thì tôi giảng cho nghe. Theo quan niệm thông thường Sư cô này bảo chữ còn không biết, nghĩa làm sao hiểu nổi! Sư bảo diệu lý của chư Phật chẳng quan hệ gì tới văn tự. Cái chân thật mà Phật muốn chỉ cho chúng ta chẳng quan hệ gì đến văn tự, chúng ta phải nhìn lại mình nhận cho ra, đó là cái gốc chứ không phải chữ nghĩa ở bên ngoài. Chữ nghĩa bên ngoài là tướng sanh diệt, còn con người chân thật là phải đem hết khả năng sáng suốt của mình mà nhận ra. Bởi vậy mới gọi là giáo ngoại biệt truyền. nghe nói kinh ngạc, liền báo tin cho các bậc kỳ lão trong làng biết rằng có bậc đạo sĩ đảng cúng dường. Dân chúng trong làng nghe tin, đua nhau đến chiêm lễ Sư. 

Gần đó có ngôi chùa cổ hiệu Bảo Lâm lâu đời bị đổ nát, dân chúng trong làng hợp sức tu bổ lại. Khi ấy Sư còn cư sĩ mà họ thỉnh về trụ trì. Hằng ngày tử chúng bốn phương tụ hội về đông đảo, không bao lâu ngôi chùa Bảo Lâm biến thành một ngôi chùa xinh đẹp. Chùa Bảo Lâm sau này thành chùa Nam Hoa hiện giờ ở Tào Khê Thiều Châu, bây giờ là Quảng Châu.

Ngài ở đó một thời gian bị người phát giác tung tích liền trốn đi chỗ khác. Dưới hình thức cư sĩ ngài ôm y bát ẩn tránh trong rừng mười sáu năm. Biết cơ duyên hoằng pháp đã đến, ngài bèn tới Quảng Châu nhằm ngày mùng tám tháng giêng năm Bính Tý, niên hiệu Nghi Phượng năm đầu nhà Đường, tức là năm 676 Tây lịch. Ngài vào nghỉ nhờ ngoài hiên chùa Pháp Tánh. Chùa Pháp Tánh ở Quảng Châu, bây giờ đổi tên là chùa Quang Hiếu, chính chỗ đó tôi cũng đi tới và cây bồ-đề ngày xưa vẫn còn.

Hôm ấy, pháp sư Ấn Tông đang giảng kinh Niết-bàn. Trước chùa treo lá phướn dài, gió thổi lá phướn phất phơ qua lại. Hai ông đạo lấy đó làm đề tài tranh luận. Người nói “phướn động”, người bảo “gió động”. Bàn qua cãi lại mà không ngã lẽ. Sư đến thưa: 

– Có thể cho khách cư sĩ này lạm bàn chăng? 

Hai ông đồng ý, Sư bảo: 

– Không phải phướn động, không phải gió động, mà tâm nhân giả động. 

Mọi người nghe qua đều ngạc nhiên. Họ vào báo cho Ấn Tông biết lời bàn kỳ diệu ấy. 

Hôm sau Ấn Tông mời Sư vào hỏi về lý “Tâm động”. Sư giải rõ thâm lý cực diệu. Ấn Tông bất giác đứng dậy thưa: 

– Ngài không phải là người thường. Nghe nói y pháp của Ngũ tổ Hoàng Mai đã về phương Nam, vậy có phải Ngài chăng. 

Sư đáp: 

– Chẳng dám. 

Ấn Tông bèn tập họp bốn chúng, cầu xin Sư trình bày y bát của Tổ. Sư bèn đem y bát cho đại chúng chiêm bái. 

Ấn Tông xin làm đệ tử, đồng thời cầu chỉ dạy thiền yếu. 

Hôm ấy pháp sư Ân Tông đang giảng kinh Niết-bàn, trước chùa treo lá phướn dài, gió thổi phất phơ qua lại, có hai ông Sa-di lấy đó làm đề tài để tranh luận. Người nói phướn động, người bảo gió động, bàn qua cãi lại mà không ngã lẽ. Gió thổi lá phướn bay phất phơ, vậy cái gì động? Phướn động hay gió động? Người nói phướn động người nói gió động, ai cũng có lý.

Nếu không có gió thì làm sao lá phướn động? Như vậy thì gió động. Nếu không có lá phướn động thì làm sao biết có gió động? Như vậy nói phướn động hay gió động đều đúng hết. Tuy nhiên đó là cái hai bên, chấp hai bên thì cãi nhau suốt đời không ra lẽ. Bởi vì các pháp là duyên sanh, không phải do một cái mà có.

Lúc bấy giờ ngài thấy hai ông Sa-di cãi hoài mà không ngã lẽ, ngài liền nói có thể cho khách cư sĩ này lạm bàn chăng? Hai vị Sa-di đồng ý. Sư bảo không phải phướn động, không phải gió động mà tâm nhân giả động. Bởi vì gió là gió, phướn là phướn, có can hệ gì tới mình đâu mà cãi, khởi lên cãi đó là tâm động. Cho nên ngài nói một câu hết sức đơn giản, không phải phướn động không phải gió động mà tâm nhân giả động. Mọi người nghe câu nói này đều ngạc nhiên giật mình, họ liền thưa cho Ấn Tông biết lời bàn kỳ diệu ấy.

Hôm sau Ấn Tông mời ngài vào hỏi về lý tâm động. Ngài giải rõ thâm lý cực diệu, Ấn Tông bất giác đứng dậy thưa: Ngài không phải là người thường, nghe nói y pháp của Ngũ tổ Hoàng Mai đã về phương Nam, vậy phải ngài chăng? Sư đáp chẳng dám! Chẳng dám tức là lời nói khiêm nhường. Ấn Tông bèn tập họp tứ chúng, xin ngài trình y bát của Tổ. Ngài bèn dem y bát cho đại chúng chiêm bái. Ấn Tông xin làm đệ tử, đồng thời cầu chỉ dạy thiền yếu. Một vị pháp sư giảng Kinh, mà khi biết được Tổ là người thâm hiểu đạo lý liền xin làm đệ tử và cầu chỉ dạy pháp tu thiền, thật là hiếm có!

Đến ngày rằm tháng giêng, Ấn Tông thỉnh các bậc danh đức đến làm lễ thế phát cho Sư. Ngày mùng tám tháng hai làm lễ truyền giới Cụ túc cho Sư tại chùa Pháp Tánh. Luật sư Trí Quang làm Tuyên luật sư. 

Giới đàn này, đời Tống, Tam tạng Cầu-na-bạt đà-la đã dự ký trước rằng: 

 Sau sẽ có nhục thân Bồ-tát thọ giới tại đây. 

Lại, thời Lương mạt, Tam tạng Chân Đế đích thân trồng hai cây bồ-đề tại giới đàn này và bảo chúng rằng: 

 Sau khoảng một trăm hai chục năm, sẽ có bậc đại sĩ ở dưới cội bồ đề này khai diễn pháp Vô thượng thừa, độ chúng sanh vô lượng. 

Sau đó có quan thứ sử Thiều Châu tên Vi Cừ thỉnh Sư đến chùa Đại Phạm thuyết pháp môn vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa. Quan liêu sĩ thứ và kẻ tại gia, người xuất gia đến dự nghe pháp trên ngàn người. Những thời thuyết pháp tại đây, được đệ tử Sư ghi lại đầy đủ trong kinh Pháp Bảo Đàn. 

Năm sau, Sư muốn trở về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê là chỗ ẩn xưa kia. Ấn Tông cùng quan liêu sĩ thứ đạo tục tiễn đưa có hơn ngàn người. Sư an trú ở đây, tăng chúng xa gần đua nhau đến tham vấn. Trung bình chư tăng thường có mặt tại chùa không dưới một ngàn. Sư đã dựng lên cây cờ đại pháp, bốn phương trông thấy đều hướng về. 

Đến ngày rằm tháng giêng, Ấn Tông thỉnh các bậc danh đức đến làm lễ thế phát cho Sư. Ngày mùng tám tháng hai làm lễ truyền giới Cụ túc cho tại chùa Pháp Tánh, luật sư Trí Quang làm Tuyên luật sư. Trước đó một trăm năm, ngài Cầu-na-bạt-đà-la người Ấn đi ngang qua đây đã dự trước rằng, sau sẽ có nhục thân Bồ-tát thọ giới tại đây. Lại cuối thời Lương, Tam tạng Chân Đế đích thân trồng hai cây bồ-đề tại giới đàn này, bảo chúng rằng: Sau khoảng một trăm hai chục năm sẽ có bậc đại sĩ ở dưới cội bồ-đề này khai diễn pháp thượng thừa, độ chúng sanh lượng. Đại sĩ cũng là Bồ-tát, như vậy những vị kia đã dự kiến trước rằng sẽ có Bồ-tát ra giáo hóa ở đó.

Thứ sử Thiều Châu tên Vi Cừ thỉnh Sư đến chùa Đại Phạm thuyết pháp môn vi diệu và thọ giới vô tướng tâm địa. Quan liêu sĩ thứ, người xuất gia và kẻ tại gia đến nghe pháp trên một ngàn người, những thời thuyết pháp đều được ghi lại trong kinh Pháp Bảo Đàn. Năm sau, ngài muốn trở về chùa Bảo Lâm ở Tào Khê, đó là chùa Nam Hoa bây giờ. Ấn Tông cùng quan liêu sĩ thứ đạo tục tiễn đưa hơn một ngàn người. Sư an trú ở đây, tăng chúng xa gần đua nhau đến tham vấn, trung bình chư tăng có mặt tại chùa không dưới một ngàn người. Ngài đã dựng lên cây cờ đại pháp tại đây để tứ chúng bốn phương trông thấy mà hướng về. Như vậy ngài đã chính thức là vị Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Hoa.

Niên hiệu Thần Long năm đầu (705 TL) vua Trung Tông xuống chiếu sai sứ là Tiết Giản đi thỉnh Sư về triều. Sư từ chối vì lý do bệnh. Trong lời từ chối của Sư có câu: “Tôi nguyện được trọn đời ở chốn núi rừng” 

Tiết Giản thưa: 

– Các bậc thiền đức nơi kinh thành đều nói “muốn được hội đạo cần phải tọa thiền tập định, nếu không nhân thiền định mà được giải thoát, là việc chưa từng thấy”. Chưa biết Thầy thường nói pháp dạy người thế nào? 

Sư đáp: 

– Đạo do tâm ngộ, đâu phải ở ngồi. Kinh nói: “Nếu nói Như Lai hoặc đến hoặc đi hoặc ngồi hoặc nằm là người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Vì sao? Vì Như Lai không từ đâu đến cũng không đi về đâu.” Vì không từ đâu đến nên không sanh, vì không đi đâu nên không diệt. Nếu không sanh diệt là Như Lai thanh tịnh thiền, các pháp không tịch là Như Lai thanh tịnh tọa. Tột cùng không được, cũng không có chỗ chứng, huống là ngồi ư? 

Vua Trung Tông sai sứ thỉnh Lục Tổ về triều để quần thần được học hỏi giáo lý, nhưng ngài lấy lý do bệnh từ chối không đi, nguyện trọn đời ở chốn núi rừng. Nghe qua câu nói này chúng ta phải kính phục. Ngày xưa ai tu mà được vua triệu về làm quan nhất là làm Quốc sư dạy vua chúa là điều hy hữu, là vinh dự tột bậc. Nhưng ngài từ chối không đi, chỉ nguyện trọn đời làm tăng ở chốn núi rừng, không muốn làm Quốc sư. Đó là điều hiếm có.

Khi ấy Tiết Giản thấy ngài từ chối e rằng trở về triều vua hỏi không biết trả lời ra sao, sợ bị bắt tội, nên mới ở lại học hỏi đạo lý để về trình vua.

Tiết Giản thưa: Các bậc hiền đức nơi kinh thành đều nói “muốn được hội đạo, cần phải tọa thiền tập định, nếu không nhân thiền định mà được giải thoát là việc chưa từng thấy”. Chưa biết Thầy nói pháp dạy người thế nào? Tổ đáp: Đạo do tâm ngộ, đâu phải ở ngồi. Kinh nói: Nếu nói Như Lai hoặc đến hoặc đi, hoặc nằm hoặc ngồi là người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Vì sao? Vì Như Lai không từ đâu đến cũng không đi đâu. Câu này phát xuất từ kinh Kim Cang.

Phật không từ đâu đến, tại sao có sanh? Phật không đi đâu tại sao có diệt? Đây là chỉ cho Phật pháp thân không sanh không diệt, nên không đến không đi. Chúng ta thấy Phật có sanh có diệt, đó là Phật hóa thân và báo thân. Kinh Kim Cang nói Phật là chỉ cho Phật pháp thân. Lục Tổ là chỉ thẳng cho mọi người nhận ngay nơi mình, ai cũng sẵn có Phật pháp thân không đến không đi, không ngồi không nằm. Chúng ta hiểu rõ ý nghĩa này rồi thì mới thấy giá trị lời dạy của Tổ.

Tổ giải thích thêm, vì không từ đâu đến nên không sanh, vì không đi đâu nên không diệt. Nếu ở đâu đến là sanh ra, rồi đi là diệt. Như vậy có đến đi là có sanh tử. Thân hiện hữu của chúng ta có sanh tử, vì từ cha mẹ sanh ra, khi hết duyên nó bại hoại. Sanh ra gọi là đến, bại hoại gọi là đi. Thân này có đến đi, còn pháp thân thì không đến đi, không sanh diệt. Không sanh diệt là Như Lai thanh tịnh thiền, các pháp không tịch là Như Lai thanh tịnh tọa. Ở đây ngài nói thiền và tọa rất là đặc biệt. Nếu chúng ta nhận được nơi mình có pháp thân thanh tịnh không sanh không diệt, gọi là Như Lai thanh tịnh thiền, đi đâu ở chỗ nào, tới lui qua lại đều là thiền.

Ai cũng có tánh giác bất sanh bất diệt hằng hữu nơi mình. Như hội chúng nhìn lên bàn thấy hoa sen. Nếu đem hoa sen để chỗ khác thì có thấy không? Nói không thấy là lầm. Có hoa sen thì thấy hoa sen, dời hoa sen chỗ khác thì thấy không có hoa sen. Như vậy sự vật ngoại cảnh có đổi thay sanh diệt, còn cái thấy thì không sanh diệt đổi thay.

Tánh nghe hằng hữu nên khi có tiếng thì biết có tiếng, không có tiếng thì biết không có tiếng. Nhưng chúng ta lệ thuộc vào tiếng, cho nên khi có tiếng gọi là có nghe, khi không tiếng gọi là không nghe. Như vậy chỉ biết tiếng động mà không nhớ cái hay nghe không động. Cái hay nghe không động nên không sanh diệt, tiếng động cho nên có sanh diệt. Khi chúng ta ngủ có nghe không? Khi thức thì tiếng động gần xa đều nghe, nhưng khi ngủ nếu nghe đâu có ngủ được. Tuy nhiên người ngủ vẫn nghe, nếu người ngủ không nghe thì kêu không giật mình, vì sẵn có cái hay nghe nên kêu liền thức.

Sáu cơ quan mắt tai mũi lưỡi thân ý khi mở ra thì sáng, cho nên đối với cảnh ở ngoài nhạy bén. Khi ngủ thì đóng lại, nên phải có cái gì làm động mạnh mới thấy mới nghe. Như chúng ta tắt đèn ngủ, bất thần ai đó bật đèn lên thì giật mình. Cũng vậy khi ngủ tưởng là không nghe, nhưng vẫn nghe mà yếu hơn. Thành ra khi ngủ nhắm mắt tưởng là không thấy nhưng sự thật cũng vẫn thấy vẫn nghe. Khi tới nhà người quen thấy đóng cửa, chúng ta vừa ấn chuông thì có người ra mở cửa, là biết trong nhà có người thường trực. Nếu không có người thì ấn chuông một buổi cũng không ai mở cửa.

Chúng ta chỉ biết chạy theo âm thanh sắc tướng sanh diệt, mà không nhớ cái biết chân thật hằng hữu không sanh diệt của mình. Bởi nhớ tiếng cho nên phân biệt tiếng hay dở, tiếng dễ thương dễ ghét… bao nhiêu chuyện cãi vã hơn thua là do nhớ tiếng. Nếu nghe ai nói chỉ biết mình đang nghe, thì nghe tất cả âm thanh mà không dính kẹt, là tập làm thánh nhân. Nghe mà dính mắc âm thanh, không nhớ cái hay nghe đó là phàm phu. Như vậy thánh nhân và phàm phu cách nhau không xa.

Kinh Bát-nhã nói Không tức là không có thật thể, nên gọi là không tịch. Thấy các pháp bên ngoài không thật thể tức là rỗng lặng, là Như Lai thanh tịnh tọa. Thấy người thấy vật thấy tất cả cảnh bên ngoài, đều biết duyên hợp không thật, không có gì để dính mắc nhiễm ô gọi là Như Lai thanh tịnh tọa. Nếu ngộ được thiền này thì đi đứng nằm ngồi đều là thiền. Chúng ta chưa ngộ nên phải ngồi điều phục mấy chú vọng tưởng.

Lục Tổ dạy đi đâu làm gì cũng thiền, nhưng ở đây tôi bắt chư tăng ni Phật tử ngồi thiền, có trái không? Nếu ngộ được như Tổ thì khỏi ngồi, đi đâu cũng thiền, nếu chưa ngộ thì chịu khó ngồi, vì ngồi dễ điều phục tâm hơn.

Tổ dạy thêm, tột cùng không được, cũng không có chỗ chứng, huống là ngồi ư? Tại sao không có chỗ chứng? Vì pháp thân là cái hiện hữu sẵn có của mình nên nói không được không chứng, đã không được không chứng thì nói gì là ngồi hay không ngồi? Cho nên kinh Bát-nhã nói vô sở đắc.

Tiết Giản thưa: 

 Đệ tử trở về kinh đô ắt Chúa thượng có hỏi. Cúi xin Hòa thượng từ bị chỉ cho chỗ tâm yếu, ngõ hầu đối cảnh giải rành, khiến cho những kẻ học giả ở kinh đô hiểu biết tu hành. Ví như thắp một ngọn đèn, mồi được trăm ngàn ngọn đèn, khiến cho chỗ tối tăm được sáng, sáng mãi không cùng. 

Sư bảo: 

– Đạo không có tối sáng, tối sáng là nghĩa đối đãi nhau; dù sáng mãi không cùng, cũng là có cùng. Bởi vì đối đãi mà lập danh tự, cho nên kinh nói: Pháp không có so sánh vì không có đối đãi. 

– Sáng ví dụ trí tuệ, tối ví dụ phiền não. Người tu hành nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, thì cái sanh tử từ vô thủy do đâu được ra khỏi? 

Sư bảo: 

– Nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kẻ tiểu căn nhị thừa, là xe dê xe nai, người đại căn thượng trí không như vậy. 

Nghe giảng tới đây Tiết Giản thưa: Đệ tử trở về kinh đô ắt Chúa thượng có hỏi. Cúi xin Hòa thượng từ bi chỉ cho chỗ tâm yếu, ngõ hầu đối cảnh giải rành, khiến cho học giả kinh đô hiểu biết tu hành. Như thắp một ngọn đèn, mồi được trăm ngàn ngọn đèn, khiến cho chỗ tối tăm được sáng, sáng mãi không cùng. Nói như vậy là hay quá! Một ngọn đèn cháy mồi ngọn đèn khác, rồi mồi cả trăm ngọn, một biến thành mười, mười biến thành trăm, liên tục như vậy thì hết sức cao quý.

Tổ lại bảo đạo không có tối sáng, tối sáng là nghĩa đối đãi nhau. Như trong nhà tối bật đèn lên thì sáng. Như vậy sáng và tối không thật, đổi thay tùy duyên, đủ duyên thì sáng thiếu duyên thì tối, tự sanh tự diệt, không gian trong nhà chẳng thay đổi. Tổ nói tiếp, dù sáng mãi không cùng cũng là có cùng. Bởi vì đối đãi mà lập danh tự nên không phải còn hoài. Cho nên kinh nói pháp không có so sánh vì không đối đãi. Như chúng ta nghe tiếng khen chê, hay dở, tất cả tiếng động ở ngoài là sanh diệt đối đãi nên có rồi mất, không có tiếng nào còn hoài. Nơi chúng ta có cái hay nghe không sanh diệt rõ ràng đâu thiếu. Nhưng chúng ta chỉ nhớ tiếng mà không nhớ cái hay nghe. Cho nên kinh Lăng-nghiêm đức Phật nói “quên mình theo vật”. Nếu ai cho mình là khôn ngoan lanh lợi, thì cũng là người quên mình theo vật, vì đó chỉ là cái khôn ngoan của thế gian sanh diệt mà thôi.

Tiết Giản thưa: Sáng như trí tuệ, tối ví như phiền não, người tu hành nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì sanh tử từ thủy do đâu được ra khỏi. Ông nói rất hợp đạo lý. Sáng dụ cho trí tuệ, tối tăm dụ phiền não, người tu muốn hết phiền não thì phải dùng trí tuệ chiếu phá mới ra khỏi sanh tử. Nếu không dùng trí tuệ chiếu phá phiền não thì vô minh từ vô thủy làm sao hết được, không hết thì làm sao ra khỏi sanh tử.

Tổ dạy tiếp, nếu dùng trí tuệ chiếu phá phiền não, đây là kẻ tiểu căn nhị thừa, người đại căn thượng trí không như vậy. Người tu lấy cái này dẹp cái kia là tiểu căn là đối đãi, như vậy thuộc về xe dê xe nai như trong kinh Pháp Hoa nói, không phải là xe trâu trắng, tức là không dùng đối đãi để dẹp phá.

Ví dụ nghe người ta nói nặng, mình dấy niệm sân giận rồi nghĩ tiếng nói đó là duyên hợp hư giả qua rồi mất, giận chi! Nghĩ như vậy thì bớt giận, đó là dùng trí tuệ để chiếu phá vô minh phiền não, cũng hay quá rồi. Nhưng khi nghe tiếng khen chê, chỉ nhớ mình đang nghe, họ nói gì cũng được không cần chiếu phá, hai cách tu khác nhau ở chỗ đó. Dùng cái này để trị cái kia là còn đối đãi. Nhận được mình có bản tánh chân thật không bị những đối đãi chi phối, đó là tu theo Như Lai thanh tịnh thiền.

Tiết Giản hỏi: 

– Thế nào là chỗ kiến giải của Đại thừa? 

Sư đáp: 

 Sáng cùng không sáng tánh nó chẳng hai, tánh không hai tức là tánh thật. Tánh thật thì ở phàm ngu chẳng bớt, ở hiền thánh chẳng thêm, dừng nơi phiền não mà chẳng loạn, đứng nơi thiền định mà chẳng lặng, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng đến chẳng đi, chẳng ở giữa và hai bên, chẳng sanh chẳng diệt, tánh tướng như như, thường trụ không dời đổi, gọi đó là Đạo. 

Tiết Giản thưa: 

 Hòa thượng nói chẳng sanh chẳng diệt, có khác gì chúng ngoại đạo nói? 

Sư bảo: 

– Ngoại đạo nói chẳng sanh chẳng diệt, là đem cái diệt chặn cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt. Diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói không sanh diệt là xưa tự không sanh, nay cũng không diệt, đâu có thể đồng với ngoại đạo ư? Ông muốn rõ được tâm yếu thì đối tất cả việc thiện ác đều chớ suy nghĩ, tự nhiên được vào. Tâm thể trong trẻo thường lặng lẽ diệu dụng như hằng sa. 

Tiết Giản nghe qua liền đại ngộ, lễ bái Sư trở về triều. Về triều ông tâu hết tự sự cho vua nghe. Vua càng thêm cung kính và ngợi khen. Vua lại ban chiếu và cúng dường ca-sa, tích trượng, bảo câu… Sắc đổi tên chùa Bảo Lâm là Trung Hưng. 

Năm sau, vua lại sắc thứ sử Thiều Châu kiến thiết ngôi chùa Trung Hưng lại và đổi tên là Pháp Tuyền. Chùa của Sư ở trước, tại Tân Châu đổi tên là Quốc Ân. 

Tiết Giản thưa: Thế nào là chỗ kiến giải của Đại thừa? Tổ đáp: Sáng cùng không sáng, tánh nó chẳng hai, tánh không hai tức là tánh thật. Ví dụ không gian trong nhà này, tối và sáng nương khoảng không gian đó mà hiện, khoảng không gian là đồng thì không tối không sáng. Đứng về hiện tướng tối sáng giả dối sanh diệt thấy đó là hai, nhưng thể tánh là không hai, tánh không hai tức là tánh thật, cái hai đó là không thật.

Tánh thật thì ở phàm ngu chẳng bớt, ở hiền thánh chẳng thêm. Tại sao? Như người không biết chữ, thấy nghe ngửi nếm biết được những trần cảnh bên ngoài, với một người học tới cử nhân tiến sĩ cũng thấy nghe ngửi nếm. Giữa hai người đó cái thấy nghe ngửi nếm có khác nhau không? Khác là do sự huân tập hiểu biết trong suy nghĩ, trong tướng sanh diệt, còn thể không sanh diệt cũng như nhau. Như khi thấy màu đỏ thì biết đỏ, trắng thì biết trắng, nghe tiếng người tiếng xe thì biết tiếng người tiếng xe. Thấy nghe cũng như nhau, nên nói tánh thật thì nơi phàm ngu chẳng bớt, nơi hiền thánh chẳng thêm.

Tổ dạy: Dừng nơi phiền não mà chẳng loạn, đứng nơi thiền định mà chẳng lặng, chẳng đoạn chẳng thường, chẳng đến chẳng đi, chẳng giữa và hai bên, chẳng sanh chẳng diệt, tánh tướng như như, thường trụ không dời đổi, gọi đó là Đạo. Như vậy Đạo là gì? Là thể tánh hiện có nơi mỗi người, lưu xuất ra sáu căn, không ai hơn kém. Đó là thể chân thật không đến đi, không sanh diệt, không loạn động. Như chúng ta thấy nghe mà sống được bằng cái hay thấy hay nghe đó là sống được với Đạo. Đạo là chân lý không sanh diệt, còn chúng ta tu hành giữ giới ăn chay, tụng kinh niệm Phật tọa thiền là sống với Đạo, Đạo đó là sanh diệt.

Tiết Giản thưa: Hòa thượng nói chẳng sanh chẳng diệt, khác gì chúng ngoại đạo nói? Tổ bảo: Ngoại đạo nói chẳng sanh chẳng diệt là đem cái diệt chặn cái sanh, lấy cái sanh để bày cái diệt. Đem cái diệt chặn cái sanh là còn thấy có sanh thật, lấy cái sanh để bày cái diệt là còn thấy cái diệt thật. Như vậy sanh diệt là không thật mà cho là thật, rồi lấy cái này dẹp cái kia cũng chưa phải là chỗ cứu cánh.

Diệt vẫn chẳng diệt, sanh nói không sanh. Ta nói không sanh diệt là xưa tự không sanh nay cũng không diệt, đâu thể đồng với ngoại đạo ư? Tổ nói không sanh không diệt khác với ngoại đạo. Ngoại đạo nói không sanh không diệt là cưỡng nói không sanh không diệt, muốn không sanh diệt phải dẹp cái sanh diệt, nên lấy cái này chặn cái kia. Tổ nói nguyên nó không sanh thì làm sao có diệt. Như thân của chúng ta do cha mẹ sanh ra, vì có sanh nên có diệt, còn cái thấy nghe thì không sanh không diệt.

Mắt bệnh thì không thấy, lỗ tai hư thì không nghe. Khi mắt không thấy tai không nghe tưởng như cái thấy nghe diệt, nhưng thật sự nó không diệt. Tại sao? Ví như dòng điện làm cho cây quạt quay, ngọn đèn sáng. Nếu đóng công tắc thì quạt ngừng đèn tắt, nhưng dòng điện vẫn không mất. Như người mù người điếc có cái hay riêng của họ. Mù thì lỗ tai nhạy, nghe tiếng nói liền biết đó là ai. Điếc thì con mắt nhạy, thấy miệng người khác nhóp nhép thì hiểu ý liền.

Thường đánh cờ tướng thì hai người phải có mắt sáng như nhau để nhìn nước cờ đi cho đúng. Nhưng ở Vũng Liêm có một vị Hòa thượng mù từ nhỏ mà đánh cờ tướng ít ai thắng nổi. Tay ngài nhạy vô cùng, chỉ rờ là biết con xe con pháo rồi bắt đầu đi, rất là hay. Như vậy cái tay thế con mắt. Cho nên cái hay thấy hay nghe không bao giờ mất, nên nói không sanh không diệt.

Tổ dạy: Muốn rõ được việc tâm yếu thì tất cả những việc thiện ác, hay dở tốt xấu… đều chẳng suy nghĩ, buông xả hết, tự nhiên được vào. Tâm an thì hợp với đạo. Nếu một hai giờ ngồi thiền mà buông hết niệm thiện ác thì cũng vào đạo trong một hai giờ.

Chúng ta thấy Lục Tổ thủy chung không hai. Đầu tiên Huệ Minh hỏi thế nào là đạo, ngài bảo: Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của thượng tọa Minh? Đến đoạn này Tổ cũng dạy Tiết Giản muốn rõ được tâm yếu thì đối với tất cả việc thiện ác đều không suy nghĩ, tự nhiên được vào. Hết sức đơn giản, nhưng rất khó làm! Tâm thể trong trẻo thường lặng lẽ mà diệu dụng như hằng sa. Nếu mắt thấy sắc, tai nghe tiếng mà không dính mắc thì diệu dụng như hằng sa.

Tiết Giản rất lanh lẹ, nghe qua liền đại ngộ, lễ bái Tổ xin trở về triều. Về triều ông tâu hết tự sự cho vua nghe. Vua càng thêm cung kính và ngợi khen. Vua lại ban chiếu và cúng dường ca-sa, tích trượng, bảo câu… Đổi tên chùa Bảo Lâm là chùa Trung Hưng.

Năm sau, vua lại sắc thích sử Thiều Châu kiến thiết ngôi chùa Trung Hưng lại và đổi tên là Pháp Tuyền. Chùa của Sư ở trước tại Tân Châu đổi tên là Quốc Ân. Một hôm Tổ bảo chúng: Thiện tri thức mỗi người tịnh tâm nghe ta nói pháp, hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi. Nói tâm của các bậc thánh nhân là Phật thì được, còn tâm mình phàm quá làm sao là Phật, mà Tổ bảo hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi? 

Một hôm Sư bảo chúng: 

– Thiện tri thức! Các ngươi mỗi người tịnh tâm nghe ta nói pháp, hết thảy các ngươi tâm mình là Phật, chớ có hồ nghi. Ngoài không có một pháp có thể dựng lập, đều là tâm mình sanh ra muôn pháp. Kinh nói: “Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt.” Nếu muốn thành tựu chủng trí phải đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. 

Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng ấy mà không sanh yêu ghét, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích, thành hoại v.v… an ổn thanh tịnh gọi là Nhất tướng tam-muội. 

Nếu ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, ròng một trực tâm, không dời khỏi đạo tràng, liền thành tinh độ, gọi là Nhất hạnh tam-muội. 

Nếu người đủ hai tam-muội này, như đất có giống hay chứa đựng, nuôi dưỡng thành tựu được bông trái của nó. Nhất tướng, nhất hạnh cũng lại như vậy. 

Nay ta nói pháp, ví như khi mưa thấm ướt cả đất, Phật tánh của các ngươi ví như các hạt giống, vừa gặp thấm ướt liền nảy mầm. Giữ đúng lời ta quyết được Bồ-đề, đúng theo ta dạy mà thực hành nhất định chứng quả Phật. 

Ngoài không một pháp thể dựng lập, đều từ tâm mình sanh ra muôn pháp. Tâm mình sanh ra muôn pháp là sao? Như hòn non bộ, cái nhà, cây cối v.v… không ngoài tâm mà có, do suy nghĩ muốn trồng điều thì tìm hột điều ươm trồng. Muốn làm hòn non bộ kiểu nào thì suy nghĩ rồi đắp thành. Muốn làm cái nhà thì suy nghĩ phác họa bao nhiêu căn, kiểu gì, rồi mới xây dựng. Những thứ ấy không phải bỗng dưng có, mà do tâm suy nghĩ làm thành, từ đó có hình tướng, lại đặt tên cái nhà, hòn non bộ v.v… như vậy không phải tâm sanh ra muôn pháp là gì!

Kinh nói: Tâm sanh thì các pháp sanh, tâm diệt thì các pháp diệt. Tại sao? Ví dụ hoa sen không tự nói nó là hoa sen, mà do chúng ta khởi niệm đặt tên nó là hoa sen. Đó là tâm sanh thì pháp sanh. Bây giờ không khởi niệm, dù cho có muôn sự muôn vật mà không thành danh, nên nói tâm diệt thì muôn pháp diệt.

Ngài dạy thêm hai pháp này chúng ta ráng nhớ để tu. Nếu muốn thành tựu chủng trí, phải đạt Nhất tướng tam-muội và Nhất hạnh tam-muội. Chủng trí là trí của Phật. Tam-muội là chánh định.

Nhất tướng tam-muội là sao? Nếu tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng ấy không sanh yêu ghét, chẳng lấy chẳng bỏ, chẳng nghĩ việc lợi ích thành hoại v.v… an ổn thanh tịnh gọi là Nhất tướng tam-muội. Như đứng trước trăm ngàn người mà tâm không suy nghĩ người này đẹp, người kia xấu, người này dễ thương, người kia dễ ghét… Đi chợ thấy bày nhiều đồ vật mà không khởi niệm thích cái này, ưa cái kia v.v… Đối với tất cả tướng cần dùng thì dùng, không dính mắc không lấy bỏ. Không động niệm thì tâm không dính kẹt, thấy là thấy, như vậy gọi là Nhất tướng tam-muội.

Nhất hạnh tam-muội là sao? Nếu ở tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, chỉ một trực tâm không rời khỏi đạo tràng liền thành tịnh độ gọi là Nhất hạnh tam-muội. Trực tâm là không dính bên này kẹt bên kia, tất cả chỗ là đạo tràng, được vậy là Nhất hạnh tam-muội.

Nếu người đủ hai tam-muội này, như đất giống, hay nuôi dưỡng thành tựu được hoa trái, Nhất tướng Nhất hạnh tam-muội cũng lại như thế. Lời dạy của Lục Tổ rất đơn giản, nếu ứng dụng được thì việc tu hết sức nhẹ nhàng, nếu không ứng dụng được thì việc tu thật là nhiêu khê!

Người thế gian vì quá nhạy bén, đối cảnh luôn dính mắc nên đối với pháp tu này rất khó thực hành. Chư thánh thản nhiên tự tại đi giữa âm thanh sắc tướng mà không dính kẹt. Hiểu như vậy mới thấy sự khác nhau giữa phàm và thánh.

Tổ ví dụ, Ta nói pháp như mưa thấm ướt đất, Phật tánh của các ngươi như hạt giống vừa gặp đất thấm ướt liền nảy mầm. Thực hành đúng lời ta dạy quyết định được Bồ-đề, chứng quả Phật. Tổ xác nhận như vậy là hết lòng với chúng ta rồi.

Niên hiệu Tiên Thiên năm đầu (712 TL), một hôm Sư chợt gọi đồ chúng đến bảo: 

 Ta ở chỗ tổ Hoằng Nhẫn thọ pháp yếu cùng y bát. Nay tuy nói pháp mà không truyền y bát, bởi vì các ngươi lòng tin đã thuần thục, không còn nghi ngờ, nên chẳng truyền. Nghe ta nói kệ: 

Tâm địa hàm chư chủng, 

Phổ vũ tất giai manh. 

Đốn ngộ hoa tình dĩ, 

Bồ-đề quả tự thành. 

Dịch: 

Đất tâm chứa các giống, 

Mưa khắp ắt nảy mầm. 

Hoa đốn ngộ đã nở, 

Trái Bồ-đề tự thành. 

Sư lại bảo: 

– Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh cũng không các tướng. Các ngươi dè dặt chớ quán tịnh và tâm kia không. Tâm này sẵn tịnh, không lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tùy duyên được an lành. 

Lúc Tổ sắp tịch dạy đồ chúng: Ta ở chỗ tổ Hoằng Nhẫn thọ pháp yếu cùng y bát. Nay tuy nói pháp mà không truyền y bát, bởi vì các ngươi lòng tin đã thuần thục không còn nghi ngờ. Nghe ta nói kệ:

Đất tâm chứa các giống, 

Mưa khắp ắt nảy mầm.

Hoa đốn ngộ đã nở, 

Trái Bồ-đề tự thành.

Đất tâm chứa các giống là chỉ cho pháp thân có sẵn. Mưa khắp ắt nảy mầm, gặp thầy tổ nhắc nhở thì tự nó nảy mầm. Hoa đốn ngộ đã nở nghĩa là nhận được pháp thân, thấu suốt bản tâm thì trái Bồ-đề tự thành, không nghi ngờ.

Tổ lại bảo: Pháp ấy không hai, tâm ấy cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh cũng không các tướng. Các ngươi dè dặt chớ quán tịnh và tâm kia không. Tâm này sẵn tịnh không lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tùy duyên được an lành. Pháp đó không hai thì đâu có gì là có không mà quán không, đâu có gì tịnh uế mà quán tịnh. Cho nên Tổ dạy đừng quán tịnh cũng đừng quán không. Tâm này sẵn tịnh không nên lấy bỏ, mỗi người tự nỗ lực tu hành thì tùy duyên được an ổn.

Sư thuyết pháp độ sanh đã được bốn chục năm. Trước đây Sư đã sai người về chùa Quốc Ân ở Tân Châu xây tháp. Đến ngày mùng sáu tháng sáu năm này, Sư lại sai người đến đốc suất làm nhanh. Đến ngày mùng một tháng bảy, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 TL), Sư gọi môn nhân bảo: 

– Ta muốn trở về Tân Châu, các ngươi lo sửa soạn thuyền. 

Lúc ấy, đại chúng đều buồn bã, thỉnh Sư ở nán lại. Sư bảo: 

 Chư Phật ra đời vẫn thị hiện vào Niết-bàn. Có đến ắt có đi, lẽ đó là việc thường vậy. Thân hình hài của ta ắt có chỗ. 

Chúng hỏi: 

– Hôm nay Thầy đi bao giờ trở lại? 

Sư bảo: 

– Lá rụng về cội, trở lại không hẹn. 

Chúng hỏi: 

– Pháp nhãn tạng Thầy sẽ trao cho người nào? 

Sư bảo: 

– Có đạo thì được, vô tâm thì thông. 

Chúng thưa: 

– Thầy để lời di chúc xem có nạn không? 

Sư bảo: 

 Ta diệt độ khoảng năm sáu năm ắt có người đến lấy đầu ta. Nghe ta nói kệ: 

Đầu thượng dưỡng thân, 

Khẩu lý tu xan. 

Ngộ Mãn chi nạn, 

Dương Liễu vi quan. 

Dịch: 

Trên đầu nuôi thân, 

Trong miệng để ăn. 

Gặp Mãn gây nạn,

Dương Liễu làm quan. 

Sư nói tiếp: 

Sau khi ta diệt độ khoảng bảy chục năm, có hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một tại gia, một xuất gia chung hưng hóa Phật pháp, sửa lại các ngôi già-lam nâng đỡ tông chỉ của ta.

Khi ngài sắp tịch, đại chúng hỏi: Hôm nay Thầy đi bao giờ trở lại? Tổ bảo: Lá rụng về cội, trở lại không hẹn. Tại sao? Bởi vì chúng ta ai cũng có sẵn tâm thanh tịnh. Thân hoại rồi nhưng thể tánh thanh tịnh không hoại, giống như lá rụng về cội. Cho nên hỏi khi nào trở lại, ngài trả lời đủ duyên thì trở lại, không đủ duyên thì thôi. Đó là hình ảnh của người tu giải thoát.

Chúng hỏi: Pháp nhãn tạng, Thầy sẽ trao cho người nào? Tổ đáp: Có đạo thì được, vô tâm thì thông. Người có tu nhận ra chân lý thì được truyền, người không có tâm dính mắc thì thông được chân lý. Giả sử bây giờ cách xa Tổ một ngàn năm, mà chúng ta thấy được đạo, không có tâm dính mắc thì vẫn được Tổ truyền y.

Chúng thưa: Thầy để lời di chúc xem có nạn không? Tổ bảo: Ta diệt độ khoảng năm sáu năm ắt có người đến lấy đầu ta. Nghe ta nói kệ: 

Trên đầu nuôi thân,

Trong miệng để ăn.

Gặp Mãn gây nạn,

Dương Liễu làm quan.

Tổ tịch, nhục thân còn nguyên nên không chôn mà để trong tháp thờ. Năm sáu năm sau có một số người ở Triều Tiên, nghe nhục thân ngài không hoại, họ ngưỡng mộ quá nên mướn một người tên Mãn, ban đêm đến giờ tháp ra định cắt đầu ngài đem về thờ. Khi ấy viên quan họ Dương tên Liễu điều tra ra mới biết. Đó là nạn mà ngài đã báo trước.

Năm tôi qua Tào Khê, lúc đó tháp đang sửa, người ta thỉnh tượng ngài để ở nhà Tổ. Ngài ngồi giữa, hai bên có hai thiền sư Hám Sơn và Đan Điền cũng còn nguyên nhục thân. Cả một ngàn năm mà hình ảnh của các ngài còn nguyên vẹn như xưa.

Tổ nói tiếp: Sau khi ta diệt độ khoảng bảy chục năm, hai vị Bồ-tát từ phương đông đến, một tại gia, một xuất gia, chung hưng hóa Phật pháp, sửa lại các ngôi già-lam, nâng đỡ tông phong của ta.

Sư về đến Tân Châu, vào chùa Quốc Ân, tắm gội xong, ngồi kiết già, an nhiên thị tịch. Khi ấy, có mùi hương lạ xông ra, mống trắng vòng chí đất. Sư tịch ngày mùng hai tháng tám năm Quý Sửu, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai (713 TL) đời Đường, thọ bảy mươi sáu tuổi. 

Bấy giờ môn đồ hai châu Thiều và Tân muốn đem hài cốt Sư về châu mình an táng. Bàn nhau không ngã lẽ, phải thắp hương cầu nguyện ý Sư; nếu khói hương bay về đâu, thì vâng theo ý đó. Khói hương bay thẳng hướng Tào Khê. Thế là môn đồ ở Thiều Châu sửa soạn đưa linh cữu Sư về nhập tháp. Ngày mười ba tháng mười một đưa linh cữu về nhập tháp tại bên bờ khe Tào Hầu, nay là chùa Nam Hoa. Vua Đường Hiến Tông truy phong Sư là Đại Giám thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu. 

Môn đệ của Sư đắc pháp và hoằng hóa sau này có cả thảy bốn mươi ba vị: 

1- Hành Tư ở núi Thanh Nguyên 

2- Hoài Nhượng ở Nam Nhạc 

3- Pháp Hải 

4- Huệ Trung 

5- Bổn Tịnh 

6- Thần Hội 

7- Huyền Giác 

8- Huyền Sách 

9- Tam Tạng Quật-đa v.v…

Những lời Sư chỉ dạy có thể đa số được sưu tập trong quyển kinh Pháp Bảo Đàn.

Tổ về chùa Quốc Ân ở Tân Châu, tắm gội xong ngồi kiết già an nhiên thị tịch. Khi ấy, có mùi hương lạ xông ra, mống trắng vòng chí đất. Tổ tịch ngày mùng hai tháng tám năm Quý Sửu đời Đường, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, thọ bảy mươi sáu tuổi.

Lục Tổ là tiều phu quê mùa mà được làm Tổ. Tại sao? Bởi vì Tổ không kẹt hai bên cho nên ngài thảnh thơi tự tại giải thoát. Chúng ta thông minh học rộng hiểu nhiều mà còn chạy theo hai bên, dính mắc đủ điều nên tu hoài chẳng xong, huống nữa là được làm Tổ. Như vậy muốn cầu giải thoát thì phải tự gỡ. Nếu còn dính mắc quá nhiều, đến lúc gần chết có thỉnh một trăm thầy tăng một trăm cô ni tụng cho giải thoát cũng giải không nổi. Đó là một lẽ thật

Lời Lục Tổ dạy đơn giản mà chí lý, người sau kính trọng lời dạy của ngài như vàng ngọc, nên ghi lại thành quyển kinh Pháp Bảo Đàn. Khi ấy môn đồ hai châu Thiều và Tân muốn đem hài cốt Tổ về châu mình an táng. Bàn nhau không ngã lẽ, phải thắp hương cầu nguyện ý Tổ; nếu khói hương bay về đâu, thì vâng theo ý đó. Khói hương bay thẳng về Tào Khê.

Ngày mười ba tháng mười một môn đồ ở Thiều Châu sửa soạn đưa linh cữu Tổ về nhập tháp bên bờ khe Tào Hầu, nay là chùa Nam Hoa. Vua Đường Hiến Tông truy phong Tổ là Đại Giám thiền sư, tháp hiệu Nguyên Hòa Linh Chiếu.

Môn đệ của Tổ đắc pháp và hoằng hóa rất nhiều. Những lời dạy của Tổ được sưu tập ghi trong quyển kinh Pháp Bảo Đàn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.