Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

2.Tổ A Nan (Sanh sau Phật 30 năm)



Ananda

Ngài con vua Hộc Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ, em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích-ca. Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt vời. Đến hai mươi lăm tuổi xin theo Phật xuất gia. 

Ngài A-nan sanh trong dòng họ vua chúa, em con nhà chú của đức Phật, em ruột của Đề-bà-đạt-đa. Đến hai mươi lăm tuổi bỏ sự giàu sang của thế gian xuất gia làm Tỳ-kheo. Mỗi ngày đi khất thực để tu hành, đó là một điều đáng quý. Đề-bà-đạt-đa thì chống Phật nhưng A-nan theo hầu Phật. Thật là trái ngược nhau.

      Ananda: Trung Hoa dịch là Khánh Hỷ. Vì ngài sanh ngay đêm Phật thành đạo, dân chúng đều vui mừng nên cha mẹ đặt tên là Khánh Hỷ.

Một hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng lòng. Sau cùng, tôn giả Đại Mục-kiền-liên nhập định biết tôn ý Phật muốn A-nan làm thị giả. Đại chúng cử tôn giả Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất… đến yêu cầu ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối, song các tôn giả một bề nài nỉ, buộc lòng ngài phải xin Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, ngài mới dám làm thị giả: 

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. 

2- Không mặc y thừa của Phật. 

3- Không đến Phật phi thời. 

Thế Tôn chẳng những chấp thuận lời xin của ngài, mà còn khen ngợi ngài thông minh biết dự đoán trước những điều sẽ xảy ra. Thế là, ngài theo làm thị giả Phật ngót hai mươi lăm năm. 

Đức Phật già yếu cần có một thị giả. Trong hội chúng ngài Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… xin làm thị giả nhưng toàn những vị lớn tuổi nên Phật không đồng ý. Vì các vị lớn tuổi cũng cần có thị giả, làm sao làm thị giả cho đức Phật. Cuối cùng không ai xin được hết. Lúc đó ngài Mục-kiền-liên nhập định biết ý đức Phật muốn ngài A-nan làm thị giả, nhưng ngài A-nan không có mặt ở đó, ngài đang ở một tịnh thất rất xa. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đại diện đến thỉnh: – Thế Tôn cần ông làm thị giả.

Ngài thưa:

– Tôi không làm thị giả được cho đức Thế Tôn.

– Ông đừng phụ lòng đức Phật.

Thỉnh hoài nhưng ngài một bề từ chối. Cuối cùng ngài mới nói:

Nếu Thế Tôn muốn tôi làm thị giả thì xin chấp nhận ba điều kiện tôi đưa ra.

Các ngài nhận ba điều kiện trở về bạch với đức Phật. Nghe xong Phật không quở mà còn khen, nên chấp nhận ngài làm thị giả. Ba điều đó là:

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. Nếu thí chủ mời tất cả chúng đi thọ trai thì ngài cùng đi, khi nào chỉ mời Phật mà không mời thị giả thì ngài không đi. Tại sao? Tại vì A-nan sợ chúng sẽ nói ông A-nan vì ham ăn uống ngon mà theo làm thị giả Phật.

2- Không mặc y thừa của Phật. Thí chủ cúng dường đức Phật rất nhiều y tốt. Phật dùng không hết nên phải cho bớt. Nếu cho ngài thì nhất định không nhận, để tránh tiếng vì ham mặc y tốt mà làm thị giả cho đức Thế Tôn. Tại sao? Vì thí chủ cúng dường y cho Phật thì cúng y tốt. Cúng dường thực phẩm cho Phật thì cúng thực phẩm ngon, trước đó đã không chịu theo Phật thọ trai riêng thì bây giờ không chịu mặc y tốt.

3- Không đến Phật phi thời. Ngài đến đúng giờ chứ không phải lúc nào cũng đến. Thị giả cũng có thì giờ chừng mực, tức là điều độ, chứ không phải bất thường.

Ngài làm thị giả đức Phật hai mươi lăm năm, mà chưa bao giờ bị Phật rầy. Khi nào Phật cần ngài mới đến, ngài tránh khi Phật không cần. Ngài đoán biết Phật muốn gì để làm như ý Phật. Bây giờ thị giả hầu Thầy mỗi ngày bị rầy tối thiểu hai ba lần, còn ngài hầu Phật hai mươi lăm năm, nhưng chỉ có một lần bị Phật quở không phải vì ngài sai, mà do ngài bênh vực một vị khác. Đây là một thị giả đặc biệt. Ngài rất thông minh nghe Phật thuyết pháp nhớ không sót một chữ, như rót nước từ bình này qua bình kia không rơi một giọt ra ngoài.

Hôm nọ, ngài đi khất thực về đến tinh xá Phật, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần áo bụi bặm, chân dính bùn nhơ, vẻ người bi thảm. Ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa đến tìm xin Phật xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho. Ngài cảm động, vào đảnh lễ Phật xin cho Bà được xuất gia. Phật nhiều lần từ chối, ngài vẫn kiên chí xin kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất gia, chính ngài là người tích cực khai đường vậy. 

Chính đức Phật đã từng khen ngài: “Thị giả các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan” Và Phật khen A-nan được tám điều chưa từng có.

Một hôm ngài đi khất thực về đến tinh xá, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm công nương đang đứng tựa cửa khóc. Quý bà đi bộ từ Ca-tỳ-la-vệ đến Tỳ-xá-ly, quần áo dính bụi bặm, đi chân không nên bị trầy sướt rướm máu. Thấy vậy, ngài rất thương xót hỏi duyên cớ. Bà mới thuật lại là bà xin Phật xuất gia mà Phật không cho. Nghe nói như vậy ngài cảm động quá, nên đến đảnh lễ Phật cầu xin hai ba lần, Phật vẫn từ chối.

Ngài kể rằng khi hoàng hậu Ma-da băng hà, Thái tử còn nhỏ, Di mẫu là người nuôi nấng Thái tử cho đến khôn lớn, công ơn biết bao nhiêu, bây giờ xin Phật xuất gia, ngài không nghĩ công ơn lại từ chối. Phật trả lời: Ta đã hướng dẫn Phụ hoàng và Di mẫu quy y, gìn giữ năm giới, đó là ta đã đền ơn rồi.

Bao nhiêu năm nuôi dưỡng, chỉ hướng dẫn quy y thọ năm giới là đã đền ơn, sao dễ quá vậy? Chúng ta mới nghe qua thấy rất thường, nhưng trong đạo đó là một lẽ thật. Bởi vì săn sóc nuôi dưỡng cha mẹ được cơm no áo ấm, nhẹ nhàng khỏe khoắn đó là chỉ lo xác thân. Nếu cha mẹ không biết tu, không biết làm điều thiện thì khi nhắm mắt vướng vào cảnh khổ không biết ngày nào ra khỏi. Bây giờ khuyên cha mẹ bỏ điều ác, làm việc lành, quy y Tam bảo, giữ năm giới, nhất định không còn đọa trong những đường khổ. Như vậy mới cứu được cha mẹ ở hiện tại và mai sau. Chúng ta thương cha mẹ phần thể xác chưa đủ, mà phải tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành, mới đúng tinh thần người con Phật biết thương cha mẹ.

Ngài tha thiết cầu xin đến ba lần mà đức Phật nhất định không cho quý bà xuất gia. Cuối cùng Phật cầm lòng không được, phải ra tám điều kiện tức Bát kỉnh pháp. Di mẫu chấp nhận và thưa, Phật đưa ra một ngàn điều bà cũng giữ được chứ đừng nói chỉ có tám điều. Bà rất hoan hỷ khi được xuất gia, là Ni trưởng của giáo đoàn Ni đầu tiên trong thời đức Phật. Ngài A-nan có công rất lớn đối với phái nữ, cho nên bây giờ đúng ra bên Ni phải thờ ngài A-nan như một vị Tổ.

Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ nói Phật bất công. Tại sao bên nam xin cho liền, còn bên nữ năn nỉ nhiều lần Phật không cho. Tại sao? Khi Phật mới thành đạo không có tinh xá, đi lang thang nay chỗ này mai chỗ khác không dừng trụ. Chư tăng thì được nhưng người nữ đi lang thang nguy hiểm vô cùng. Do đó Phật không cho phái nữ xuất gia. Ngài A-nan ép lắm Phật mới cho. Bây giờ có chùa Tăng chùa Ni đầy đủ thì giải quyết bình đẳng. Hiểu điều này chúng ta mới thấy Phật không bất công.

Phật từng khen ngài A-nan: Thị giả các đức Phật đời quá khứ không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan. Như vậy ngài A-nan là người thị giả không ai hơn được. Trong kinh A-hàm, đức Phật cũng nói A-nan có tám điều chưa từng có:

1- Tín căn bền vững.

2- Tâm tính chất trực.

3- Thân không bệnh khổ.

4- Thường xuyên tinh tấn.

5- Niệm căn đầy đủ.

6- Tâm không kiêu mạn.

7- Thành tựu định ý.

8- Từ nghe sanh trí.

Sau khi Phật Niết-bàn, tổ Ca-diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo kiết tập kinh điển, ngài là người được toàn đại hội đề cử kiết tập tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài nhìn qua đại chúng nói kệ: 

Tỳ-kheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm

Du như hư không trung 

Chúng tinh chỉ vô nguyệt. 

Dịch: 

Tỳ-kheo các quyến thuộc, 

Vắng Phật chẳng trang nghiêm! 

Ví như trong hư không 

Nhiều sao mà không trăng. 

Nói kệ xong, ngài đảnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ… nói Kinh… ” cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.” 

Ngài kiết tập Kinh xong, tổ Ca-diếp hỏi đại chúng: “Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng?” Đại chúng đồng thanh đáp: “Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói.” 

Tổ Ca-diếp triệu tập đại hội kiết tập, cử ngài lên tòa đọc lại tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài đưa mắt nhìn khắp hội chúng rồi buồn bã nói kệ:

Tỳkheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm!

Du như hư không trung 

Chúng tinh chỉ vô nguyệt.

Dịch:

Tỳkheo các quyến thuộc,

Vắng Phật chẳng trang nghiêm! 

Ví như trong hư không 

Nhiều sao mà không trăng.

Trong đại hội kiết tập chư Tỳ-kheo ngồi đầy đủ mà không có Phật, thì thấy như thiếu cái gì đẹp đẽ, cao quý, chẳng khác như bầu trời có sao mà không trăng. Do đó ngài cảm động nói kệ, đảnh lễ đại chúng rồi lên pháp tòa trùng tuyên lời Phật. Mở đầu bằng câu: Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật tại xứ nói Kinh cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.”

Kiết tập xong, ngài Ca-diếp hỏi: Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng? Đại chúng đồng thanh đáp: Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói khi xưa. Do đó phần kiết tập đầu tiên tuy chưa ghi chép bằng văn tự nhưng rất có giá trị, vì trong hội kiết tập toàn là những vị Thánh tăng.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: 

– Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng? 

Tổ Ca-diếp liền gọi: – A-nan 

Ngài ứng thanh: – Dạ! 

Tổ Ca-diếp bảo: 

– Cây cột phướn trước chùa ngã. 

Ngài nhân đây tỏ ngộ. 

Tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho ngài. Tổ nói kệ: 

Pháp pháp bản lai pháp, 

Vô pháp vô phi pháp. 

Hà ư nhất pháp trung, 

Hữu pháp hữu phi pháp. 

Dịch: 

Các pháp, pháp xưa nay, 

Không pháp, không phi pháp. 

Tại sao trong một pháp 

Có pháp có phi pháp? 

Ngài đảnh lễ thọ nhận.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: Khi Thế Tôn phủ chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn truyền pháp gì riêng nữa chăng? Tổ Ca-diếp liền gọi A-nan. A-nan dạ. Tổ Ca-diếp bảo cây cột phướn trước chùa ngã. Ngài nhân đây tỏ ngộ. Đó là điều đặc biệt, có liên hệ đến các thiền sư sau này.

Tổ Ca-diếp kêu ngài A-nan, A-nan dạ. Một hôm, Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả, thị giả dạ! Sư gọi như thế ba lần thị giả cũng dạ ba lần. Ngài bảo: Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta. Như vậy khi kêu mà dạ là có ý gì trong đó.

Khi ngài A-nan tỏ ngộ, tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng cho ngài. Tổ nói kệ:

Các pháp, pháp xưa nay,

Không pháp, không phi pháp. 

Tại sao trong một pháp 

Có pháp có phi pháp? 

Chữ pháp này có hai nghĩa, nghĩa hẹp và rộng. Nghĩa hẹp chữ pháp là chỉ vật này vật nọ, mà người Việt Nam nói cái này cái kia, như cái bàn cái tủ v.v… mỗi cái đều là một pháp.

Có một pháp từ xưa nhẫn đến nay không bị đổi dời, không bị vô thường, pháp đó là một trong các pháp, nhưng nói một pháp cũng không đúng. Bởi vì các pháp có hình tướng đều bị vô thường sanh diệt, nhưng pháp ấy không hình tướng nên không bị sanh diệt. Cái sẵn có không phải pháp, tức là không phải thật có hình tướng như những sự vật, nó cũng không phải là không phải pháp, bởi vì nó thường hằng.

Nói dễ hiểu hơn, từ xưa đến giờ có một cái không sanh không diệt, không thuộc có không thuộc không, cho nên nói Tại sao trong một pháp lại có pháp và phi pháp? Tại sao trong một cái mà nói là có là không? Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ thấy trong nhà Thiền không chấp nhận hai bên, vì hai bên có không đều không đúng.

Tóm lại ý bài kệ này nói tất cả hiện tượng mắt chúng ta thấy, gốc từ chân tâm mà ra. Đã từ chân tâm mà nói có nói không, nói phải nói quấy thì không đúng. Đã từ một nguồn gốc chân tâm thì không thấy hai, nếu thấy hai thì đã quên gốc rồi.

Khi ấy ngài A-nan liền đảnh lễ thọ nhận.

Môn đệ của ngài có hai vị xuất sắc:Thương-na- hòa-tu và Mạc-điền-để-ca (Mạc-điền-địa). Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa Tổ vị và truyền trao y bát lại. 

Cảm thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm được người kế thừa, ngài dự định vào Niết-bàn. Trước khi vào Niết-bàn, ngài đến từ giã vua A-xà-thế, song không gặp vua. Ngài liền đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi kiết già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông. 

Vua A-xà-thế hay tin ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy ngài ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông bèn đảnh lễ nói kệ:

Khể thủ tam giới Tôn, 

Khí ngã như chí thử. 

Tạm bằng bi nguyện lực 

Thả mạc Bát-niết-bàn. 

Dịch: 

Lạy đấng Tôn tam giới, 

Bỏ con đến nơi này. 

Tạm nương sức bi nguyện, 

Xin chớ vội Niết-bàn. 

Vua nước Tỳ-xá-ly nghe tin cũng đến bên bờ 

sông Hằng, đảnh lễ và nói kệ: 

Tôn giả nhất hà tốc, 

Nhi quy tịch diệt trường! 

Nguyện trụ tu du gian, 

Nhi thọ ư cúng dường. 

Dịch: 

Tôn giả sao quá nhanh,

Sớm vào nơi tịch diệt! 

Xin tạm dừng chốc lát, 

Để nhận con cúng dường. 

Ngài thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ: 

Nhị Vương thiện nghiêm trụ, 

Vật vi khổ bị luyến. 

Niết-bàn đương ngã tịnh, 

Nhi vô chư hữu cố. 

Dịch: 

Hai Vua ở an vui, 

Chớ vì thương buồn khổ.

Niết-bàn, tôi an tịnh 

Vì không còn các nghiệp. 

Ngài giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua họp nhau làm lễ thiêu thân ngài và phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường. 

Trong các môn đệ của ngài, có hai vị đồ đệ xuất sắc là Thương-na-hòa-tu và Mạc-điền-địa. Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa sau này. Khi sắp Niết-bàn, ngài đi thăm vua A-xà-thế rồi lên chiếc thuyền ra giữa sông Hằng. Ranh giới bên này là vua A-xà-thế, bên kia là vua nước Tỳ-xá-ly. Hai nước đang tranh chấp, lấy sông Hằng làm ranh giới. Nếu ngài nhập Niết-bàn ở bên đất của vua A-xà-thế thì vua được trọn quyền xây tháp thờ xá-lợi. Nếu Niết-bàn bên kia thì vua Tỳ-xá-ly được trọn quyền xây tháp cúng dường. Cho nên ngài thả trôi chiếc thuyền giữa dòng sông, giữ tâm bình đẳng vào Niết-bàn. Hai vua nhìn thấy đảnh lễ, nói kệ tán thán, rồi hợp tác với nhau trà-tỳ nhục thân của ngài. Hai bên phân chia xá-lợi bình đẳng xây tháp cúng dường. Đó là chỗ đặc biệt, ngài lựa chỗ chết mà không phiền hà ai hết.

Ananda

(Sanh sau Phật 30 năm)

Ngài con vua Hộc Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ, em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích-ca. Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt vời. Đến hai mươi lăm tuổi xin theo Phật xuất gia. 

Ngài A-nan sanh trong dòng họ vua chúa, em con nhà chú của đức Phật, em ruột của Đề-bà-đạt-đa. Đến hai mươi lăm tuổi bỏ sự giàu sang của thế gian xuất gia làm Tỳ-kheo. Mỗi ngày đi khất thực để tu hành, đó là một điều đáng quý. Đề-bà-đạt-đa thì chống Phật nhưng A-nan theo hầu Phật. Thật là trái ngược nhau.

      Ananda: Trung Hoa dịch là Khánh Hỷ. Vì ngài sanh ngay đêm Phật thành đạo, dân chúng đều vui mừng nên cha mẹ đặt tên là Khánh Hỷ.

Một hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng lòng. Sau cùng, tôn giả Đại Mục-kiền-liên nhập định biết tôn ý Phật muốn A-nan làm thị giả. Đại chúng cử tôn giả Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất… đến yêu cầu ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối, song các tôn giả một bề nài nỉ, buộc lòng ngài phải xin Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, ngài mới dám làm thị giả: 

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. 

2- Không mặc y thừa của Phật. 

3- Không đến Phật phi thời. 

Thế Tôn chẳng những chấp thuận lời xin của ngài, mà còn khen ngợi ngài thông minh biết dự đoán trước những điều sẽ xảy ra. Thế là, ngài theo làm thị giả Phật ngót hai mươi lăm năm. 

Đức Phật già yếu cần có một thị giả. Trong hội chúng ngài Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… xin làm thị giả nhưng toàn những vị lớn tuổi nên Phật không đồng ý. Vì các vị lớn tuổi cũng cần có thị giả, làm sao làm thị giả cho đức Phật. Cuối cùng không ai xin được hết. Lúc đó ngài Mục-kiền-liên nhập định biết ý đức Phật muốn ngài A-nan làm thị giả, nhưng ngài A-nan không có mặt ở đó, ngài đang ở một tịnh thất rất xa. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đại diện đến thỉnh: – Thế Tôn cần ông làm thị giả.

Ngài thưa:

– Tôi không làm thị giả được cho đức Thế Tôn.

– Ông đừng phụ lòng đức Phật.

Thỉnh hoài nhưng ngài một bề từ chối. Cuối cùng ngài mới nói:

Nếu Thế Tôn muốn tôi làm thị giả thì xin chấp nhận ba điều kiện tôi đưa ra.

Các ngài nhận ba điều kiện trở về bạch với đức Phật. Nghe xong Phật không quở mà còn khen, nên chấp nhận ngài làm thị giả. Ba điều đó là:

1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. Nếu thí chủ mời tất cả chúng đi thọ trai thì ngài cùng đi, khi nào chỉ mời Phật mà không mời thị giả thì ngài không đi. Tại sao? Tại vì A-nan sợ chúng sẽ nói ông A-nan vì ham ăn uống ngon mà theo làm thị giả Phật.

2- Không mặc y thừa của Phật. Thí chủ cúng dường đức Phật rất nhiều y tốt. Phật dùng không hết nên phải cho bớt. Nếu cho ngài thì nhất định không nhận, để tránh tiếng vì ham mặc y tốt mà làm thị giả cho đức Thế Tôn. Tại sao? Vì thí chủ cúng dường y cho Phật thì cúng y tốt. Cúng dường thực phẩm cho Phật thì cúng thực phẩm ngon, trước đó đã không chịu theo Phật thọ trai riêng thì bây giờ không chịu mặc y tốt.

3- Không đến Phật phi thời. Ngài đến đúng giờ chứ không phải lúc nào cũng đến. Thị giả cũng có thì giờ chừng mực, tức là điều độ, chứ không phải bất thường.

Ngài làm thị giả đức Phật hai mươi lăm năm, mà chưa bao giờ bị Phật rầy. Khi nào Phật cần ngài mới đến, ngài tránh khi Phật không cần. Ngài đoán biết Phật muốn gì để làm như ý Phật. Bây giờ thị giả hầu Thầy mỗi ngày bị rầy tối thiểu hai ba lần, còn ngài hầu Phật hai mươi lăm năm, nhưng chỉ có một lần bị Phật quở không phải vì ngài sai, mà do ngài bênh vực một vị khác. Đây là một thị giả đặc biệt. Ngài rất thông minh nghe Phật thuyết pháp nhớ không sót một chữ, như rót nước từ bình này qua bình kia không rơi một giọt ra ngoài.

Hôm nọ, ngài đi khất thực về đến tinh xá Phật, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần áo bụi bặm, chân dính bùn nhơ, vẻ người bi thảm. Ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa đến tìm xin Phật xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho. Ngài cảm động, vào đảnh lễ Phật xin cho Bà được xuất gia. Phật nhiều lần từ chối, ngài vẫn kiên chí xin kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất gia, chính ngài là người tích cực khai đường vậy. 

Chính đức Phật đã từng khen ngài: “Thị giả các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan” Và Phật khen A-nan được tám điều chưa từng có.

Một hôm ngài đi khất thực về đến tinh xá, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm công nương đang đứng tựa cửa khóc. Quý bà đi bộ từ Ca-tỳ-la-vệ đến Tỳ-xá-ly, quần áo dính bụi bặm, đi chân không nên bị trầy sướt rướm máu. Thấy vậy, ngài rất thương xót hỏi duyên cớ. Bà mới thuật lại là bà xin Phật xuất gia mà Phật không cho. Nghe nói như vậy ngài cảm động quá, nên đến đảnh lễ Phật cầu xin hai ba lần, Phật vẫn từ chối.

Ngài kể rằng khi hoàng hậu Ma-da băng hà, Thái tử còn nhỏ, Di mẫu là người nuôi nấng Thái tử cho đến khôn lớn, công ơn biết bao nhiêu, bây giờ xin Phật xuất gia, ngài không nghĩ công ơn lại từ chối. Phật trả lời: Ta đã hướng dẫn Phụ hoàng và Di mẫu quy y, gìn giữ năm giới, đó là ta đã đền ơn rồi.

Bao nhiêu năm nuôi dưỡng, chỉ hướng dẫn quy y thọ năm giới là đã đền ơn, sao dễ quá vậy? Chúng ta mới nghe qua thấy rất thường, nhưng trong đạo đó là một lẽ thật. Bởi vì săn sóc nuôi dưỡng cha mẹ được cơm no áo ấm, nhẹ nhàng khỏe khoắn đó là chỉ lo xác thân. Nếu cha mẹ không biết tu, không biết làm điều thiện thì khi nhắm mắt vướng vào cảnh khổ không biết ngày nào ra khỏi. Bây giờ khuyên cha mẹ bỏ điều ác, làm việc lành, quy y Tam bảo, giữ năm giới, nhất định không còn đọa trong những đường khổ. Như vậy mới cứu được cha mẹ ở hiện tại và mai sau. Chúng ta thương cha mẹ phần thể xác chưa đủ, mà phải tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành, mới đúng tinh thần người con Phật biết thương cha mẹ.

Ngài tha thiết cầu xin đến ba lần mà đức Phật nhất định không cho quý bà xuất gia. Cuối cùng Phật cầm lòng không được, phải ra tám điều kiện tức Bát kỉnh pháp. Di mẫu chấp nhận và thưa, Phật đưa ra một ngàn điều bà cũng giữ được chứ đừng nói chỉ có tám điều. Bà rất hoan hỷ khi được xuất gia, là Ni trưởng của giáo đoàn Ni đầu tiên trong thời đức Phật. Ngài A-nan có công rất lớn đối với phái nữ, cho nên bây giờ đúng ra bên Ni phải thờ ngài A-nan như một vị Tổ.

Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ nói Phật bất công. Tại sao bên nam xin cho liền, còn bên nữ năn nỉ nhiều lần Phật không cho. Tại sao? Khi Phật mới thành đạo không có tinh xá, đi lang thang nay chỗ này mai chỗ khác không dừng trụ. Chư tăng thì được nhưng người nữ đi lang thang nguy hiểm vô cùng. Do đó Phật không cho phái nữ xuất gia. Ngài A-nan ép lắm Phật mới cho. Bây giờ có chùa Tăng chùa Ni đầy đủ thì giải quyết bình đẳng. Hiểu điều này chúng ta mới thấy Phật không bất công.

Phật từng khen ngài A-nan: Thị giả các đức Phật đời quá khứ không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan. Như vậy ngài A-nan là người thị giả không ai hơn được. Trong kinh A-hàm, đức Phật cũng nói A-nan có tám điều chưa từng có:

1- Tín căn bền vững.

2- Tâm tính chất trực.

3- Thân không bệnh khổ.

4- Thường xuyên tinh tấn.

5- Niệm căn đầy đủ.

6- Tâm không kiêu mạn.

7- Thành tựu định ý.

8- Từ nghe sanh trí.

Sau khi Phật Niết-bàn, tổ Ca-diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo kiết tập kinh điển, ngài là người được toàn đại hội đề cử kiết tập tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài nhìn qua đại chúng nói kệ: 

Tỳ-kheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm

Du như hư không trung 

Chúng tinh chỉ vô nguyệt. 

Dịch: 

Tỳ-kheo các quyến thuộc, 

Vắng Phật chẳng trang nghiêm! 

Ví như trong hư không 

Nhiều sao mà không trăng. 

Nói kệ xong, ngài đảnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ… nói Kinh… ” cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.” 

Ngài kiết tập Kinh xong, tổ Ca-diếp hỏi đại chúng: “Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng?” Đại chúng đồng thanh đáp: “Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói.” 

Tổ Ca-diếp triệu tập đại hội kiết tập, cử ngài lên tòa đọc lại tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài đưa mắt nhìn khắp hội chúng rồi buồn bã nói kệ:

Tỳkheo chư quyến thuộc,

Ly Phật bất trang nghiêm!

Du như hư không trung 

Chúng tinh chỉ vô nguyệt.

Dịch:

Tỳkheo các quyến thuộc,

Vắng Phật chẳng trang nghiêm! 

Ví như trong hư không 

Nhiều sao mà không trăng.

Trong đại hội kiết tập chư Tỳ-kheo ngồi đầy đủ mà không có Phật, thì thấy như thiếu cái gì đẹp đẽ, cao quý, chẳng khác như bầu trời có sao mà không trăng. Do đó ngài cảm động nói kệ, đảnh lễ đại chúng rồi lên pháp tòa trùng tuyên lời Phật. Mở đầu bằng câu: Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật tại xứ nói Kinh cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.”

Kiết tập xong, ngài Ca-diếp hỏi: Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng? Đại chúng đồng thanh đáp: Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói khi xưa. Do đó phần kiết tập đầu tiên tuy chưa ghi chép bằng văn tự nhưng rất có giá trị, vì trong hội kiết tập toàn là những vị Thánh tăng.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: 

– Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng? 

Tổ Ca-diếp liền gọi: – A-nan 

Ngài ứng thanh: – Dạ! 

Tổ Ca-diếp bảo: 

– Cây cột phướn trước chùa ngã. 

Ngài nhân đây tỏ ngộ. 

Tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho ngài. Tổ nói kệ: 

Pháp pháp bản lai pháp, 

Vô pháp vô phi pháp. 

Hà ư nhất pháp trung, 

Hữu pháp hữu phi pháp. 

Dịch: 

Các pháp, pháp xưa nay, 

Không pháp, không phi pháp. 

Tại sao trong một pháp 

Có pháp có phi pháp? 

Ngài đảnh lễ thọ nhận.

Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: Khi Thế Tôn phủ chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn truyền pháp gì riêng nữa chăng? Tổ Ca-diếp liền gọi A-nan. A-nan dạ. Tổ Ca-diếp bảo cây cột phướn trước chùa ngã. Ngài nhân đây tỏ ngộ. Đó là điều đặc biệt, có liên hệ đến các thiền sư sau này.

Tổ Ca-diếp kêu ngài A-nan, A-nan dạ. Một hôm, Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả, thị giả dạ! Sư gọi như thế ba lần thị giả cũng dạ ba lần. Ngài bảo: Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta. Như vậy khi kêu mà dạ là có ý gì trong đó.

Khi ngài A-nan tỏ ngộ, tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng cho ngài. Tổ nói kệ:

Các pháp, pháp xưa nay,

Không pháp, không phi pháp. 

Tại sao trong một pháp 

Có pháp có phi pháp? 

Chữ pháp này có hai nghĩa, nghĩa hẹp và rộng. Nghĩa hẹp chữ pháp là chỉ vật này vật nọ, mà người Việt Nam nói cái này cái kia, như cái bàn cái tủ v.v… mỗi cái đều là một pháp.

Có một pháp từ xưa nhẫn đến nay không bị đổi dời, không bị vô thường, pháp đó là một trong các pháp, nhưng nói một pháp cũng không đúng. Bởi vì các pháp có hình tướng đều bị vô thường sanh diệt, nhưng pháp ấy không hình tướng nên không bị sanh diệt. Cái sẵn có không phải pháp, tức là không phải thật có hình tướng như những sự vật, nó cũng không phải là không phải pháp, bởi vì nó thường hằng.

Nói dễ hiểu hơn, từ xưa đến giờ có một cái không sanh không diệt, không thuộc có không thuộc không, cho nên nói Tại sao trong một pháp lại có pháp và phi pháp? Tại sao trong một cái mà nói là có là không? Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ thấy trong nhà Thiền không chấp nhận hai bên, vì hai bên có không đều không đúng.

Tóm lại ý bài kệ này nói tất cả hiện tượng mắt chúng ta thấy, gốc từ chân tâm mà ra. Đã từ chân tâm mà nói có nói không, nói phải nói quấy thì không đúng. Đã từ một nguồn gốc chân tâm thì không thấy hai, nếu thấy hai thì đã quên gốc rồi.

Khi ấy ngài A-nan liền đảnh lễ thọ nhận.

Môn đệ của ngài có hai vị xuất sắc:Thương-na- hòa-tu và Mạc-điền-để-ca (Mạc-điền-địa). Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa Tổ vị và truyền trao y bát lại. 

Cảm thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm được người kế thừa, ngài dự định vào Niết-bàn. Trước khi vào Niết-bàn, ngài đến từ giã vua A-xà-thế, song không gặp vua. Ngài liền đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi kiết già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông. 

Vua A-xà-thế hay tin ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy ngài ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông bèn đảnh lễ nói kệ:

Khể thủ tam giới Tôn, 

Khí ngã như chí thử. 

Tạm bằng bi nguyện lực 

Thả mạc Bát-niết-bàn. 

Dịch: 

Lạy đấng Tôn tam giới, 

Bỏ con đến nơi này. 

Tạm nương sức bi nguyện, 

Xin chớ vội Niết-bàn. 

Vua nước Tỳ-xá-ly nghe tin cũng đến bên bờ 

sông Hằng, đảnh lễ và nói kệ: 

Tôn giả nhất hà tốc, 

Nhi quy tịch diệt trường! 

Nguyện trụ tu du gian, 

Nhi thọ ư cúng dường. 

Dịch: 

Tôn giả sao quá nhanh,

Sớm vào nơi tịch diệt! 

Xin tạm dừng chốc lát, 

Để nhận con cúng dường. 

Ngài thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ: 

Nhị Vương thiện nghiêm trụ, 

Vật vi khổ bị luyến. 

Niết-bàn đương ngã tịnh, 

Nhi vô chư hữu cố. 

Dịch: 

Hai Vua ở an vui, 

Chớ vì thương buồn khổ.

Niết-bàn, tôi an tịnh 

Vì không còn các nghiệp. 

Ngài giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua họp nhau làm lễ thiêu thân ngài và phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường. 

Trong các môn đệ của ngài, có hai vị đồ đệ xuất sắc là Thương-na-hòa-tu và Mạc-điền-địa. Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa sau này. Khi sắp Niết-bàn, ngài đi thăm vua A-xà-thế rồi lên chiếc thuyền ra giữa sông Hằng. Ranh giới bên này là vua A-xà-thế, bên kia là vua nước Tỳ-xá-ly. Hai nước đang tranh chấp, lấy sông Hằng làm ranh giới. Nếu ngài nhập Niết-bàn ở bên đất của vua A-xà-thế thì vua được trọn quyền xây tháp thờ xá-lợi. Nếu Niết-bàn bên kia thì vua Tỳ-xá-ly được trọn quyền xây tháp cúng dường. Cho nên ngài thả trôi chiếc thuyền giữa dòng sông, giữ tâm bình đẳng vào Niết-bàn. Hai vua nhìn thấy đảnh lễ, nói kệ tán thán, rồi hợp tác với nhau trà-tỳ nhục thân của ngài. Hai bên phân chia xá-lợi bình đẳng xây tháp cúng dường. Đó là chỗ đặc biệt, ngài lựa chỗ chết mà không phiền hà ai hết.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.