Pháp Yếu Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán giảng giải

Phần Chánh Tông - Chương 1: Cụ Duyên -



Phần chánh tông là phần căn bản của quyển sách. Phần này nói về những điều kiện thiết yếu mà người bước đầu tu thiền phải áp dụng trước. Thực hành được những điều kiện này rồi thì sự tu mới có kết quả, nếu bỏ qua không ứng dụng nỗ lực tu mà muốn có kết quả tốt thì không thể được.

Chánh văn:

Phàm người phát tâm thực hành, muốn tu Chỉ Quán cần phải đủ năm duyên:

1- Giữ giới thanh tịnh.

2- Ăn mặc đầy đủ.

3- Yên ở chỗ vắng.

4- Hết các sự ràng buộc.

5- Gần gũi thiện tri thức.

I- Giữ giới thanh tịnh

Như trong kinh dạy: “Nương nơi giới luật được sanh các thứ thiền định và trí tuệ diệt khổ. Thế nên, Tỳ-kheo phải giữ giới thanh tịnh.” Nhưng người giữ giới chia ba hạng:

  1. Người khi chưa làm đệ tử Phật, không tạo tội ngũ nghịch, sau gặp thầy lành dạy thọ tam quy ngũ giới làm đệ tử Phật, hoặc được xuất gia thọ mười giới làm Sa-di, kế thọ Cụ túc giới làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Từ khi thọ giới về sau gìn giữ thanh tịnh không có hủy phạm, ấy gọi là người trì giới bậc thượng. Người ấy tu hành Chỉ Quán ắt chứng được Phật pháp, ví như cái áo trắng dễ nhuộm màu.
  2. Nếu người thọ giới rồi, tuy không phạm giới trọng, phần nhiều phạm các giới khinh, vì tu thiền định nên theo đúng pháp sám hối. Người ấy cũng gọi là trì giới thanh tịnh, phát sanh trí tuệ. Ví như cái áo đã dơ, nay đem giặt sạch, nhuộm cũng có thể được.
  3. Hoặc người thọ giới rồi, không kiên tâm gìn giữ, các giới khinh giới trọng phần nhiều đều phạm. Nếu y theo giáo lý Tiểu thừa thì phạm tứ trọng không thể sám hối. Nếu y theo giáo lý Đại thừa thì có thể trừ diệt được. Cho nên kinh chép: “Trong Phật pháp có hai hạng người mạnh mẽ: Một là người không làm ác. Hai là người làm rồi biết sám hối.”

Người muốn sám hối phải đủ mười pháp trợ lực mới thành tựu:

1/ Tin chắc nhân quả.

2/ Sanh tâm kinh sợ.

3/ Khởi lòng hổ thẹn.

4/ Cầu phương pháp diệt tội. Như trong kinh Đại thừa dạy các phương pháp thực hành, phải đúng như vậy mà tu tập.

5/ Phát lồ các tội trước.

6/ Đoạn tâm tương tục.

7/ Khởi tâm hộ trì Phật pháp.

8/ Phát đại thệ nguyện, độ thoát chúng sanh.

9/ Thường tưởng nhớ mười phương chư Phật.

10/ Quán tội tánh vốn không sanh.

Nếu đã đủ mười duyên, hành giả trang nghiêm đạo tràng, tẩy rửa sạch sẽ, đắp y thanh tịnh, đốt hương và tán hoa, ở trước Tam bảo như pháp sám hối. Hoặc bảy ngày, hai mươi mốt ngày, một tháng, ba tháng, cho đến nhiều năm, hành giả chuyên tâm sám hối tội trọng đã phạm, khi nào diệt được mới thôi.

Thế nào là tướng tội trọng diệt? Nếu hành giả chí tâm sám hối như thế, tự biết thân tâm nhẹ nhàng, thấy mộng tốt, hoặc thấy điềm linh tướng lạ, hoặc biết thiện tâm khai phát, hoặc tại chỗ ngồi biết thân như mây như bóng, nhân đó lần lần chứng được các cảnh giới thiền. Hoặc tâm hiểu ngộ rỗng suốt, hay biết pháp tướng, tùy nghe kinh liền thấu đạt nghĩa lý, nhân đó được pháp hỷ, tâm không lo rầu hối hận. Những tướng trạng ấy tức là tướng tội phá giới được tiêu diệt. Từ đây về sau kiên trì giới cấm, cũng gọi là trì giới thanh tịnh, có thể tu thiền định được. Ví như cái áo rách và dơ, nếu vá lành lại, đem giặt sạch sẽ cũng có thể nhuộm được.

Nếu người phạm trọng giới rồi, e chướng ngại thiền định, tuy không y các kinh tu các hạnh pháp, chỉ sanh tâm rất hổ thẹn, đối trước Tam bảo phát lồ tội trước, đoạn tâm tương tục, thân thường ngồi ngay thẳng, quán tội tánh vốn không, niệm mười phương chư Phật; hoặc khi xuất thiền, chí tâm thắp hương lễ bái, sám hối, tụng giới và tụng các kinh Đại thừa, trọng tội chướng đạo lần lần tiêu diệt, nhân đây giới được thanh tịnh, thiền định khai phát. Cho nên kinh Diệu Thắng Định chép: “Nếu người đã phạm tội trọng, sanh tâm kinh sợ, muốn tìm cách trừ diệt, nếu ngoài thiền định không có pháp nào diệt được. Người ấy nên ở chỗ vắng vẻ thường ngồi nhiếp tâm và tụng kinh Đại thừa, tất cả tội trọng thảy đều tiêu diệt, các thiền tam-muội tự nhiên hiện tiền.”

II- Ăn mặc đầy đủ.

  1. Sự mặc có ba thứ
  2. Như vị Đại sĩ núi Tuyết đức Thích-ca chỉ cần một chiếc y rách che thân là đủ, vì không dạo trong xóm làng, sức kham nhẫn được thành tựu.
  3. Như ngài Đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu-đà, chỉ chứa ba cái y phấn tảo, không chứa các y khác.
  4. Nếu ở xứ lạnh nhiều và nhẫn lực chưa thành, ngoài ba y, Như Lai cũng cho chứa các vật khác; nhưng cần phải thuyết tịnh, biết lượng sức mình và biết đủ, nếu tham cầu cất chứa nhiều thì loạn tâm, chướng ngại đạo.
  5. Sự ăn có bốn thứ
  6. Nếu là bậc thượng nhân đại sĩ vào nơi thâm sơn, xa hẳn thế tục, chỉ tùy thời dùng rau quả nuôi thân.
  7. Thường hành đầu-đà thọ pháp khất thực, phá bốn thứ tà mạng, sống theo chánh mạng hay sanh thánh đạo.

Bốn thứ tà mạng là:

1/ Trồng trọt nuôi sống.

2/ Xem thiên văn.

3/ Tìm cách mưu sinh.

4/ Giong ruổi bốn phương mong cầu sự sống hoặc coi bói, thuốc thang…

Tướng tà mạng như ngài Xá-lợi-phất vì Thanh Mục Nữ nói.

  1. Ở chỗ vắng vẻ nhờ đàn-việt đem đến cúng.
  2. Ở trong chúng tăng ăn uống đúng pháp.

Bởi có những duyên này, nên gọi ăn mặc đầy đủ. Vì cớ sao? Vì không có những duyên này thì tâm không an ổn, chướng ngại trên đường đạo.

III- Yên ở chỗ vắng vẻ

Không làm các việc gọi là yên. Chỗ không ồn náo gọi là vắng vẻ. Có ba chỗ có thể tu thiền định:

  1. Chỗ núi sâu không có người đến.
  2. Chỗ vắng vẻ hành đầu-đà, cách xa làng xóm ít nữa cũng ba bốn dặm, bặt tiếng mục đồng, không còn các tiếng ồn.
  3. Ở trong ngôi già-lam thanh tịnh, cách xa kẻ thế tục.

Ở những nơi ấy đều gọi là “yên ở chỗ vắng vẻ”.

IV- Dứt các sự ràng buộc

Có bốn thứ:

  1. Dứt việc làm nuôi sống: Tức là không tạo sự nghiệp thế gian.
  2. Dứt việc kết giao với nhân gian: Không kết bạn thân với người thế tục, cắt đứt mọi sự giao thiệp.
  3. Dứt các kỹ thuật khéo léo: Không làm thợ khéo, thầy thuốc, thầy bùa, thầy bói, thầy tướng, thầy số…
  4. Dứt sự học vấn: Những việc đọc sách, học hỏi đều bỏ.

Đây là dứt bỏ các việc ràng buộc. Tại sao như thế? Vì còn nhiều việc ràng buộc thì việc hành đạo phải bê trễ, tâm loạn động khó nhiếp phục.

V- Gần gũi thiện tri thức

Thiện tri thức có:

  1. Ngoại hộ thiện tri thức: Là người hay kinh doanh, cúng dường ủng hộ người tu, để cho người tu khỏi lo phiền rối loạn.
  2. Đồng hạnh thiện tri thức: Người đồng đạo tu hành, nhắc nhở cảnh giác lẫn nhau, không nhiễu loạn nhau.
  3. Giáo thọ thiện tri thức: Bậc thầy chỉ đạo, lấy những pháp môn thiền định phương tiện điều phục nội ngoại, chỉ dạy cho được lợi hỷ.

Giảng:

Phàm người phát tâm thực hành, muốn tu Chỉ Quán cần phải đủ năm duyên:

1- Giữ giới thanh tịnh.

2- Ăn mặc đầy đủ.

3- Yên ở chỗ vắng.

4- Hết các sự ràng buộc.

5- Gần gũi thiện tri thức.

Chỉ Quán tức là thiền định, cụ duyên là đầy đủ các duyên. Người tu thiền phải đầy đủ các duyên thì sự tu mới được kết quả.

I- Giữ giới thanh tịnh

Như trong kinh dạy: “Nương nơi giới luật được sanh các thứ thiền định và trí tuệ diệt khổ. Thế nên, Tỳ-kheo phải giữ giới thanh tịnh.” Nhưng người giữ giới chia ba hạng:

  1. Người khi chưa làm đệ tử Phật, không tạo tội ngũ nghịch, sau gặp thầy lành dạy thọ tam quy ngũ giới làm đệ tử Phật, hoặc được xuất gia thọ mười giới làm Sa-di, kế thọ Cụ túc giới làm Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Từ khi thọ giới về sau gìn giữ thanh tịnh không có hủy phạm, ấy gọi là người trì giới bậc thượng. Người ấy tu hành Chỉ Quán ắt chứng được Phật pháp, ví như cái áo trắng dễ nhuộm màu.

Hạng thứ nhất chỉ cho người bậc thượng, khi vào đạo được thọ giới, từ tam quy ngũ giới cho đến Sa-di, Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni. Những vị này giữ giới thanh tịnh hoàn toàn, ví như chiếc áo trắng muốn nhuộm màu xanh vàng đỏ gì cũng được dễ dàng.

  1. Nếu người thọ giới rồi, tuy không phạm giới trọng, phần nhiều phạm các giới khinh, vì tu thiền định nên theo đúng pháp sám hối. Người ấy cũng gọi là trì giới thanh tịnh, phát sanh trí tuệ. Ví như cái áo đã dơ, nay đem giặt sạch, nhuộm cũng có thể được.

Hạng thứ hai là những người đã thọ giới, tuy gìn giữ giới trọng mà chưa giữ được giới khinh. Như người xuất gia thọ Sa-di giữ mười giới, nếu ăn phi thời là phạm vào giới khinh. Cư sĩ tại gia thọ năm giới thì nói dối hay uống rượu là phạm giới khinh. Nếu lỡ phạm vào giới khinh, mà vì muốn tu thiền định, thì nên theo đúng pháp sám hối. Sám hối được thanh tịnh sẽ phát sanh trí tuệ.

Như vậy người xuất gia hay tại gia, nếu phạm giới khinh có thể sám hối thì tu thiền vẫn có kết quả chứ không phải lỡ phạm rồi không tu được. Có người cho rằng mình giữ giới không được nên không tu, đó là cố chấp sai lầm. Chúng ta tu hành tuy giữ giới còn kém khuyết mà biết sám hối thì vẫn tu được. Như chiếc áo dù có dơ phần nào nhưng đem giặt sạch, nhuộm màu cũng được.

  1. Hoặc người thọ giới rồi, không kiên tâm gìn giữ, các giới khinh giới trọng phần nhiều đều phạm. Nếu y theo giáo lý Tiểu thừa thì phạm tứ trọng không thể sám hối. Nếu y theo giáo lý Đại thừa thì có thể trừ diệt được. Cho nên kinh chép: “Trong Phật pháp có hai hạng người mạnh mẽ: Một là người không làm ác. Hai là người làm rồi biết sám hối.”

Hạng thứ ba là người đối với những giới đã lãnh thọ, trọng hoặc khinh đều phạm. Căn cứ theo giáo lý Tiểu thừa thì phạm tứ trọng sát đạo dâm vọng, là tội nặng không thể sám hối. Nếu y theo tinh thần Đại thừa thì có thể sám hối trừ diệt được.

Thời Phật, người phạm tội nặng nhất là vua A-xà-thế. Ông ra lệnh bắt giam vua cha, rồi tìm cách hại chết để cướp ngôi. Trong giới luật, tội giết cha là phạm vào ngũ nghịch, không thể sám hối. Sau vua A-xà-thế hối hận tìm đến chỗ Phật. Phật dạy, nếu biết tội rồi phải khéo tu, gắng tạo phước đức làm lợi ích cho mọi người thì tội có thể qua. Ông xin quy y Phật, tu tập được nhiều lợi lạc. Như vậy người phạm tội nặng biết sám hối làm lành vẫn có thể tu tốt.

Người muốn sám hối phải đủ mười pháp trợ lực mới thành tựu:

1/ Tin chắc nhân quả.

2/ Sanh tâm kinh sợ.

3/ Khởi lòng hổ thẹn.

4/ Cầu phương pháp diệt tội. Như trong kinh Đại thừa dạy các phương pháp thực hành, phải đúng như vậy mà tu tập.

5/ Phát lồ các tội trước.

6/ Đoạn tâm tương tục.

7/ Khởi tâm hộ trì Phật pháp.

8/ Phát đại thệ nguyện, độ thoát chúng sanh.

9/ Thường tưởng nhớ mười phương chư Phật.

10/ Quán tội tánh vốn không sanh.

Muốn sám hối phải đủ mười pháp trợ lực:

1/ Tin chắc nhân quả . Nếu người trước lỡ phạm tội nay cải hối quyết tâm tu, thì phải có lòng tin nhân quả mạnh mẽ.

Hiện giờ chúng ta tu có tin nhân quả mạnh không? Thấy nhân quả như dễ, ai cũng tưởng là mình tin mạnh lắm. Nhưng thật ra chưa đủ mạnh. Tại sao? Nếu tin nhân quả mạnh, làm nhân lành sẽ có quả lành, làm nhân ác sẽ có quả ác, đó là điều chắc chắn không thể nào sai chạy, thì chúng ta đâu phải lo sợ ngày xấu hay ngày tốt.

Ai cũng tin làm lành có phước, làm ác có tội, nhưng lòng tin còn yếu chưa đủ mạnh. Ví dụ người đời phát tâm đi cứu trợ nạn lụt, nếu nhằm ngày mùng năm thì không dám đi, phải dời qua ngày mùng sáu. Cứu trợ là làm việc lành, tạo nhân lành thì ngày nào đi cũng tốt, tại sao lại sợ ngày mùng năm? Vì lòng tin chưa mạnh.

Chúng ta là người xuất gia, đôi khi chuẩn bị cất chùa cũng còn lựa chọn ngày tháng. Chùa là nơi thờ Phật để Phật tử tới bái sám tụng kinh nghe pháp, đó là điều lành. Đã là điều lành thì cất ngày nào cũng là ngày tốt, đâu có gì nghi ngờ. Vì vậy nếu chúng ta tin chắc nhân quả thì đó là trợ lực đầu tiên để thành tựu pháp sám hối.

2/ Sanh tâm kinh sợ. Khi đã biết tội lỗi, từ đó về sau sợ không dám làm nữa; còn sám hối rồi mà sau gặp việc lại phạm là chưa có tâm kinh sợ.

3/ Khởi lòng hổ thẹn . Nếu đã thọ giới rồi mà còn phạm thì lúc nào trong lòng cũng hối hận ăn năn vì chưa làm tròn, phải sanh tâm hổ thẹn không dám phạm.

4/ Cầu phương pháp diệt tội . Muốn cầu phương pháp diệt tội, như trong các kinh Đại thừa: Kim Cang, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm v.v… có chỉ dạy, muốn tội lỗi tiêu diệt phải luôn phát tâm mạnh mẽ quên mình vì người, làm lợi ích cho chúng sanh, mới có thể sạch được những tội lỗi đã phạm.

5/ Phát lồ các tội trước. Phát lồ nói đủ là phát lồ sám hối nghĩa là trình bày những lỗi lầm đã phạm, phát lồ sám hối trước Phật và chúng tăng chứng minh, để chúng ta nhớ mãi mà không phạm.

6/ Đoạn tâm tương tục. Tâm tương tục là tâm nối tiếp luôn luôn không dừng. Nếu phạm giới sám hối rồi mà vẫn cứ phạm, là còn tâm tương tục chưa thể hết tội.

7/ Khởi tâm hộ trì Phật pháp. Người tội lỗi nhiều muốn được nhẹ cần phải khởi tâm hộ trì Phật pháp, nguyện nơi nào có truyền bá chánh pháp, có những Phật sự chân chánh thì sẵn sàng hộ trì.

8/ Phát đại thệ nguyện, độ thoát chúng sanh. Tuy phạm giới nhưng biết mình xấu dở nên hết lòng ăn năn hối cải, phát đại thệ nguyện trước Phật Bồ-tát và chúng tăng, từ đây về sau đem thân làm lợi ích chúng sanh, dù có khó khổ hiểm nguy cũng không sợ.

9/ Thường tưởng nhớ mười phương chư Phật. Chúng ta đọc kinh thấy kể lại công đức của chư Phật, như đức Phật Thích-ca-mâu-ni, ngài đã hy sinh trọn cuộc đời tu hành giác ngộ truyền bá chánh pháp, nhờ đó mà chúng ta mới biết pháp để tu tập. Tưởng nhớ công đức của chư Phật ở mười phương cũng như vậy, chúng ta quý kính bắt chước làm theo.

10/ Quán tội tánh vốn không sanh. Thông thường chúng ta đều thấy tội thật phước thật, cái gì cũng thật. Nhưng đây nói, nếu muốn tất cả tội được tiêu diệt thì phải quán tánh tội vốn không. Vậy tội xuất phát từ đâu ra, tại sao tội tánh vốn không?

Thân khẩu ý tạo tội thành nghiệp, tội nặng tội nhẹ đều từ đó mà ra. Trong ba nghiệp, động cơ chủ yếu là ý nên nói ý là chủ. Ý nghĩ lành thì miệng nói lành thân làm lành là tạo nghiệp thiện. Ý nghĩ dữ thì miệng nói dữ thân làm dữ là tạo nghiệp ác. Tạo nghiệp lành là tạo phước, tạo nghiệp ác là tạo tội. Như vậy tạo tội hay phước đều gốc từ ý mà ra, nhưng ý là thật hay giả? Khi dấy nghĩ khởi niệm phân biệt tính toán, lúc đó là ý động. Ngay lúc dấy khởi đó chúng ta nhìn lại tìm xem nó ở đâu, gốc gác hình dáng của nó ra sao? Nhìn lại thì nó liền tiêu mất, không thật có. Nếu thật có thì tất cả thiện ác mới thật, ý là mấu chốt tạo tội mà bản chất không thật, thì những thứ do nó tạo ra làm sao thật được. Như món đồ giả, dù có làm gì thì cũng không thể trở thành đồ thật. Quán như vậy gọi là quán tội tánh vốn không.

Trong thiền sử ghi lại, tổ Tăng Xán là vị tổ thứ ba của Thiền tông Trung Hoa, ngài bị bệnh hủi, đến gặp tổ Huệ Khả thưa:

– Bạch Hòa thượng, dạy cho con pháp sám hối tội.

Tổ Huệ Khả bảo:

– Đem tội ra ta sám cho.

Ngài xoay lại xem tội ở đâu, tìm mãi không thấy, nên thưa:

– Con tìm tội không được.

Tổ bảo:

– Ta đã sám hối cho ngươi rồi.

Tổ Tăng Xán nghĩ mình tạo nhiều tội lỗi nên mới mang thân bệnh nguy kịch, ngài xin Tổ dạy cách sám hối cho hết tội. Khi nghe Tổ bảo bèn xoay lại tìm không thấy, mới biết tánh tội vốn không thật. Vì gốc tội từ ý tạo, mà ý không thật thì tội cũng không thật. Biết rõ như vậy tội liền theo đó tiêu tan.

Chỗ này chúng ta cần phải dè dặt, nếu không sẽ lầm lẫn rồi bị đọa. Nếu không quán sát đúng như thật, không thấy hư giả, nghe nói tội tánh là không, rồi mặc tình làm điều tội lỗi thì không được. Ngài Khuê Phong nói, tội từ ý ra, tuy tánh của ý là không, mà theo nó tạo tội thì thành nghiệp. Ví dụ có ai làm điều gì trái ý, chúng ta nổi giận muốn đánh chửi họ thì thành tội, thành nghiệp. Vì còn nóng giận, tham lam là còn tội. Nếu vừa nổi giận liền nhìn lại xem giận từ đâu ra, nhìn một lúc thì cơn giận biến mất. Như vậy, biết rõ tham sân si không thật, khi ý niệm dấy lên liền nhìn lại không theo thì không tạo tội, tội không thì nghiệp cũng mất. Nếu không biết phản quan thì tội phước rõ ràng, chứ đừng nghe nói tội tánh không rồi cứ tạo tội, chết sẽ xuống địa ngục.

Như vậy, mười pháp trợ lực là để giúp chúng ta diệt tội. Cho nên nếu lỡ phạm các giới trọng hoặc khinh, thì phải thành tâm tu mười pháp này để sám hối, mới có thể hết tội.

Nếu đã đủ mười duyên, hành giả trang nghiêm đạo tràng, tẩy rửa sạch sẽ, đắp y thanh tịnh, đốt hương và tán hoa, ở trước Tam bảo như pháp sám hối. Hoặc bảy ngày, hai mươi mốt ngày, một tháng, ba tháng, cho đến nhiều năm, hành giả chuyên tâm sám hối tội trọng đã phạm, khi nào diệt được mới thôi.

Phải thành tâm đúng như pháp sám hối, cho tới khi nào diệt được tội trọng mới thôi. Sám hối rồi bắt đầu tu thiền sẽ có kết quả tốt.

Thế nào là tướng tội trọng diệt? Nếu hành giả chí tâm sám hối như thế, tự biết thân tâm nhẹ nhàng, thấy mộng tốt, hoặc thấy điềm linh tướng lạ, hoặc biết thiện tâm khai phát, hoặc tại chỗ ngồi biết thân như mây như bóng, nhân đó lần lần chứng được các cảnh giới thiền.

Sám hối năm mười ngày hoặc nửa tháng một tháng… bỗng dưng thấy thân tâm nhẹ nhàng khỏe khoắn, thì biết đó là tướng tội đã diệt.

Hoặc khi sám hối một thời gian, bỗng nhiên ngủ mộng thấy Phật hoặc chư tăng ni, hoặc thấy cảnh chùa cảnh lành, đó là thấy mộng tốt , chứng tỏ tội đã giảm. Hoặc thấy những điều hiển hiện lạ lùng, như đang sám hối bỗng nghe mùi hương lạ, cảm thấy tâm hồn nhẹ nhàng…, đó là thấy điềm linh hay tướng lạ . Hoặc khi sám hối rồi bỗng dưng phát tâm mạnh mẽ muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, không còn nghĩ riêng tư nữa, đó là tướng thiện tâm khai phát . Hoặc khi đang ngồi hay lạy sám hối, thấy thân nhẹ nhàng như mây, như bóng , như không có thân, thì biết đó là tướng tội đã diệt. Nếu sám hối được như vậy thì tu thiền sẽ đạt kết quả tốt, nên nói nhân đó lần lần chứng được các cảnh giới thiền.

Hoặc tâm hiểu ngộ rỗng suốt, hay biết pháp tướng, tùy nghe kinh liền thấu đạt nghĩa lý, nhân đó được pháp hỷ, tâm không lo rầu hối hận.

Sám hối rồi do ngồi thiền bỗng nhiên tâm hiểu ngộ rỗng suốt, những vấn đề ngày xưa chưa hiểu nay hiểu được, hay biết pháp tướng, câu kinh lời kệ Phật tổ dạy đều thấu đạt nghĩa lý sâu xa. Nhân đó rất vui thích sanh tâm hoan hỷ.

Có nhiều vị đến trình với tôi, trong lúc tu thiền tâm thanh tịnh, phát ra hai hiện tượng lạ: một là vui cười hai ba ngày, hai là khóc nức nở không nín được. Vui cười thì dễ hiểu, vì thấy được sự tốt đẹp của đạo, tin hiểu nên vui. Còn khóc là sao? Người chưa hiểu thường lo nghĩ, không biết khóc như vậy có họa gì không? Chỗ này tôi nói kỹ cho khỏi lo sợ.

Ngày xưa chư tổ ngộ đạo có nhiều vị cũng khóc, như ngài Khuê Phong Tông Mật. Ngài xuất gia thọ giới Tỳ-kheo chưa lâu, một hôm dự trai tăng được cúng đường quyển kinh Viên Giác. Trở về giở kinh ra đọc tới đâu khóc sướt mướt tới đó. Ngài nghĩ, tại sao đọc kinh lại khóc chắc mình có tội lỗi gì đây, nên đến trình thầy. Vị thầy nói đó là ông có duyên với kinh điển Đại thừa, chứ không phải lỗi lầm.

Chúng ta tu hoặc đọc kinh sách có xúc cảm khóc cũng đừng sợ, vì đó chỉ là duyên trước của mình thôi. Ví dụ cha mẹ hoặc người thân thiết của chúng ta đi đâu xa lâu lắm rồi, bất chợt nay về gặp lại thì sao? Có khi cười, có khi khóc. Cười hay khóc cũng là mừng. Bởi vì người thương mà lâu không gặp, giờ gặp lại xúc động quá. Trạng thái cười hoặc khóc đó là để nói lên sự vui mừng được gặp lại người mình quý trọng thân thương.

Cũng vậy, đời trước chúng ta có duyên với đạo, biết tu ít nhiều rồi nhưng quên lãng đi. Đời này ngồi tu đọc kinh, sám, kệ… tự nhiên cảm thấy xúc động nên khóc. Khóc là vì đã từng quen biết mà quên, nay bỗng nhiên gặp lại xúc động quá. Người duyên lớn với Phật pháp mới có những hiện tượng đó, nếu không có duyên thì khi đọc kinh hoặc nghe giảng chỉ buồn ngủ thôi chứ không khóc. Hiểu rồi chúng ta mới thấy ý nghĩa, trong lúc tu an lòng không còn lo sợ, nhân đó mà được pháp hỷ tâm không lo rầu hối hận.

Những tướng trạng ấy tức là tướng tội phá giới được tiêu diệt. Từ đây về sau kiên trì giới cấm, cũng gọi là trì giới thanh tịnh, có thể tu thiền định được. Ví như cái áo rách và dơ, nếu vá lành lại, đem giặt sạch sẽ cũng có thể nhuộm được.

Tuy áo rách dơ nhưng giặt sạch vá lại, đem nhuộm cũng được. Nếu lỡ phạm tội thì phải sám hối với tâm thành tha thiết, trì giới thanh tịnh, có thể tu thiền định. Như vậy trong ba hạng trên ai cũng tu được.

Nếu người phạm trọng giới rồi, e chướng ngại thiền định, tuy không y các kinh tu các hạnh pháp, chỉ sanh tâm rất hổ thẹn, đối trước Tam bảo phát lồ tội trước, đoạn tâm tương tục, thân thường ngồi ngay thẳng, quán tội tánh vốn không, niệm mười phương chư Phật; hoặc khi xuất thiền, chí tâm thắp hương lễ bái, sám hối, tụng giới và tụng các kinh Đại thừa, trọng tội chướng đạo lần lần tiêu diệt, nhân đây giới được thanh tịnh, thiền định khai phát. Cho nên kinh Diệu Thắng Định chép: “Nếu người đã phạm tội trọng, sanh tâm kinh sợ, muốn tìm cách trừ diệt, nếu ngoài thiền định không có pháp nào diệt được. Người ấy nên ở chỗ vắng vẻ thường ngồi nhiếp tâm và tụng kinh Đại thừa, tất cả tội trọng thảy đều tiêu diệt, các thiền tam-muội tự nhiên hiện tiền.”

Nếu đã lỡ phạm tội phải ráng nhiếp tâm tu thiền, đồng thời sám hối và đọc những kinh điển Đại thừa như: Pháp Hoa, Lăng-nghiêm, Kim Cang, Viên Giác… thì các tội lần tiêu diệt hết.

Trong ba phần này, phần thứ nhất là chỉ cho người giữ giới tu thiền sẽ có kết quả tốt. Phần thứ hai, trường hợp lỡ phạm giới khinh, nên thành tâm sám hối lần lần việc tu có kết quả. Phần thứ ba, nếu phạm luôn giới trọng thì phải tha thiết sám hối với tâm chí thành, quán các pháp đều không tự tánh, dần dần tội lỗi tiêu diệt. Như vậy ai tu cũng được, chứ không phải người nào thanh tịnh mới tu thiền, còn lỡ phạm lỗi rồi thì không thể tu thiền. Những trường hợp phạm lỗi mà không biết hối hận, không sám hối thì tu mới không có kết quả.

II- Ăn mặc đầy đủ.

  1. Sự mặc có ba thứ
  2. Như vị Đại sĩ núi Tuyết đức Thích-ca chỉ cần một chiếc y rách che thân là đủ, vì không dạo trong xóm làng, sức kham nhẫn được thành tựu.
  3. Như ngài Đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu-đà, chỉ chứa ba cái y phấn tảo, không chứa các y khác.

Phần này nghiêng về người xuất gia. Nếu tu thiết tha đắc lực như đức Phật Thích-ca, chỉ cần một chiếc y rách che thân là đủ, vì không dạo trong xóm làng, sức kham nhẫn được thành tựu. Can đảm được vậy thì tốt, còn không thì như ngài Đại Ca-diếp thường tu hạnh đầu-đà, chỉ chứa ba y phấn tảo, không chứa các y khác.

  1. Nếu ở xứ lạnh nhiều và nhẫn lực chưa thành, ngoài ba y, Như Lai cũng cho chứa các vật khác; nhưng cần phải thuyết tịnh, biết lượng sức mình và biết đủ, nếu tham cầu cất chứa nhiều thì loạn tâm, chướng ngại đạo.

Hạng thứ ba là chỉ cho chúng ta hiện nay, còn dở không đủ khả năng như Phật có nhẫn lực cao, nên khi ở những chỗ lạnh hoặc nơi nóng bức…, tùy theo hoàn cảnh ngoài ba y Phật còn cho dùng thêm những y phục và vật cần thiết khác, như áo ngắn, áo dài… để đi lại cho thuận tiện, nhưng phải biết thuyết tịnh. Nghĩa là đối những thứ có được phải thuyết tịnh, đây là của người này, người kia, chứ không phải của mình. Cũng đừng cất chứa nhiều, bởi cất chứa nhiều thì loạn tâm.

Có vị khi mới vào tu Chỉ một cái va-li nhỏ, ở chùa chừng năm bảy năm đến lúc đi phải thuê xe chở mới hết, vậy là không tốt. Chúng ta sống phải đơn giản, biết đủ, đừng đòi hỏi nhiều thì đạo đức sẽ tăng trưởng, lòng tham muốn còn thì đạo đức dễ suy giảm. Hai việc này không theo nhau, được nhiều của thì mất đạo đức, muốn có đạo đức thì bớt nhiều của. Người xuất gia phải luôn nhớ như vậy mà sống dè dặt một chút.

Phật tử tại gia tu thiền đối với sự mặc cũng đơn giản một chút, đừng cầu kỳ đòi hỏi kiểu mới nào cũng theo cho kịp, đừng đuổi theo những gì mà người khác có, hay phải mua sắm thứ đắt tiền. Theo đuổi những việc đó tâm sanh rối loạn, không hợp với người tu đạo. Chủ yếu của việc mặc là vừa đủ để ấm thân, sạch sẽ không bị nhớp nhúa, lành lặn để người không chê cười là được rồi, đừng chạy theo thời trang quá mà khó tu.

  1. Sự ăn có bốn thứ
  2. Nếu là bậc thượng nhân đại sĩ vào nơi thâm sơn, xa hẳn thế tục, chỉ tùy thời dùng rau quả nuôi thân.

Điều này chúng ta làm không nổi rồi.

  1. Thường hành đầu-đà thọ pháp khất thực, phá bốn thứ tà mạng, sống theo chánh mạng hay sanh thánh đạo.

Bốn thứ tà mạng là:

1/ Trồng trọt nuôi sống.

2/ Xem thiên văn.

3/ Tìm cách mưu sinh.

4/ Giong ruổi bốn phương mong cầu sự sống hoặc coi bói, thuốc thang…

Tướng tà mạng như ngài Xá-lợi-phất vì Thanh Mục Nữ nói.

Hành hạnh đầu-đà chúng ta cũng làm không được. Nhưng trong đây nói có bốn thứ tà mạng, chúng ta cần phải hiểu rõ.

1/ Trồng trọt nuôi sống . Đây là căn cứ theo ngày xưa ở Ấn Độ, Phật dạy chư tăng phải sống bằng khất thực, khất thực mới tránh được bốn điều này, còn hoàn cảnh hiện nay thì khác. Thời chúng ta tu không đi khất thực, nếu không trồng trọt cho có lương thực ăn mà chỉ ỷ lại vào Phật tử thì đâu được. Nên trồng trọt nuôi sống hiện nay là chánh mạng chứ không phải tà mạng.

2/ Xem thiên văn . Việc này thì không đúng, vì đó là tà mạng.

3/ Tìm cách mưu sinh . Tìm cách để sống, nhưng mưu sinh mà không chân chánh thì không được.

4/ Coi bói, thuốc thang… Hốt thuốc chữa bệnh cho người thì tốt, nhưng xem tay bói quẻ thì là tà mạng.

Trên đây là những điều mà ngày xưa ở Ấn Độ không được phép làm, còn hiện nay chúng ta tu ở đâu thì xét điều gì hợp với hoàn cảnh, có lợi cho sự tu cho xã hội thì làm, chứ không bắt phải y hệt như xưa.

Về tà mạng, như ngài Xá-lợi-phất nói với Thanh Mục Nữ, trong kinh có ghi đủ.

  1. Ở chỗ vắng vẻ nhờ đàn-việt đem đến cúng.
  2. Ở trong chúng tăng ăn uống đúng pháp.

Bởi có những duyên này, nên gọi ăn mặc đầy đủ. Vì cớ sao? Vì không có những duyên này thì tâm không an ổn, chướng ngại trên đường đạo.

Chúng ta có thể ở am thất nhờ Phật tử ủng hộ, hoặc ở trong chùa hay các thiền viện, chư tăng ni sống theo nề nếp, ăn uống đúng pháp, tu hành đúng giờ giấc… giúp cho mọi người tu hành được yên ổn. Người tu nếu thiếu các duyên trên thì tâm không an ổn, sẽ chướng ngại trên đường đạo.

Cư sĩ tại gia muốn tu thiền được yên cũng nên đề phòng hai việc: Một là, buổi tối muốn ngồi thiền thì nên ăn nhẹ thôi, vì ăn no dễ buồn ngủ. Nếu ăn no thì ngủ rồi khuya thức dậy ngồi thiền, tránh khỏi bị ngủ gục. Khéo biết việc tu mới có hiệu quả, còn không biết ăn no quá mà cứ nghĩ phải ráng ngồi, vừa tức bụng vừa buồn ngủ, tu không thể yên được.

Hai là, ở gia đình do hoàn cảnh sinh hoạt chung, nếu đầu hôm người nói chuyện, kẻ xem ti vi… ồn quá, thì buổi khuya mọi người còn ngủ mình thức dậy sớm hơn để ngồi thiền, chứ đừng trách mọi người làm ồn, bắt họ phải giữ yên lặng cho mình ngồi thiền. Vì như vậy người trong gia đình sẽ buồn trách, ghét người tu. Phải nên xử sự cho hợp lý, mình tu được mà người nhà cũng sinh hoạt được. Đó là chỗ khéo léo của người biết tu.

III- Yên ở chỗ vắng vẻ

Không làm các việc gọi là yên. Chỗ không ồn náo gọi là vắng vẻ. Có ba chỗ có thể tu thiền định:

  1. Chỗ núi sâu không có người đến.
  2. Chỗ vắng vẻ hành đầu-đà, cách xa làng xóm ít nữa cũng ba bốn dặm, bặt tiếng mục đồng, không còn các tiếng ồn.
  3. Ở trong ngôi già-lam thanh tịnh, cách xa kẻ thế tục.

Ở những nơi ấy đều gọi là “yên ở chỗ vắng vẻ”.

Trong kinh Phật có dạy, tiếng động là mũi tên nhọn đâm vào tim, vì thế người tu thiền phải ở nơi vắng vẻ tránh chỗ ồn náo. Bình thường khi nghe tiếng động chúng ta không giật mình nhiều, nhưng với người mới tập ngồi thiền, đang ngồi yên bỗng có tiếng động mạnh bất thường thì liền giật mình, có khi muốn run lên, vì tiếng động làm nhói tim khó chịu.

Như tôi trước kia, nhân đọc kinh thấy nói chỗ ồn náo khó tu, nên muốn vô rừng hay lên núi tu cho yên. Nghĩ vậy nên khi được nghỉ ngơi, tôi lên Bảo Lộc cất Thiền Duyệt Thất để tu. Chỗ đó còn vắng vẻ, từ đường lớn vào gần hai cây số, tôi cho là yên ổn lắm rồi, nhưng không ngờ ban đêm thì cọp kêu, ban ngày thì khỉ vượn hú, thỉnh thoảng lại có mấy chiếc xe hàng leo đèo Bảo Lộc lên Đà Lạt rồ máy ầm ầm, không lúc nào yên. Ở thành phố thì ồn ào, vô rừng thì cọp beo, khỉ vượn, rắn rít… Cho nên thời gian tôi tu ở Thiền Duyệt thất, tưởng yên mà rốt cuộc cũng không yên. Sau về Chơn Không, ở núi tôi tưởng là yên rồi, đâu ngờ dưới chợ họ hát cải lương mở loa vang vọng tới trên núi, nghe đủ hết. Chạy khỉ vượn lại gặp gánh hát, hóa ra cũng không yên.

Lúc ấy tôi nghĩ, chắc chỗ nào không có chúng sanh chỗ đó mới yên, nhưng chỗ nào mà không có chúng sanh! Nếu mình cứ sợ tiếng động hoài, thì dù chạy tìm suốt đời cũng không có chỗ nào yên, chi bằng áp dụng tu theo tinh thần Đại thừa, ngay trong động mà đừng động. Nghĩ vậy tôi liền thấy tất cả âm thanh đều hư giả không thật, dưới chợ ca hát gì cũng mặc, mình cứ ngồi thiền. Ca hát là chuyện của họ, còn tu là chuyện của mình. Tôi tập như vậy một thời gian quen dần, không còn thấy ồn náo nữa, từ đó tu mới yên.

Qua kinh nghiệm của bản thân tôi, nói cho tăng ni và Phật tử hiểu, tuy rằng nơi vắng vẻ dễ tu, nhưng ở thế gian này chỗ nào cũng có náo động, chúng ta phải khéo tùy duyên mà tu. Nếu ở chỗ động thì xem những tiếng động đó là hư ảo qua rồi mất, chứ đừng nghe ca hát liền chú ý xem câu nào quen, nghe tiếng kèn xe thì nghĩ xem xe đó hiệu gì… Xe mặc xe, người mặc người, tiếng động gì cứ cho qua không lưu tâm, chỉ thiên vào thiền định mà thôi. Như vậy, người khéo tu ở đâu tu cũng được, thành thị tu theo thành thị, thôn quê tu theo thôn quê, rừng núi tu theo rừng núi. Ở trong cảnh động mà không bị động, đó là hay nhất.

IV- Dứt các sự ràng buộc

Có bốn thứ:

  1. Dứt việc làm nuôi sống: Tức là không tạo sự nghiệp thế gian.
  2. Dứt việc kết giao với nhân gian: Không kết bạn thân với người thế tục, cắt đứt mọi sự giao thiệp.
  3. Dứt các kỹ thuật khéo léo: Không làm thợ khéo, thầy thuốc, thầy bùa, thầy bói, thầy tướng, thầy số…
  4. Dứt sự học vấn: Những việc đọc sách, học hỏi đều bỏ.

Đây là dứt bỏ các việc ràng buộc. Tại sao như thế? Vì còn nhiều việc ràng buộc thì việc hành đạo phải bê trễ, tâm loạn động khó nhiếp phục.

Đây là nói với người xuất gia, nhưng hoàn cảnh hiện nay không giống người xưa, cho nên phải khéo linh động. Làm sao chúng ta sống có lợi ích cho đồng bào, cho quê hương xứ sở mà vẫn tu được; còn chỉ nghĩ được cho mình mà có hại cho chung quanh thì không tốt. Cho nên người tu phải khéo hiểu cho tường tận. Như bốn việc trong đây nói, hiện tại người xuất gia cũng khó làm tròn.

– Dứt việc làm nuôi sống. Người tu ở thành phố hiện giờ phải bán cơm chay, bán nhang… Nếu không cho làm thì lấy gì sống, cho nên điều này không làm được rồi.

– Dứt việc kết giao với nhân gian. Không kết bạn thân với người thế tục là phải, nhưng đối với Phật tử cũng phải cư xử tốt, chứ Phật tử đến chúng ta không thèm ngó ngàng thì không được.

– Dứt các kỹ thuật khéo léo. Nếu người tu có tay nghề khéo, hay làm thầy thuốc v.v… thì nên hướng dẫn giúp đỡ cho người. Điều này không có lỗi, còn làm thầy bùa, thầy tướng, thầy số thì không được.

V- Gần gũi thiện tri thức

Thiện tri thức có:

  1. Ngoại hộ thiện tri thức: Là người hay kinh doanh, cúng dường ủng hộ người tu, để cho người tu khỏi lo phiền rối loạn.
  2. Đồng hạnh thiện tri thức: Người đồng đạo tu hành, nhắc nhở cảnh giác lẫn nhau, không nhiễu loạn nhau.
  3. Giáo thọ thiện tri thức: Bậc thầy chỉ đạo, lấy những pháp môn thiền định phương tiện điều phục nội ngoại, chỉ dạy cho được lợi hỷ.

Gần gũi thiện tri thức, đây là điều thiết yếu. Người tu phải có những thiện hữu tri thức thì mới yên ổn tu. Thiện hữu tri thức có ba:

– Ngoại hộ thiện tri thức, chỉ cho những Phật tử có phương tiện, có của cải, giúp đỡ cho chúng ta yên tu.

– Đồng hạnh thiện tri thức, là những người bạn đồng tu với nhau. Người xuất gia ở chung chùa hay cùng trong thiền viện, nếu có ai làm gì sai dở thì huynh đệ luôn luôn nhắc nhở khuyên răn, nhờ vậy mà được tiến bộ trong tinh thần đạo đức, không bị những thói hư tật xấu làm rối loạn.

– Giáo thọ thiện tri thức, là những bậc thầy chỉ dạy cho chúng ta tu, như dạy pháp môn thiền định, các phương tiện điều phục nội tâm, chỉ dạy cho được pháp lợi hỷ…

Như vậy, ba hạng thiện tri thức này là rất cần thiết cho người xuất gia tu tập, còn người tại gia tự làm lấy mà sống, nên không cần ngoại hộ thiện tri thức, trừ những người lớn tuổi không làm ra tiền, thì cần có con cháu ngoại hộ. Những cư sĩ biết tu thiền là đồng hạnh thiện tri thức, khi thấy huynh đệ có việc gì trở ngại, không được vui… thì động viên nhắc nhở để cùng nhau tu tập tốt. Và cũng phải có giáo thọ thiện tri thức, đó là bậc thầy hướng dẫn chỉ dạy pháp tu, để trong lúc tu có những trục trặc, thầy biết mà chỉ cách cho vượt qua.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.