Chánh văn:
Từ trước đến đây đã nói Lục diệu môn đồng chung thực hành, Bồ-tát cùng với phàm phu, Nhị thừa chung. Phần Lục diệu môn triển chuyển này chỉ riêng Bồ-tát thực hành, không chung với Thanh văn Duyên giác, huống nữa là phàm phu. Vì sao? Vì phần thứ sáu “Lục diệu môn chung và riêng” trước, trong phần pháp quán là quán từ Giả nhập Không được tuệ nhãn, Nhất thiết trí. Tuệ nhãn, Nhất thiết trí là pháp chung của Nhị thừa, Bồ-tát. Phần này là quán từ Không ra Giả triển chuyển Lục diệu môn được pháp nhãn, Đạo chủng trí. Pháp nhãn, Đạo chủng trí không cùng với Thanh văn Bích-chi Phật chung.
Thế nào là Bồ-tát Sổ tức trung đạo, quán từ Không ra Giả lần lượt khởi xuất tất cả các hạnh công đức?
Hành giả Bồ-tát chính khi Sổ tức phát đại thệ nguyện, thương xót chúng sanh, tuy biết chúng sanh cứu cánh là không, mà muốn làm thành tựu cho chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật cùng tột vị lai. Khởi nguyện ấy rồi, phải biết rõ hơi thở không sanh không diệt, tánh của nó là không tịch. Chính hơi thở là không, chẳng phải hơi thở diệt mới không, hơi thở tánh tự không; hơi thở tức là không, không tức là hơi thở; lìa không không có hơi thở, lìa hơi thở không có không. Tất cả pháp cũng như thế. Vì hơi thở là không, chẳng phải chân chẳng phải giả, chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian, tìm hơi thở cùng phi hơi thở không thể được, mà thành tựu niệm hơi thở. Thành tựu niệm hơi thở ấy, như mộng như huyễn, như vang như hóa, tuy sự thật không có mà cũng phân biệt làm việc huyễn hóa. Bồ-tát rõ hơi thở cũng như thế, tuy hơi thở không thật có tự tánh mà thành tựu niệm hơi thở từ một đến mười rành rõ phân minh, thâm tâm phân biệt tướng hơi thở như huyễn. Bởi có hơi thở không tánh như huyễn nên có pháp thế gian xuất thế gian không tánh. Vì sao?
Vì vô minh điên đảo không biết tánh hơi thở là không, nên vọng chấp có hơi thở liền khởi chấp trước ngã pháp, ái kiến các hành, nên gọi là thế gian. Bởi có hơi thở nên có ấm, giới, nhập v.v… quả khổ lạc ở thế gian. Do đó, hơi thở tuy không mà hay thành tựu tất cả nhân quả thiện ác ở thế gian và các việc sanh tử trong hai mươi lăm cõi.
Trong tướng hơi thở không ấy, tuy không có tướng xuất thế gian mà khéo nhân hơi thở phân biệt pháp xuất thế gian. Vì sao? Do không biết tướng hơi thở không, nên mờ mịt không rõ biết, tạo nghiệp thế gian. Vì biết tướng hơi thở là không, nên không có vô minh vọng chấp, tất cả thứ kiết phược phiền não không từ đâu mà sanh, gọi là nhân xuất thế gian. Vì nhân thế gian diệt nên lìa quả hai mươi lăm cõi v.v… ở đời sau, gọi là quả xuất thế gian. Vì khéo vượt qua nhân quả điên đảo thế gian nên gọi là pháp xuất thế gian. Ở trong pháp xuất thế gian chân chánh này cũng có nhân quả. Biết hơi thở là không, được chánh trí tuệ là nhân xuất thế gian. Vọng chấp hơi thở có nhân ngã, vô minh điên đảo và khổ quả đều diệt, gọi là quả xuất thế gian. Cho nên Bồ-tát quán hơi thở không phải hơi thở, tuy không được pháp thế gian và xuất thế gian mà hay thành tựu pháp thế gian và xuất thế gian.
Bồ-tát khi quán hơi thở tánh không, tuy không được Tứ đế mà cũng thông đạt Tứ đế. Vì sao? Như trước đã nói quả thế gian là Khổ đế, nhân thế gian là Tập đế, quả xuất thế gian là Diệt đế, nhân xuất thế gian là Đạo đế. Cho nên tuy quán tướng hơi thở không thấy Tứ đế mà hay rõ ràng phân biệt Tứ đế, vì chúng Thanh văn rộng diễn bày phân biệt.
Bồ-tát trong khi rõ biết hơi thở là không, tuy không thấy Mười hai nhân duyên mà cũng thông đạt Mười hai nhân duyên. Vì sao? Quá khứ hơi thở tánh không, vọng thấy có thật hơi thở nên sanh các thứ điên đảo phân biệt, khởi các phiền não, gọi là Vô minh. Nhân duyên Vô minh nên có Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão tử ưu bi khổ não v.v… luân chuyển không dứt, đều do không rõ hơi thở như hư không, không có. Nếu biết hơi thở là không tịch tức là phá Vô minh, vì Vô minh diệt nên Mười hai nhân duyên đều diệt. Bồ-tát rõ biết hơi thở không phải hơi thở như thế, tuy không được Mười hai nhân duyên mà hay rõ ràng thông đạt Mười hai nhân duyên, vì người cầu Duyên giác thừa rộng nói phân biệt.
Bồ-tát rõ biết hơi thở không tánh, khi ấy còn không thấy có hơi thở, huống nữa ở trong hơi thở mà có pháp Lục tệ và Lục độ. Tuy trong hơi thở không thấy pháp Lục tệ và Lục độ mà cũng rõ ràng thông đạt Lục tệ và Lục độ. Vì sao? Hành giả chính khi Sổ tức tự rõ biết, nếu nơi không phải hơi thở mà thấy có hơi thở thì quyết định thành tựu tệ pháp xan tham.
Xan tham có bốn thứ: Một là xan tham tài vật, thấy hơi thở có ta, vì ta sanh xan tham. Hai là xan tham thân, nơi hơi thở khởi chấp thân. Ba là xan tham mạng, nơi hơi thở không rõ chấp có mạng. Bốn là xan tham pháp, nơi hơi thở không rõ liền khởi tâm kiến chấp pháp.
Hành giả vì phá hoại pháp xan tham tệ ác ấy, tu bốn món Bố thí ba-la-mật:
1- Biết hơi thở không, phi ngã, lìa hơi thở cũng không ngã. Đã chẳng có ngã vậy nhóm chứa tài vật để làm gì? Khi ấy tâm xan tham tài vật liền tự dứt, xả trân bảo như nhổ đàm dãi. Cho nên thông đạt được hơi thở không, tức là Tài thí ba-la-mật.
2- Bồ-tát biết không thân, hơi thở v.v… các pháp không gọi là thân. Lìa pháp hơi thở v.v… cũng không riêng có thân. Khi ấy biết thân phi thân, liền phá hoại xan tham chấp thân. Đã không xan tham thân tức hay lấy thân làm tôi tớ cho người sai khiến, như pháp thí cho mọi người. Rõ biết hơi thở không phải hơi thở, hay thành tựu đầy đủ Xả thân bố thí ba-la-mật.
3- Hành giả nếu hay rõ biết hơi thở không, không thấy tức hơi thở là mạng hay lìa hơi thở có mạng. Đã không thấy có mạng là phá tâm xan tham mạng. Khi ấy liền hay xả mạng thí cho chúng sanh tâm không kinh sợ. Rõ suốt hơi thở không, hay đầy đủ Xả mạng bố thí ba-la-mật.
4- Hành giả nếu thông đạt hơi thở không, không thấy các pháp ấm, giới, nhập v.v… cũng không thấy tướng các pháp thế gian, xuất thế gian. Vì phá các thứ chấp tướng của chúng sanh, do mê chấp các pháp mà luân hồi lục thú, cho nên có nói ra, mà thật không nó không chỉ bày, vì thính giả không nghe, không được vậy. Khi ấy tuy hành pháp thí mà không chấp pháp thí, tuy có ân đối với mọi người mà hay làm lợi ích tất cả. Ví như quả đất, hư không, mặt trời, mặt trăng làm lợi ích khắp thế gian mà vô tâm đối với vạn vật, không mong sự báo ân; Bồ-tát đạt được hơi thở tánh không, thực hành Pháp thí bình đẳng ba-la-mật lợi ích chúng sanh cũng như thế. Thế nên, Bồ-tát biết hơi thở tánh không, tuy không được bố thí độ xan tham mà hay rõ ràng phân biệt xan tham bố thí, vì không thấy thật có vậy.
Biết hơi thở tánh không, đầy đủ Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ ba-la-mật cũng như phần Bố thí. Trong ấy mỗi mỗi rộng triển chuyển các tướng ba-la-mật, vì thiện nam thiện nữ cầu Phật đạo mở bày phân biệt. Đây là lược nói trong Sổ tức môn tu triển chuyển đà-la-ni, Bồ-tát thực hành vô ngại phương tiện. Bồ-tát nếu nhập môn này thẳng tới Sổ tức điều tâm cùng kiếp không hết, huống là được Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn Tịnh các thứ Thiền định, Trí tuệ, Thần thông, Tứ biện tài, Thập lực, Tứ vô sở úy, các địa, hạnh nguyện, Nhất thiết chủng trí, tất cả công đức vô tận, triển chuyển phân biệt mà có thể cùng tận được sao?
Giảng:
Từ trước đến đây đã nói Lục diệu môn đồng chung thực hành, Bồ-tát cùng với phàm phu, Nhị thừa chung. Phần Lục diệu môn triển chuyển này chỉ riêng Bồ-tát thực hành, không chung với Thanh văn Duyên giác, huống nữa là phàm phu. Vì sao? Vì phần thứ sáu “Lục diệu môn chung và riêng” trước, trong phần pháp quán là quán từ Giả nhập Không được tuệ nhãn, Nhất thiết trí. Tuệ nhãn, Nhất thiết trí là pháp chung của Nhị thừa, Bồ-tát. Phần này là quán từ Không ra Giả triển chuyển Lục diệu môn được pháp nhãn, Đạo chủng trí. Pháp nhãn, Đạo chủng trí không cùng với Thanh văn Bích-chi Phật chung.
Triển chuyển tức là lần lượt tiến. Đoạn này chỉ dạy phương pháp thực hành để tiến lên quả Bồ-tát quả Phật, chứ không như những phần trước.
Quán từ Giả nhập Không là ngay nơi hơi thở mà biết hơi thở không tự có, phải vay mượn không khí bên ngoài đem vô trả ra. Do mượn trả nên nó là giả, là không. Tự tánh của hơi thở đã là không thì tự tánh của mạng sống cũng là không. Quán từ Giả nhập Không sẽ được tuệ nhãn Nhất thiết trí, là trí của Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát.
Tuệ nhãn là con mắt trí tuệ nhìn thấy đúng như thật. Đạo Phật chỉ cho chúng ta thấy tường tận ở nơi mình, chứ không phải học tìm cái gì ở bên ngoài. Tại sao? Vì thế gian trùng trùng điệp điệp, nếu cứ chạy ra bên ngoài tìm thì biết đâu là chỗ cùng tột. Chỉ cần quay trở về, biết tường tận rõ ràng chính mình là sẽ biết được cả thế gian, vì thế gian bên ngoài có thứ gì thì trong thân chúng ta có những thứ đó. Thân gồm đủ đất, nước, gió, lửa v.v…, trái đất này cũng được hình thành y như vậy. Mình và trái đất không khác, cho nên biết mình là biết trái đất, biết trái đất là biết hết các hành tinh khác. Ngộ được thân tâm thế nào thì biết các pháp ở ngoài cũng vậy. Đức Phật nắm một nắm lá trong tay, nói với các thầy Tỳ-kheo: “Cái biết của ta đem ra dạy các ông như lá cây trong nắm tay, còn cái biết của ta chưa dạy các ông nhiều như lá cây trong rừng.” Phật không cầu tìm học thiên văn địa lý gì bên ngoài, ngài chỉ ngồi thiền định mà biết rõ thấu suốt được tất cả.
Chúng ta tu thiền là trở về mình, biết thấu đáo về mình là việc làm thực tế và gần nhất, còn muốn biết tất cả pháp trên thế giới như các nhà khoa học, thì tìm hoài hết đời cũng không biết hết được. Việc gần mà không chịu làm, không chịu quay lại mình, cứ thích chạy tìm xa xôi. Chúng ta muốn biết cục đá này có mấy chất hợp lại thành, mà không biết thân này do cái gì hợp lại thành, đó là quên mình theo vật. Lối tu của đạo Phật là thấu suốt được chân lý về con người, vì con người là chủ của ngoại cảnh. Đó là lẽ thật nhưng lâu nay ít ai chịu quan tâm. Chúng ta cứ bỏ quên ông chủ, chạy đi tìm cái phụ ở bên ngoài hoài, thử hỏi có gì là hay!
Người tu phải biết mình đang làm một việc rất quan trọng, rất hợp lý. Đó là phá tan vô minh được đại trí tuệ, khám phá ra chân lý của con người và thế giới. Khám phá được cái đó thì mới được Nhất thiết trí, Đạo chủng trí… Đừng tưởng rằng tu cho đời sau hưởng sung sướng hơn một chút, rồi tu lừng chừng. Phật tử chúng ta bây giờ đa số tu cầu phước, chỉ mong đời sau sung sướng giàu sang. Đời này gặp nhiều trắc trở buồn khổ nên nguyện đời sau sung sướng hơn, chứ không cầu mong cái gì cao siêu hết. Phật chỉ dạy cho mình tu thành Phật, không phải dạy mình tìm cầu những thứ tạm bợ đó. Thành Phật là có cả kho tàng trí tuệ mà chúng ta không chịu khơi tìm, cứ mong ước một cái nhỏ xíu, uổng đi một kiếp người. Như chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa, về nhà cha mà không chịu vào gặp cha, không dám nhận cha, chỉ xin làm việc hốt phân được chút lương nhỏ đã thấy đủ rồi. Tâm yếu ớt của chúng ta cũng y như vậy.
Phần trước nói, người khéo quán sát đạt lý từ Giả nhập Không thì được tuệ nhãn Nhất thiết trí, là trí chung của hàng Nhị thừa và Bồ-tát. Đến đây là quán từ Không ra Giả triển chuyển Lục diệu môn, quán thành tựu sẽ được pháp nhãn Đạo chủng trí, là trí của hàng Bồ-tát, của Phật. Trí này không cùng Thanh văn và Bích-chi Phật chung.
Thế nào là Bồ-tát Sổ tức trung đạo, quán từ Không ra Giả lần lượt khởi xuất tất cả các hạnh công đức?
Hành giả Bồ-tát chính khi Sổ tức phát đại thệ nguyện, thương xót chúng sanh, tuy biết chúng sanh cứu cánh là không, mà muốn làm thành tựu cho chúng sanh, làm thanh tịnh cõi Phật cùng tột vị lai. Khởi nguyện ấy rồi, phải biết rõ hơi thở không sanh không diệt, tánh của nó là không tịch. Chính hơi thở là không, chẳng phải hơi thở diệt mới không, hơi thở tánh tự không; hơi thở tức là không, không tức là hơi thở; lìa không không có hơi thở, lìa hơi thở không có không. Tất cả pháp cũng như thế. Vì hơi thở là không, chẳng phải chân chẳng phải giả, chẳng phải thế gian chẳng phải xuất thế gian, tìm hơi thở cùng phi hơi thở không thể được, mà thành tựu niệm hơi thở. Thành tựu niệm hơi thở ấy, như mộng như huyễn, như vang như hóa, tuy sự thật không có mà cũng phân biệt làm việc huyễn hóa. Bồ-tát rõ hơi thở cũng như thế, tuy hơi thở không thật có tự tánh mà thành tựu niệm hơi thở từ một đến mười rành rõ phân minh, thâm tâm phân biệt tướng hơi thở như huyễn. Bởi có hơi thở không tánh như huyễn nên có pháp thế gian xuất thế gian không tánh.
Trọng tâm của đoạn này là quán từ Không ra Giả.
Hơi thở nguyên tánh của nó là không, duyên hít vô thở ra là giả. Tại sao hơi thở là không? Bởi vì hơi thở trước khi hít vô không có, do thở ra hết rồi hít vô lại mà có, có đó cũng chỉ là huyễn hóa. Hơi thở đã như huyễn thì mạng sống cũng như huyễn. Từ hơi thở mà xét dần ra thân này cho đến tất cả sự vật, thấu suốt rõ ràng như vậy là thấy được cốt lõi từ Không ra Giả.
Khi hít vô thở ra đều đều là sống, đến lúc thở khì ra không hít vô nữa là chết. Trên thực tế chúng ta có thể chết bất cứ lúc nào, ngay khi hít thở vô ra là sống chết ở kề bên cạnh, thở ra không mượn lại là chết. Vậy mà đâu ai dám nói mạng sống của tôi như huyễn như hóa, chỉ sống tạm một thời gian thôi. Chúng ta cứ tưởng mình sống trăm năm, hoặc muốn sống dài hơn nữa cũng tốt, đó là ảo tưởng.
Bởi thấy chúng sanh mê lầm chấp thân là thật rồi khổ đau, nên Bồ-tát không nỡ bỏ, phải tìm cách đánh thức dậy, chỉ cho thấy được đó là giả, là huyễn hóa, để cho hết khổ. Các ngài tuy quán thấy tất cả sự vật đều như huyễn, nhưng không trốn trên núi ở một mình, mà lăn xả vào đời để giáo hóa chúng sanh, cho nên Bồ-tát được gọi là Hữu tình giác hoặc Giác hữu tình. Biết như huyễn mà vẫn làm lợi ích cho chúng sanh, đó là tâm niệm của Bồ-tát.
Vì sao? Vì vô minh điên đảo không biết tánh hơi thở là không, nên vọng chấp có hơi thở liền khởi chấp trước ngã pháp, ái kiến các hành, nên gọi là thế gian. Bởi có hơi thở nên có ấm, giới, nhập v.v… quả khổ lạc ở thế gian. Do đó, hơi thở tuy không mà hay thành tựu tất cả nhân quả thiện ác ở thế gian và các việc sanh tử trong hai mươi lăm cõi.
Mê lầm của con người là do vô minh điên đảo, không biết tánh hơi thở là không, vọng chấp cho hơi thở là thật, ngã pháp là thật, nên sanh ra ái kiến. Bởi thương quý nó mà có khổ vui, làm thành nhân quả thiện ác thế gian, sanh vào hai mươi lăm cõi, đi trong sanh tử luân hồi.
Trong tướng hơi thở không ấy, tuy không có tướng xuất thế gian mà khéo nhân hơi thở phân biệt pháp xuất thế gian. Vì sao? Do không biết tướng hơi thở không, nên mờ mịt không rõ biết, tạo nghiệp thế gian. Vì biết tướng hơi thở là không, nên không có vô minh vọng chấp, tất cả thứ kiết phược phiền não không từ đâu mà sanh, gọi là nhân xuất thế gian.
Do không biết tướng hơi thở là không, nên mờ mịt không rõ biết, tiếp tục tạo nghiệp là nhân của thế gian. Nếu biết tướng hơi thở vô ra là không, mạng sống chỉ là giả huyễn, thấy được như vậy thì không có vô minh vọng chấp, tất cả kiết phược phiền não không từ đâu ra, gọi là nhân xuất thế gian. Hết sức đơn giản! Chúng ta có thể tự biết mình đang còn đi trong thế gian hay sẽ ra khỏi thế gian. Nếu khéo tu, giả biết giả, là cái thấy của trí tuệ, là minh; thấy ngược lại là vô minh, tạo nghiệp đi trong sanh tử. Thế gian và xuất thế gian khác nhau chỉ ở chỗ đó.
Vì nhân thế gian diệt nên lìa quả hai mươi lăm cõi v.v… ở đời sau, gọi là quả xuất thế gian. Vì khéo vượt qua nhân quả điên đảo thế gian nên gọi là pháp xuất thế gian. Ở trong pháp xuất thế gian chân chánh này cũng có nhân quả. Biết hơi thở là không, được chánh trí tuệ là nhân xuất thế gian. Vọng chấp hơi thở có nhân ngã, vô minh điên đảo và khổ quả đều diệt, gọi là quả xuất thế gian. Cho nên Bồ-tát quán hơi thở không phải hơi thở, tuy không được pháp thế gian và xuất thế gian mà hay thành tựu pháp thế gian và xuất thế gian.
Chúng ta tu muốn ra khỏi thế gian không phải chuyện khó, chỉ cần thắp sáng đuốc trí tuệ thấy đúng như thật. Biết rõ hơi thở tự tánh là không, cho đến mạng sống và tất cả pháp cũng đều là duyên hợp giả có không thật, nên không còn cố chấp. Đó là trí xuất thế gian. Trí xuất thế gian là nhân, các thứ phiền não sẽ diệt là quả. Bồ-tát do tu pháp quán hơi thở mà thành tựu nhân quả thế gian và xuất thế gian.
Bồ-tát khi quán hơi thở tánh không, tuy không được Tứ đế mà cũng thông đạt Tứ đế. Vì sao? Như trước đã nói quả thế gian là Khổ đế, nhân thế gian là Tập đế, quả xuất thế gian là Diệt đế, nhân xuất thế gian là Đạo đế. Cho nên tuy quán tướng hơi thở không thấy Tứ đế mà hay rõ ràng phân biệt Tứ đế, vì chúng Thanh văn rộng diễn bày phân biệt.
Chỉ cần biết hơi thở không thật là thấu suốt được pháp Tứ đế. Thấy thật, là nhân Tập đế đưa tới quả Khổ đế. Biết không thật, là nhân Đạo đế đi đến quả Diệt đế. Cho nên trong quán hơi thở, tuy không thấy Tứ đế mà cũng hay rõ ràng phân biệt được pháp Tứ đế.
Bồ-tát trong khi rõ biết hơi thở là không, tuy không thấy Mười hai nhân duyên mà cũng thông đạt Mười hai nhân duyên. Vì sao? Quá khứ hơi thở tánh không, vọng thấy có thật hơi thở nên sanh các thứ điên đảo phân biệt, khởi các phiền não, gọi là Vô minh. Nhân duyên Vô minh nên có Hành, Thức, Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ, Ái, Thủ, Hữu, Sanh, Lão tử ưu bi khổ não v.v… luân chuyển không dứt, đều do không rõ hơi thở như hư không, không có. Nếu biết hơi thở là không tịch tức là phá Vô minh, vì Vô minh diệt nên Mười hai nhân duyên đều diệt. Bồ-tát rõ biết hơi thở không phải hơi thở như thế, tuy không được Mười hai nhân duyên mà hay rõ ràng thông đạt Mười hai nhân duyên, vì người cầu Duyên giác thừa rộng nói phân biệt.
Quá khứ vì thấy hơi thở thật nên điên đảo phân biệt, khởi các phiền não, gọi là Vô minh. Vô minh nên mới có Hành, Thức v.v… mười hai nhân duyên, dẫn đi trong luân hồi.
Bồ-tát biết hơi thở là không, duyên hợp giả có. Thấy rõ như vậy là trí tuệ phá được Vô minh. Vô minh diệt thì Hành, Thức, Danh sắc v.v… đều diệt. Nên tuy không thấy Mười hai nhân duyên mà hay thông đạt Mười hai nhân duyên, vì hàng Duyên giác mà rộng nói phân biệt.
Bồ-tát rõ biết hơi thở không tánh, khi ấy còn không thấy có hơi thở, huống nữa ở trong hơi thở mà có pháp Lục tệ và Lục độ. Tuy trong hơi thở không thấy pháp Lục tệ và Lục độ mà cũng rõ ràng thông đạt Lục tệ và Lục độ. Vì sao? Hành giả chính khi Sổ tức tự rõ biết, nếu nơi không phải hơi thở mà thấy có hơi thở thì quyết định thành tựu tệ pháp xan tham.
Bồ-tát khi quán hơi thở, biết hơi thở không thật liền được pháp Lục độ để diệt trừ Lục tệ, là sáu thứ tệ xấu. Như vậy trong khi tu pháp Sổ tức là đã tu luôn Lục độ.
Xan tham có bốn thứ: Một là xan tham tài vật, thấy hơi thở có ta, vì ta sanh xan tham. Hai là xan tham thân, nơi hơi thở khởi chấp thân. Ba là xan tham mạng, nơi hơi thở không rõ chấp có mạng. Bốn là xan tham pháp, nơi hơi thở không rõ liền khởi tâm kiến chấp pháp.
Chúng ta vì lầm chấp hơi thở là thật, là ta, nên mới sanh bốn thứ xan tham. Tham tài vật, tham thân, tham mạng, tham các pháp. Nếu biết hơi thở không thật thì những thứ tham đó liền hết.
Hành giả vì phá hoại pháp xan tham tệ ác ấy, tu bốn món Bố thí ba-la-mật:
1- Biết hơi thở không, phi ngã, lìa hơi thở cũng không ngã. Đã chẳng có ngã vậy nhóm chứa tài vật để làm gì? Khi ấy tâm xan tham tài vật liền tự dứt, xả trân bảo như nhổ đàm dãi. Cho nên thông đạt được hơi thở không, tức là Tài thí ba-la-mật.
2- Bồ-tát biết không thân, hơi thở v.v… các pháp không gọi là thân. Lìa pháp hơi thở v.v… cũng không riêng có thân. Khi ấy biết thân phi thân, liền phá hoại xan tham chấp thân. Đã không xan tham thân tức hay lấy thân làm tôi tớ cho người sai khiến, như pháp thí cho mọi người. Rõ biết hơi thở không phải hơi thở, hay thành tựu đầy đủ Xả thân bố thí ba-la-mật.
Bồ-tát biết không thân, hơi thở v.v… các pháp không gọi là thân, tức là biết thân này do hơi thở nên có sống còn, mà hơi thở đã không thật thì thân cũng không thật. Lìa pháp hơi thở v.v… cũng không riêng có thân, vì vậy đem thân làm lợi ích cho tất cả không nuối tiếc.
3- Hành giả nếu hay rõ biết hơi thở không, không thấy tức hơi thở là mạng hay lìa hơi thở có mạng. Đã không thấy có mạng là phá tâm xan tham mạng. Khi ấy liền hay xả mạng thí cho chúng sanh tâm không kinh sợ. Rõ suốt hơi thở không, hay đầy đủ Xả mạng bố thí ba-la-mật.
Biết rõ hơi thở không thật, mạng sống cũng không thật, cho nên nếu cần hy sinh để làm lợi ích cho chúng sanh, Bồ-tát cũng không hối tiếc. Bố thí thân mạng không chán, không sợ, gọi là Xả mạng bố thí ba-la-mật.
4- Hành giả nếu thông đạt hơi thở không, không thấy các pháp ấm, giới, nhập v.v… cũng không thấy tướng các pháp thế gian, xuất thế gian. Vì phá các thứ chấp tướng của chúng sanh, do mê chấp các pháp mà luân hồi lục thú, cho nên có nói ra, mà thật không nó không chỉ bày, vì thính giả không nghe, không được vậy. Khi ấy tuy hành pháp thí mà không chấp pháp thí, tuy có ân đối với mọi người mà hay làm lợi ích tất cả. Ví như quả đất, hư không, mặt trời, mặt trăng làm lợi ích khắp thế gian mà vô tâm đối với vạn vật, không mong sự báo ân; Bồ-tát đạt được hơi thở tánh không, thực hành Pháp thí bình đẳng ba-la-mật lợi ích chúng sanh cũng như thế. Thế nên, Bồ-tát biết hơi thở tánh không, tuy không được bố thí độ xan tham mà hay rõ ràng phân biệt xan tham bố thí, vì không thấy thật có vậy.
Do biết hơi thở tánh không nên đối với các pháp không cố chấp, được thứ gì đem giúp hết cho mọi người, bố thí bình đẳng không tiếc, không phân biệt.
Biết hơi thở tánh không, đầy đủ Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ ba-la-mật cũng như phần Bố thí. Trong ấy mỗi mỗi rộng triển chuyển các tướng ba-la-mật, vì thiện nam thiện nữ cầu Phật đạo mở bày phân biệt. Đây là lược nói trong Sổ tức môn tu triển chuyển đà-la-ni, Bồ-tát thực hành vô ngại phương tiện. Bồ-tát nếu nhập môn này thẳng tới Sổ tức điều tâm cùng kiếp không hết, huống là được Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn Tịnh các thứ Thiền định, Trí tuệ, Thần thông, Tứ biện tài, Thập lực, Tứ vô sở úy, các địa, hạnh nguyện, Nhất thiết chủng trí, tất cả công đức vô tận, triển chuyển phân biệt mà có thể cùng tận được sao?
Chúng ta tu chỉ cần nhận được hơi thở tánh không, từ đó đầy đủ lục độ: Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định và Trí tuệ… cùng tất cả pháp môn vô tận, nói gọn là đến Phật quả. Như vậy, nếu trên đường tu một pháp được thông thì tất cả pháp khác đều thông.
Chúng ta không thông đạt hơi thở mượn trả ra vô hoàn toàn không thật, bởi thấy thân thật trăm phần trăm nên mê lầm dài dài, rồi tham lam, sân hận v.v… đủ thứ. Nếu không mê lầm thì ai chê khen, chửi mắng mình cũng không giận. Huyễn hóa, có ra gì đâu mà giận! Khi còn sống ai động tới thì nổi tức làm dữ, nhưng mai kia tắt thở người ta đem đi đốt cũng không rầy không la được, vậy mà cứ chấp trước bám chặt vào thân giả tạm này mãi. Phải biết, tất cả chấp trước đều từ tưởng sai lầm mà ra, gọi đó là vô minh. Do vô minh dẫn đi sanh tử liên tục, nếu thấy rõ là hư giả thì hết vô minh, là giác ngộ giải thoát.