Lục Diệu Pháp Môn Giảng Giải

Chương VI. Lục Diệu Môn Chung Và Riêng



Chánh văn:

Sở dĩ nói Lục diệu môn chung và riêng là vì phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát chung quán một pháp Sổ tức mà giải tuệ không đồng, nên chứng Niết-bàn cũng sai biệt. Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh cũng như thế. Vì sao có sai biệt?

Hành giả phàm phu độn căn chính khi Sổ tức chỉ biết đếm từ một đến mười cho tâm an định, mong cầu nhờ đây được nhập thiền định thọ hưởng các khoái lạc. Đó gọi là trong pháp Sổ tức mà khởi ma nghiệp vì tham sanh tử vậy.

Các hàng ngoại đạo lợi căn tâm tri kiến quá mạnh, vì thấy nhân duyên nên khi Sổ tức chẳng những điều tâm đếm hơi thở từ một đến mười, mong cầu thiền định, mà cũng hay phân biệt có hơi thở, không có hơi thở, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; quá khứ hơi thở như thế đi hay không như thế đi, cũng như thế đi cũng không như thế đi, chẳng như thế đi chẳng không như thế đi, vị lai hơi thở hữu biên, vô biên, cũng hữu biên cũng vô biên, chẳng hữu biên chẳng vô biên; hiện tại hơi thở hữu thường ư? Vô thường ư? Cũng hữu thường cũng vô thường ư? Chẳng hữu thường chẳng vô thường ư? Và tâm cũng như thế. Tùy chỗ tâm nhận được chấp cho là thật, cho người khác nói đều là vọng ngữ. Người này bởi không rõ tướng hơi thở, theo vọng kiến sanh phân biệt, tức là Sổ tức mà khởi hý luận tứ biên thiêu đốt, sanh chỗ phiền não, hằng chìm trong tham trước tà kiến, tạo các tà hạnh, đoạn diệt thiện căn, không hội lý vô sanh, tâm đi ngoài chánh lý nên gọi là ngoại đạo.

Hai hạng người trên tuy lợi căn, độn căn có khác mà sanh tử luân hồi trong tam giới không khác.

Thế nào là Thanh văn Sổ tức?

Hành giả muốn mau thoát ly tam giới tự cầu Niết-bàn nên tu Sổ tức để điều tâm. Khi ấy ở trong Sổ tức mà chẳng lìa chánh quán Tứ đế. Thế nào là Sổ tức quán Tứ chân đế? Hành giả biết hơi thở y nơi thân, thân y nơi tâm, ba việc (hơi thở, thân, tâm) hòa hợp gọi là ấm giới nhập, tức là Khổ. Nếu tham trước pháp ấm giới nhập cho đến buông lung tâm phân biệt ấm giới nhập, tức là Tập. Nếu hay đạt được chân tánh của hơi thở, là biết Khổ vô sanh, không khởi tứ thọ, tứ hạnh không sanh thì lợi sử, độn sử các thứ phiền não kiết phược đều lặng lẽ không khởi, gọi là Diệt. Chánh tuệ biết khổ hay thông lý không bị ngăn bít, gọi là Đạo. Nếu hay Sổ tức thông đạt Tứ đế như thế, người ấy quyết định được đạo Thanh văn, dứt nghiệp cũ không tạo nghiệp mới.

Thế nào trong Sổ tức vào đạo Duyên giác?

Hành giả cầu tự nhiên trí, ưa riêng được tịch tịnh sâu biết các pháp do nhân duyên sanh, chính khi Sổ tức biết các ghi nhớ đếm hơi thở là Hữu chi, Hữu duyên Thủ, Thủ duyên Ái, Ái duyên Thọ, Thọ duyên Xúc, Xúc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Thức, Thức duyên Hành, Hành duyên Vô minh. Lại quán cái Hữu ghi nhớ hơi thở này là nghiệp thiện hữu vi, có nhân duyên thiện quyết định phải thọ báo ở đời sau hoặc cõi người, cõi trời, vì có nhân duyên thọ báo, ắt có Lão tử và Ưu bi khổ não. Đó là nhân duyên ba đời, sanh tử không ngằn mé, luân hồi không dừng. Vốn không có sanh cũng không có tử, mà không khéo suy nghĩ nên tâm hạnh tạo thành nghiệp sanh tử. Nếu biết Vô minh thể tánh vốn tự không có, bởi nhân duyên vọng tưởng hòa hợp mà sanh, vốn không phải thật, giả gọi là Vô minh. Vô minh còn không thật có thì Hành v.v… các nhân duyên đều không căn bản. Đã không có hành v.v… các nhân duyên, thì đâu thật có Sổ tức hiện nay. Khi ấy hành giả biết sâu Sổ tức thuộc nhân duyên, không, không có tự tánh, không thọ không trước, không nghĩ không phân biệt, tâm như hư không vắng lặng không động, rỗng suốt, tâm vô lậu phát sanh thành đạo Duyên giác.

Thế nào gọi là Bồ-tát Sổ tức?

Hành giả vì cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, Như Lai tri kiến, Lực, Vô sở uý, thương xót muốn làm cho vô lượng chúng sanh được an lạc cho nên tu Sổ tức. Muốn nhân pháp môn này vào Nhất thiết chủng trí. Vì sao? Như trong Kinh nói: “Pháp quán hơi thở là cái cửa ban đầu của ba đời chư Phật vào đạo.” Thế nên những vị mới phát tâm Bồ-tát muốn cầu Phật đạo, trước nên điều tâm Sổ tức. Chính khi Sổ tức biết hơi thở không phải hơi thở, cũng như huyễn hóa, do đó hơi thở không phải là sanh tử, cũng không phải là Niết-bàn. Khi ấy, ở trong Sổ tức không thấy sanh tử để đoạn, không thấy Niết-bàn để nhập. Vì thế, không trụ sanh tử nên không bị hai mươi lăm cõi trói buộc. Không chứng Niết-bàn nên không rơi vào Thanh văn Duyên giác. Dùng bình đẳng đại tuệ không có tâm thủ xả, vào Sổ tức trung đạo, gọi là thấy Phật tánh, được Vô sanh nhẫn, trụ Đại Niết-bàn thường lạc ngã tịnh. Cho nên Kinh nói: “Ví như dòng nước chảy xiết cuốn gãy tất cả, chỉ trừ cành dương liễu, vì nó mềm dẻo vậy. Dòng nước sanh tử cũng như thế, hay cuốn chìm tất cả phàm phu, chỉ trừ Bồ-tát trụ Đại thừa Đại Niết-bàn, vì tâm nhu nhuyến vậy.” Đó là hành giả Đại thừa ở trong pháp Sổ tức vào địa vị Bồ-tát.

Thế là đã lược nói tướng diệu môn Sổ tức, phàm thánh, Đại thừa Tiểu thừa, chung và riêng. Sổ tức tuy chung mà do sự lý giải nên có khác. Tuy cùng tu Sổ tức mà tùy mỗi hạng người quả báo có sai biệt. Các pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi diệu môn, phàm thánh, Đại thừa Tiểu thừa, chung riêng cũng như vậy.

Giảng:

Sở dĩ nói Lục diệu môn chung và riêng là vì phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa, Bồ-tát chung quán một pháp Sổ tức mà giải tuệ không đồng, nên chứng Niết-bàn cũng sai biệt. Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh cũng như thế.

Phàm phu, ngoại đạo, Nhị thừa cho đến các bậc Bồ-tát cũng đồng quán một pháp Lục diệu môn nhưng chỗ thâm nhập hiểu thấu không đồng, nên chứng Niết-bàn cũng có sai biệt. Do đó biết rằng, các pháp tu này tuy chung mà cũng có riêng.

Vì sao có sai biệt?

Hành giả phàm phu độn căn chính khi Sổ tức chỉ biết đếm từ một đến mười cho tâm an định, mong cầu nhờ đây được nhập thiền định thọ hưởng các khoái lạc. Đó gọi là trong pháp Sổ tức mà khởi ma nghiệp vì tham sanh tử vậy.

Cùng một pháp tu nhưng nếu tâm không chánh thì pháp đó cũng trở thành tà. Như pháp tu Sổ tức, những người độn căn chỉ biết đếm hơi thở từ một đến mười cho tâm bớt tán loạn, rồi mong nhờ đó được nhập thiền định, hưởng các thứ khoái lạc. Tu thiền định chỉ để cầu cho tâm được an ổn thảnh thơi chứ không phải để thoát ly sanh tử. Nên nói, đó là phàm phu trong pháp tu mà khởi ma nghiệp.

Các hàng ngoại đạo lợi căn tâm tri kiến quá mạnh, vì thấy nhân duyên nên khi Sổ tức chẳng những điều tâm đếm hơi thở từ một đến mười, mong cầu thiền định, mà cũng hay phân biệt có hơi thở, không có hơi thở, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không; quá khứ hơi thở như thế đi hay không như thế đi, cũng như thế đi cũng không như thế đi, chẳng như thế đi chẳng không như thế đi, vị lai hơi thở hữu biên, vô biên, cũng hữu biên cũng vô biên, chẳng hữu biên chẳng vô biên; hiện tại hơi thở hữu thường ư? Vô thường ư? Cũng hữu thường cũng vô thường ư? Chẳng hữu thường chẳng vô thường ư? Và tâm cũng như thế. Tùy chỗ tâm nhận được chấp cho là thật, cho người khác nói đều là vọng ngữ. Người này bởi không rõ tướng hơi thở, theo vọng kiến sanh phân biệt, tức là Sổ tức mà khởi hý luận tứ biên thiêu đốt, sanh chỗ phiền não, hằng chìm trong tham trước tà kiến, tạo các tà hạnh, đoạn diệt thiện căn, không hội lý vô sanh, tâm đi ngoài chánh lý nên gọi là ngoại đạo.

Cũng đếm hơi thở mà trở thành ngoại đạo. Tại sao? Bởi đây là lối kiến chấp do nhận định lanh lợi, nên khi ngồi thiền đếm hơi thở rồi khởi phân biệt về tứ biên. Hơi thở có, không, cũng có cũng không, chẳng phải có chẳng phải không. Hoặc chấp hơi thở quá khứ như thế đi hay không như thế đi…, vị lai hơi thở hữu biên, vô biên v.v… Cứ như vậy, chỉ một hơi thở mà tà kiến khởi hý luận chấp thành bốn thứ. Vì vậy nói, hằng chìm trong tham trước tà kiến, tạo các tà hạnh, đoạn diệt thiện căn, không hội lý vô sanh, tâm đi ngoài chánh lý nên gọi là ngoại đạo.

Hai hạng người trên tuy lợi căn, độn căn có khác mà sanh tử luân hồi trong tam giới không khác.

Hạng phàm phu tu để cho yên, cho sung sướng, đó là chấp đi vào trong sanh tử. Ngoại đạo tu chấp vào bốn bên: có, không, cũng có cũng không, chẳng có chẳng không, cũng là đi trong sanh tử. Cho nên cả hai hạng này đều luân hồi trong tam giới như nhau.

Thế nào là Thanh văn Sổ tức?

Hành giả muốn mau thoát ly tam giới tự cầu Niết-bàn nên tu Sổ tức để điều tâm. Khi ấy ở trong Sổ tức mà chẳng lìa chánh quán Tứ đế. Thế nào là Sổ tức quán Tứ chân đế? Hành giả biết hơi thở y nơi thân, thân y nơi tâm, ba việc (hơi thở, thân, tâm) hòa hợp gọi là ấm giới nhập, tức là Khổ. Nếu tham trước pháp ấm giới nhập cho đến buông lung tâm phân biệt ấm giới nhập, tức là Tập.

Hàng Nhị thừa trong khi đếm hơi thở mà chẳng lìa chánh quán Tứ đế. Quán như thế nào?

Hành giả biết hơi thở y nơi thân, thân y nơi tâm, ba việc hòa hợp gọi là ấm giới nhập, tức là Khổ . Hơi thở nương nơi thân mà có hít vô thở ra, nên nói hơi thở y nơi thân, thân này lại do tâm mê muội đưa tới thọ sanh, nên nói thân y nơi tâm. Hơi thở, thân và tâm, ba thứ hòa hợp gọi là ấm, giới, nhập. Ấm là ngũ ấm sắc thọ tưởng hành thức. Giới là thập bát giới, sáu căn sáu trần sáu thức chung lại thành mười tám thứ. Nhập là thập nhị nhập, gồm sáu căn và sáu trần. Từ thân mà tạo tác ra tất cả pháp nên khổ, gọi là Khổ đế. Bởi nương nơi thân mà tâm tham trước vào ấm giới nhập, phân biệt buông lung theo pháp trần, chứa nhóm các khổ, gọi là Tập đế.

Nếu hay đạt được chân tánh của hơi thở, là biết Khổ vô sanh, không khởi tứ thọ, tứ hạnh không sanh thì lợi sử, độn sử các thứ phiền não kiết phược đều lặng lẽ không khởi, gọi là Diệt. Chánh tuệ biết khổ hay thông lý không bị ngăn bít, gọi là Đạo. Nếu hay Sổ tức thông đạt Tứ đế như thế, người ấy quyết định được đạo Thanh văn, dứt nghiệp cũ không tạo nghiệp mới.

Đếm hơi thở biết hơi thở từ đâu có, thấu suốt được chân tánh của hơi thở là không thì không khởi tứ thọ : thọ khổ, vui, không khổ, không vui. Tứ hạnh không sanh , trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi đều rõ biết tánh vốn không sanh. Thấy được như vậy thì tất cả lợi sử độn sử phiền não v.v… lặng lẽ không khởi, gọi là Diệt đế. Nhờ trí tuệ chân chánh biết năm ấm là khổ, thông suốt lý không bị ngăn bít gọi là Đạo đế.

Hàng Thanh văn muốn mau ra khỏi tam giới nên tu quán Sổ tức để điều tâm, trong khi đếm hơi thở vẫn không lìa chánh quán Tứ đế. Nếu hay Sổ tức thông đạt Tứ đế như thế, thì người ấy quyết định được đạo Thanh văn, dứt nghiệp cũ không còn tạo nghiệp mới nữa. Đó là phương pháp tu Sổ tức của hàng Thanh văn.

Thế nào trong Sổ tức vào đạo Duyên giác?

Hành giả cầu tự nhiên trí, ưa riêng được tịch tịnh sâu biết các pháp do nhân duyên sanh, chính khi Sổ tức biết các ghi nhớ đếm hơi thở là Hữu chi, Hữu duyên Thủ, Thủ duyên Ái, Ái duyên Thọ, Thọ duyên Xúc, Xúc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Thức, Thức duyên Hành, Hành duyên Vô minh. Lại quán cái Hữu ghi nhớ hơi thở này là nghiệp thiện hữu vi, có nhân duyên thiện quyết định phải thọ báo ở đời sau hoặc cõi người, cõi trời, vì có nhân duyên thọ báo, ắt có Lão tử và Ưu bi khổ não. Đó là nhân duyên ba đời, sanh tử không ngằn mé, luân hồi không dừng. Vốn không có sanh cũng không có tử, mà không khéo suy nghĩ nên tâm hạnh tạo thành nghiệp sanh tử. Nếu biết Vô minh thể tánh vốn tự không có, bởi nhân duyên vọng tưởng hòa hợp mà sanh, vốn không phải thật, giả gọi là Vô minh.

Vốn không có sanh cũng không có tử, mà không khéo suy nghĩ nên tâm hạnh tạo thành nghiệp sanh tử. Chỗ tột ngằn mé không có sanh tử, nhưng vì chúng ta dính theo cảnh phân biệt nên tạo thành nghiệp sanh tử. Muốn hết sanh tử phải làm sao?

Nếu biết Vô minh thể tánh vốn tự không có, bởi nhân duyên vọng tưởng hòa hợp mà sanh, vốn không phải thật, giả gọi là Vô minh. Trong mười hai nhân duyên, Vô minh là nhân duyên đầu tiên. Tất cả chúng ta hiện ở trong sanh tử đều gốc từ vô minh mà ra, do vô minh nên có thân, rồi cũng từ vô minh mà làm ra những việc dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Nhưng vô minh là gì, nó ra sao, ở đâu, tại sao nó lại là cội gốc của sanh tử? Chúng ta hoàn toàn không biết. Có một vị cư sĩ trí thức tới hỏi: Thế nào là vô minh? Thiền sư nạt: Đồ ngu hỏi vớ vẩn! Vị cư sĩ vừa nghe nổi sân lên, Thiền sư nói: Đó là vô minh.

Trước khi hỏi không có sân, vừa nghe chê ngu nổi sân lên liền. Nếu lúc bị chê đừng chấp cho là xấu là nhục, chỉ cười thôi, ừ tôi ngu mà, thì đâu có bị vô minh sai sử khiến cho nổi giận. Bởi vô minh bình thường không có, gặp duyên mới sanh, nên nói vô minh từ nhân duyên sanh.

Vô minh đã từ nhân duyên sanh tức nhiên không thật, vậy mà chúng ta cứ bị nó chỉ huy lôi đi trong sanh tử luân hồi không biết bao nhiêu kiếp. Dẫn đi rồi sanh ra, tạo nghiệp, chịu khổ. Khổ rồi tạo nghiệp, tiếp tục luân hồi mãi mãi không dừng. Nếu chúng ta biết vô minh là khổ thì phải bỏ nó. Muốn hết vô minh không khó, giả sử bị người chê mắng mà mình sáng suốt, biết lời nói vô nghĩa không có giá trị thì có gì đâu mà tạo nghiệp. Không tạo nghiệp nên không làm khổ mình khổ người, đó là minh. Vô minh và minh kế cận nhau, vô minh là tối tăm, minh là sáng. Bỏ vô minh thì minh, hết tối thì sáng, đơn giản như vậy. Ai cũng có vô minh và cũng có quyền minh. Biết vô minh không thật, khi duyên đến sáng suốt đừng để bị mê lầm lôi là có trí tuệ. Người có trí tuệ không tạo nghiệp nên không bị sanh tử dẫn đi, còn người không có trí tuệ thì luôn luôn tạo nghiệp nên bị nghiệp lôi vào sanh tử không có ngày ra.

Chúng ta tu cần biết rõ cái nào là vô minh cái nào là minh, để sự tu tập không bị sai lầm. Trong cuộc sống hàng ngày phải khéo tỉnh, đừng để vô minh chen vào. Nếu gặp người chửi mình chỉ cười thôi thì dù không ăn chay trường nhưng vẫn là tu, còn chấp vào việc ăn chay thật kỹ mà ai động tới liền nổi sân đỏ mặt đỏ mày lên, là tu chưa giỏi. Trọng tâm của sự tu là tiêu diệt phiền não, chứ không phải tu trên hình thức ăn uống, nhưng phần nhiều thường chấp vào ăn uống cho đó là tu. Phật tử gặp nhau hay hỏi, năm rồi anh chị ăn chay một tháng mấy ngày? Bốn ngày. Năm nay ăn mấy ngày? Sáu ngày. Anh, chị tu hay quá! Nghĩ rằng năm nay ăn chay nhiều hơn năm rồi là hay, mà không biết tu là phải bớt phiền não, bị người nhục mạ không sân, được như vậy mới thật là tu hay.

Vô minh còn không thật có thì Hành v.v… các nhân duyên đều không căn bản. Đã không có hành v.v… các nhân duyên, thì đâu thật có Sổ tức hiện nay. Khi ấy hành giả biết sâu Sổ tức thuộc nhân duyên, không, không có tự tánh, không thọ không trước, không nghĩ không phân biệt, tâm như hư không vắng lặng không động, rỗng suốt, tâm vô lậu phát sanh thành đạo Duyên giác.

Chỉ cần đếm hơi thở, biết hơi thở không thật, do nhân duyên sanh, không có tự tánh. Biết rồi không chấp không dính, không phân biệt, tâm rỗng suốt vắng lặng, vô lậu phát sanh. Đó là giải thoát sanh tử, thành tựu đạo Duyên giác.

Như vậy, thành tựu đạo Duyên giác không khó, chỉ cần nắm vững được đạo lý, biết rõ manh mối của sự tu, để tâm rỗng rang không chấp trước cũng không phân biệt dính mắc, liền được giải thoát. Nếu không biết thì việc tu thật là cay đắng, vì cứ ngỡ rằng lạy Phật nhiều là tu nhiều, rồi chấp vào công phu đó mà sanh phiền não, thì dù có tu hoài cũng không tiến được.

Thế nào gọi là Bồ-tát Sổ tức?

Hành giả vì cầu Nhất thiết trí, Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, Như Lai tri kiến, Lực, Vô sở uý, thương xót muốn làm cho vô lượng chúng sanh được an lạc cho nên tu Sổ tức. Muốn nhân pháp môn này vào Nhất thiết chủng trí. Vì sao? Như trong Kinh nói: “Pháp quán hơi thở là cái cửa ban đầu của ba đời chư Phật vào đạo.” Thế nên những vị mới phát tâm Bồ-tát muốn cầu Phật đạo, trước nên điều tâm Sổ tức.

Nhất thiết trí là trí biết tất cả pháp thế gian và xuất thế gian. Tự nhiên trí là trí sẵn của chính mình tự thuở nào. Vô sư trí là trí không có thầy, trí này với Tự nhiên trí gần nhau, tuy hai tên mà cùng một nghĩa. Như Lai tri kiến là tri kiến Phật của mình, cũng là Vô sư trí… Nhân tu Sổ tức mà được đầy đủ các thứ diệu dụng như thập lực, tứ vô sở uý v.v…

Bồ-tát cầu thành Phật đạo để độ chúng sanh, vì thương xót muốn làm cho vô lượng chúng sanh được an lạc, chứ không phải vì mình mà tu, cho nên trước phải tu điều tâm đếm hơi thở. Như trong Kinh nói: Pháp quán hơi thở là cái cửa ban đầu của ba đời chư Phật vào đạo. Chẳng những một đức Phật, mà ba đời các đức Phật đều vào đạo bằng cửa quán hơi thở này. Cho nên Bồ-tát cũng muốn nhân pháp này mà được vào Nhất thiết chủng trí.

Chính khi Sổ tức biết hơi thở không phải hơi thở, cũng như huyễn hóa, do đó hơi thở không phải là sanh tử, cũng không phải là Niết-bàn. Khi ấy, ở trong Sổ tức không thấy sanh tử để đoạn, không thấy Niết-bàn để nhập. Vì thế, không trụ sanh tử nên không bị hai mươi lăm cõi trói buộc. Không chứng Niết-bàn nên không rơi vào Thanh văn Duyên giác.

Bồ-tát phát tâm muốn cầu Phật đạo trước tập tu Sổ tức, chính khi Sổ tức biết hơi thở không phải hơi thở, cũng như huyễn hóa. Tại sao? Vì hơi thở là sanh mạng của con người, tắt thở là chết, nhưng hơi thở lại là cái vay mượn, hít vô là mượn, thở ra là trả; đã là vay mượn thì làm sao thật được, cho nên thân mạng cũng không thật. Thân không thật thì cần gì phải đoạn sanh tử, phải cầu nhập Niết-bàn, vì sanh tử không thật thì Niết-bàn cũng không thật. Do đó, không trụ sanh tử nên không bị hai mươi lăm cõi trói buộc, không chứng Niết-bàn nên không rơi vào Thanh văn Duyên giác. Đó là điểm then chốt để chúng ta tu tập.

Tất cả chúng ta thấy sanh mạng là thật hay không thật? Về lý trí thì khi nghe giải thích mình biết nó không thật, nhưng bước ra khỏi nhà giảng, ra khỏi chỗ tu tập, đối diện với người đời thì thấy nó thật liền. Đường tu khó khăn cay đắng là tại trí nhẹ hơn tình, tình cảm thế gian nặng còn lý trí thì nhẹ lắm. Biết thì biết mà ứng dụng chưa được, nên dòng sanh tử thoát không nổi, ra không khỏi. Lỗi là bởi chúng ta cứ huân tập khí, chẳng những tập lâu đời mà hiện tại vẫn tập. Biết thân giả chỉ có một giờ, nửa giờ, còn lại thấy nó thật hết thì làm sao cái ít thắng được cái nhiều. Nếu lúc nào cũng nhắc: “Ối! Thân này giả có gì đâu mà quan trọng”, thì chắc là dễ tu. Vì dễ quên, dễ kẹt mắc nên khó tu khó tỉnh. Đôi lúc chúng ta cũng có tỉnh, nhưng khi chung sống với những người mê, nghe nói thân này giả họ cho là mình điên, chúng ta phải ráng cãi lại để thiên hạ thấy mình không điên. Cho nên dù biết tu rồi, mà thắng được những cái khó khăn đó cũng thật là cay đắng.

Dùng bình đẳng đại tuệ không có tâm thủ xả, vào Sổ tức trung đạo, gọi là thấy Phật tánh, được Vô sanh nhẫn, trụ Đại Niết-bàn thường lạc ngã tịnh.

Khi không sợ sanh tử không cầu Niết-bàn thì tâm thủ xả hết, vào Sổ tức trung đạo rỗng rang thanh tịnh, gọi là trụ Đại Niết-bàn . Do nhận giả làm thật, cho cái suy nghĩ tốt xấu hay dở, phải quấy sanh diệt v.v… là tâm mình, nên không biết được lẽ thật. Khi nào những tâm đó lặng hết, chỉ còn một thể thanh tịnh hằng giác hằng tri rỗng rang không có niệm khởi, chừng đó mới không có sanh tử. Vì sao? Vì không động thì không sanh diệt, không theo cái hư giả thì chân thật hiện tiền. Như vậy, muốn thấy thể chân thật nơi mình chỉ cần bỏ cái giả mà thôi, chứ không phải chạy tìm ở đâu xa hết.

Chúng ta có chịu bỏ cái giả không hay còn tiếc? Chắc là tiếc không nỡ bỏ, vì bỏ buồn quá, có để cãi nhau cho vui, nếu bỏ nó rồi thì còn gì để mà cãi nữa. Bởi không nỡ bỏ nên cái thật bị ẩn đi. Chúng ta tu phải can đảm, biết tất cả niệm là hư giả, mặc tình nó khởi diệt không chạy theo là dừng được nghiệp sanh tử, đuổi theo là đi trong sanh tử. Ví dụ có ai đó tới nói: “Đêm hôm tôi nằm mộng thấy như vầy, nếu anh chị mua con số này thì chắc chắn trúng!”… Nghe người gợi ý, lòng tham nổi lên muốn đi mua số liền. Do niệm ham thích dẫn đi, mua số trúng trật gì chưa biết, nhưng trước hết là thấy mình bị lôi tới đó rồi. Cũng vậy, khi thân này mất, những ý niệm chứa chấp trong lòng, hoặc ưa thích cảnh gì thì liền chạy tới cảnh đó, rồi thọ thân sanh ra, tiếp tục chịu một đời đau khổ nữa. Cứ thế mà trôi trong sanh tử, mà có luân hồi.

Nếu tâm chúng ta không tham không giận, thản nhiên tự tại thì có ai rủ rê dụ dỗ gì mình được. Tự tại không phải đợi sau khi chết mới có, mà ngay lúc sống không để tâm dính mắc vào bất cứ pháp nào. Lúc sống có nhân tự tại thì khi chết mới được tự do, còn cứ chạy theo những thứ ưa ghét thì chắc khó dừng được nghiệp. Khi nhắm mắt thấy cảnh đẹp không theo, cảnh xấu không tới, đó là tự tại.

Đại Niết-bàn có đủ bốn đức là Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Thường Lạc, vì cái vui của Niết-bàn là cái vui không sanh diệt. Ngã tức là pháp thân hiện tiền. Pháp thân đó không cấu uế, không phiền não nên nói là Tịnh. Vui của thế gian là vui trong sanh diệt, ngược lại với bốn đức của Đại Niết-bàn.

Chúng ta thường hiểu lầm cho rằng vui là đối với khổ, như đói là khổ được ăn là vui, lạnh là khổ được sưởi ấm là vui… Do đó cứ chạy theo cái vui trong đối đãi. Thân này vô thường mà tưởng là thường, khổ mà tưởng là vui, duyên hợp không chủ mà tưởng là ngã, nhớp nhúa mà tưởng là trong sạch. Đó là bốn thứ chấp điên đảo của phàm phu. Nếu trong cuộc sống hàng ngày chúng ta luôn thấy vô thường, thì giả sử có bệnh hoạn hoặc tai nạn gì đến làm cho thân bại hoại, mình đã biết là vô thường thì bại hoại là chuyện bình thường mà thôi, đâu có gì quan trọng. Hoặc bị ai chê bai nhơ xấu gì, cũng không phiền giận vì biết thân là bất tịnh thì nhơ xấu cũng là việc thường. Nghĩ được như vậy thì không bị những thứ chấp nê sai lầm làm cho buồn khổ.

Các tưởng chấp sai lầm, Phật gọi là điên đảo, chúng ta học tu theo Phật nên dẹp điên đảo chứ đừng cố giữ. Dẹp thì bớt khổ còn giữ thì khổ đau. Chấp trước sai lầm gọi là người mê, thấy đúng thật gọi là người trí. Như vậy người trí không phải chạy tìm đâu xa, mà chỉ cần đổi cái nhìn sai lầm thành cái nhìn đúng như thật, chứ không phải đợi học đến cử nhân hay tiến sĩ mới là người trí.

Cho nên Kinh nói: “Ví như dòng nước chảy xiết cuốn gãy tất cả, chỉ trừ cành dương liễu, vì nó mềm dẻo vậy. Dòng nước sanh tử cũng như thế, hay cuốn chìm tất cả phàm phu, chỉ trừ Bồ-tát trụ Đại thừa Đại Niết-bàn, vì tâm nhu nhuyến vậy.” Đó là hành giả Đại thừa ở trong pháp Sổ tức vào địa vị Bồ-tát.

Thế là đã lược nói tướng diệu môn Sổ tức, phàm thánh, Đại thừa Tiểu thừa, chung và riêng. Sổ tức tuy chung mà do sự lý giải nên có khác. Tuy cùng tu Sổ tức mà tùy mỗi hạng người quả báo có sai biệt. Các pháp Tùy, Chỉ, Quán, Hoàn, Tịnh mỗi diệu môn, phàm thánh, Đại thừa Tiểu thừa, chung riêng cũng như vậy.

Trong sáu pháp chỉ nói pháp Sổ tức, nên biết các pháp kia cũng y theo đó. Hành giả Đại thừa nếu khéo ở trong pháp Sổ tức áp dụng tu tập cũng vào được địa vị Bồ-tát. Như vậy, tuy cùng một pháp tu mà do trình độ, tâm tư, chí nguyện khác nhau, cho nên khi tu kết quả khác nhau. Như hàng Bồ-tát do tâm nhu nhuyến, rộng rãi thênh thang, nên không bị dòng nước sanh tử cuốn trôi.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.