Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

03. Phẩm Thí Dụ



1.- Lúc bấy giờ ngài Xá-lợi-phất hớn hở vui mừng, liền đứng dậy chấp tay chiêm ngưỡng dung nhan của đức Phật mà bạch Phật rằng:

– Nay con theo đức Thế Tôn nghe được tiếng pháp này, trong lòng hớn hở được điều chưa từng có. Vì sao? Con xưa theo Phật nghe pháp như thế này, thấy các vị Bồ-tát được thọ ký thành Phật, mà chúng con chẳng được dự việc đó, tự rất cảm thương mất vô lượng Tri kiến của Như Lai.

Thế Tôn! Con thường khi một mình ở dưới cây trong núi rừng, hoặc ngồi, hoặc đi kinh hành, hằng nghĩ như vầy: “Chúng ta đồng vào pháp tánh, tại sao đức Như Lai lại dùng pháp Tiểu thừa mà tế độ cho?”

Đó là lỗi của chúng con chớ chẳng phải là Thế Tôn vậy. Vì sao? Nếu chúng con chờ Phật nói pháp sở nhân thành đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thời chắc do pháp Đại thừa mà được độ thoát. Song chúng con chẳng hiểu Phật phương tiện theo cơ nghi mà nói pháp, vừa mới nghe Phật nói pháp, vội tin nhận suy gẫm để chứng lấy.

Thế Tôn! Con từ xưa đến nay trọn ngày luôn đêm hằng tự trách mình, mà nay được từ Phật nghe pháp chưa từng có, trước chưa hề nghe, dứt các lòng nghi hối, thân ý thơ thới rất được an ổn. Ngày nay mới biết mình thiệt là Phật tử, từ miệng Phật sanh ra, từ pháp hóa sanh được pháp phần của Phật.

Khi ấy, ngài Xá-lợi-phất muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

2.-

Con nghe tiếng pháp này

Được điều chưa từng có

Lòng rất đỗi vui mừng

Lưới nghi đều đã trừ

Xưa nay nhờ Phật dạy

Chẳng mất nơi Đại thừa

Tiếng Phật rất ít có

Hay trừ khổ chúng sanh

Con đã được lậu tận

Nghe cũng trừ lo khổ

Con ở nơi hang núi

Hoặc dưới cụm cây rừng

Hoặc ngồi hoặc kinh hành

Thường suy nghĩ việc này

Than ôi! Rất tự trách!

Sao lại tự khi mình

Chúng ta cũng Phật tử

Đồng vào pháp vô lậu

Chẳng được ở vị lai

Nói pháp Vô thượng đạo

Sắc vàng, băm hai tướng

Mười lực, các giải thoát,

Đồng chung trong một pháp

Mà chẳng được việc đây

Tám mươi tướng tốt đẹp

Mười tám pháp bất cộng

Các công đức như thế

Mà ta đều đã mất.

3.-

Lúc con kinh hành riêng

Thấy Phật ở trong chúng

Danh đồn khắp mười phương

Rộng lợi ích chúng sanh

Tự nghĩ mất lợi này

Chính con tự khi dối

Con thường trong ngày đêm

Hằng suy nghĩ việc đó

Muốn đem hỏi Thế Tôn

Là mất hay không mất?

Con thường thấy Thế Tôn

Khen ngợi các Bồ-tát

Vì thế nên ngày đêm

Suy lường việc như vậy.

4.-

Nay nghe tiếng Phật nói

Theo cơ nghi dạy pháp

Vô lậu khó nghĩ bàn

Khiến chúng đến đạo tràng

Con xưa chấp tà kiến

Làm thầy các Phạm chí

Thế Tôn rõ tâm con

Trừ tà nói Niết-bàn

Con trừ hết tà kiến

Được chứng nơi pháp không

Bấy giờ lòng tự bảo

Được đến nơi diệt độ

Mà nay mới tự biết

Chẳng phải thiệt diệt độ

Nếu lúc được thành Phật

Đủ ba mươi hai tướng

Trời, người, chúng dạ-xoa

Rồng, thần đều cung kính

Bây giờ mới được nói

Dứt hẳn hết không thừa

Phật ở trong đại chúng

Nói con sẽ thành Phật

Nghe tiếng pháp như vậy

Lòng nghi hối đã trừ.

5.-

Khi mới nghe Phật nói

Trong lòng rất sợ nghi

Phải chăng ma giả Phật

Não loạn lòng ta ư?

Phật dùng các món duyên

Thí dụ khéo nói phô

Lòng kia an như biển

Con nghe, lưới nghi dứt

Phật nói thuở quá khứ

Vô lượng Phật diệt độ

An trụ trong phương tiện

Cũng đều nói pháp đó

Phật hiện tại, vị lai

Số nhiều cũng vô lượng

Cũng dùng các phương tiện

Diễn nói pháp như thế

Như Thế Tôn ngày nay

Từ sanh đến xuất gia

Được đạo chuyển pháp luân

Cũng dùng phương tiện nói

Thế Tôn nói đạo thật

Ba-tuần không nói được.

Vì thế con định biết

Không phải ma giả Phật

Con sa vào lưới nghi

Cho là ma làm ra

Nghe tiếng Phật êm dịu

Sâu xa rất nhiệm mầu

Nói suốt pháp thanh tịnh

Tâm con rất vui mừng

Nghi hối đã hết hẳn

An trụ trong thiệt trí

Con quyết sẽ thành Phật

Được trời, người cung kính

Chuyển pháp luân vô thượng

Giáo hóa các Bồ-tát.

6.- Lúc bấy giờ, đức Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

– Ta nay ở trong hàng trời, người, Sa-môn, Bà-la-môn mà nói. Ta xưa từng ở nơi hai muôn ức Phật vì đạo Vô thượng nên thường giáo hóa ông, ông cũng lâu dài theo ta thọ học, ta dùng phương tiện dẫn dắt ông sanh vào trong pháp ta.

Xá-lợi-phất! Ta thuở xưa dạy ông chí nguyện Phật đạo, ông nay đều quên mà bèn tự nói đã được diệt độ. Ta nay lại muốn khiến ông nghĩ nhớ bổn nguyện cùng đạo đã làm, mà vì các Thanh văn nói kinh Đại thừa tên là Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ-tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm.

7.- Xá-lợi-phất! Ông đến đời vị lai, quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì chánh pháp đầy đủ đạo tu hành của Bồ-tát sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Nước tên Ly Cấu, cõi đó bằng thẳng, thanh tịnh đẹp đẽ, an ổn, giàu vui, trời, người đông đảo. Lưu-ly làm đất, có tám đường giao thông, dây bằng vàng ròng để giăng bên đường, mé đường đều có hàng cây bằng bảy báu, thường có bông trái. Đức Hoa Quang Như Lai cũng dùng ba thừa giáo hóa chúng sanh.

Xá-lợi-phất! Lúc đức Phật ra đời dầu không phải đời ác mà bởi bổn nguyện nên nói pháp ba thừa. Kiếp đó tên là Đại Bửu Trang Nghiêm. Vì sao gọi là Đại Bửu Trang Nghiêm? Vì trong cõi đó dùng Bồ-tát làm “Đại Bửu” vậy. Các Bồ-tát đó số đông vô lượng vô biên bất khả tư nghị, tính kể hay thí dụ đều không kịp đến được, chẳng phải sức trí tuệ của Phật không ai có thể biết được. Khi muốn đi thì có bông đỡ chân.

Các vị Bồ-tát đó không phải hàng mới phát tâm, đều đã trồng cội đức từ lâu. Ở nơi vô lượng trăm nghìn muôn ức đức Phật, tịnh tu phạm hạnh, hằng được các Phật ngợi khen. Thường tu trí tuệ của Phật, đủ sức thần thông lớn, khéo biết tất cả các pháp môn, ngay thật không dối, chí niệm bền vững, bậc Bồ-tát như thế, khắp đầy nước đó.

Xá-lợi-phất! Đức Phật Hoa Quang thọ mười hai tiểu kiếp, trừ lúc còn làm vương tử chưa thành Phật. Nhân dân nước đó thọ tám tiểu kiếp. Đức Hoa Quang Như Lai quá mười hai tiểu kiếp thọ ký đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cho Kiên Mãn Bồ-tát mà bảo các Tỳ-kheo: Ông Kiên Mãn Bồ-tát này kế đây sẽ thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, cõi nước của đức Phật đó cũng lại như đây.

Xá-lợi-phất! Sau khi Phật Hoa Quang đó diệt độ, chánh pháp trụ lại trong đời ba mươi hai tiểu kiếp, tượng pháp trụ trong đời cũng ba mươi hai tiểu kiếp.

Lúc ấy, đức Thế Tôn muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

8.-

Xá-lợi-phất đời sau

Thành đấng Phật trí khắp

Hiệu rằng: Phật Hoa Quang

Sẽ độ vô lượng chúng

Cúng dường vô số Phật

Đầy đủ hạnh Bồ-tát

Các công đức thập lực

Chứng đặng đạo Vô thượng

Quá vô lượng kiếp rồi

Kiếp tên Đại Bửu Nghiêm

Cõi nước tên Ly Cấu

Trong sạch không vết nhơ

Dùng lưu-ly làm đất

Dây vàng giăng đường sá

Cây bảy báu sắc đẹp

Thường có hoa cùng trái

Bồ-tát trong cõi đó

Chí niệm thường bền vững

Thần thông, ba-la-mật

Đều đã trọn đầy đủ

Nơi vô số đức Phật

Khéo học đạo Bồ-tát

Những Đại sĩ như thế

Phật Hoa Quang hóa độ

Lúc Phật làm vương tử

Rời nước bỏ vinh hoa

Nơi thân cuối rốt sau

Xuất gia thành Phật đạo.

Phật Hoa Quang trụ thế

Thọ mười hai tiểu kiếp

Chúng nhân dân nước đó

Sống lâu tám tiểu kiếp

Sau khi Phật diệt độ

Chánh pháp trụ ở đời

Ba mươi hai tiểu kiếp

Rộng độ các chúng sanh

Chánh pháp diệt hết rồi

Tượng pháp cũng băm hai

Xá-lợi rộng truyền khắp

Trời, người khắp cúng dường

Phật Hoa Quang chỗ làm

Việc đó đều như thế

Đấng Lưỡng Túc Tôn kia

Rất hơn không ai bằng

Phật tức là thân ông

Nên phải tự vui mừng.

9.- Bấy giờ bốn bộ chúng: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, cận sự nam, cận sự nữ và cả đại chúng: trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-dà v.v… thấy Xá-lợi-phất ở trước Phật lãnh lấy lời dự ghi sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, lòng rất vui mừng hớn hở vô lượng. Mỗi người đều cổi y trên của mình đang đắp để cúng dường Phật. Thích đề-hoàn nhơn cùng Phạm Thiên vương v.v… và vô số thiên tử cũng đem y đẹp của trời, hoa trời mạn-đà-la, ma-ha mạn-đà-la v.v… cúng dường nơi Phật. Y trời tung lên liền trụ giữa hư không mà tự xoay chuyển. Các kỹ nhạc trời trăm nghìn muôn thứ ở giữa hư không đồng thời đều trỗi. Rưới các thứ hoa trời mà nói lời rằng:

– Đức Phật xưa ở thành Ba-la-nại, ban đầu chuyển pháp luân, đến nay mới lại chuyển pháp luân rất lớn Vô thượng.

Lúc đó các thiên tử muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

10.-

Xưa ở thành Ba-nại

Chuyển pháp luân bốn đế

Phân biệt nói các pháp

Sanh diệt của năm nhóm

Nay lại chuyển pháp luân

Rất lớn diệu Vô thượng

Pháp đó rất sâu mầu

Ít có người tin được.

Chúng ta từ xưa lại

Thường nghe Thế Tôn nói

Chưa từng nghe thượng pháp

Thâm diệu như thế này.

Thế Tôn nói pháp đó

Chúng ta đều tùy hỉ

Đại trí Xá-lợi-phất

Nay được lãnh Phật ký

Chúng ta cũng như vậy

Quyết sẽ đặng thành Phật

Trong tất cả thế gian

Rất tôn không còn trên

Phật đạo chẳng thể bàn

Phương tiện tùy nghi nói

Ta bao nhiêu nghiệp phước

Đời nay hoặc quá khứ

Và công đức thấy Phật

Trọn hồi hướng Phật đạo.

11.- Bấy giờ, Xá-lợi-phất bạch rằng:

– Thế Tôn! Con nay không còn nghi hối, tự mình ở trước Phật đặng thọ ký thành Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Các vị tâm tự tại một nghìn hai trăm đây, lúc xưa ở bậc hữu học, Phật thường dạy rằng: Pháp của ta hay lìa sanh, già, bệnh, chết, rốt ráo Niết-bàn. Các vị hữu học, vô học đây cũng đều đã tự rời chấp ngã cùng chấp có, chấp không v.v… nói là đặng Niết-bàn, mà nay ở trước đức Thế Tôn nghe chỗ chưa từng nghe, đều sa vào nghi lầm. Hay thay Thế Tôn! Xin Phật vì bốn chúng nói nhân duyên đó, khiến lìa lòng nghi hối.

12.- Khi ấy, Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

– Ta trước đâu không nói rằng: Các Phật Thế Tôn dùng các món nhân duyên lời lẽ thí dụ phương tiện mà nói pháp đều là đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác ư? Các điều nói đó đều vì dạy hàng Bồ-tát vậy. Nhưng Xá-lợi-phất! Nay ta sẽ dùng một thí dụ để chỉ rõ lại nghĩa đó, những người có trí do thí dụ mà đặng hiểu.

13.- Xá-lợi-phất! Như trong quốc, ấp, tụ lạc có vị Đại trưởng giả tuổi đã già suy, của giàu vô lượng, có nhiều nhà ruộng và các tôi tớ. Nhà ông rộng lớn mà chỉ có một cửa để ra vào, người ở trong đó rất đông: hoặc một trăm, hai trăm, cho đến năm trăm người, lầu gác đã mục, vách phên sụp đổ, chưn cột hư nát, trính xuyên xiêu ngã, bốn phía đồng một lúc, lửa bỗng nổi lên đốt cháy nhà cửa.

Các người con của Trưởng giả hoặc mười người, hoặc hai mươi người, hoặc đến ba mươi người ở trong nhà đó.

14.- Trưởng giả thấy lửa từ bốn phía nhà cháy lên, liền rất sợ sệt mà nghĩ rằng: Ta dầu có thể ở nơi cửa của nhà cháy này ra ngoài rất an ổn, song các con ở trong nhà lửa ưa vui chơi giỡn, không hay biết, không sợ sệt, lửa đến đốt thân rất đau khổ lắm, mà lòng chẳng nhàm lo, không có ý cầu ra khỏi.

Xá-lợi-phất! Ông Trưởng giả đó lại nghĩ: Thân và tay của ta có sức mạnh, nên dùng vạt áo hoặc dùng ghế v.v… từ trong nhà mà ra ngoài. Ông lại nghĩ: Nhà này chỉ có một cái cửa mà lại hẹp nhỏ, các con thơ bé chưa hiểu, mê đắm chơi giỡn hoặc vấp ngã bị lửa đốt cháy, ta nên vì chúng nó mà nói những việc đáng sợ.

Nhà này đã bị cháy phải liền mau ra, chớ để bị lửa đốt hại. Nghĩ như thế rồi theo chỗ đã nghĩ đó mà bảo các con: “Các con mau ra!” Cha dầu thương xót khéo nói để dụ dỗ, mà các người con ưa vui chơi chẳng khứng tin chịu, chẳng sợ sệt, trọn không có lòng muốn ra, lại cũng chẳng hiểu gì là lửa? Gì là nhà? Thế nào là hại? Chỉ cứ Đông Tây chạy giỡn nhìn cha mà thôi.

15.- Bấy giờ Trưởng giả liền nghĩ, nhà này đã bị lửa lớn đốt cháy, ta cùng các con nếu không liền ra chắc sẽ bị cháy, ta nay nên bày chước phương tiện khiến cho các con được khỏi nạn này.

Cha biết các con đều vẫn có lòng thích các đồ chơi trân báu lạ lùng, nếu có chắc chúng nó ưa đắm, mà bảo các con rằng: “Đây này là những món ít có, khó đặng mà các con có thể vui chơi, nếu các con không ra lấy sau chắc buồn ăn năn. Các thứ xe dê, xe hươu, xe trâu như thế, nay ở ngoài cửa có thể dùng dạo chơi, các con ở nơi nhà lửa, nên mau ra đây, tùy ý các con muốn, cha đều sẽ cho các con.”

Lúc bấy giờ, các người con nghe cha nói đồ chơi báu đẹp vừa ý mình, nên lòng mỗi người đều mạnh mẽ xô đẩy lẫn nhau, cùng đua nhau ruổi chạy, tranh ra khỏi nhà lửa. Khi đó Trưởng giả thấy các con đặng an ổn ra khỏi nhà lửa, đều ở trong ngã tư đường ngồi nơi đất trống không còn bị chướng ngại, tâm ông thơ thới vui mừng hớn hở.

Bấy giờ các người con đều thưa với cha rằng: “Cha lúc nãy hứa cho những đồ chơi tốt đẹp, nào xe dê, xe hươu, xe trâu xin liền ban cho.”

16.- Xá-lợi-phất! Khi đó Trưởng giả đều cho các con đồng một thứ xe lớn, xe đó cao rộng chưng dọn bằng các món báu, lan can bao quanh, bốn phía treo linh, lại dùng màn lọng giăng che ở trên, cũng dùng đồ báu đẹp tốt lạ mà trau dồi đó, dây bằng báu kết thắt các dải hoa rủ xuống, nệm chiếu mềm mại trải chồng, gối đỏ để trên, dùng trâu trắng kéo, sắc da mập sạch, thân hình mập đẹp, có sức rất mạnh, bước đi ngay bằng mau lẹ như gió, lại có đông tôi tớ để hầu hạ đó.

Vì cớ sao? Vì ông Trưởng giả đó của giàu vô lượng, các thứ kho tàng thảy đều đầy ngập, ông nghĩ rằng: “Của cải của ta nhiều vô cực, không nên dùng xe nhỏ xấu kém mà cho các con, nay những trẻ thơ này đều là con của ta, đồng yêu không thiên lệch, ta có xe bằng bảy báu như thế số nhiều vô lượng nên lấy lòng bình đẳng mà đều cho chúng nó, chẳng nên sai khác.

Vì sao? Dầu đem xe của ta đó khắp cho cả người một nước hãy còn không thiếu huống gì các con.” Lúc ấy, các người con đều ngồi xe lớn đặng điều chưa từng có, không phải chỗ trước kia mình trông.

17.- Xá-lợi-phất! Ý của ông nghĩ sao? Ông Trưởng giả đó đồng đem xe trân báu lớn cho các người con, có lỗi hư vọng chăng?

Xá-lợi-phất thưa:

– Thưa Thế Tôn! Không, ông Trưởng giả đó chỉ làm cho các người con đặng khỏi nạn lửa, toàn thân mạng chúng nó chẳng phải là hư vọng. Vì sao? Nếu được toàn thân mạng bèn đã được đồ chơi tốt đẹp, huống nữa là dùng phương tiện cứu vớt ra khỏi nhà lửa.

Thế Tôn! Dầu ông Trưởng giả đó nhẫn đến chẳng cho một thứ xe rất nhỏ còn chẳng phải hư vọng. Vì sao? Vì ông Trưởng giả đó trước có ý nghĩ như vầy: Ta dùng chước phương tiện cho các con được ra khỏi, vì nhân duyên đó nên không hư vọng vậy. Huống gì ông Trưởng giả tự biết mình của giàu vô lượng muốn lợi ích cho các con mà đồng cho xe lớn.

18.- Phật bảo ngài Xá-lợi-phất:

– Hay thay! Hay thay! Như lời ông nói, Xá-lợi-phất! Như Lai cũng lại như thế, Phật là cha của tất cả thế gian, ở nơi các sự sợ hãi suy não lo buồn vô minh che tối hết hẳn không còn thừa, mà trọn thành tựu vô lượng tri kiến, trí lực, vô sở úy, có sức đại thần thông cùng sức trí huệ đầy đủ các món phương tiện, trí huệ ba-la-mật, đại từ đại bi thường không hề lười mỏi. Hằng vì cầu việc lành lợi cho tất cả muôn loại mà sanh vào nhà lửa tam giới cũ mục này, để độ chúng sanh ra khỏi nạn lửa: sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não, ngu si tối tăm, ba độc; dạy bảo cho chúng sanh đặng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

19.- Ta thấy các chúng sanh bị những sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, khổ não nó đốt cháy, cũng vì năm món dục tài lợi mà bị các điều thống khổ. Lại vì tham mê đeo đuổi tìm cầu nên hiện đời thọ các điều khổ, đời sau thọ khổ địa ngục, súc sanh, ngạ quỉ. Nếu sanh lên trời và ở trong loài người thời nghèo cùng khốn khổ, bị khổ về người yêu thường xa lìa, kẻ oán ghét lại gặp gỡ. Các món khổ như thế mà chúng sanh chìm trong đó vui vẻ dạo chơi, chẳng hay chẳng biết, chẳng kinh chẳng sợ, cũng chẳng sanh lòng nhàm, không cầu giải thoát; ở trong nhà lửa tam giới này Đông Tây rảo chạy, dầu bị khổ nhiều vẫn chẳng lấy làm lo.

20.- Xá-lợi-phất! Đức Phật thấy việc này rồi bèn nghĩ rằng: “Ta là cha của chúng sanh nên cứu chúng nó ra khỏi nạn khổ đó, ban vô lượng vô biên món trí huệ vui của Phật để chúng nó dạo chơi.”

Xá-lợi-phất! Đức Như Lai lại nghĩ: “Nếu ta chỉ dùng sức thần thông cùng sức trí huệ bỏ chước phương tiện, mà vì chúng sanh khen ngợi các món tri kiến, trí lực, vô sở úy của Như Lai, ắt chúng sanh chẳng có thể do đó mà đặng độ thoát.”

Vì sao? Vì các chúng sanh đó chưa khỏi sự sanh, già, bệnh, chết, lo buồn, đau khổ, đương bị thiêu đốt trong nhà lửa tam giới, làm sao có thể hiểu được trí huệ của Phật.

21.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả kia dầu thân và tay có sức mạnh mà chẳng dùng đó, chỉ ân cần phương tiện gắng cứu các con thoát nạn nhà lửa, vậy sau đều cho xe trân báu lớn.

Đức Như Lai cũng lại như thế, dầu có trí lực cùng sức vô úy mà chẳng dùng đến, chỉ dùng trí tuệ phương tiện nơi nhà lửa tam giới cứu vớt chúng sanh, vì chúng sanh nói ba thừa Thanh văn, Duyên giác cùng Phật thừa, mà bảo rằng: “Các ngươi không nên ưa ở trong nhà lửa tam giới, chớ có ham mê các món sắc, thinh, hương, vị, xúc thô hèn, nếu tham, mê ắt sanh ái nhiễm thời sẽ bị nó đốt, các ngươi mau ra khỏi ba cõi sẽ đặng chứng ba thừa: Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa.

Nay ta vì các ngươi mà bảo nhiệm việc đó quyết không dối vậy. Các ngươi chỉ nên siêng năng tinh tấn tu hành.” Đức Như Lai dùng phương tiện ấy để dụ dẫn chúng sanh thẳng đến, lại bảo: “Các ngươi nên biết rằng pháp ba thừa đó đều là pháp của các đấng Thánh khen ngợi, là pháp tự tại không bị ràng buộc, không còn phải nương gá tìm cầu, ngồi trong ba thừa này dùng các món căn, lực, giác chi, thánh đạo, thiền định vô lậu, cùng giải thoát tam-muội v.v… để tự vui sướng, đặng vô lượng sự an ổn khoái lạc.”

22.- Xá-lợi-phất! Nếu có chúng sanh nào bề trong có Trí tánh, theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận ân cần tinh tấn, muốn chóng ra khỏi ba cõi tự cầu chứng Niết-bàn, gọi đó là Thanh văn thừa, như các người con kia vì cầu xe dê mà ra khỏi nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp, tin nhận, rồi ân cần tinh tấn, cầu trí huệ tự nhiên, ưa thích riêng lẻ vắng lặng, sâu rõ nhân duyên của các pháp, gọi đó là Duyên giác thừa, như các người con kia vì cầu xe hươu mà ra khỏi nhà lửa.

Nếu có chúng sanh nào theo đức Phật Thế Tôn nghe pháp tin nhận, siêng tu tinh tấn, cầu Nhứt thiết trí, Phật trí, Tự nhiên trí, Vô sư trí, các món Tri kiến lực, Vô úy của Như Lai, có lòng thương xót làm an vui cho vô lượng chúng sanh, lợi ích trời, người, độ thoát tất cả, hạng đó gọi là Đại thừa, Bồ-tát vì cầu đặng thừa này thời gọi là Ma-ha-tát, như các người con kia cầu xe trâu mà ra khỏi nhà lửa.

23.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả kia thấy các con được an ổn ra khỏi nhà lửa đến chỗ vô úy, ông tự nghĩ, ta của giàu vô lượng, nên bình đẳng đem xe lớn đồng cho các con. Đức Như Lai cũng lại như thế, là cha của tất cả chúng sanh, nếu thấy có vô lượng nghìn ức chúng sanh do cửa Phật giáo mà thoát khỏi khổ, đường hiểm đáng sợ của ba cõi đặng sự vui Niết-bàn.

Bấy giờ đức Như Lai bèn nghĩ: “Ta có vô lượng vô biên trí huệ, lực vô úy v.v… tạng pháp của các đức Phật, các chúng sanh này đều là con của ta đồng ban cho pháp Đại thừa, chẳng để có người được diệt độ riêng, đều đem pháp diệt độ của Như Lai mà cho chúng sanh nó diệt độ.

Những chúng sanh đã thoát khỏi ba cõi đó, Phật đều cho món vui Thiền định giải thoát v.v… của các đức Phật, các món đó đều là một tướng, một thứ mà các đấng Thánh khen ngợi, hay sanh ra sự vui sạch mầu bậc nhứt.”

24.- Xá-lợi-phất! Như ông Trưởng giả ban đầu dùng ba thứ xe dụ dẫn các con, sau rồi chỉ ban cho xe lớn, vật báu trang nghiêm an ổn thứ nhất, song ông Trưởng giả kia không có lỗi hư dối. Đức Như Lai cũng như thế, không có hư dối, ban đầu nói ba thừa dẫn dắt chúng sanh sau rồi chỉ dùng Đại thừa mà độ giải thoát đó.

Vì sao? Như Lai có vô lượng tạng pháp trí huệ lực, vô sở úy, có thể ban pháp Đại thừa cho tất cả chúng sanh, chỉ vì chúng sanh không thọ được hết.

Xá-lợi-phất! Vì nhân duyên đó nên phải biết các đức Như Lai dùng sức phương tiện ở nơi một Phật thừa phân biệt nói thành ba.

Đức Phật muốn tuyên lại nghĩa trên mà nói kệ rằng:

25.-

Thí như ông Trưởng giả

Có một nhà rất lớn

Nhà đó đã lâu cũ

Mà lại rất xấu xa

Phòng nhà vừa cao nguy

Gốc cột lại gãy mục

Trính xuyên đều xiêu vẹo

Nền móng đã nát rã

Vách phên đều sụp đổ

Đất bủn rơi rớt xuống

Tranh lợp sa tán loạn

Kèo, đòn sai rời khớp

Bốn bề đều cong vạy

Khắp đầy những tạp nhơ

Có đến năm trăm người

Ở đỗ nơi trong đó

Chim xi, hiêu, điêu, thứu

Quạ, chim thước, cưu, cáp

Loài ngươn xà, phúc yết

Giống ngô công, do-diên

Loài thủ công, bá túc

Dứu, ly cùng hề thử

Các giống độc trùng dữ

Ngang dọc xen ruổi chạy

Chỗ phân giải hôi thúi

Đồ bất tịnh chảy tràn

Các loài trùng khương lương

Bu nhóm ở trên đó

Cáo, sói cùng dã can

Liếm nhai và dày đạp

Cắn xé những thây chết

Xương thịt bừa bãi ra

Do đây mà bầy chó

Đua nhau đến ngoạm lấy

Ốm đói và sợ sệt

Nơi nơi tìm món ăn

Giành giựt cấu xé nhau

Gầm gừ gào sủa rân

Nhà đó sự đáng sợ

Những biến trạng dường ấy

Khắp chỗ đều có những

Quỉ, ly, mị, vọng, lượng

Quỉ dạ-xoa, quỉ dữ

Nuốt ăn cả thịt người

Các loại trùng độc dữ

Những cầm thú hung ác

Ấp, cho bú sản sanh

Đều tự giấu gìn giữ

Quỉ dạ-xoa đua đến

Giành bắt mà ăn đó

Ăn đó no nê rồi

Lòng hung dữ thêm hăng

Tiếng chúng đánh cãi nhau

Thật rất đáng lo sợ

Những quỉ cưu-bàn-trà

Ngồi xổm trên đống đất

Hoặc có lúc hỏng đất

Một thước hay hai thước

Qua rồi lại dạo đi

Buông lung chơi cùng giỡn

Nắm hai chân của chó

Đánh cho la thất thanh

Lấy chân đạp trên cổ

Khủng bố chó để vui

Lại có các giống quỉ

Thân nó rất cao lớn

Trần truồng thân đen xấu

Thường ở luôn trong đó

Rền tiếng hung ác lớn

Kêu la tìm món ăn

Lại có các giống quỉ

Cổ nó nhỏ bằng kim

Lại có các giống quỉ

Đầu nó như đầu trâu

Hoặc là ăn thịt người

Hoặc lại ăn thịt chó

Đầu tóc rối tung lên

Rất ác lại hung hiểm

Bị đói khát bức ngặt

Kêu la vừa rong chạy

Dạ-xoa cùng quỉ đói

Các chim muông ác độc

Đói gấp rảo bốn bề

Rình xem nơi cửa sổ

Các nạn dường thế đấy

Vô lượng việc ghê sợ.

26.-

Nhà cũ mục trên đó

Thuộc ở nơi một người

Người ấy vừa mới ra

Thời gian chưa bao lâu

Rồi sau nhà cửa đó

Bỗng nhiên lửa cháy đỏ

Đồng một lúc bốn bề

Ngọn lửa đều hừng hực

Rường cột và trính xuyên

Tiếng tách nổ vang động

Nát gãy rơi rớt xuống

Vách phên đều lở ngã,

Các loại quỉ thần thảy

Đồng cất tiếng kêu to,

Các giống chim, điêu, thứu

Quỉ cưu-bàn-trà thảy

Kinh sợ chạy sảng sốt

Vẫn không tự ra đặng

Thú dữ loài trùng độc

Chui núp trong lỗ hang,

Các quỉ tỳ-xá-xà

Cũng ở trong hang đó

Vì phước đức kém vậy

Bị lửa đến đốt bức

Lại tàn hại lẫn nhau

Uống máu ăn thịt nhau.

Những loại thú dã can

Thời đều đã chết trước

Các giống thú dữ lớn

Giành đua đến ăn nuốt

Khói tanh bay phùn phụt

Phủ khắp bít bốn bề

Loài ngô công, do-diên

Cùng với rắn hung độc

Bị lửa lòn đốt cháy

Tranh nhau chạy khỏi hang

Quỉ bàn-trà rình chờ

Liền bắt lấy mà ăn

Lại có các ngạ quỉ

Trên đầu lửa bật cháy

Đói khát rất nóng khổ

Sảng sốt chạy quàng lên

Nhà lửa đó dường ấy

Rất đáng nên ghê sợ

Độc hại cùng tai lửa

Các nạn chẳng phải một.

27.-

Lúc bấy giờ chủ nhà

Đứng ở nơi ngoài cửa

Nghe có người mách rằng:

Các người con của ông

Trước đây vì dạo chơi

Mà đến vào nhà này

Thơ bé không hiểu biết

Chỉ vui ham ưa đắm.

Trưởng giả vừa nghe xong

Kinh sợ vào nhà lửa

Tìm phương nghi cứu tế

Cho con khỏi thiêu hại

Mà dụ bảo các con

Nói rõ các hoạn nạn:

Nào ác quỉ độc trùng

Hỏa tai lan tràn cháy

Các sự khổ thứ lớp

Nối luôn không hề dứt

Loài độc xà, nguơn phúc

Và các quỉ dạ-xoa

Cùng quỉ cưu-bàn-trà

Những dã can, chồn, chó

Chim điêu, thứu, xi, hiêu

Lại giống bá túc thảy

Đều đói khát khổ gấp

Rất đáng phải ghê sợ

Chỗ khổ nạn như thế

Huống lại là lửa lớn

Các con nhỏ không hiểu

Dầu có nghe cha dạy

Cứ vẫn còn ham ưa

Vui chơi mãi không thôi.

28.-

Bấy giờ Trưởng giả kia

Mới bèn nghĩ thế này:

Các con như thế đó

Làm ta thêm sầu não.

Nay trong nhà lửa này

Không một việc đáng vui

Mà các con ngây dại

Vẫn ham mê vui chơi

Chẳng chịu nghe lời ta

Toan sẽ bị lửa hại

Ông bèn lại suy nghĩ

Nên bày các phương tiện

Bảo với các con rằng:

Cha có rất nhiều thứ

Các đồ chơi trân kỳ

Những xe báu tốt đẹp

Nào xe dê, xe hươu

Cùng với xe trâu lớn

Hiện để ở ngoài cửa

Các con mau ra đây

Cha chính vì các con

Mà sắm những xe này

Tùy ý các con thích

Có thể để dạo chơi

Các con nghe cha nói

Các thứ xe như vậy

Tức thời cùng giành đua

Rảo chạy ra khỏi nhà

Đến nơi khoảng đất trống

Rời những sự khổ nạn.

Trưởng giả thấy các con

Được ra khỏi nhà lửa

Ở nơi ngã tư đường

Đều ngồi tòa sư tử

Ông  bèn tự mừng rằng

Ta nay rất mừng vui

Những đứa con ta đây

Đẻ nuôi rất khó lắm

Chúng nhỏ dại không hiểu

Mới lầm vào nhà hiểm

Có nhiều loài trùng độc

Quỉ ly mị đáng sợ

Lửa lớn cháy hừng hực

Bốn phía đều phựt lên

Mà các trẻ con này

Lại ham ưa vui chơi

Nay ta đã cứu chúng

Khiến đều được thoát nạn

Vì thế các người ơi!

Ta nay rất vui mừng.

Khi ấy các người con

Biết cha đã ngồi an

Đều đến bên chỗ cha

Mà thưa cùng cha rằng:

Xin cha cho chúng con

Ba thứ xe báu lạ

Như vừa rồi cha hứa

Các con mau ra đây

Sẽ cho ba thứ xe

Tùy ý các con muốn

Bây giờ chính phải lúc

Xin cha thương cấp cho.

29.-

Trưởng giả giàu có lớn

Kho đụn rất nhiều đầy

Vàng bạc cùng lưu-ly

Xa-cừ ngọc mã não

Dùng những món vật báu

Tạo thành các xe lớn

Chưng dọn trang nghiêm đẹp

Khắp vòng có bao lơn

Bốn mặt đều treo linh

Dây vàng xen thắt tụi

Lưới mành kết trân châu

Giăng bày phủ phía trên

Hoa vàng các chuỗi ngọc

Lòng thòng rủ khắp chỗ

Các màu trang sức đẹp

Khắp vòng xây quanh xe

Dùng nhiễu hàng mềm mại

Để làm nệm lót ngồi

Vải quí mịn rất tốt

Giá trị đến nghìn muôn

Bóng láng trắng sạch sẽ

Dùng trải trùm trên nệm

Có trâu trắng to lớn

Mập khỏe nhiều sức mạnh

Thân hình rất tươi tốt

Để kéo xe báu đó

Đông những tôi và tớ

Mà chực hầu giữ gìn

Đem xe đẹp như thế

Đồng ban cho các con

Các con lúc bấy giờ

Rất vui mừng hớn hở

Ngồi trên xe báu đó

Dạo đi khắp bốn phương

Vui chơi nhiều khoái lạc

Tự tại không ngăn ngại.

30.-

Bảo Xá-lợi-phất này

Đức Phật cũng như vậy

Tôn cả trong hàng Thánh

Cha lành của trong đời

Tất cả các chúng sanh

Đều là con của ta

Say mê theo thế lạc

Không có chút huệ tâm.

Ba cõi hiểm không an

Dường như nhà lửa cháy

Các nạn khổ dẫy đầy

Rất đáng nên ghê sợ

Thường có những sanh, già

Bịnh, chết và rầu lo

Các thứ lửa như thế.

Cháy hừng chẳng tắt dứt.

Đức Như Lai đã lìa

Nhà lửa ba cõi đó

Vắng lặng ở thong thả

An ổn trong rừng nội

Hiện nay ba cõi này

Đều là của ta cả

Những chúng sanh trong đó

Cũng là con của ta.

Mà nay trong ba cõi

Có nhiều thứ hoạn nạn

Chỉ riêng một mình ta

Có thể cứu hộ chúng

Dầu lại đã dạy bảo

Mà vẫn không tin nhận

Vì nơi các dục nhiễm

Rất sanh lòng tham mê

Bởi thế nên phương tiện

Vì chúng nói ba thừa

Khiến cho các chúng sanh

Rõ ba cõi là khổ

Mở bày cùng diễn nói

Những đạo pháp xuất thế

Các người con đó thảy

Nếu nơi tâm quyết định

Đầy đủ ba món minh

Và sáu món thần thông

Có người được Duyên giác

Hoặc bất thối Bồ-tát.

Xá-lợi-phất phải biết

Ta vì các chúng sanh

Dùng món thí dụ này

Để nói một Phật thừa

Các ông nếu có thể

Tin nhận lời nói đây

Tất cả người đều sẽ

Chứng thành quả Phật đạo.

31.-

Phật thừa đây vi diệu

Rất thanh tịnh thứ nhứt

Ở trong các thế gian

Không còn pháp nào trên

Của các Phật vui ưa

Tất cả hàng chúng sanh

Đều phải nên khen ngợi

Và cúng dường lễ bái

Đủ vô lượng nghìn ức

Các trí lực, giải thoát

Thiền định và trí huệ

Cùng pháp khác của Phật

Chứng đặng thừa như thế

Khắp cho các con thảy,

Ngày đêm cùng kiếp số

Thường đặng ngồi dạo chơi

Cho các hàng Bồ-tát

Cùng với chúng Thanh văn

Nương nơi thừa báu này

Mà thẳng đến đạo tràng

Vì bởi nhân duyên đó

Tìm kỹ khắp mười phương

Lại không thừa nào khác

Trừ Phật dùng phương tiện

Bảo với Xá-lợi-phất

Bọn ông các người thảy

Đều là con của ta

Ta thời là cha lành.

Các ông trải nhiều kiếp

Bị các sự khổ đốt

Ta đều đã cứu vớt

Cho ra khỏi ba cõi

Ta dầu ngày trước nói

Các ông được diệt độ

Nhưng chỉ hết sanh tử

Mà thiệt thời chẳng diệt

Nay việc nên phải làm

Chỉ có trí huệ Phật

Nếu có Bồ-tát nào

Ở trong hàng chúng này

Có thể một lòng nghe

Pháp thật của các Phật

Các đức Phật Thế Tôn

Dầu dùng chước phương tiện

Mà chúng sanh được độ

Đều là Bồ-tát cả.

32.-

Nếu có người trí nhỏ

Quá mê nơi ái dục

Phật bèn vì bọn này

Mà nói lý Khổ đế

Chúng sanh nghe lòng mừng

Đặng điều chưa từng có

Đức Phật nói Khổ đế

Chân thật không sai khác

Nếu lại có chúng sanh

Không rõ biết gốc khổ

Quá say nơi khổ nhân

Chẳng tạm rời bỏ được

Phật vì hạng người này

Dùng phương tiện nói dạy

Nguyên nhân có các khổ

Tham dục là cội gốc

Nếu dứt được tham dục

Khổ không chỗ nương đỗ

Dứt hết hẳn các khổ

Gọi là đế thứ ba.

Vì chứng Diệt đế vậy

Mà tu hành Đạo đế

Lìa hết các khổ phược

Gọi đó là giải thoát

Người đó nơi pháp gì

Mà nói đặng giải thoát?

Chỉ xa rời hư vọng

Gọi đó là giải thoát

Kỳ thiệt chưa phải được

Giải thoát hẳn tất cả

Đức Phật nói người đó

Chưa phải thiệt diệt độ

Vì người đó chưa được

Đạo quả Vô thượng vậy

Ý của ta không muốn

Cho đó đến diệt độ

Ta là đấng Pháp vương

Tự tại nơi các pháp

Vì an ổn chúng sanh

Nên hiện ra nơi đời

Xá-lợi-phất phải biết

Pháp ấn của ta đây

Vì muốn làm lợi ích

Cho thế gian nên nói

Tại chỗ ông đi qua

Chớ có vọng tuyên truyền

Nếu có người nghe đến

Tùy hỉ kính nhận lấy

Phải biết rằng người ấy

Là bậc bất thối chuyển

Nếu có người tin nhận

Kinh pháp Vô thượng này

Thời người đó đã từng

Thấy các Phật quá khứ

Cung kính và cúng dường

Cũng được nghe pháp này

Nếu người nào có thể

Tin chịu lời ông nói

Thời chính là thấy Ta

Cũng là thấy nơi ông

Cùng các chúng Tỳ-kheo

Và các hàng Bồ-tát.

33.-

Phật vì người trí sâu

Nói kinh Pháp Hoa này

Kẻ thức cạn nghe đến

Mê lầm không hiểu được

Tất cả hàng Thanh văn

Cùng với Bích-chi Phật

Ở trong kinh pháp này

Sức kia không hiểu được.

Chính ông Xá-lợi-phất

Hãy còn nơi kinh này

Dùng lòng tin đặng vào

Huống là Thanh văn khác

Bao nhiêu Thanh văn khác

Do tin theo lời Phật

Mà tùy thuận kinh này

Chẳng phải trí của mình.

34.-

Lại nầy Xá-lợi-phất!

Kẻ kiêu mạn biếng lười

Vọng so chấp lấy ngã

Chớ vì nói kinh này

Hạng phàm phu biết cạn

Quá mê năm món dục

Nghe pháp không hiểu được

Cũng chẳng nên vì nói

Nếu có người không tin

Khinh hủy chê kinh này

Thời là dứt tất cả

Giống Phật ở thế gian.

Nếu có người xịu mặt

Mà cưu lòng nghi hoặc

Ông nên lóng nghe nói

Tội báo của người đó

Hoặc Phật còn tại thế

Hoặc sau khi diệt độ

Nếu có người chê bai

Kinh điển như thế nầy

Thấy có người đọc tụng

Biên chép, thọ trì kinh

Rồi khinh tiện ghét ganh

Mà cưu lòng kết hờn

Tội báo của người đó

Ông nay lại lóng nghe

Người đó khi mạng chung

Sa vào ngục A-tỳ

Đầy đủ một kiếp chẵn

Kiếp mãn hết lại sanh

Cứ xoay vần như thế

Nhẫn đến vô số kiếp

Từ trong địa ngục ra

Sẽ đọa vào súc sanh,

Hoặc làm chó, dã can

Thân thể nó ốm gầy

Đen điu thêm ghẻ lác

Bị người thường chọc ghẹo

Lại còn phải bị người

Gớm nhờm và ghét rẻ

Thường ngày đói khát khổ

Xương thịt đều khô khan

Lúc sống chịu khổ sở

Chết bị ném ngói đá

Vì đoạn mất giống Phật

Nên thọ tội báo đó

Hoặc sanh làm lạc đà

Hoặc sanh vào loài lừa

Thân thường mang kéo nặng

Lại thêm bị đánh đập

Chỉ nhớ tưởng: nước, cỏ

Ngoài ra không biết gì

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy.

Có khi làm dã can

Đi vào trong xóm làng

Thân thể đầy ghẻ lác

Lại chột hết một mắt

Bị bọn trẻ nhỏ vây

Theo đánh đập liệng ném

Chịu nhiều các đau khổ

Hoặc có lúc phải chết

Ở đây vừa chết rồi

Liền lại thọ thân rắn

Thân thể nó dài lớn

Đến năm trăm do-tuần

Điếc ngây và không chưn

Lăn lóc đi bằng bụng

Bị các loài trùng nhỏ

Cắn rút ăn thịt máu

Bị khổ cả ngày đêm

Không tạm có ngừng nghỉ

Vì khinh chê kinh này

Mà mắc tội như vậy

Nếu được sanh làm người

Các căn đều ám độn

Lùn xấu lại lệt què

Đui điếc thêm lưng gù

Có nói ra lời gì

Mọi người không tin nhận

Hơi miệng thường hôi thúi

Bị quỉ mị dựa nhập

Nghèo cùng rất hèn hạ

Bị người sai khiến luôn

Nhiều bịnh, thân ốm gầy

Không có chỗ cậy nhờ

Dầu nương gần với người

Mà người chẳng để ý

Nếu có đặng điều chi

Thời liền lại quên mất

Nếu học qua nghề thuốc

Theo đúng phép trị bịnh

Mà bịnh người nặng thêm

Hoặc có khi đến chết,

Nếu tự mình có bệnh

Không người chữa lành đặng

Dầu có uống thuốc hay

Mà bịnh càng thêm nặng

Hoặc người khác phản nghịch

Cướp giựt trộm lấy của

Các tội dường thế đó

Lại tự mang vạ lây

Những người tội như đây

Trọn không thấy được Phật

Là vua trong hàng Thánh

Thường nói pháp giáo hóa

Những người tội như đây

Thường sanh chỗ hoạn nạn

Tâm cuồng loạn, tai điếc

Trọn không nghe pháp được

Trải qua vô số kiếp

Như số cát sông Hằng

Sanh ra liền điếc câm

Các căn chẳng đầy đủ

Thường ở trong địa ngục

Như dạo chơi vườn nhà

Ở tại ác đạo khác

Như ở nhà cửa mình

Lạc đà, lừa, heo, chó

Là chỗ kia thường đi

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó

Nếu đặng sanh làm người

Điếc, đui, lại câm, ngọng

Nghèo cùng các tướng suy

Dùng đó tự trang nghiêm

Sưng bủng bịnh khô khát

Ghẻ, lác cùng ung thư

Các bịnh như trên đó

Dùng làm y phục mặc

Thân thể thường hôi hám

Nhơ nhớp không hề sạch

Lòng chấp ngã sâu chặt

Thêm nhiều tánh giận hờn

Tình dâm dục hẩy hừng

Đến chẳng chừa cầm thú

Vì khinh chê kinh này

Mắc tội dường thế đó.

35.-

Bảo cho Xá-lợi-phất!

Người khinh chê kinh này

Nếu kể nói tội kia

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Vì bởi nhân duyên đó

Ta vẫn bảo các ông

Trong nhóm người vô trí

Chớ nên nói kinh này

Nếu có người lợi căn

Sức trí huệ sáng láng

Học rộng và nhớ dai

Lòng mong cầu Phật đạo

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói

Nếu có người đã từng

Thấy trăm nghìn ức Phật

Trồng các cội đức lành

Thâm tâm rất bền vững

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói

Nếu có người tinh tấn

Thường tu tập lòng từ

Chẳng hề tiếc thân mạng

Mới nên vì đó nói

Nếu có người cung kính

Không có sanh lòng khác

Lìa xa các phàm ngu

Ở riêng trong núi trầm

Những hạng người như thế

Mới nên vì đó nói

Lại Xá-lợi-phất này!

Nếu thấy có người nào

Rời bỏ ác tri thức

Gần gũi bạn hiền lành

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Nếu thấy hàng Phật tử

Giữ giới hạnh trong sạch

Như minh châu sáng sạch

Ham cầu kinh Đại thừa

Những người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Nếu người không lòng giận

Chắc thiệt ý dịu hòa

Thường thương xót mọi loài

Cung kính các đức Phật

Hạng người tốt như thế

Mới nên vì đó nói.

Lại có hàng Phật tử

Ở tại trong đại chúng

Thuần dùng lòng thanh tịnh

Các món nhân cùng duyên

Thí dụ và lời lẽ

Nói pháp không chướng ngại

Những người như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Nếu có vị Tỳ-kheo

Vì cầu Nhứt thiết trí

Khắp bốn phương cầu pháp

Chắp tay cung kính thọ

Chỉ ưa muốn thọ trì

Kinh điển về Đại thừa

Nhẫn đến không hề thọ

Một bài kệ kinh khác

Hạng người được như thế

Mới nên vì đó nói.

Như có người chí tâm

Cầu xá-lợi của Phật

Cầu kinh cũng như thế

Đặng rồi đảnh lễ thọ

Người đó chẳng còn lại

Có lòng cầu kinh khác

Cũng chưa từng nghĩ tưởng

Đến sách vở ngoại đạo

Người được như thế ấy

Mới nên vì đó nói.

Bảo cùng Xá-lợi-phất!

Ta nói các sự tướng

Của người cầu Phật đạo

Cùng kiếp cũng chẳng hết

Những người như thế đó

Thời có thể tin hiểu

Ông nên vì họ nói

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.