Hôm nay là buổi nói chuyện chót với chư tăng, tôi ôn lại những điểm cốt yếu của pháp tu theo đường lối thiền tông mà chúng ta đang thực hành. Quý vị cố gắng lãnh hội được lời tôi chỉ dạy, biết rõ đâu là kết quả cần tiến tới, đâu là trở ngại cần phải tránh trên đường tu. Bởi vì tu mà không thông hiểu manh mối sự tu, dễ sanh ra hiểu lầm hoặc thấy lầm sẽ không tốt.
Mục đích của việc tu hành vì giải thoát sanh tử. Giờ đặt câu hỏi lại:
– Manh mối sanh tử từ đâu ra?
– Cái gì dẫn chúng ta đi trong sanh tử?
Đó là hai điều thiết yếu chúng ta phải nắm được. Nghiệp là nhân tố dẫn chúng sanh đi trong luân hồi lục đạo, tức là ba cảnh giới thiện và ba cảnh giới ác. Vọng niệm tức những suy nghĩ là đầu mối của nghiệp. Nghĩ thiện thì miệng nói thiện, thân làm thiện, tạo nghiệp lành đi trong ba cõi trời, cõi người và a-tu-la. Nghĩ ác thì miệng nói ác, thân làm ác, tạo nghiệp xấu đi xuống ba đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh.
Thông thường người ta cho rằng sanh lên cõi lành được phước đức lớn, chứ ít nghĩ đến chuyện tu để giải thoát sanh tử. Nếu là Phật tử thì nên khuyến khích tu tập tạo nhiều nghiệp lành. Nếu là tăng ni thì phải quyết chí tu đến giác ngộ giải thoát, vì đó là mục đích rốt ráo nhất. Với con mắt của bậc giác ngộ, đức Phật thấy chúng sanh luân hồi trong lục đạo thật đáng thương. Người tạo nghiệp nặng bị chìm xuống ba đường ác, trả hết nghiệp lại được sanh lên cõi cao hơn. Lên rồi tiếp tục tạo nghiệp bị đọa xuống, cứ vậy mà lẩn quẩn nhọc nhằn trong trầm luân sanh tử. Vì vậy Phật mới dạy tu đến cứu cánh là giải thoát sanh tử.
Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục tổ dạy Thượng tọa Minh: “Không nghĩ thiện không nghĩ ác, cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Không nghĩ thiện ác là không tạo nghiệp đi trong lục đạo, sống với mặt thật muôn đời sẵn có của chính mình. Đó là mục tiêu đức Phật dạy chúng ta tu. Sở dĩ nghiệp dẫn chúng sanh đi trong sáu đường do tâm nghĩ thiện ác, tốt xấu, phải quấy hơn thua… Tất cả những đối đãi đó đều là tâm tạo nghiệp.
Ngồi thiền là phương pháp dừng tâm tạo nghiệp, vừa khởi niệm phải buông liền. Niệm không phải mình, nó chỉ là cái bị biết. Khi tôi thấy cái đèn, cái đèn không phải tôi, do cái hay thấy của tôi nên thấy được cái đèn. Như vậy, lúc có niệm hay không niệm, cái biết vẫn hiện tiền. Cái suy nghĩ mà lâu nay thế gian cho là tâm mình chỉ là hư ảo không thật. Bởi chúng sanh mê lầm cho nó là tâm rồi chạy theo tạo nghiệp sanh tử luân hồi muôn đời muôn kiếp.
Tu muốn ra khỏi luân hồi sanh tử phải dừng tâm lăng xăng tạo nghiệp. Trong mười mục chăn trâu, mục thứ tám là một khoảng trống không giới hạn. Mục thứ chín là hình ảnh chim bay về tổ, lá rụng về cội. Mục thứ mười là hình ảnh ông già xách bầu rượu đi vào xóm chợ. Con trâu dụ cho tâm hơn thua phải quấy lăng xăng khi chưa giác ngộ, thằng chăn dụ cho trí tuệ Bát-nhã. Muốn phá tan tâm lăng xăng phải vận dụng trí Bát-nhã, thấy nó hư dối, buông bỏ ngay. Trong nhà thiền thường nói, lấy kiếm Bát-nhã phá vô minh, chặt đứt sợi dây sanh tử. Trí tuệ Bát-nhã này còn vận dụng chiếu soi. Cho nên trâu còn thì trí Bát-nhã chiếu soi còn, trâu mất thì trí Bát-nhã lặng theo. Đó là mục thứ tám, trâu và thằng chăn cùng mất tức là đối đãi không còn.
Nói theo hệ kinh Nguyên thủy là dứt mầm sanh tử, nhập Niết-bàn. Niết-bàn gọi là Vô sanh, không còn nhân sanh tử do nghiệp đã hết. Cái chiếu phá niệm cũng không, ngang đó lặng lẽ Vô sanh tức Niết-bàn. Thiền nguyên thủy dạy tới chỗ Vô sanh sẽ thấy được cái định không còn sanh diệt, nhập Niết-bàn, gọi là Diệt tận định. Thiền tông dạy khác, không kìm để được định mà ngay đó thấy niệm sanh diệt như thế nào. Niệm sanh diệt lặng, tâm quán chiếu không còn, liễu liễu thường tri. Đây là chỗ tổ Huệ Khả trình với tổ Bồ-đề-đạt-ma:
– Bạch Hòa thượng, con bặt hết các duyên.
Tổ Đạt-ma sợ ngài rơi vào chỗ không ngơ nên nói:
– Coi chừng rơi vào không.
Ngài thưa:
– Rõ ràng thường biết, làm sao không được.
Ngay đó Tổ ấn chứng cho ngài:
– Đây là chỗ ông thấy như vậy, ta thấy như vậy và chư Phật cũng thấy như vậy.
Chỗ này không phải lặng lẽ rồi chìm luôn trong Vô sanh, mà còn cái rõ ràng thường biết. Đó chính là tâm thể thênh thang trùm khắp, không tướng mạo, không giới hạn, tức pháp thân.
Theo tinh thần thiền tông, thể nhập pháp thân rồi phải phát nguyện độ sanh, tức là có báo thân hoặc ứng thân tùy nguyện tùy duyên làm Phật sự. Hình ảnh ông già xách cá chép, mang bầu rượu vô xóm chợ trong bức tranh chăn trâu số mười là ứng thân vào đời hóa độ chúng sanh. Đây là chỗ khác nhau giữa Diệt tận định và chân tâm rõ ràng thường biết. Một bên an lòng trụ chỗ Vô sanh, gọi là trụ Niết-bàn vĩnh viễn. Một bên nhận ra chân tâm, tiếp tục phát đại nguyện cứu độ chúng sanh. Đó là trọng tâm, cũng là bổn phận của người xuất gia cầu đạo giải thoát.
Muốn sự tu thành công như sở nguyện, trước phải nắm thật vững mục đích và đường hướng tu hành. Khi tâm còn loạn động, phải vận dụng trí Bát-nhã phá dẹp một cách dứt khoát. Cũng như thằng chăn dùng dây giàm xỏ mũi trâu, cầm roi quất nó bắt phải nghe lời.
Người xuất gia trước hết dùng giới luật chế ngự thân tâm, lâu ngày thuần thục rồi mới tiến đến chỗ công phu rốt ráo. Sự tu có đầu đuôi gốc ngọn rõ ràng, chứ không phải nhảy thẳng vào chỗ cứu cánh. Trong bất cứ giai đoạn nào, điều cần yếu là nắm vững chủ đích tu, dẹp sạch tâm lăng xăng sanh diệt.
Khi dụng công nhiều thường thấy những hiện tượng lạ kỳ quái. Nên biết tất cả những thứ đó đều là ảo tưởng không thật, do tâm mình kìm chế mà phát ra. Dù thấy Phật cũng không nên mừng, bởi vì đó chưa phải cái thật mình. Không chấp kẹt, không vui mừng sợ hãi là đúng. Tưởng mình thành đạo, chứng quả và nói toàn chuyện trên trời trên mây, hoặc hoảng hốt la lối là bệnh. Cho nên, trong thời gian nhập thất hay những lúc công phu miên mật, do sức tu của mình đè ép tâm mà phát ra điều kỳ quái này kia. Khi đó chúng ta cần tỉnh giác biết tất cả đều không thật, không phải Phật Bồ-tát đến trợ giúp, cũng không phải ma quỷ đến phá mình. Rõ được điều này thì sự tu không có gì trở ngại, bằng không nắm vững mấu chốt thì sự tu gặp nhiều khó khăn.
Tu là dùng trí tuệ Bát-nhã dẹp bỏ niệm tưởng lăng xăng lâu nay lầm cho là tâm mình, chạy theo nó tạo nghiệp không có ngày cùng. Ngày nay chúng ta được duyên tốt, nghe hiểu Phật pháp và ứng dụng tu là điều phi thường vượt hơn cả thế gian. Người thế gian không ai biết suy nghĩ của mình là giả dối. Họ lầm chấp nó là tâm mình nên không bao giờ thoát khỏi trầm luân. Chúng ta tu để giải thoát sanh tử thì phải biết cái gốc của sự tu. Mầm loạn động hết rồi, trí quán chiếu cũng buông luôn, tâm thường biết rõ ràng. Đi đứng nằm ngồi đều trong sự sáng suốt, không mơ hồ. Chư tổ thường nói, đi thiền đứng thiền, nói năng động tịnh đều thiền. Không bị tâm lăng xăng chi phối, sống với cái liễu liễu thường tri mới thật là hành thiền.
Thời gian nhập thấp của tôi là giai đoạn “trưởng dưỡng thánh thai”. Tôi ít ngồi thiền, chỉ giữ đêm ngày bốn tiếng, ngoài ra chơi không. Đi chơi, ngồi chơi, tới lui tự tại. Khi thấy được lẽ thật rồi thì không phải kìm chế, cũng không tìm cách ngăn đón. Như lời vua Trần Nhân Tông nói trong bài Cư Trần Lạc Đạo: Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Thấy cảnh thấy người, thấy muôn vật mà không dính mắc, không đuổi theo bất cứ thứ gì là thiền. Hiểu và sống được như thế thì sự tu thảnh thơi nhẹ nhàng. Nếu tu mà chăm bẳm ngó xuống là kìm chế khổ nhọc.
Nhiều khi tôi thấy tội cho nhiều người, nói tu hạnh giải thoát mà không biết giải thoát chỗ nào. Cả ngày tâm trí lăng xăng lộn xộn, nghĩ hơn thua được mất thì chỗ nào giải thoát? Còn tâm niệm sanh diệt là còn trong sanh tử tốt xấu. Tốt xấu gì cũng là lên xuống xuống lên mỏi mệt trong lục đạo. Tới được chỗ cứu cánh thì ra khỏi sanh tử, không còn dấy niệm hai bên đối đãi sanh diệt. Đây là chỗ cứu cánh của người tu thiền. Cho nên khi tu chúng ta đừng mặc cảm không biết chừng nào mới hết vọng tưởng. Chỉ cần vọng tưởng dấy lên liền biết, tận dụng trí tuệ Bát-nhã thấy các pháp huyễn hóa không thật. Hoặc ruồng ở ngoài, hoặc phá bên trong, nhất định sự tu hành đến nơi đến chốn.
Luôn thấy các pháp không thật thì không có gì phải bận tâm. Đức Lục tổ khi xưa ngộ lý thiền từ kinh Kim Cang Bát-nhã. Trong kinh Phật dạy, trì bốn câu kinh là phước vô vi, công đức hơn bố thí vàng bạc chất đầy như quả núi. Phước hữu vi là những việc làm thiện lành có hình thức, còn lưu chuyển trong sanh tử. Thấy rõ các pháp không thật, tâm không duyên theo, không dính mắc thì công đức vô lượng vô biên, đây là đầu mối đưa đến giải thoát sanh tử.
Người thời nay tu muốn có công đức nhiều mà chỉ ưa làm việc thiện để có phước. Phước nhiều thì được sanh lên cõi trời, nhưng hưởng hết lại bị rơi xuống. Trèo lên tuột xuống hoài cũng mỏi mệt, không tới đâu. Mục đích chúng ta tu là sống với cái thật của chính mình, đó là điều thiết yếu. Đến chỗ giải thoát rồi, ngay đó không được hài lòng tự mãn, mà phải phát nguyện cứu độ chúng sanh. Vì vậy có ứng thân, hóa thân vào trần lao làm Phật sự. Với lòng từ bi và trí tuệ, thấy chúng sanh khổ nên mình không đành lòng an trụ Niết-bàn, phải thị hiện trong các cõi để giáo hóa chúng sanh. Đó là tinh thần Phật giáo Đại thừa.
Trong khi tu, chúng ta cố gắng đi từ những bước thấp dần dần tiến lên chỗ tột cùng, để thấy đạo Phật siêu việt ngoài tất cả những gì tầm thường của thế gian. Nếu tu mà chỉ biết cái tầm thường, không thấy được chỗ siêu việt là điều đáng tiếc. Cho nên tôi khuyên tất cả chư tăng, nhất là những vị còn trẻ, phải nuôi ý chí giải thoát, không nên tu cầu được danh lợi hoặc cầm chừng lấy có. Tu cầu giải thoát sanh tử thì phải có tâm cao thượng siêu thoát. Đừng bận bịu danh lợi, chùa chiền, đừng mong tụng kinh hay để độ người này người kia siêu thoát mà bản thân không siêu thoát chút nào. Tu như vậy thì uổng công vô ích một đời. Chúng ta làm việc gì phải thấy tường tận việc đó, tu giải thoát sanh tử cần nắm chắc và hiểu rõ đâu là mầm sanh tử, cũng như cách trừ dẹp mầm sanh tử.
Tôi thường dạy quý vị ngồi thiền biết vọng buông không theo, là phương pháp sử dụng trí tuệ Bát-nhã. Sử dụng thường thì vọng niệm sẽ lặng. Vọng lặng rồi, trí dụng cũng buông luôn, tức là đi tới chỗ cứu cánh. Đó là đường lối tu rõ ràng của chúng ta. Nắm vững cương yếu ngay từ bước đầu thì trên đường tu sẽ có kết quả tốt đẹp. Một số hành giả gặp chướng nạn trong lúc tu thiền, nguyên nhân vì chưa biết sử dụng trí tuệ Bát-nhã. Thấy hiện tướng lạ phải biết ngay đó đều là trò ảo tưởng không thật, không nghi ngờ sợ sệt. Nếu không nắm vững đường lối tu, khi phát điên phát cuồng sẽ đổ thừa do tu thiền. Thật sai lầm!
Chủ đích sự tu là đừng để tâm mắc kẹt trong sanh tử. Niệm khởi là do tâm duyên theo bóng dáng sáu trần, cái đó giả tạm, không bền chắc, không thật. Buông hết không còn niệm khởi mà rõ ràng thường biết là sống với chân tâm không sanh không diệt. Cái chân thật này chính là bản lai diện mục, Phật tánh… Đây là chỗ rốt ráo người tu Phật cần đạt đến.
Lối đi này thẳng tắt, gần gũi mà thực tế. Thấy và tu được như vậy thì trên đường giải thoát chắc chắn không khó. Còn thấy khó là do tập khí nhiều đời chưa sạch, cũng như sự tu chưa đúng phương cách. Không cần chạy tìm cái giả dối bên ngoài, chỉ ngay nơi mình nhận ra cái chân thật lâu nay từng bỏ quên. Không có gì xa lạ, ngăn trở, hiểu rồi nhất định tu sẽ tiến không nghi.
Tôi đã nói rõ mục đích cũng như đường lối tu hành, quý vị nên cố gắng ứng dụng, đừng lầm lẫn. Hiểu và hành triệt để mới biết rõ sự tu mình đang tiến tới đâu. Cả ngày đi đứng nằm ngồi rõ ràng thường biết, không một niệm sanh diệt là nhân giải thoát hiện tiền. Phật pháp mầu nhiệm cao siêu, vi diệu ở chỗ đó. Đừng nghĩ rằng vô chùa tu để gieo duyên cho có phước. Mục đích của người tu là giải thoát sanh tử, cho nên chúng ta đang tiến trên đường giải thoát chứ không phải đi trong tối tăm mù mịt. Đạo lý cao siêu mà chúng ta không thấy được là điều đáng tiếc. Sống với cái rất tầm thường, tranh hơn tranh thua, bàn cãi phải quấy. Cả ngày buồn người này giận người kia rất phàm tục, không xứng đáng người tu hạnh giải thoát.
Phát tâm tu hạnh giải thoát thì phải can đảm buông bỏ tất cả các pháp không thật. Chăm bẳm lo việc giải thoát mới là việc chánh đáng, đừng nên kẹt ở những cái tạm bợ uổng phí một đời. Nếu tu không ra khỏi sanh tử vẫn là tu trong luân hồi. Mong rằng tất cả quý vị hiểu lời tôi nói, khéo ứng dụng để xứng đáng người tu hạnh giải thoát và đạt được đạo quả giải thoát. Đó cũng là mong ước của tôi, chúc quý vị đạt được kết quả tốt đẹp trên đường tu hành.