Kỷ năng lãnh đạo và điều hành Phật sự thời Công nghệ số

Bài 3 Ý Nghĩa Sự Thành Đạo Của Đức Phật



Trải qua hơn 2.564 năm Phật Lịch, Đạo Phật được truyền bá, được lan tỏa khắp năm châu, và ngày nay, Liên hiệp quốc còn chọn Phật giáo là tôn giáo của thế giới, chính là do Phật giáo đem lại lợi ích thiết thực cho nhân loại, cho con người. Lý Duyên sinh nhân quả, Đức Phật đã nghiệm chứng; chơn lý Tứ Diệu Đế và vô lượng pháp môn phương tiện, Đức Thế Tôn đã tuyên thuyết để chư hành giả thành tựu Giới, thành tựu Định, thành tựu Tuệ. Đây cũng là tiến trình chứng đắc An lạc, Giải thoát… Vậy, bài học về “Ý nghĩa sự thành Đạo của Đức Phật” là như thế nào? Thiết nghĩ đây không chỉ là sự suy tư của riêng bản thân chúng tôi, mà còn là nỗi băn khoăn của tất cả những ai mong ước ánh sáng Giác Ngộ của Đức Thế Tôn trong đêm Thành Đạo mãi mãi lan tỏa. Chúng tôi xin trân trọng nói lên cảm nghĩ của mình dưới đây:

Thành Phật: Phạn ngữ là BUDDHO BHAVATI (A-nậu-đa-la tam-miệu-tam-bồ-đề), còn có các từ đồng nghĩa sau: Đắc đạo, Thành Chánh Giác, Chứng Bồ-đề, Đắc Phật quả, Chứng Vô thượng đạo, Chánh biến tri, thập hiệu cụ túc… Trong Kinh Phật dạy: “…Bồ tát diện hướng đông phương, ư tịnh thảo thượng, kiết già phu tọa, đoan thân chánh niệm, phát đại thệ ngôn: Ngã kim nhược bất chứng đắc vô thượng Bồ-đề, ninh khả tổi kỳ thân chung, bất khởi thử tòa[1]. Tạm dịch: “Bồ tát hướng về phương Đông, ngồi kiết già trên cỏ, giữ thân chánh niệm, phát đại thệ nguyện: “Tôi nay nếu không chứng đắc Vô thượng giác ngộ thì không rời khỏi chỗ nầy.”

Và Sa Môn tiếp tục tịnh tọa đến 49 ngày như hoa sen từng bước hé nhụy, Ngài bắt đầu khai mở tâm trí, bước vào tầng Thiền đầu tiên: Ở đó, hành giả thấy vui và an bình, nhưng mới chỉ là sự từ bỏ ý thức thường ngày (Ly sanh hỷ lạc). Ở bậc kế tiếp, Sa Môn Gotama trở nên không còn vướng mắc với những dao động của tâm thức, và tư tưởng được chuyển hóa để tiến vào một trạng thái an lạc và vui sướng sâu sắc hơn (Định sanh hỷ lạc). Ở bậc thứ ba, Ngài đạt tới một niềm vui sướng trong trẻo hơn nữa (Ly hỷ diệu lạc). Đến khi Ngài tiến vào bậc thứ tư và là bậc cuối của tầng ý thức, tại đó, niềm  vui cũng nhạt dần, chỉ để lại một dòng tâm thức hết sức an lạc và trong trẻo đến mức có thể trực tiếp cảm nhận được thực tại (Xả niệm thanh tịnh). Vào đầu đêm mùng 7 tháng 12, trải qua các canh một, hai, ba, bốn, Ngài đạt từng giai đoạn chứng ngộ cao hơn. Đến canh năm, khi sao Mai vừa sáng tỏ, ngày mùng 8 tháng chạp, Bồ-Tát “Hoát nhiên Đại ngộ”, chứng thành Đạo quả Vô Thượng Bồ Đề. Kinh Pháp Cú đã ghi lại một trong những Phật ngôn đầu tiên mà Ngài đã thốt lên trong thời gian này:

“Lang thang bao kiếp sống

Ta tìm nhưng không gặp

Người xây dựng nhà này

Khổ thay, phải tái sanh

Ôi! Người làm nhà kia

Nay ta đã thấy ngươi

Ngươi không làm nhà nữa

Ðòn tay ngươi bị gãy

Kèo cột ngươi bị tan

Tâm ta được tịch diệt

Tham ái thảy tiêu vong.” [2]

Thành Đạo, tức là Chứng ngộ được Đạo Vô Thượng Bồ Đề Chánh Đẳng Chánh Giác, không có Thành Đạo thì cõi đời mãi mãi chìm trong tăm tối, sanh linh vẫn lặn ngập trong sáu nẻo luân hồi,  không bao giờ có phương pháp để được giải thoát. Sau 49 ngày đêm tư duy thiền định dưới cội Bồ-đề, Ngài trở thành bậc Chánh Đẳng Giác. Từ đây, bánh xe Pháp đã bắt đầu chuyển vận. Đức Thế Tôn tuyên bố: “Cửa bất tử rộng mở cho những ai chịu nghe.” [3]

Đức Phật xuất hiện giữa cuộc đời nầy với hạnh nguyện cao cả: “Vì đại sự nhân duyên, Như Lai ra đời, vì sự lợi ích, an lạc cho chư thiên và loài người, Như Lai xuất hiện ở đời.[4]

Theo lược sử về Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, ta biết: Sự kiến đạo của Thái tử Sĩ Đạt Ta là do nhận ra chân lý Duyên sinh, Ngài đã cảm nhận tính chất sự sống nầy sống trên sự sống khác, mạnh được yếu thua; Ngài đã cảm nhận cảnh sanh, già, bệnh, chết và sự an lạc của vị Đạo sĩ; Ngài cảm nhận tính vô thường, vô ngã, khổ, không, Ngài đã chọn con đường cắt ái ly gia mà nghĩa nhân không quên; trái lại, sự vĩ đại từ bỏ hoàng thành để làm vị Sa môn vì hoàng tộc và vì tất cả chúng sanh, đây chính là lòng Từ Bi cao cả của Ngài.

Ta thấy, quá trình thực nghiệm tâm linh, chứng đắc giải thoát của Đức Phật dưới cội Bồ-đề như một cuộc hành trình vĩ đại và vi diệu. Cuộc hành trình vi diệu ấy gồm bốn chặng đường:

Một là phát xuất bằng tiếng gọi của lòng từ bi, thương xót nỗi đau thống thiết của nhân sinh.

Hai là từ bỏ đời sống vương triều để tìm cầu chân lý cứu độ nhân sinh.

Ba là thực hiện và thể chứng tâm linh qua con đường Trung Đạo, thoát ly khỏi hai cực đoan (hành xác và hưởng thụ dục lạc). Đây là con đường Thánh gồm tám yếu tố.

Bốn là sự giác ngộ trọn vẹn và hoằng pháp lợi sanh.

Đức Phó Pháp chủ – Hòa Thượng Thích Trí Quảng đã khẳng định giá trị tinh thần thành Đạo của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm:

Thứ nhất, Đức Phật chứng đắc giác ngộ tối thượng từ một con người phàm, nhờ vào các phương pháp thiền định chân chánh và cao siêu.

Thứ hai, thành đạo là một quá trình chuyển hoá tâm linh từ phàm phu ra thánh nhân. Đức Phật đã trải qua sự tu tập của Nhân thừa, rồi đến Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa, Bồ-tát thừa để chứng được Phật quả.

Thứ ba, con đường giác ngộ đó bắt nguồn từ sự phát tâm của một phàm phu hướng đến quả vị giác ngộ mà ta thường gọi là phát tâm Bồ-đề, và trải qua 52 chặng đường của các cấp độ tu tập Bồ-tát hạnh và kết thúc ở quả vị giác ngộ tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Nói cách khác, con đường giác ngộ theo kinh Hoa Nghiêm là con đường dấn thân của một vị Bồ-tát vào đời khổ đau để chuyển hóa các đau khổ của chúng sanh thành hạnh phúc. Để làm việc đó, vị Bồ-tát phải vận dụng phương tiện thiện xảo, tùy duyên trong đời nhưng bất biến trong các biến động và cám dỗ của đời, như hình ảnh hoa sen mọc lên từ bùn nhưng không bị bùn làm nhơ uế.

Thực tế đã minh chứng: Đức Phật thành tựu Đạo quả theo con đường Trung Đạo, Thiền định, chứng đắc Tam minh, lục thông. Ngài dạy phương pháp tu tập mang lại an lạc ngay trong hiện tại: Đạo Phật là đạo đến mà thấy, thấy sự thật khổ đau cuộc đời và con đường đoạn tận khổ đau được khởi đầu bằng những bước chân đầu tiên. “Thật vi diệu, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để cho ai có mắt có thể thấy.” [5]

Rõ ràng, hạnh phúc mà con người hướng đến không phải là điều gì nằm ngoài tầm tay con người. Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của con người thông qua sự tu tập về thân, khẩu, ý:

“Không làm các điều ác.

Thành tựu các việc lành.

Giữ tâm ý trong sạch.

Ðó là lời Phật dạy.” [6]

Ðây cũng chính là con đường tu tập theo Giới Ðịnh Huệ, hướng tới những giá trị hạnh phúc đích thực giữa cuộc đời. Sự kiện đức Phật thành Đạo là bức thông điệp hạnh phúc bước ra thế giới khổ đau, đánh thức sự hướng tâm vào thế giới an lạc của sự vận hành, xa rời sự chấp thủ và khát ái. Một chân trời tự do mở ra cho những ai còn mong mỏi tìm cầu về hạnh phúc, giải thoát mọi khổ đau cuộc đời.

Trong Bài Kinh Chuyển Pháp Luân, Ðức Thế Tôn mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một là đam mê thú vui dục lạc thế gian, vì nó giả tạm, nhất thời, tầm thường, ngăn cản mọi tiến bộ tâm linh; cực đoan thứ hai là khổ hạnh ép xác, nó làm mỏi mệt tinh thần, mê mờ trí tuệ. Và Ngài khuyến tấn họ nên theo con đường Trung Đạo dẫn tới một cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ, sáng suốt và giải thoát tối hậu. Ðó là con đường Bát chánh đạo:

1. Chánh tri kiến,

2. Chánh tư duy,

3. Chánh ngữ,

4. Chánh nghiệp,

5. Chánh mạng,

6. Chánh tinh tiến,

7. Chánh niệm,

8. Chánh định.

Và Bốn Thánh đế được Ðức Phật giảng tiếp theo, đó là chân lý về sự khổ (Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của sự khổ (Tập đế), chân lý về sự diệt khổ (Diệt đế) và chân lý về con đường diệt khổ (Ðạo đế). Đây là 2 cặp phạm trù giữa Nhân và Quả của Chân đế và Tục đế được Thế Tôn diễn thuyết chỉ bày.

Con đường cao thượng nhất, chính là Bát Chánh Đạo, Chân lý cao thượng nhất, chính là Tứ Diệu Đế, trạng thái tâm cao thượng, chính là không luyến ái, ai là người cao thượng, chính là đấng Toàn Tri. [7]

Sau khi nghe Ðức Thế Tôn giảng bài pháp thứ hai có đầu đề Anttalakkhana Sutta bàn về thuyết Vô Ngã rằng năm uẩn là vô thường, nếu ai thoát khỏi tham ái thì ra khỏi tái sanh, được giải thoát; năm Tôn giả: Kiều Trần Như, Ác Bệ, Bạt Ðề, Thập Lực và Ma Ha Nam lần lượt chứng quả A La Hán.

Lại nữa, ngày nay, nếu chúng ta trân quý Ý Nghĩa Phật Thành Đạo mà quên sự cúng dường – “Cúng dường pháp là tối thắng” thì là một sự thiếu sót quan trọng. Do đó, chúng ta hãy đem 6 đặc tính của giáo pháp Phật giáo nghiệm chứng và truyền bá khắp muôn nơi để ai ai cũng có thể hiểu đúng, tu tập đúng chánh pháp, đắc an lạc giải thoát và hộ trì chánh pháp lâu bền ở thế gian, lợi lạc khắp hữu tình! Sáu tính chất đó là:

Đặc tính thứ nhất là thiện thuyết, tiếng Pali là Svàkkhàto, tiếng Phạn là Svàkhyàta.

Đặc tính thứ hai là hiện chứng, tiếng Pali là Sandithiko, tiếng Phạn là Sàmdrstiko.

Đặc tính thứ ba là vượt thoát thời gian (Akalika).

Đặc tính thứ tư là đến để mà thấy (Ehipassiko).

Đặc tính thứ năm là dẫn đạo đi lên (Opanayiko).

Đặc tính thứ sáu là tự mình có thể giác tri (Paccatam veditabbo vĩnnuhiti). [8]

Ngoài ra, theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ta có thể thêm đặc tính thứ bảy là không có phiền não (Vô chư nhiệt não).

Tóm lại, tất cả pháp môn đưa chúng sanh về Giác Ngộ đều là kết quả qua lòng Từ Bi và Trí Tuệ trên tinh thần Thành Đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dưới cội Bồ-đề. Đó chính là ánh sáng nhiệm mầu từ vô lượng kiếp tu trì của Đức Phật, nhằm khai mở con đường cho chúng sanh hiểu biết sâu sắc. Từ đó, Giới Định Tuệ là phương pháp thành tựu “Giác Ngộ Giải thoát” và thực hành Tứ vô lượng Tâm để gieo trồng hạt giống Bồ-đề trên mảnh đất tâm của chính mình.

Sự Giác ngộ vẹn toàn của Đức Phật đã tạo một niềm tin vững chắc vào Tam Bảo cho Tăng Ni và Phật tử, nó giúp chúng ta tự tin vào chính mình trong quá trình tu tập, nhất là trong giai đoạn hiện nay, nó giúp chúng ta hóa giải  khổ đau, tìm đến con đường an lạc, giải thoát.

Càng suy nghĩ về Đức Phật, chúng ta càng cảm niệm công đức của Thế Tôn đã thị hiện giữa cuộc đời và thành tựu Đạo quả, cứu độ chúng sanh khắp cõi Nam Diêm-phù nầy, Tăng Ni và Phật tử chúng ta càng hết lòng tu tập, giữ gìn Thất Thánh tài (đó là 7 pháp có công năng trợ giúp cho sự nghiệp tu tập và thành Phật nên gọi là Tài, gồm: Tín, Giới, Tàm, Quí, Văn, Thí và Tuệ), ngày ngày sửa thân rèn tâm, noi gương Từ bi, học hạnh lắng nghe. Sở dĩ bóng tối đang còn là vì ánh sáng chưa mạnh, muốn bóng tối hoàn toàn tiêu tan thì ánh sáng phải đủ sức chiếu rọi cùng khắp. Cốt tủy những lời Phật dạy là Giới Định Tuệ, là Từ Bi Hỷ Xả, tôn trọng tinh thần tin sâu nhân quả và một lòng tinh tấn hành thiện, tu tập, tích phúc để đạt được hạnh phúc đích thực, tròn đầy.

Hãy cùng nhau tu tập, luôn nhớ “Phật là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”! Hãy góp sức cho thế giới hòa bình, cho chúng sanh đồng chung lợi lạc!

Nam Mô Công Đức Lâm Bồ Tát Ma Ha Tát ¤


CHÚ THÍCH:

[1] Kinh Trang Nghiêm

[2] Kinh Pháp Cú, kệ 153 – 154, Bản dịch của HT. Thích Minh Châu

[3] Trung Bộ I – Kinh Thánh Cầu

[4] Pháp Hoa Kinh

[5] Kinh Sa Môn Quả, Trường Bộ Kinh, tr.156

[6]  Kinh Pháp Cú, kệ 186

[7] Kinh Pháp Cú, kệ 273

[8] Kinh Trung Bộ, tập 1, tr.37; Kinh Tăng Chi, tập 3, tr.285


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.