Kỷ năng lãnh đạo và điều hành Phật sự thời Công nghệ số

Bài 2 Hướng Về Ngày Phật Thành Đạo



Đức Phật Thích Ca Mâu ni khai sáng ra Đạo Phật cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ. Ngài hạ sinh vào ngày trăng tròn tháng Vesak năm 624 trước Tây lịch, dưới cội cây Vô Ưu vườn Lâm Tỳ Ni, kinh thành Ca Tỳ La Vệ thuộc đất nước Ấn Độ (nay thuộc nước Nepal). Vì nhận rõ bản chất khổ đau của cuộc sống nhân sinh với bao hận thù, bất công…, Thái tử Tất Đạt Đa đã từ bỏ đời sống xa hoa, nhung lụa nơi cung vàng điện ngọc, từ giã quốc vương, thê tử và hoàng tộc thân yêu, từ bỏ tình riêng ra đi tìm con đường giải thoát đau khổ cho chúng sinh. Trải qua thời gian học đạo và 6 năm tu khổ hạnh nơi núi Tuyết, rừng già đến mức thân chỉ còn da bọc xương, Ngài nhận ra rằng: Thọ hưởng dục lạc quá mức sẽ làm cho tâm trí mê muội, khổ hạnh ép xác quá mức càng làm cho sức lực suy tàn, cả hai con đường tu tập này đều sai lạc. Sự giải thoát là chính nơi tâm thức chớ không phải tìm cầu bên ngoài.

Ngài đến dòng sông Ni-liên-thiền, bên cội cây Tất-bát-la (sau này gọi là cây bồ-đề), ngồi thiền kiết già và lập đại nguyện: “Nếu không chứng ngộ được đạo quả giác ngộ giải thoát, dù tan xương nát thịt, ta quyết không rời khỏi cội cây này”. Xuyên suốt 49 ngày thiền quán, Ngài đã trải qua nhiều sự cám dỗ và đe dọa của nội ma lẫn ngoại ma. Vào đêm thứ 49, khi sao mai vừa xuất hiện, tâm thức Ngài đi sâu vào thiền định, vượt thoát ý niệm hạn hữu về không gian và thời gian, tuệ giác ngời sáng vô biên, chứng ngộ chân lý tối thượng. Đại đạo viên thành, Ngài bắt đầu thuyết pháp, giáo hóa vô lượng chúng sinh, độ sinh trong suốt 49 năm.

Hôm nay, những người con Phật đang hướng về ngày đại lễ Phật Thành đạo PL.2564 , nhằm để bày tỏ tấm lòng tri ân đối với Đức Phật – Người đã thiết lập con đường giải thoát cho toàn thể chúng sinh. Mỗi mùa Phật thành đạo đến là mỗi lần tất cả trái tim của người con Phật chúng ta lại được thêm một lần nữa cùng nhau lắng lòng thanh tịnh, suy niệm về cuộc đời cao thượng của Đức Phật, suy niệm về chân lý tuyệt mỹ mà Ngài đã chứng ngộ và truyền dạy nhằm kiểm chứng việc thực hành chuyển hóa tâm thức, thăng hoa đời sống tâm linh và hạnh nguyện lợi tha của chính mình, để xứng đáng là người con Phật và bạn lành của tất cả chúng sinh.

Mùa Phật thành đạo năm nay, chúng ta cùng nhau ôn lại về một trong những chân lý tuyệt mỹ của Đức Phật là Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỷ, Xả (Bốn tâm rộng lớn thênh thang không lường được). Đó cũng chính là những đặc tính giúp con người trở nên tốt đẹp, hoàn thiện, là lối sống của bậc thánh minh triết.

Hiện nay, nhân loại đang sống trong thời đại của nhiều cuộc khủng hoảng to lớn, đương đầu với những thách thức trầm trọng nhất mà chúng ta chưa bao giờ phải đối diện: đó là hậu quả sinh thái do chính con người gây ra – biến đổi khí hậu. Sự nóng lên toàn cầu, hiện tượng băng tan và nước biển dâng dẫn đến rất nhiều hệ lụy đe dọa cuộc sống của loài người. Thiên tai, dịch bệnh xảy ra với một tần suất cao chưa từng có trong nhiều thế kỷ lại đây, như đại dịch Covid-19 hiện chưa có vacxin, đã cướp đi hơn một triệu sinh mạng trên toàn thế giới.

Tất cả đang đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe và sự an toàn của cả nhân loại. Con người đã tạo ra sự thay đổi bất thường này nên khi giải quyết nó cũng phải xuất phát từ chính con người. Và cần phải nhận thức lại mối quan hệ giữa con người và tự nhiên. Theo quan niệm Phật giáo, con người không phải là chủ thể trung tâm của thế giới nên con người không thể có được đặc quyền muốn cải tạo và biến đổi môi trường theo ý mình. Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên phải là mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau. Cần phải biết quý trọng, bảo vệ, giữ gìn, vun đắp cho môi trường sống thì con người mới có thể tồn tại lâu dài được.

Tiến sĩ Radhakrishna tuyên bố: “Khoa học đã mang lại cho nhân loại nhiều quyền lực đến nỗi họ có thể tự phá hủy đời sống của mình, cho nên có thể nói rằng, nếu không vun trồng cho mình những đức tánh từ bi, bất bạo động thì loài người hủy hoại tất cả, hủy hoại hạnh phúc mình và chính bản thân mình nữa”.

Thiết nghĩ, nếu xã hội ngày nay, mỗi người tự cố gắng thực hành theo “Tứ vô lượng tâm” – nhân cách sống đẹp và cao thượng của đạo Phật, thì quả địa cầu này sẽ trở thành cảnh giới đầy an lạc và tràn ngập hạnh phúc. Trong đó, tất cả chúng sanh chung sống an vui trong tình anh em, và mỗi người chúng ta sẽ trở thành những công dân lý tưởng trong một thế giới hòa bình.

Đức tính đầu tiên giúp con người trở nên cao thượng là Tâm “Từ” vô lượng, “Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc”, là trái tim luôn ban tặng niềm vui và sự an lạc cho tha nhân, đem tình thương vô điều kiện đến cho tất cả chúng sanh, mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng.

Kinh Từ Bi, Ðức Phật dạy: “Tâm Từ phải được rải khắp đồng đều cho mọi chúng sanh, phải bao trùm vạn vật, phải sâu rộng và đậm đà như tình thương của bà từ mẫu đối với người con duy nhất, chăm nom, bảo bọc con, dầu nguy hiểm đến tánh mạng cũng vui lòng.”

Với lòng từ vô lượng, Đức Phật đã ban vui, ban lợi ích vô lượng cho tất cả chúng sanh. Tâm “Từ” của Ngài là tình thương không điều kiện, không bị ràng buộc, và tình thương đó không mưu cầu. Ngài đã hóa độ những người mạt hạng, người cùng khổ của xã hội và cứu vớt tất cả sinh linh, nên “Từ” của Ngài là ban vui cùng khắp. Đức Phật dạy: “Chỉ có tâm từ mới dập tắt được lòng sân hận, chỉ có tâm từ mới ngăn chặn và diệt trừ được các mầm tư tưởng bất thiện.”

Thực hành tâm “Từ” trong xã hội hiện đại, chúng ta cần quan tâm đến những loài vật và môi trường xung quanh. Đức Phật dạy về mối tương quan duyên khởi của mọi sự, mọi vật trên trái đất, như Kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu bộ I), Đức Phật dạy:

“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt

Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt

Do cái này sinh nên cái kia sinh

Do cái này diệt nên cái kia diệt.”

Nguyên lý này, Đức Phật đã chỉ rõ chân lý tồn tại của mọi sự, mọi vật. Mọi sự vật trên trái đất này đều có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó khắng khít với nhau, sự sinh tồn của loài này là điều kiện tồn tại của loài kia và ngược lại, sự chấm dứt sự sống của một loài sẽ kéo theo sự diệt vong của loài khác, có cái này sẽ có cái kia, cái này sinh thì cái kia sinh, cái này diệt thì cái kia diệt. Chân lý này được Đức Phật tuyên thuyết hoàn toàn phù hợp với quy luật sinh tồn tự nhiên. Vì thế, khi tàn phá môi trường xung quanh, đồng nghĩa tự phá hủy môi trường sống của chúng ta và thế hệ mai sau.

Do vậy, vì lòng từ, chúng ta không những không sát hại chúng sinh để phục vụ cho nhu cầu của con người mà còn phải phóng sanh, ăn chay để bảo vệ môi trường.

Đức Phật dạy không những chúng ta tôn trọng sự sống của loài động vật mà còn ban rải lòng từ đến loài vô tình. Trong Luật tạng, Đức Phật dạy: “Các Tỳ Kheo không được khạc, nhổ, phóng uế dưới cỏ, nước.” Ngài còn khuyên đệ tử không nên chặt phá cây cối, cho dù là chặt cành hay bẻ lá: “Cây xanh cho chúng ta bóng mát trong lành, giúp chúng ta có nơi ngủ nghỉ qua đêm hay ngồi thiền định. Chặt cành hay bẻ lá của cây đều là hành vi phi đạo đức.”

Tâm “Bi” – đức tính thứ hai, Đức Phật dạy: “Là đối với mọi lúc mọi nơi, tâm Bi luôn tùy thuận lợi ích chúng sanh, không tổn hại người khác; xa lìa các oán kết, đem tâm rộng lớn chỉ bày cho chúng sanh, thương nhớ cứu hộ như con đỏ của chính mình; đối với kẻ oán người thân, bình đẳng không khác, khiến cho họ dứt trừ triền cái, giải thoát tất cả. Như vậy gọi là tâm Bi vô lượng”. Hoặc “Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ”. Nghĩa là có thể giúp con người thoát khỏi sự khổ não trong cuộc sống, là động lực làm cho tâm rung động, trắc ẩn trước sự đau khổ của kẻ khác. Sâu hơn nữa là “đồng thể đại bi”, nghĩa là xem nỗi khổ của chúng sinh như nỗi khổ của mình. Tâm bi là vị thuốc có thể tiêu trừ bệnh hung bạo, đố kỵ, tị hiềm. Lòng của người có tâm đại bi thật là mềm dịu, lắm khi để xoa dịu nỗi khổ đau của kẻ khác, người có tâm đại bi đã không ngần ngại hy sinh đến cả tính mạng.

Chính do nhờ tâm “Bi” mà con người có thể hoàn toàn vị tha trong khi tiếp xúc hay phụng sự. Người có tâm “Bi” không sống riêng cho mình, mà lúc nào cũng sống cho tha nhân và luôn tìm cơ hội để giúp đời, nhưng không bao giờ mong đền ơn đáp nghĩa. Như tiền thân của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, tấm gương lành cho chúng ta, Ngài đã tự mình đâm nhiều nhát dao trên mình, máu chảy lênh láng, gieo mình xuống vực, hiến thân mình để cứu cọp mẹ và bầy cọp con khỏi bị chết đói. Hay như Ngài đã từng tế độ cho người phụ nữ lạc bước giang hồ và cho cả tên sát nhân tàn ác, toan hại Ngài. Về sau, cả hai trở thành những đệ tử xuất chúng của Đức Phật.

Ngày nay, thực hành tâm “Bi”, trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Về vật chất, tích cực giúp đỡ cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn, đau bệnh, sống cơ nhỡ không nơi nương tựa…, nói chung là dấn thân trong công tác an sinh, từ thiện xã hội. Với sự hỗ trợ của các cấp chánh quyền và mạnh thường quân, thời gian qua, nhất là đại dịch Covid-19 hay bão lụt tại các tỉnh miền Trung, đồng bào nhân dân và Tăng Ni Phật tử đã tích cực giúp đỡ, hỗ trợ cho đồng bào gặp hoàn cảnh khó khăn. Về tinh thần, giúp đỡ cho những người chưa hiểu đạo, hướng họ về con đường giác ngộ, chánh tín, đối với những người bị trầm cảm, thất bại…, an ủi, giúp họ vượt qua nỗi đau về tinh thần.

Tâm “Hỷ” vô lượng là niềm vui không bờ mé, là một loại tâm mang đến hoan hỷ vui vẻ, lòng thanh thản do từ bi đem tới, góp phần lớn vào việc hoàn thiện đạo đức và trí tuệ của một con người.  “Hỷ” là lòng vui hay còn gọi là Tùy hỷ, vui theo, tự mình vui và mừng cho người có đủ điều thiện lành trong cuộc sống, cùng vui với những thành công, hạnh phúc  của người khác, nhất là khi sự thành công ấy hướng về nẻo thiện, hướng đến mục đích giải thoát.

Lòng “ganh tị” là sự đối nghịch trực tiếp của hỷ, làm cho người gặp nhiều chướng duyên trên con đường sự nghiệp. Nhiều người cảm thấy bực tức khi thấy người khác thành công hay vui khi thấy người khác thất bại. Đức Phật dạy: “Người nào đem lòng ganh tỵ, bất mãn và đố kỵ về những phẩm vật bố thí, hay sự thành công của người khác thì tâm người ấy mãi mãi không được an tịnh. Người nào bỏ được tính đố kỵ, ganh ghét và không so đo hơn thua thì tâm lúc nào cũng an tịnh.”

Tâm “Xả” là loại tâm làm cho con người có cảm giác thư thái, nhẹ nhàng, an lạc, giúp cuộc sống nhẹ nhàng hơn và không bị ràng buộc.  Xả là nhận thức vô tư, không luyến ái, không ghét bỏ, không ưa thích cũng không bất mãn; là nhận thức chân thật, đúng với bản chất của mọi sự vật, không cực đoan nghiêng về bên nào, không vui cũng không buồn, không lệ thuộc vào bất cứ trạng thái nào khiến chúng ta bị lệ thuộc, dính mắc, tâm luôn giữ trạng thái bình thản trước mọi sự vật như khen chê, được mất, vinh nhục, sướng khổ…

Nói cách khác, buông xả là một trạng thái thiền định sâu, chặt đứt tất cả mọi phiền não vô minh, an nhiên tự tại giữa dòng đời. “Xả” trực tiếp đối trị là “luyến ái”, và gián tiếp của tâm xả là sự “lãnh đạm”.

Giữa cuộc đời đầy thăng trầm của thế gian, Đức Phật dạy chúng ta nên bình thản, thực hành tâm xả, vững chắc như tảng đá sừng sững giữa trời. Ví như hoa sen từ bùn nhơ nước đục vươn lên trong sạch và tinh khiết.

Nói tóm lại, Tứ vô lượng tâm (Từ, Bi, Hỷ, Xả) là phương pháp tu tập, là nền tảng để phát triển thánh hạnh, hướng đến giác ngộ, giải thoát. Các vị Phật, Bồ tát đã chứng đạo, các Ngài vận dụng Tứ vô lượng tâm để hóa độ chúng sanh, được tôn xưng là “Đại từ, Đại bi, Đại hỷ, Đại xả”. Có thể nói, nơi nào có Tứ vô lượng tâm, nơi đó không có hận thù, bạo lực, chiến tranh, nghèo đói, ganh tỵ, đố kỵ, bất công, áp bức… diễn ra. Vì thế, chúng ta cần phải nuôi dưỡng và phát triển Tứ vô lượng tâm này để góp phần đem lại cho xã hội đời sống an bình, hạnh phúc và cũng để tri ân Đức Phật nhân mùa thành đạo PL.2564. ¤


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.