Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

27. Tổ Bát-Nhã-Đa-La (Cuối thế kỷ thứ X sau Phật Niết-bàn)



(Prajñātāra)

Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông Ấn. Cha mẹ mất sớm, ngài đi theo xóm xin ăn qua ngày. Nếu có ai mượn làm việc gì, ngài sẵn sàng làm tận lực mà không cần tiền. Hành động và ngôn ngữ của ngài lạ thường, người đời không lường được. Khi tổ Bất-như-mật-đa nhắc lại duyên xưa, ngài xin xuất gia, theo hầu Tổ và được truyền tâm pháp. 

Ngài dòng Bà-la-môn ở Đông Ấn. Mồ côi cha mẹ nên theo hàng xóm xin ăn qua ngày. Có ai mượn làm việc gì thì sẵn sàng làm mà không cần tiền. Hành động và ngôn ngữ khác hơn người đời. Khi gặp tổ Bất-như-mật-đa nhắc lại duyên xưa, ngài xin xuất gia theo hầu Tổ và được truyền pháp.

Sau này ngài thống lãnh đồ chúng sang Nam Ấn hoằng hóa. Vua nước này hiệu Hương Chí hết lòng sùng kính Phật pháp. Vua sanh ba người con trai đều kính tin Phật pháp. Người con lớn tên Nguyệt Tịnh Đa-la thích tu pháp niệm Phật tam-muội. Người con thứ hai tên Công Đức Đa-la thích tu bố thí làm phước. Người con thứ ba tên Bồ-đề-đa-la thích thông lý Phật, lấy việc xuất thế làm trên. 

Vua thỉnh ngài về cung cúng dường, bảo ba vị thái tử ra đảnh lễ. Ngài biết ba vị thái tử này đều ham tu, muốn nghiệm thử trí của mỗi người thế nào. Sẵn nhà vua cúng dường hạt châu quý vô giá, ngài lấy ra hỏi: 

– Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu này chăng? 

Nguyệt Tịnh thưa: 

 Hạt châu này quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong nhà vua thì làm gì có hạt châu này. 

Công Đức Ða-la cũng đồng ý như vậy. Bồ-đề- đa-la thưa: 

 Châu này là của báu thế gian chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có Pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ tâm trong sạch là trên hết. Nhưng ánh sáng của hạt châu này không thể tự chiếu, cần nhờ ánh sáng trí tuệ mới biện biệt được nó. Đã biện rõ mới biết là châu, đã biết là châu mới hiểu cái quý báu của nó. Nếu hiểu cái quý báu của nó, thì nó báu mà không biết báu. Nếu biện rõ nó là châu, thì nó châu mà chẳng tự biết châu. Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu. Báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ Pháp bảo. Song mà, Thầy tôi có đạo thì báu kia liền hiện. Chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế. 

Ngài khen ngợi tài biện luận của Bồ-đề-đa-la. Lại hỏi thêm: 

– Trong các vật, vật gì không tướng? 

– Trong các vật, chẳng khởi là không tướng. 

– Trong các vật, vật gì là tối cao? 

– Trong các vật, nhân ngã là tối cao. 

– Trong các vật, vật gì là tối đại? 

– Trong các vật, pháp tánh là tối đại. 

Ngài thầm vui biết là đại pháp khí sẽ nối dõi cho ngài sau này. 

Sau khi được truyền pháp, ngài đi hóa độ tới miền Nam Ấn, gặp vua Hương Chí. Vua có ba người con trai đều hâm mộ Phật pháp, nhưng mỗi vị có cách tu khác nhau. Vua thỉnh Tổ về cung và cúng dường một hạt châu rất quý. Tổ muốn nghiệm thử trí tuệ mỗi thái tử như thế nào nên hỏi: Ở đời còn có vật gì quý báu bằng hạt châu này chăng? Thái tử Nguyệt Tịnh nói rằng:

Hạt châu này quý tột, ở đời không có gì hơn nó, chẳng phải trong cung vua thì làm gì hạt châu này? 

Thái tử Công Đức Đa-la cũng đồng ý như vậy. Câu nói đó là chấp nhận hạt châu vô giá, ngoài hạt châu không còn gì cao tột hơn, nhưng đối với ngài Bồ-đề-đa-la thì khác, nên thưa rằng: Châu này là của báu thế gian, chưa đủ làm tột, trong các thứ báu chỉ có Pháp bảo là tột. Đây là ánh sáng của thế gian, trong các thứ ánh sáng chỉ có ánh sáng trí tuệ là tột. Đây là trong sạch của thế gian, trong các thứ trong sạch chỉ tâm trong sạch là trên hết.

So sánh về sự quý báu thì châu này là của báu thế gian, không quý báu bằng Phật pháp. Hạt châu này tuy sáng nhưng thuộc về cái sáng của thế gian, nên thua ánh sáng của trí tuệ. Nói tới sự trong sạch thì hạt châu trong trẻo sạch sẽ, nhưng không bì được sự trong trẻo sạch sẽ của tâm.

Nhân hạt châu mà ngài lý luận, thứ nhất là quý báu thì hạt châu thua Pháp bảo. Thứ hai là sáng suốt, hạt châu không sáng bằng trí tuệ. Thứ ba là trong sạch, hạt châu không trong sạch bằng tâm thể. Kế đến ngài đưa ra lý luận khác nữa, mới nghe chúng ta thấy lạ: Ánh sáng của hạt châu chỉ sáng và chiếu tỏa ra ngoài, nó không tự chiếu mà phải nhờ trí tuệ của người mới biết được ánh sáng của nó. Như vậy nhờ ánh sáng trí tuệ biện biệt mới nhận nó là hạt châu có giá trị. Sự thật hạt châu không tự biết giá trị quý báu của nó, nên nói nó báu mà không biết báu, như vậy có nghĩa lý gì đâu! Ngài nói thế để cho chúng ta thấy rõ, những vật báu bên ngoài không có giá trị bằng trí tuệ con người, là để trở về tâm.

Châu mà chẳng tự biết châu, cần nhờ trí châu mới biện được thế châu, báu mà chẳng tự biết báu, cần nhờ trí bảo mới rõ pháp bảo. Như vậy tất cả những cái quý báu của thế gian, tự không thành quý báu, mà do trí tuệ con người nhận xét mới thành quý báu. Tất cả sự vật ở bên ngoài không có giá trị, mà do trí tuệ con người nhận biết nó mới có giá trị. Do đó trí tuệ của con người là trên hết, không có của báu thế gian nào bì kịp.

Song mà Thầy tôi đạo thì báu kia liền hiện, chúng sanh có đạo thì tâm báu cũng thế. Nghĩa là Thầy có đạo thì báu hiện với Thầy, chúng sanh có đạo thì báu hiện với chúng sanh. Cho nên báu đó là báu ở tâm, chứ không phải báu của thế gian.

Tổ nghe Bồ-đề-đa-la lý luận như vậy nên khen ngợi, lại hỏi thêm: Trong các vật, vật gì không tướng? Ngài trả lời: Trong các vật, chẳng khởi là không tướng. Nếu tâm chẳng khởi là không tướng, nếu có khởi là có tướng. Trả lời rất hay. Trong các vật, vật gì tối cao? Đáp: Trong các vật, nhân ngã là tối cao. Không có gì tối cao bằng chấp nhận chấp ngã, đó là cái tối cao của thiên hạ. Trong các vật, vật gì tối đại? Đáp: Trong các vật, pháp tánh là tối đại. Nghĩa là pháp tánh là tột cùng lớn nhất.

Tổ thầm vui, biết Đa-la là đại pháp khí sẽ nối pháp sau này.

Một hôm, vua Hương Chí hỏi ngài: 

– Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn giả không tụng kinh? 

Ngài đáp: 

 Tôi hơi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, thường tụng thứ kinh này trăm ngàn muôn ức quyển. 

Vua Hương Chí băng, hai hoàng tử lớn và hoàng thân đều kêu khóc, duy Bồ-đề-đa-la ngồi nhập định chỗ quân linh cữu suốt bảy ngày. An táng nhà vua xong, Bồ-đề-đa-la xin phép mẹ và hai anh theo ngài Bát-nhã-đa-la xuất gia. 

Ngài thấy cơ duyên đã thuần thục nên nhận cho, rồi thỉnh thánh tăng làm lễ xuất gia thọ giới cho Bồ-đề-đa-la. 

Hôm nọ, ngài gọi Bồ-đề-đa-la đến dặn dò: 

 Đại pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi khéo truyền bá chớ cho đoạn dứt. Nghe ta nói kệ: 

Tâm địa sanh chư chủng, 

Nhân sự phục sanh lý. 

Quả mãn Bồ-đề viên, 

Hoa khai thế giới khởi. 

Dịch: 

Đất tâm sanh các giống, 

Nhân sự lại sanh lý.

Quả đầy Bồ-đề tròn, 

Hoa nở thế giới sanh. 

Truyền pháp xong, ngài hiện các thứ thần biến rồi thị tịch. 

Một hôm, vua Hương Chí hỏi Tổ: Tôi thấy các thầy đều tụng kinh, tại sao Tôn giả không tụng kinh? Tổ đáp: Tôi thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, thường tụng thứ kinh này trăm ngàn muôn ức quyển. Câu trả lời của Tổ nghe thật lạ! Đó là kinh gì? Chính đây là một công án, mà sau này các thiền sư đem ra dùng.

Thở ra chẳng tiếp các duyên, hít vào chẳng ở trong ấm giới, cứ bao nhiêu đó mà tụng trăm ngàn muôn ức quyển. Như vậy làm sao tụng? Ai cũng thở ra hít vào sao không thấy mình tụng kinh? Còn ngài thở ra hít vào lại tụng kinh? Chính điều này là tối quan trọng đối với người học đạo.

Thở ra không tiếp các duyên, nói thở nhưng sự thật là nhìn ra thì không dính tất cả sự vật. Hít vào chẳng trong ấm giới. Ấm giới là thân, nói hít vào là nhìn trong thân không chấp thân, nên không mắc kẹt ấm giới. Trong không chấp thân tức là không chấp ngã, ngoài không chấp cảnh tức là không chấp pháp, đó là một bài kinh lớn vô cùng vô tận. Tổ hằng sống như vậy, còn chúng ta nhiều khi tụng hết bộ này qua bộ kia, đếm bộ tính số, chứ không ứng dụng ý kinh để tu hành thì coi như không tụng.

Vua băng hà, hai hoàng tử lớn và hoàng thân đều kêu khóc, chỉ có Bồ-đề-đa-la ngồi nhập định chỗ quàn linh cữu suốt bảy ngày. An táng vua xong, Bồ-đề-đa-la xin phép mẹ và hai anh theo Tổ xuất gia. Tổ thấy Bồ-đề- đa-la đã thuần thục nên chấp nhận và thỉnh các vị thánh tăng làm lễ xuất gia truyền giới.

Một hôm Tổ gọi Bồ-đề-đa-la đến dặn dò và nói kệ truyền pháp.

Đất tâm sanh các giống,

Nhân sự lại sanh lý.

Quả đầy Bồ-đề tròn, 

Hoa nở thế giới sanh.

Tâm địa là chỉ cho pháp môn tâm địa, tất cả pháp đều từ tâm địa lưu xuất. Muốn đạt được tâm địa thì từ nơi sự mà thấy được lý, hay từ nơi người vật mà nhận được tâm, như vậy mới viên mãn được quả Bồ-đề. Nếu tâm dấy khởi thì muôn pháp cũng theo đó mà khởi, cho nên nói hoa khai thế giới khởi. Hoa khai tức là tâm dấy lên, thế giới khởi là quả hiện ra, nghĩa là tâm sanh thì pháp sanh. Để nêu rõ ý nghĩa tất cả pháp đều từ tâm sanh. Biết tất cả pháp từ tâm sanh thì nhìn sự tướng các pháp biết không rời tâm, nên gọi là nhân sự thấy được lý, nếu từ sự thấy được lý thì viên mãn quả vị Bồ-đề. Ý bài kệ này Tổ dạy tất cả pháp đều do tâm sanh, nếu tâm không sanh thì các pháp theo đó mà diệt.

Truyền pháp xong, Tổ hiện các thứ thần biến rồi thị tịch.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.