(Vasiasita)
Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-tân, cha hiệu Tịch Hạnh, mẹ là Thường An Lạc. Một hôm bà Thường An Lạc nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai ngài. Khi sanh ra, ngài nắm chặt bàn tay trái mãi, cho đến khi gặp tổ Sư Tử mới xòe ra.
Ngài được cha mẹ cho phép xuất gia theo hầu tổ Sư Tử. Tổ Sư Tử vì nợ trước phải trả nên truyền tâm ấn xong, bảo ngài phải sang Nam Ấn.
Ngài dòng Bà-la-môn người nước Kế-tân. Một hôm, mẹ nằm mộng thấy lượm được cây kiếm thần, sau đó có thai. Khi sanh ra, ngài nắm chặt bàn tay trái mãi cho đến lúc gặp tổ Sư Tử mới xòe ra. Tổ kể nguyên nhân đời trước, ngài là đệ tử làm thị giả theo hầu Tổ đi tụng kinh dưới Long cung. Long vương cúng hạt châu đáp lễ, Tổ giao cho ngài giữ trong tay. Tổ tịch, ngài giữ hạt châu đó cho đến khi gặp lại Tổ.
Như vậy duyên thầy trò không phải ngẫu nhiên chỉ một đời này, mà do nhiều đời trước bây giờ mới gặp lại nhau, liền có những điềm lạ. Nên biết chúng ta có mặt trên đời này không phải một lần, mà có vô số lần rồi, đây chỉ là một chặng trên con đường luân hồi mà thôi.
Nghe xong nhân duyên đời trước, cha mẹ cho phép ngài xuất gia theo hầu Tổ. Tổ Sư Tử vì nợ trước phải trả nên truyền tâm ấn xong, bảo ngài phải sang Nam Ấn để giáo hóa.
Ra khỏi nước Kế-tân, ngài đến Trung Ấn. Vua nước này hiệu Ca Thắng ra đón tiếp ngài. Trong nước này trước có chúng ngoại đạo giỏi pháp thuật, ỷ tài, khinh chê Phật pháp, người cầm đầu tên Vô Ngã. Vua thấy thế bất bình, muốn thỉnh ngài nhiếp phục chúng. Vua mở hội nghị luận, chính vua làm chủ tọa. Vô Ngã đến hội đề xướng mặc luận, không dùng lời nói. Ngài chống:
– Nếu chẳng dùng lời làm sao phân biệt hơn thua?
Ngoại đạo nói:
– Chẳng tranh hơn thua chỉ lấy nghĩa ấy.
Ngài hỏi:
– Cái gì là nghĩa?
Ngoại đạo đáp:
– Không tâm là nghĩa.
Ngài hỏi:
– Ngươi đã không tâm thì đâu thành nghĩa?
– Tôi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa.
Ngài nói:
– Ngươi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa, ta nói phi tâm chính là nghĩa chẳng phải danh.
– Chính là nghĩa chẳng phải danh thì ai hay biện được nghĩa?
Ngài bảo:
– Ngươi nói chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì?
– Vì biện cái phi nghĩa nên không danh mà đặt danh.
Ngài bảo:
– Danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa, người biện là ai và biện vật gì?
Bàn qua luận lại như thế đến hơn năm chục lần, ngoại đạo mới bặt lời nép phục. Bỗng trong vương cung có mùi hương lạ bay đến, ngài chợt nói: “Đây là tin đưa đến, Thầy ta đã tịch.” Ngài liền xây mặt về hướng bắc chắp tay đảnh lễ. Lễ xong, ngài nói với vua:
– Khi tôi mới đi, Thầy dạy qua Nam Ấn, nay ở lại đây đã lâu là trái ý Thầy, xin tạm biệt Đại vương sang nơi ấy.
Vua và quần thần đồng tiễn ngài sang Nam Ấn.
Ra khỏi nước Kế-tân, ngài đến Trung Ấn, được vua nước này đón tiếp. Trong nước có chúng ngoại đạo giỏi pháp thuật, ỷ tài khinh chê Phật pháp, người cầm đầu tên Vô Ngã. Vua bất bình muốn thỉnh ngài nhiếp phục chúng, liền mở hội cho ngoại đạo nghị luận với ngài. Vua làm chủ tọa.
Ngoại đạo đề nghị mặc luận, tức là luận thầm, như vậy lấy ai làm bằng chứng mà biết đúng sai, cho nên ngài không chịu. Nếu luận thì phải dùng ngôn ngữ mới biết đúng sai. Ngài nói: Nếu chẳng dùng lời làm sao phân biệt hơn thua. Ngoại đạo trả lời: Chỉ được nghĩa thôi, chứ không cần nói hơn thua. Ngài hỏi: Cái gì là nghĩa? Ngoại đạo đáp: Không tâm là nghĩa. Ngài hỏi tiếp: Ngươi đã không tâm thì đâu thành nghĩa? Không tâm là tâm rỗng không, có gì đâu là nghĩa! Ý ngài đã chỉ
Ý sâu thêm một lớp nữa.
Ngoại đạo nói: Tôi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa. Ngài nói: Ngươi nói không tâm chính là danh chẳng phải nghĩa, ta nói phi tâm chính là nghĩa chẳng phải danh. Tại sao không tâm là danh không phải nghĩa, vì không tâm là danh từ chứ chưa tới thật thể. Phi tâm là nghĩa không phải danh, vì phi tâm tức là thoát ra ngoài suy tưởng phải quấy thiện ác, cái đó mới đến lẽ thật, mà đến lẽ thật thì không có danh.
Ngoại đạo nói: Nghĩa không phải danh thì lấy cái gì để biện được nghĩa. Ngài đáp: Ngươi nói chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì? Danh là để chỉ cho cái nghĩa. Ví dụ tôi nói tên ly là để chỉ cho cái ly. Nếu có tên ly mà không có cái ly, thì có danh mà không có nghĩa. Như vậy danh và nghĩa không rời nhau. Cho nên nói nếu chính là danh không phải nghĩa, thì danh này là danh gì?
Ngoại đạo nói: Vì biện cái phi nghĩa nên không danh mà đặt danh. Ngài bảo: Danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa, người biện là ai và biện vật gì? Ngoại đạo nói vì biện phi nghĩa nên không danh mà đặt danh. Biện phi nghĩa tức là không có nghĩa, không có nghĩa thì làm sao mà đặt danh. Cho nên đây nói danh đã phi danh thì nghĩa cũng phi nghĩa. Như vậy không danh không nghĩa thì người biện là ai, biện vật gì?
Có danh, có nghĩa mới có người bàn luận. Đã không danh không nghĩa thì thử hỏi ai biện và biện cái gì? Đối đáp như vậy hơn năm chục lần, ngoại đạo mới phục. Đây là đoạn hơi khó hiểu một chút.
Nghị luận xong, vua và quần thần đồng tiễn ngài sang Nam Ấn.
Vua nước Nam Ấn hiệu là Thiên Đức nghe tin ngài đến cũng sửa sang xa giá ra đón tiếp, thỉnh ngài về hoàng cung. Nhân vua có hai thái tử, vị lớn là Đức Thắng thì thân thể mạnh khỏe mà tánh tình hung bạo, còn em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên, sẵn dịp vua hỏi ngài:
– Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào?
Ngài đáp:
– Bệnh của Thái tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu xa này Đại vương phải khéo nghe. Phật dạy người có nghiệp nặng nơi thân, ví như bệnh nội thương quá nặng, uống thuốc không có công hiệu, sắp chết bệnh càng hoành hành. Nếu là bệnh nhẹ, gặp thuốc liền bớt, bớt rồi từ từ mạnh. Người nghiệp nặng cũng vậy, tuy có công đức mà không làm gì được, đến lúc gần chết, nghiệp lại càng hiện.
Tổ đến Nam Ấn, vua Thiên Đức nghe tin sửa sang xa giá ra đón tiếp, thỉnh ngài về hoàng cung. Vua đem việc hai người con hỏi Tổ, thái tử lớn tên Đức Thắng thân thể khỏe mạnh, tánh tình hung bạo, người em thì hiền lành mà bệnh hoạn liên miên. Vua hỏi: Con tôi kính thờ Phật pháp, ưa làm việc lành, mà sao lại mắc bệnh kinh niên, vậy lẽ báo ứng lành dữ như thế nào?
Ngài giải thích: Bệnh của Thái tử là do công đức phát sanh. Song lý sâu này Đại vương phải khéo nghe cho kỹ. Thường thường bệnh là do nghiệp chướng phát sanh. Ở đây Tổ nói bệnh của Thái tử do công đức phát sanh nghe hơi ngược đời. Chúng ta chịu khó nghe kỹ, rồi suy nghiệm lý sâu xa trong đó.
Tổ bảo người có nghiệp nặng nơi thân, bị bệnh trầm trọng, uống thuốc không khỏi, thì lần lần sẽ đi tới cái chết. Người nghiệp nặng phải đọa địa ngục, làm phước chút ít không giảm được, không cứu nổi thì nhất định phải đọa.
Nếu do làm phước mà giảm, giống như người bệnh uống thuốc hay mà bớt, người này bớt bệnh thì mừng hay sợ? Uống thuốc hết bệnh là vui mừng, như người làm được nhiều công đức vậy. Tổ chỉ cho chúng ta thấy rõ tu mà đổ nghiệp, đó là do có phước nên nghiệp nặng chuyển thành nhẹ, cho nó đổ hết thì khỏi xuống địa ngục.
Nếu nghiệp nhẹ, làm các việc công đức, nghiệp trước liền hiện, trả xong sau sẽ thanh tịnh. Hiện nay Thái tử làm việc thiện mà bị bệnh lâu, hẳn là do làm các công đức phát ra nghiệp nhẹ này. Hiện tại tuy có khổ nhỏ, về sau sẽ an ổn. Kinh đã nói: “Nếu phải chịu nghiệp báo trong ba đường ác, nguyện đời này trả xong, để khỏi vào đường ác.” Vua còn nghi ư?
Vua Thiên Ðức tín nhận, càng phát tâm làm phước. Sau đó, ngài từ giã nhà vua đi hoằng hóa nơi khác.
Người làm việc thiện mà bị bệnh lâu ắt là do làm các công đức nên đổ ra những nghiệp nhẹ hơn. Hiện tại tuy thấy có khổ nho nhỏ, nhưng bảo đảm về sau sẽ an ổn, như vậy là đáng vui mừng, chứ không đáng lo sợ.
Vậy thì chúng ta tu mà có lỡ đau thì vui hay buồn? Nếu gặp những bệnh kinh niên trị hoài không hết thì phải nhớ rằng: Bệnh này chỉ khổ nhè nhẹ, nếu xuống địa ngục còn khổ gấp trăm nghìn lần nữa, bây giờ ráng chịu cái khổ nhẹ, sau này hết khổ. Đừng than thở bi quan về bệnh của mình, mà vui vẻ chấp nhận. Tại sao? Vì bị bệnh này chỉ trả nghiệp nhẹ, không trả nghiệp nặng đọa địa ngục, chỉ chịu khổ hiện tại mà hết khổ lâu dài. Hiểu như vậy thì khi tu nghiệp có đổ bao nhiêu cũng không lo buồn.
Kinh dạy khi tu nên phát nguyện nếu lỡ tạo nghiệp ác phải đọa trong ba đường ác địa ngục ngạ quỷ súc sanh, thì hiện đời này xin trả hết, để khỏi rơi vào ba đường ác, mới là người hiểu đạo.
Tóm lại, tất cả người tu hành hiểu được lý này cho chân chánh thì chắc chắn an ổn. Trong giới tăng ni cũng có nhiều người bị bệnh kinh niên trị hoài không hết. Nếu không biết lý nghiệp báo, cứ than thân trách phận tại sao tu mà vô phước, bị bệnh trị không lành. Đừng than thở! Vì nhờ tu mà bệnh chơi chơi vậy thôi, vui vẻ chịu đựng cho hết, sau sẽ an lành. Nếu không tu thì sẽ xuống địa ngục chịu khổ biết ngần nào.
Vua Thiên Đức tín nhận, càng phát tâm làm phước.
Mười sáu năm sau, vua Thiên Đức băng hà, thái tử Đức Thắng lên nối ngôi. Vua Đức Thắng tin theo ngoại đạo, chú thuật, nghe lời xúi giục của chúng, muốn làm khó ngài. Thái tử con vua Đức Thắng tên Bất-như-mật-đa biết được ác ý đó, liền đến can vua.
Thái tử thưa:
Tôn giả Bà-xá-tư-đa xưa kia được ông nội kính trọng, nhiều người muốn hại còn không thể được, đạo đức của Ngài rất cao, xin phụ hoàng đừng làm khó Ngài.
Vua Ðức Thắng nổi giận cho Thái tử theo phe tôn giả Bà-xá-tư-đa liền bắt hạ ngục.
Sau vua cho thỉnh ngài vào chánh điện. Vua cật nạn:
– Nước tôi không có pháp tà, Thầy tu học về tông phái nào?
Ngài đáp:
– Tôi tu học theo tâm tông của Phật.
Vua hỏi:
– Phật diệt độ đã một ngàn năm, Thầy làm sao được tâm tông của Phật?
Ngài đáp:
Từ Phật truyền cho tổ Ca-diếp đã trải qua hai mươi bốn đời, đến Thầy tôi là tổ Sư Tử, tôi được người truyền lại.
Vua hỏi:
– Tôn giả Sư Tử đã bị giết, đâu thể đem pháp truyền cho Thầy? Nếu Thầy thật được truyền thì lấy gì làm tin?
Ngài đáp:
– Thầy tôi truyền bát và trao y Tăng-già-lê để làm tin, hiện nay vẫn còn.
Ngài liền lấy y đưa cho vua xem. Vua vẫn không tin bảo đem lửa đốt. Khi lửa cháy, y hiện năm sắc hào quang. Lửa tắt, y vẫn còn nguyên như cũ. Vua mới tin nhận, xin sám hối tạ tội. Đồng thời, vua truyền lệnh tha thái tử.
Sau khi được thả, thái tử Bất-như-mật-đa quyết chí xuất gia, xin phép vua cha được như nguyện. Vua thấy không thể ngăn được chí thái tử, nên đành phải cho.
Thái tử đến yết kiến ngài xin làm đệ tử xuất gia. Ngài hỏi:
– Nhà vua bằng lòng chăng?
Thái tử thưa:
– Phụ vương bằng lòng.
Ngài hỏi:
– Ông muốn xuất gia để làm việc gì?
Thái tử thưa:
Con muốn xuất gia để làm việc Phật.
Ngài thấy Thái tử tha thiết cầu đạo, liền
nhận cho xuất gia. Sau sáu năm, ngài triệu thỉnh các vị thánh chúng vào vương cung truyền giới cho Bất-như-mật-đa. Giờ truyền giới đó có nhiều điềm lành ứng hiện, toàn hội đều hoan hỷ.
Tổ từ giã nhà vua đi hoằng hóa nơi khác. Mười sáu năm sau vua Thiên Đức băng hà, thái tử Đức Thắng nối ngôi tin theo ngoại đạo chú thuật, nghe lời xúi giục của chúng làm khó dễ Tổ. Thái tử là Bất-như-mật-đa biết được ác ý của phụ hoàng liền đến can vua: Xưa kia ông nội rất kính trọng tôn giả Bà-xá-tư-đa, đạo đức của ngài rất cao, nhiều người muốn hại không thể được, xin phụ hoàng đừng làm khó ngài. Nhà vua nổi giận cho rằng thái tử theo phe tôn giả Bà-xá-tư-đa liền bắt hạ ngục.
Vua thỉnh ngài vào chánh điện cật vấn: Nước tôi không có pháp tà, Thầy tu học về tông phái nào? Câu hỏi này mới nghe vô lý nhưng mà có lý. Truyền bá chánh pháp là khi nào chỗ đó có tà pháp mới dùng chánh pháp để phá. Hiện giờ, nước tôi không có pháp tà, đem pháp chánh truyền chi cho dư.
Tổ đáp: Tôi tu học theo tâm tông của Phật. Vua hỏi: Phật diệt độ đã một ngàn năm, Thầy làm sao được tâm tông của Phật? Tổ đáp: Từ Phật truyền cho tổ Ca-diếp đã trải qua hai mươi bốn đời, đến Thầy tôi là tổ Sư Tử, tôi được người truyền lại. Vua hỏi: Tôn giả Sư Tử đã bị giết, đâu thể đem pháp truyền cho Thầy? Nếu Thầy thật được truyền, thì lấy gì làm tin? Tổ đáp: Thầy tôi truyền bát và trao y Tăng–già-lê để làm tin, hiện nay vẫn còn. Tổ lấy y đưa ra cho vua xem, vua vẫn không tin bảo đem lửa đốt. Y không cháy mà lại hiện hào quang năm sắc, khi lửa tắt y vẫn còn nguyên như cũ. Nhà vua thấy điềm lạ này mới kính phục tin nhận xin sám hối tạ tội, vua ra lệnh tha Thái tử. Sau khi được tha, thái tử Bất-như-mật-đa xin phép vua cha xuất gia theo Tổ tu hành.
Tổ hỏi: Ông muốn xuất gia để làm việc gì? Thái tử thưa: Con muốn xuất gia để làm việc Phật. Tổ thấy Thái tử tha thiết cầu đạo, liền triệu thỉnh các vị thánh chúng vào vương cung làm lễ xuất gia và truyền giới cho Bất-như-mật-đa.
Một hôm, ngài gọi Bất-như-mật-đa đến dặn dò:
– Ta đã già lắm, chẳng bao lâu sẽ rời cõi này, xưa đại pháp nhãn tạng của Như Lai lần lượt truyền đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:
Thánh nhân thuyết tri kiến,
Đương cảnh vô thị phi.
Ngã kim ngộ kỳ tánh,
Vô đạo diệc vô lý.
Dịch:
Thánh nhân nói tri kiến,
Ngay cảnh không phải quấy.
Nay ta ngộ tánh ấy,
Không đạo cũng không lý.
Thấy cơ duyên hóa đạo sắp viên mãn, Tổ gọi
Bất-như-mật-đa đến dặn dò và nói kệ truyền pháp:
Thánh nhân nói tri kiến,
Ngay cảnh không phải quấy.
Nay ta ngộ tánh ấy,
Không đạo cũng không lý.
Thánh nhân khi nói về tri kiến, chính ngay nơi đó nhận ra không qua phân biệt phải quấy. Người ngộ được thể tánh thì thấy không đạo cũng không lý. Ở đây dùng hai chữ đối nhau, trên thì thị và phi, dưới đạo và lý.
Tổ muốn chỉ cho chúng ta thấy rằng: Tri kiến mà chư Phật chư Tổ tán dương khen ngợi đó là Tâm. Chúng ta trực nhận không qua suy nghĩ phân biệt hai bên như thị phi đạo lý, như vậy mới là thấy đúng. Nếu mắc kẹt vào đối đãi thì chưa phải tri kiến chân chánh.
Bất-như-mật-đa thọ pháp xong, thưa:
– Còn y Tăng-già-lê Thầy không truyền cho con, là sao vậy?
Ngài bảo:
– Xưa ta được truyền y vì Thầy ta bị nạn, sợ người cho rằng truyền pháp không rõ ràng nên truyền y để làm tín vật. Nay ngươi được truyền, mọi người đều biết, cần y làm gì? Chỉ cần hóa đạo.
Nói xong, ngài thị hiện thần biến rồi vào Niết-bàn. Đồ chúng lượm xá-lợi xây tháp tôn thờ.
Tổ truyền pháp mà không truyền y nên ngài hỏi: Tại sao Thầy không truyền y cho con? Tổ bảo: Xưa ta được truyền y vì thầy ta bị nạn, truyền pháp không rõ ràng. Nay ngươi được truyền pháp mọi người đều biết cần y làm gì, chỉ cần hóa đạo. Câu nói này giống trường hợp Lục Tổ.
Khi tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa, Tổ là người Ấn, Huệ Khả là người Trung Hoa làm sao biết được sự đắc đạo của Tổ, cho nên cần phải truyền y bát để làm chứng. Đến Lục tổ Huệ Năng thì đồ đệ quá đông, ngài có trụ xứ thuyết pháp đàng hoàng. Nhiều đồ đệ tu hành đắc đạo được mọi người biết đến, lúc đó truyền y chi cho dư, nên Lục Tổ không truyền nữa.
Truyền pháp xong, Tổ thị hiện thần biến rồi vào Niết-bàn. Đồ chúng hỏa thiêu lượm xá-lợi xây tháp cúng dường.