Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

5. Tổ Đề-Đa-Ca (Đầu thế kỷ thứ II sau Phật Niết-bàn)



Dhrtaka

Ngài tên Hương Chúng ở nước Ma-già-đà. Nhân thân phụ ngài nằm mộng thấy mặt trời vàng ánh xuất hiện trong nhà, chiếu sáng khắp cả. Lại thấy phía trước hiện ra một hòn núi lớn, trang nghiêm bằng bảy báu, trên đỉnh núi có dòng suối nước chảy trong veo, tràn khắp bốn phía. Sau đó mẹ ngài sanh ra ngài. 

Ngài gặp tổ Ưu-ba-cúc-đa bèn đem điềm mộng của cha thuật lại và nhờ giải hộ. Tổ giải: 

– Núi báu là thân ta. Suối nước tuôn ra là pháp vô tận, mặt trời xuất hiện trong nhà là tướng ngươi vào đạo, ánh sáng chiếu khắp là trí tuệ siêu việt của ngươi. 

Ngài nghe xong vui mừng khấp khởi xướng kệ rằng: 

Nguy nguy thất bảo sơn,

Thường xuất trí tuệ tuyền. 

Hồi vi chân pháp vị, 

Năng độ chư hữu duyên. 

Dịch: 

Vòi vọi núi bảy báu, 

Thường tuôn suối trí tuệ. 

Chuyển thành vị chân pháp, 

Hay độ người có duyên. 

Tổ Ưu-ba-cúc-đa cũng nói kệ đáp: 

Ngã pháp truyền ư nhữ, 

Đương hiện đại trí tuệ. 

Kim nhật tùng ốc xuất, 

Chiếu diệu ư thiên địa. 

Dịch: 

Pháp ta truyền cho ngươi, 

Sẽ hiện trí tuệ lớn. 

Mặt trời mọc trong nhà, 

Chiếu sáng khắp trời đất. 

Ngài nghe kệ rồi, xin theo Tổ xuất gia học đạo. Thấy ngài ứng đối lanh lẹ, trí tuệ minh đạt, Tổ hoan hỷ chấp nhận cho xuất gia làm đệ tử. 

Trước khi ngài sanh ra, thân phụ thấy trong nhà có mặt trời vàng ánh sáng chiếu khắp cả, đó là điềm sẽ có vị đại trí tuệ ra đời. Kế đến là thấy hòn núi lớn trang nghiêm bằng bảy báu, trên đỉnh núi có dòng suối trong veo chảy tràn khắp bốn phía.

Khi gặp tổ Ưu-ba-cúc-đa, ngài đem điềm mộng của cha thuật lại nhờ giải thích. Tổ nói thấy núi báu là thấy thân của ngài. Thân của các vị đạt đạo cũng là thân tứ đại như chúng ta, nhưng tại sao lại hiện núi bảy báu? Vì khi chúng ta mê thì thân này hiện nhớp nhúa, nếu tu tỉnh ngộ như các ngài thì thân này thành bảy báu.

Trong kinh Pháp Hoa nêu lên hình ảnh tháp bằng bảy báu từ dưới đất nổi lên trụ giữa hư không. Tháp bảy báu là tượng trưng cho thân thất đại: đất, nước, gió, lửa, không, thức, kiến. Khi nhận ra tri kiến Phật thì nó thanh tịnh trở thành thất bảo, nếu mê tri kiến Phật tâm uế trược thì nó là thất đại. Chúng ta tu không nên đi kiếm của báu ở ngoài, chỉ cần tỉnh giác thì bảy báu sẵn có nơi thân.

Mặt trời xuất hiện trong nhà là tướng vào đạo, tức là trong nhà có người sẽ đi tu, người đó có trí tuệ siêu việt chiếu khắp thế gian. Ánh sáng soi khắp là hiện tượng người này nếu xuất gia thì sẽ làm lợi ích cho nhiều người bằng trí tuệ sáng suốt của mình.

Nghe Tổ giải thích, ngài vui mừng phát tâm xuất gia và dùng kệ tán thán.

Vòi vọi núi bảy báu, 

Thường tuôn suối trí tuệ.

Chuyển thành vị chân pháp, 

Hay độ người có duyên. 

Ngài tán thán Thầy của mình giống như ngọn núi bảy báu, từ đó lưu xuất dòng suối trí tuệ, như đem dòng suối pháp của Phật mà độ tất cả chúng hữu tình có duyên với Phật pháp.

Ngài Ưu-ba-cúc-đa đáp lại bằng bài kệ:

Pháp ta truyền cho ngươi,

Sẽ hiện trí tuệ lớn.

Mặt trời mọc trong nhà, 

Chiếu sáng khắp trời đất.

Tổ khen lại người học trò. Ta sẽ truyền pháp cho ngươi. Sẽ hiện trí tuệ lớn. Ngày nay mặt trời trong nhà hiện ra, soi khắp trời đất là sau này ngươi sẽ giáo hóa khắp mọi người. Như vậy vị thầy nói về tương lai tốt đẹp của trò.

Một hôm, Tổ gọi ngài bảo: 

Như Lai đem đại pháp nhãn tạng trao cho Đại Ca-diếp, lần lượt trao truyền cho đến ta, nay ta trao lại cho ngươi. Hãy nghe kệ đây: 

Tâm tự bản lai tâm, 

Bản tâm phi hữu pháp. 

Hữu pháp hữu bản tâm, 

Phi tâm phi bản pháp. 

Dịch: 

Tâm tự xưa nay tâm, 

Bản tâm chẳng có pháp. 

Có pháp có bản tâm, 

Chẳng tâm chẳng bản pháp. 

Ngài thành kính nhận lãnh Chánh pháp. 

Khi tổ Ưu-ba-cúc-đa sắp tịch bèn nói kệ truyền pháp cho ngài.

Tâm tự xưa nay tâm,

Bản tâm chẳng có pháp.

Có pháp có bản tâm,

Chẳng tâm chẳng bản pháp.

Ở đây nói tâm thể, chứ không phải tâm nghĩ suy. Tâm thể của chúng ta sẵn có từ thuở nào đến giờ, chứ không phải mới có từ cha mẹ sanh, nên gọi là bản lai, tức từ xưa cho đến nay. Tâm thể không phải là một pháp, tại sao? Bởi vì chữ pháp chỉ cho thứ này thứ kia, như đồng hồ, tách trà, khăn bàn… các pháp đó từ suy nghĩ đặt ra. Nhưng bản tâm không phải nghĩ suy đến được, nên nói không phải pháp.

Tuy nhiên nếu nói có pháp thì có bản tâm, tại sao? Tâm thể không có tên mà mình đặt ra tên này tên nọ thì thành có nhưng không thật, nên gọi là chẳng tâm chẳng bản pháp. Khi tu vọng tưởng lặng, chỉ còn một thể giác tri khinh an, lúc đó mới biết tất cả từ ngữ đều hư dối không thật. Vừa dấy niệm liền có từ ngữ, không dấy niệm thì không từ ngữ gì hết.

Sau ngài sang Trung Ấn giáo hóa. Nơi đây có tám ngàn vị đại tiên, dưới sự lãnh đạo của đại tiên Di-dá-ca. Nghe ngài đến đây, Di-dá-ca vân tập tiên chúng đến yết kiến ngài. 

Gặp ngài, Di-dá-ca thưa: 

– Xưa tôi cùng Thầy đồng sanh cõi trời Phạm thiên. Tôi gặp tiên A-tư-đà truyền cho pháp tiên. Thầy gặp đệ tử Phật hướng dẫn tu tập thiền định. Từ đó, cách nhau đã đến sáu kiếp. 

Ngài bảo: 

 Lời tiên nhân đã nói đúng như vậy. Song, ông chuyên về pháp tiên tột cùng sẽ đến đâu? 

Di-dá-ca thưa: 

– Tôi tuy chưa gặp bậc chí thánh, song tiên A-tư-đà thường thọ ký rằng: “Sáu kiếp về sau, tôi sẽ nhờ bạn đồng học mà được chứng quả giải thoát.” Nay gặp nhau đây đâu không đúng như vậy ư? 

Ngài bảo: 

– Ông đã biết như vậy thì cần phải xuất gia, pháp tiên là đường nhỏ, không thể đưa người đến giải thoát. Ta hóa đạo đã lâu, cũng muốn dừng nghỉ. Nếu ông thật thú hướng về đại pháp thì không nên chậm trễ. 

Di-dá-ca nghe nói vui mừng liền xin xuất gia. Ngài độ cho ông xuất gia thọ giới. 

Có người thắc mắc tu tiên với tu Phật hơn kém chỗ nào? Đa số người thế gian thích thành tiên mà không thích thành Phật. Bởi vì Phật ngồi trên bàn từ bi không nói gì hết, còn nhìn mấy ông tiên thì đánh cờ, uống rượu vui quá cho nên nói sướng như tiên, chứ không ai nói sướng như Phật. Từ bi như Phật nhưng mà sướng như tiên. Hiểu thật rõ chỗ này chúng ta không thắc mắc.

Tại sao tu tiên sướng mà không tu, tu Phật chi cho cực khổ? Bởi vì Phật từ bi thấy chúng sanh khổ, độ chúng sanh không biết mỏi mệt. Khi công hạnh viên mãn mới thành Phật. Như vậy pháp của Phật là pháp giải thoát sanh tử cho mình và mọi người.

Đoạn này nói ngài Di-dá-ca lãnh đạo tám ngàn vị đại tiên, làm Thầy tám ngàn vị tiên có thần thông là giá trị rồi, nếu người thế gian ở địa vị đó, gặp người khác chắc không chịu đầu phục làm đệ tử. Nhưng khi gặp Tổ biết là người tu theo Phật được pháp giải thoát, liền xin quy y với Tổ, tu hạnh giải thoát. Như vậy giá trị người tu Phật khác người tu tiên. Ngài Di-dá-ca từ địa vị một vị Thầy mà hạ thấp mình làm đệ tử một tu sĩ Phật giáo, đó là ngài đã phá bản ngã lớn lao của chính mình, nên bước vào đạo không khó khăn gì.

Lúc đó, tiên chúng theo Di-dá-ca thấy vị tiên trưởng của mình làm như vậy, rất bất mãn. Họ nói thầm với nhau rằng: “Đề-đa-ca đâu có đủ sức làm Thầy mình mà theo xuất gia.” 

Ngài biết tâm họ, muốn gây cho họ có niềm tin, liền phóng quang sáng chiếu, chân đi trên hư không như người đi trên đất bằng, lại hóa cây dù báu che khắp chúng tiên, nơi ngón tay sữa thơm tuôn ra, trong sữa hiện lên một hoa sen, trong hoa sen hóa ra đức Phật. 

Chúng tiên thấy thần biến phi thường, bèn cúi đầu cầu xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận. 

Thấy cơ duyên hóa độ đã viên mãn, ngài truyền pháp lại cho Di-dá-ca, rồi thâu thần tịch diệt. 

Di-dá-ca và đồ chúng thiêu hài cốt ngài, thâu lượm xá-lợi xây tháp tại núi Ban-trà thờ phụng cúng dường.

Khi ngài xin làm đệ tử tổ Đề-đa-ca thì bị đồ đệ phản đối liền. Mất mặt quá! Thầy mình đang là một vị đại tiên mà trở thành đệ tử ông thầy tu theo Phật. Hiểu tâm lý họ, ngài Đề-đa-ca mới dùng thần thông chiết phục, để các vị tiên hết tâm ngạo mạn trở về theo Phật. Khi chúng tiên thấy ngài thị hiện thần biến phi thường bèn cúi đầu cầu xin xuất gia. Tôn giả hoan hỷ chấp nhận.

Tóm lại, thần thông biến hóa khi có khi không nên không thật. Cái chân thật thì không bao giờ mất. Cho nên đạo Phật chủ trương muốn giác ngộ phải nhận ra cái chân thật nơi mình và hằng sống với nó thì mới thoát ly sanh tử luân hồi. Hiểu như thế mới thấy được giá trị chân thật lời dạy của Phật tổ.

Chúng ta thấy các thiền sư Trung Hoa phần nhiều giảng dạy đem chánh pháp hoặc dùng ngôn ngữ đối đáp, hoặc dùng những phương tiện đánh hét, giở phất tử, gọi dạ… để cho đương cơ lãnh hội. Nhưng ở đây thì dùng thần thông mà hóa đạo, tại sao? Vì người tu tiên thường quan trọng những điều thần bí. Nếu đệ tử Phật không có thần thông thì làm sao chinh phục để giáo hóa họ. Vì vậy nhà Phật thỉnh thoảng cũng dùng thần thông để chinh phục những người ngoại đạo. Nhưng đó là phương tiện để làm cho họ kính nể, rồi giáo hóa họ đi theo con đường giải thoát chứ không phải cứu cánh.

Thấy cơ duyên hóa độ đã viên mãn, ngài truyền pháp lại cho Di-dá-ca rồi thâu thần tịch diệt. Di-dá-ca và đồ chúng thiêu hài cốt, lượm xá-lợi xây tháp tại núi Ban-trà thờ phụng cúng dường.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.