Śāṇa-vāsin
Ngài dòng Tỳ-xá-đa nước Ma-đột-la, cha tên Lâm Thắng, mẹ là Kiều-xa-da. Ngài ở trong thai mẹ sáu năm mới sanh. Tục truyền ở Ấn Độ khi nào cỏ Thương-nặc-ca sanh là có một vị Thánh nhân ra đời. Chính khi ngài lọt lòng mẹ thì thứ cỏ ấy cũng mọc lên, vì thế cha mẹ ngài đặt tên là Thương-na-hòa-tu.
Lúc đầu, ngài xuất gia làm đồ đệ vị tiên ở núi Tuyết. Ngài tu theo pháp tiên đã được thần thông, sau gặp tổ A-nan, ngài hồi đầu trở về chánh pháp.
Tổ A-nan thấy ngài đã thêm ngộ diệu tâm nên truyền pháp kệ rằng:
Bản lại truyền hữu pháp,
Truyền liễu ngôn vô pháp.
Các các tu tự ngộ,
Ngộ liễu vô vô pháp.
Dịch:
Xưa nay truyền có pháp,
Truyền rồi nói không pháp.
Mỗi mỗi cần tự ngộ,
Ngộ rồi không không pháp.
Tổ lại dặn: “Xưa đức Như Lai đem đại pháp nhãn này trao cho ngài Ca-diếp, ngài Ca-diếp trao lại cho ta, nay ta sắp vào Niết-bàn đem trao lại cho ngươi. Ngươi phải khéo gìn giữ truyền trao không để dứt mất”
Đọc lịch sử Tôn giả chúng ta thấy có mấy điểm đặc biệt cần chú ý. Ngài ở trong thai mẹ đến sáu năm. Trước ngài tu theo ngoại đạo đã được thần thông, nhưng khi gặp ngài A-nan liền quy hướng về Phật pháp, vì thấy rõ thần thông không đưa đến giải thoát. Nếu thần thông đưa đến giải thoát thì ngài được thần thông rồi cần gì theo tổ A-nan học đạo.
Như vậy thần thông chỉ là phương tiện bên ngoài chứ không phải là trọng tâm người tu giải thoát. Do đó chúng ta tu theo Phật mà còn say mê thần thông là không đúng tinh thần tu Phật. Người tu Phật chủ yếu là giải thoát sanh tử. Như người có thần thông biết bay lên trời, chui xuống đất, nhưng chưa hết tham sân si thì vẫn còn trầm luân sanh tử. Tại sao? Bởi vì tham sân si là nhân của luân hồi sanh tử. Nếu có thần thông mà không hết tham sân si thì không hết luân hồi. Vả lại thần thông do luyện tập mà được cho nên không phải thật.
Đọc truyện Tàu thấy ngày xưa mấy ông tiên tu trên núi có thần thông phép lạ, nhưng khi ai làm gì bực tức liền xách gói xuống núi và bị mắc họa luôn. Ngược lại người phàm phu không có thần thông mà giảm thiểu tham sân si thì khi gặp nghịch cảnh tâm vẫn bình thường. Do vậy trọng tâm của người tu theo đạo Phật là hết tham sân si, nếu không hết thì cũng giảm.
Đạo Phật là chỉ dạy cho người tìm lẽ thật, chứ không tìm huyền bí, cho nên người học Phật phải chín chắn suy nghĩ kỹ càng, mới thấy cái hay của đạo Phật. Nếu không thì bị những cái mầu nhiệm huyền bí đánh lừa. Ở đây điểm quan trọng của tổ Thương-na-hòa-tu là ngài đã được thần thông mà vẫn khép mình theo ngài A-nan học đạo, để thấy người xưa không ỷ mình có thần thông rồi xem thường tất cả, mà luôn coi trọng chân lý giải thoát.
Tổ A-nan thấy ngài thâm ngộ diệu pháp nên nói kệ rằng:
Xưa nay truyền có pháp,
Truyền rồi nói không pháp.
Mỗi mỗi cần tự ngộ,
Ngộ rồi không không pháp.
Chữ pháp là chỉ cho tâm, truyền pháp là truyền tâm, nếu không tâm lấy gì truyền! Nói truyền thì dường như là có pháp, nhưng truyền rồi không có pháp gì hết.
Như thầy hiểu đạo, đệ tử cũng hiểu đạo tức là có pháp. Bây giờ thầy ấn chứng cho đệ tử chỗ hiểu đúng như chỗ hiểu của thầy, cái đó dường như có pháp mà không pháp. Vì sao? Tự mình ngộ vị thầy ấn chứng vậy thôi, không có gì để trao truyền. Cái đó là mỗi người tự nhận ra, chứ không ai nhận thế cho mình. Khi ngộ rồi thì thấy không pháp nào ngoài mình hết. Theo tinh thần Thiền tông, thì dường như có pháp trao truyền mà sự thật thì mỗi người tự ngộ bản tâm, chứ không ai đem đến cho mình.
Sau khi đắc pháp nơi tổ A-nan, ngài đi đến khu rừng Ưu-lưu-trà cất tinh xá hoằng hóa Phật pháp rất hưng thịnh. Chính nơi đây, khi Phật còn tại thế có lần đi giáo hóa ngang qua khu rừng này, Phật nói với A-nan: “Sau khi ta Niết-bàn khoảng một trăm năm, có một vị Tỳ-kheo tên Thương-na-hòa tu ở tại khu rừng này hoằng truyền chánh pháp.”
Thấy cơ duyên hóa đạo đã viên mãn, ngài đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho đệ tử là Ưu-ba-cúc-đa. Ngài vào núi Bạch Tượng phía nam nước Kế-tân sắp vào Niết-bàn. Nhân trong chánh định ngài thấy nhóm năm trăm người đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa thường hay lười biếng và khinh mạn, ngài liền đến cảnh tỉnh họ.
Khi ngài đến, Ưu-ba-cúc-đa đi vắng. Ngài lại tòa của Ưu-ba-cúc-đa ngồi, đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa không biết ngài là ai, tất cả đều bực tức không phục. Họ chạy báo cho Ưu-ba-cúc-đa hay. Ưu-ba-cúc-đa về đến thấy Thầy mình liền đảnh lễ. Song đệ tử vẫn còn tâm khinh mạn chẳng kính. Ngài lấy tay mặt chỉ lên hư không liền có sữa thơm chảy xuống, ngài bảo Ưu-ba-cúc-đa:
– Ngươi biết gì chăng?
Ưu-ba-cúc-đa thưa:
– Chẳng biết.
Ưu-ba-cúc-đa bèn nhập chánh định để xem xét, cũng không thể hiểu. Ưu-ba-cúc-đa thưa:
– Điềm lành này do chánh định gì xuất hiện?
– Đây là chánh định Long phấn tấn. Còn cả năm trăm thứ chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của Như Lai, hàng Bích-chi không thể biết. Chánh định của Bích-chi, hàng La-hán không thể biết. Chánh định của Thầy ta là A-nan, ta cũng không biết. Nay chánh định của ta, ngươi đâu thể biết. Chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể biết.
Đệ tử của Ưu-ba-cúc-đa trông thấy những điều kỳ diệu ấy liền kính phục, chí thành sám hối. Ngài lại nói kệ:
Thông đạt phi bị thử,
Chí thánh vô trường đoản.
Nhữ trừ khinh mạn ý,
Tật đắc A-la-hán.
Dịch:
Thông suốt không kia đây,
Chí Thánh không hay dở,
Ngươi trừ tâm khinh mạng
Chóng được A-la-hán.
Sau đó, ngài thị tịch bằng cách dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân. Thầy trò Ưu-ba-cúc-đa thu nhặt xá-lợi xây tháp cùng dường.
Ngài truyền pháp cho đệ tử là Ưu-ba-cúc-đa. Ngài Ưu-ba-cúc-đa có một số đệ tử tâm rất kiêu mạn lại thêm lười biếng, tự cho mình cao quý, nên ngài tới đó để cảnh tỉnh.
Tổ đến nơi, ngài Ưu-ba-cúc-đa đi vắng. Ngài bèn lên tòa Ưu-ba-cúc-đa ngồi, các vị đệ tử chưa từng biết ngài là Sư ông, chỉ thấy ông thầy lạ lên ngồi chỗ của Thầy mình, liền bất bình không phục, chạy báo tin cho Thầy biết. Ngài Ưu-ba-cúc-đa về, thấy Thầy liền đảnh lễ.
Nhóm đệ tử của ngài Ưu-ba-cúc-đa lộ vẻ không cung kính. Tổ Thương-na-hòa-tu dùng tay chỉ lên hư không, liền có sữa thơm chảy xuống, hỏi Ưu-ba-cúc-đa ngươi biết gì chăng? Ưu-ba-cúc-đa thưa chẳng biết, rồi nhập chánh định để xem xét nhưng cũng không hiểu, nên hỏi: Điềm lành này do chánh định gì xuất hiện. Thương-na-hòa-tu nói: Đây là chánh định Long phấn tấn. Còn cả năm trăm thứ chánh định như thế mà ngươi chưa biết. Chánh định của Như Lai hàng Bích-chi không thể biết. Chánh định của Bích-chi, hàng La-hán không thể biết. Chánh định của thầy ta là A-nan ta cũng không biết, nay chánh định của ta ngươi đâu thể biết. Chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được thế đó mới có thể biết.
Ngài kể các chánh định, chánh định của thầy thì trò không biết, chánh định của bậc thánh trên thì bậc thánh dưới không biết. Nhưng chánh định ấy là tâm không sanh diệt, trụ trong sức đại từ, cung kính lẫn nhau, được như thế mới có thể biết, đó là điểm quan trọng. Thầy trò truyền nhau là do thầy biết về trò, ngộ được chỗ giống thầy rồi mới truyền tâm ấn, nhưng chánh định của thầy trò không biết. Có câu học trò bằng thầy thì thua thầy nửa đức, học trò hơn thầy mới kham gìn giữ sự nghiệp của thầy.
Tại sao bằng thầy mà còn thua thầy nửa đức? Đã bằng rồi còn thua, là bởi thế này. Ví dụ tôi là thầy, Nhật Quang là trò, kiến giải bằng tôi nhưng thua tôi nửa đức vì tu sau. Hiểu thì bằng nhưng người tu sau năm mười năm thì công đức chưa bằng. Vì vậy người sau tuy có cái thấy bằng người trước, vẫn còn thua cái đức của người trước. Đó là nói theo phàm tăng. Còn những vị thánh tăng thì thầy ngộ chứng được chỗ ngộ chứng cao, trò được thầy chỉ dạy nhưng chưa tới chỗ của thầy, làm sao biết được chỗ chứng của thầy.
Chúng ta thường hay đem tâm niệm phàm phu để lường tâm niệm của bậc thánh nhiều khi không đúng. Ví dụ xem truyện thái tử Tu-đại-noa, thấy ngài bố thí tài sản vợ con, vợ con vây quanh kêu khóc mà ngài cũng cho người ta. Theo tâm niệm phàm phu chúng ta thấy ngài tàn nhẫn quá. Nhưng đối với ngài, những cái khó cho mà bố thí được mới là ít có. Người mình rất thương mến mà dám hy sinh cho người khác, đó mới là thánh. Như vậy tâm lượng phàm thánh khác nhau. Cho nên chúng ta lấy tâm phàm phu mà suy lường tâm lượng của bậc thánh thì nhiều khi không đúng.
Thấy cái sai lầm của nhóm đệ tử Ưu-ba-cúc-đa, ngài đã phương tiện dùng sự huyền bí để chỉ dạy họ sửa đổi tâm tánh không còn kiêu mạn. Họ thấy những điều kỳ diệu nên kính phục chí thành sám hối. Lúc đó Tổ nói kệ dạy thêm:
Thông suốt không kia đây,
Chí thánh không hay dở.
Người trừ tâm khinh mạn,
Chóng được A-la-hán.
Người thông suốt thì không còn chấp kia đây, mình người; bậc chí thánh không phê bình cái hay dở của kẻ khác. Người chê khen hay dở thường có tâm khinh mạng nếu trừ tâm khinh mạn thì mau chứng quả A-la-hán.
Sau đó ngài dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân thị tịch.
Học sử tổ Thương-na-hòa-tu, chúng ta thấy có những điểm cần lưu ý như sau: Ngài không cho thần thông là cao tột. Khi truyền pháp thì không có một pháp thật để truyền mà chính mỗi người tự ngộ.
Biết rõ tâm khinh mạn là gốc của sanh tử, nên khuyên dạy người tu lấy chánh định cao cả hơn hết là không sanh diệt và trụ trong đại từ, tâm cung kính nhau. Đó là trọng tâm của người tu phải đạt được.