Hán Văn:
參 徒 顯 決
一 日 堂 前 坐 次。忽 有 僧 問 。
佛 之 与 聖。 其 義 云 何 。
師 云 。籬 下 重 陽 菊
枝 頭 淑 氣 鶯 。
進 云 。謝 ! 學 人 不 會。請 再 指 示 。
師 云 。晝 則 金 烏 照
夜 來 玉 兔 明 。
僧 又 問 。已 獲 師 真 指
玄 機 示 若 如 何 。
師 云 。不 慎 水 盤 擎 滿 去
一 遭 蹉 跌 悔 何 之 。
進 云。謝 !
師 指 云 。莫 濯 江 波 溺
親 來 却 自 沉 。
又 問 。少 室 摩 竭 最 玄 。自 古 于 今 。
誰 继 將 為 主 。
師 云 。幽 明 乾 象 因 烏 兔
屈 曲 坤 維 為 嶽 淮 。
又 問 。如 何 是 大 道
根 源 一 路 行 。
師 云 。高 岸 疾 風 知 勁 草
邦 家 版 蕩 識 忠 良 。
又 問 。一 切 衆 生 從 何 而 來
百 年 之 後 從 何 而 去 。
師 云 。盲 龟 穿 石 壁
跛 鼈 上 高 山 。
又 問 。青 青 翠 竹 盡 真 如 。
如 何 是 真 如 用 。
師 云 。贈 君 千 里 遠
笑 把 一 甌 茶
進 云 。恁 麼 即 空 來 何 益 。
師 云 。誰 識 東 阿 去
途 中 載 白 頭。
又 問 。野 軒 一 深 戶
誰 識 等 閑 敲 。
師 云 。金 谷 蕭 陳 花 草 亂
而 今 昏 曉 任 牛 羊 。
進 云 。為 什 麼 如 此 。
師 云 。富 貴 兼 驕 泰
翻 令 敗 市 樓 。
又 問 。女 獻 珠 成 佛 果
檀 那 捨 施 福 如 何 。
師 云 。萬 古 月 中 桂
扶 疏 在 一 輪 。
進 云 。恁 麼 即 勞 而 無 功 。
師 云 。天 上 如 懸 鏡
人 間 處 處 通 。
又 問 。渡 河 須 用 筏
到 岸 不 須 船
不 渡 時 如 何 。
師 云 。涸 池 魚 在 陸
獲 活 萬 年 春 。
進 云 。恁 麼 即 隨 流 始 獲 玅 理 。
師 云 。見 說 荊 軻 侶
一 行 竟 不 迴,
又 問 。 金 鑛 混 交 元 一 氣
請 師 方 便 鍊 精 形 。
師 曰 。不 是 齊 君 客
那 知 海 大 魚 。
進 云 。郭 君 若 不 納 諫 語 亦 奚 為 。
師 云 。若 欲 先 提 飲
休 為 巧 尽 蛇 。
又 問 。蛇 死 於 路 。請 師 救 活 。
師 云 。汝 是 何 方 人 。
僧 曰 。本 來 山人 。
師 云 。速 回 舊 岩 隱
莫 見 許 真 君 。
又 問 。海 藏 滔 滔 應 不 問
曹 溪 滴 滴 是 如 何 。
師 云 。風 前 松 下 淒 涼 韻
雨 後 途 中 淺 濁 泥 。
進 云 。恁 麼 即 不 異 今 時 也 。
師 云 。籬 下 重 陽 菊
枝 頭 暖 日 鶯 。
又 問 。昭 昭 心 目 之 間
朗 朗 色 身 之 內 。
而 理 不 可 分 。相 不 可 覩 。
為 什 麼 不 覩 。
師 云 。苑 中 花 爛 熳
岸 上 草 離 披 。
進 云 。歲 寒 群 苗 落
何 以 可 宣 揚 。
師 云 。喜 君 來 自 達
不 亦 且 歡 娛 。
進 云 。幸 聞 今 日 決
從 此 免 忽 無 。
師 云 。淺 溺 纔 提 出
回 頭 萬 丈 潭 。
又 問 。涅 槃 城 內 尚 猶 危
如 何 是 不 危 之 處 。
師 云 。營 巢 簾 幙 上
鬓 髮 葦 苕 莖 。
進 云 。若 遭 時 迫 近
兩 處 是 何 為 。
師 云 。丈夫 隨 放 蕩
風 月 且 逍 遙
又 問 一 切 衆 生。皆 言 是 佛 。
此 理 未 明 。請 師 垂 示
師 云 。勸 君 且 務 農 桑 去
莫 學 他 人 待 兔 勞 。
進 云 。幸 蒙 師 顯 決
終 不 向 他 求
師 云 。 可 憐 遭 噎
飢 坐 却 忘 飧
又 問 。幾 年 攵 積 囊 中 寶
今 日 當 場 覿 面 看 。
師 云 。祇 待 中 秋 月
却 遭 雲 雨 侵 。
進云 。雖 聞 師 語 說
此 理 未 分 明。
師 云 。笑 他 徒 抱 柱
溺 死 向 中 流。
又 問 。如 何 是 一 法
師 云 。才 見 春 生 兼 夏 長
又 逢 秋 熟 及 冬 藏。
進 云。恁 麼 即 成 佛 多也
師 云 。祖 驅 自 止
徐 福 遠 徒 劳 。
又 問 。見 性 成 佛 。 其 義 云 何 。
師 云 。枯 木 逢 春 花 竟 發
風 吹 千 里 馥 神 香
進 云 。學 人 不 會。願 師 再 指。
師 云 。萬 年 茄 子 樹
蒼 翠 聳 雲 端
又 問 。摩 尼 與 衆 色
不 合 不 分 離。
師 云 。春 花 與 蝴 蝶
幾 戀 幾 相 違 。
進 云 。恁 麼 即 隨 他 混 雜 。
師 云 。不 是 胡 僧 眼
徒 劳 逞 辨 珠
又 問 如 何 是 觸 目 菩 提。
師 云 。幾 驚 曲 木 鳥
頻 吹 冷 虀 人。
進 云。學 人 不 會 。更 請 別 喻
師 云 。聾人 聽 琴 響
盲 者 望 蟾 蜍
又 問 。 本 自 有 形 兼 有影
有 時 影 也 離 形 否
師 云 。衆 水 朝 東 兮 萬 派 爭 流
羣 星 拱 北 兮 千 古 歸 心
又 問 。如 何 是 一 句 了 然 超 百 億。
師 云 。遠 挾 泰 山 超 北 海
仰 拋 柱 杖 入 蟾 宮。
又 問 。唯 此 事 實
餘 二 即 非真
如 何 是 真 。
師 云 。杖 頭 風 易 動
路 上 雨 成 泥 。
又 問 。不向 如 來 匙 玅 藏
不 求 祖 燄 續 燈 枝 。
竟 旨 如 何 。
師 云 。秋 天 摶 黍 唳
雪 景 牡 丹 開
又 問 如 何 最 妙 之 句
師 云
人 向 隅 立
滿 座 飲 無 懼
又 問 。古 今 大 事 應 無 問
特 地 西 來 意 若 如 何
師 云 。巧言 令 色 者
鑽 龟 打 瓦 人
又 問 。 法 雙 忘 性 即 真 。
如 何 是 真
師 云 。雨 滴 巖 花 神 女 淚
風 敲 庭 竹 伯 牙 琴
又 問 如 何 是 最 玅 之 句
師 云 。喉 裏 猶 存 梗
常 居 不 快 然 。
又 問 。有 修 有 証 開 四 病
出 頭 何 可 脫 塵 籠 。
師 云 。山 高 更 大 容 塵 貯
海 闊 能 深 納 細 流 。
又 問 唯 佛 與 佛 乃 知 斯 事
如 何 是 斯 事。
師 云 。夾 徑 森 森 竹
風 吹 曲 自 成。
又 問 。 不 用 平 常 。不 用 天 然 。
不 用 作 用 。而 今 作 什 麼 。
師 云 。蓬 草 棲 低 鴳
滄 溟 隱 巨 鱗
又 問 。四大 帶 來 由 曠 劫
請 師 云 方 便 出 輪 迴
師 云 。舉 世 畜 徒 犀 是 寶山
食 於 荊 棘 臥 於 泥 。
又 問 。種 種 取 捨 皆 是 輪 迴
不 取 不 捨 時 如 何
師 云 。從 來 紅 莧 殊 常色
有 葉 參 差 不 有 花 。
又 問 。言 語 道 斷 其 意 如 何 。
師 云 。角 響 隨 風 穿 竹 到
山 岩 帶 過 墻 來
又 問 。諸 佛 說 法 皆 是 化 物
若 悟 本 意 是 名 出 世
如 何 是 本 意
師 云 。春 織 花 如 錦
秋 來 葉 似 黃。
又 問 。 如 何 是 直 截 一 路
師 云 。東 西 車 馬 走
塵 土 曉 昏 飛 。
又 問 。有法 有 心 開 妄 識
如 何 心 法 蕩 俱 消 。
師 云 。可 奪 松 梢 長 鬱 鬱
豈 憂 霜 雪 落 紛 紛
又 問 。祖 意 與 教 意 如 何
師 云 。興 來 携 杖 遊 雲 徑
困 即 垂 廉 臥 竹 床。
又 問 。 祖 祖 相 傳 。合 傳 何 事 。
師 云 。飢 來 須 尋 食
寒 即 向 求衣
又 問。世 人 皆 賃 屋 。漏 人 何 所 在 。
師 云 。金 烏 兼 玉 兔
盈 昃 設 勞 分
又 問 如 何 是 曹 溪 一 路 。
師 云 。可 憐 刻 舟 客
到 處 意 怱 怱
Âm:
Nhất nhật, đường tiền tọa thứ, hốt hữu tăng vấn:
– Phật chi dữ thánh, kỳ nghĩa vân hà?
Sư vân:
Ly hạ trùng dương cúc,
Chi đầu thục khí oanh.
Tiến vân:
– Tạ! Học nhân bất hội, thỉnh tái chỉ thị.
Sư vân:
Trú tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thổ minh.
Tăng hựu vấn:
Dĩ hoạch sư chân chỉ,
Huyền cơ thị nhược như hà?
Sư vân:
Bất thận thủy bàn kình mãn khứ Nhất tạo tha điệt hối hà chi!
Tiến vân: – Tạ.
Sư chỉ vân:
Mạc trạc giang ba nịch,
Thân lại khước tự trầm.
Hựu vấn:
Thiếu Thất, Ma-kiệt tối huyền, tự cổ vu kim thùy kế tương vị chủ?
Sư vân:
U minh càn tượng nhân ô thố,
Khuất khúc khôn duy vị Nhạc, Hoài.
Hựu vấn:
Như hà thị đại đạo,
Căn nguyên nhất lộ hành
Sư vân:
Cao ngạn tật phong tri kính thảo,
Bang gia bản đãng thức trung lương.
Hựu vấn:
Nhất thiết chúng sanh tòng hà nhi lai,
Bách niên chi hậu tòng hà nhi khử
Sư vân:
Manh quy xuyên thạch bích,
Bả miết thướng cao sơn.
Hựu vấn:
– “Thanh thanh thủy trúc tận chân như.” Như hà thị chân như dụng
Sư vân:
Tặng quân thiên lý viễn, Tiếu bả nhất âu trà.
Tiến vân: – Nhậm ma tức “không lại hà ích”
Sư vân:
Thùy thức Đông A khứ,
Đồ trung tái bạch đầu.
Hựu vấn:
Dã Hiên nhất thâm hộ,
Thùy thức đẳng nhàn xao?
Sư vân:
Kim cốc tiêu sơ hoa thảo loạn,
Nhi kim hôn hiểu nhậm ngưu dương.
Tiến vân: – Vi thập ma như thử?
Sư vân:
Phú quý kiêm kiêu thái,
Phiên linh bại thị lâu.
Hựu vấn:
Long nữ hiến châu thành Phật quả,
Đàn-na xả thí phúc như hà?
Sư vân:
Vạn cổ nguyệt trung quế,
Phù sơ tại nhất luân.
Tiến vân: – Nhậm ma tức lao nhi vô công
Sư vân:
Thiên thượng như huyền kính,
Nhân gian xứ xứ thông.
Hựu vấn:
Độ hà tu dụng phiệt,
Đảo ngạn bất tu thuyền.
Bất độ thời như hà?
Sư vân:
Hạc trì ngư tại lục,
Hoạch hoạt vạn niên xuân.
Tiến vân:
– Nhậm ma tức “tùy lưu thủy hoạch điệu lý”?
Sư vân:
Kiến thuyết Kinh Kha lữ,
Nhất hành cánh bất hồi.
Hựu vấn:
Kim khoáng hỗn giao nguyên nhất khí,
Thỉnh Sư phương tiện luyện tinh hình.
Sư vân:
Bất thị Tề quân khách,
Na tri hải đại ngư
Tiến vân:
Quách quân nhược bất nạp
Gián ngữ diệc hề vi?
Sư vân:
Nhược dục tiên đề ẩm,
Hưu vi xảo tẫn xà.
Hựu vấn: – Xà tử ư lộ thỉnh Sư cứu hoạt.
Sư vân: – Nhữ thị hà phương nhân?
Tăng viết: – Bản lại sơn nhân.
Sư vân:
Tốc hồi cựu nham ẩn,
Mạc kiến Hứa chân quân.
Hựu vấn:
Hải tạng thao thao ưng bất vấn,
Tào Khê trích trích thị như hà?
Sư vân:
Phong tiền tùng hạ thê lương vận,
Vũ hậu đồ trung thiển trọc nê.
Tiến vân: – Nhậm ma tức bất dị kim thời đã?
Sư vân:
Ly hạ trùng dương cúc,
Chi đầu noãn nhật oanh.
Hựu vấn:
Chiêu chiêu tâm mục chi gian, Lãng lãng sắc thân chi nội.
Nhi lý bất khả phân, tướng bất khả đổ, vi thập ma bất đổ?
Sư vân:
Uyển trung hoa lạn mạng
Ngạn thượng thảo ly phi.
Tiến vân:
Tuế hàn quần miêu lạc,
Hà dĩ khả tuyên dương.
Sư vân:
Hỷ quân lại tự đạt,
Bất diệc thả hoan ngu.
Tiến vân:
Hạnh văn kim nhật quyết,
Tòng thử miễn hốt vô.
Sư vân:
Thiển nịch tài đề xuất,
Hồi đầu vạn trượng đàm.
Hựu vấn:
– “Niết-bàn thành nội thượng do nguy.” Như hà thị bất nguy chỉ xứ?
Sư vân:
Doanh sào liêm mạc thượng,
Mấn phát vi thiều hành.
Tiến vân:
Nhược tao thời bách cận,
Lưỡng xứ thị hà vi?
Sư vân:
Trượng phu tùy phóng đãng, Phong nguyệt thả tiêu dao.
Hựu vấn:
– “Nhất thiết chúng sanh, giai ngôn thị Phật.”
Thử lý vị minh, thỉnh Sư thùy thị.
Sư vân:
Khuyến quân thả vụ nông tang khứ,
Mạc học tha nhân đãi thổ lao.
Tiến vân:
Hạnh mông Sư hiển quyết,
Chung bất hướng tha cầu.
Sư vân:
Khả lân tạo nhất ế,
Cơ tọa khước vong san.
Hựu vấn:
Kỷ niên cửu tích nang trung bảo,
Kim nhật đương trường địch diện khan.
Sư vân:
Chỉ đãi trung thu nguyệt,
Khước tạo vân vũ xâm.
Tiến vân:
Tuy văn Sư ngữ thuyết,
Thử lý vị phân minh.
Sư vân:
Tiểu tha đồ bão trụ,
Nịch tử hướng trung lưu.
Hựu vấn: – Như hà thị nhất pháp?
Sư vân:
Tài kiến xuân sinh kiêm hạ trưởng,
Hựu phùng thu thục cập đông tàng.
Tiến vân: – Nhậm ma tức thành Phật đa dã?
Sư vân:
Tổ Long khu tự chỉ,
Từ Phúc viễn đồ lao.
Hựu vấn:
– “Kiến tánh thành Phật”, kỳ nghĩa như hà?
Sư vân:
Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát,
Phong xuy thiên lý phức thần hương.
Tiến vân:
– Học nhân bất hội, nguyện Sư tái chỉ.
Sư vân:
Vạn niên gia tử thụ,
Thương thủy tủng vân đoan.
Hựu vấn:
Ma-ni dữ chúng sắc,
Bất hợp bất phân ly.
Sư vân:
Xuân hoa dữ hồ điệp,
Cơ luyến cơ tương vị.
Tiến vân: – Nhậm ma tức thùy tha hỗn tạp?
Sư vân:
Bất thị Hồ tăng nhãn,
Đồ lao sinh biện châu.
Hựu vấn: – Như hà thị xúc mục Bồ-đề?
Sư vân:
– Kỷ kinh khúc mộc điểu,
Tần xuy lãnh tê nhân.
Tiến vân:
Học nhân bất hội, cánh thỉnh biệt dụ.
Sư vân:
Lung nhân thính cầm hưởng,
Manh giả vọng thiềm thừ.
Hựu vấn:
Bản tự hữu hình kiêm hữu ảnh,
Hữu thời ảnh đã ly hình phủ?
Sư vân:
Chúng thủy triều đông hề vạn phái tranh lưu,
Quần tinh củng bắc hề thiên cổ quy tâm.
Hựu vấn:
– Như hà thị “nhất cú liễu nhiên siêu bách ức”?
Sư vân:
Viễn hiệp Thái sơn siêu bắc hải,
Ngưỡng phao trụ trượng nhập thiềm cung.
Hựu vấn:
Duy thử nhất sự thật,
Dư nhị tức phi chân.
Như hà thị chân?
Sư vân:
Trượng đầu phong dị động,
Lộ thượng vũ thành nê.
Hựu vấn:
Bất hướng Như Lai thi diệu tạng,
Bất cầu Tổ diệm tục đăng chi.
Cánh chỉ như hà?
Sư vân:
Thu thiên đoàn thử lệ,
Tuyết cảnh mẫu đơn khai.
Hựu vấn: – Như hà tối diệu chi củ?
Sư vân:
Nhất nhân hướng ngung lập,
Mãn tọa ẩm vô hoan.
Hựu vấn:
Cổ kim đại sự ưng vô vấn,
Đặc địa Tây lai ý nhược như hà?
Sư vân:
Xảo ngôn lệnh sắc giả,
Toản quy đả ngõa nhân.
Hựu vấn:
“Tâm pháp song vong tính tức chân.” Như hà thị “chân”?
Sư vân:
Vũ trích nham hoa Thần nữ lệ,
Phong xao đình trúc Bá Nha cầm.
Hựu vấn: – Như hà thị tối diệu chi cú?
Sư vân:
Hầu lý do tồn ngạnh,
Thường cư bất khoái nhiên.
Hựu vấn:
Hữu tu hữu chứng khai tử bệnh,
Xuất đầu hà khả thoát trần lung.
Sư vân:
Sơn cao cánh đại dung trần trữ, Hải khoát năng thâm nạp tế lưu.
Hựu vấn:
“Duy Phật dữ Phật nãi tri tư sự.” Như hà thị tư sự?
Sư vân:
Giáp kính sâm sâm trúc,
Phong xuy khúc tự thành.
Hựu vấn:
– Bất dụng bình thường, bất dụng thiên nhiên, bất dụng tác dụng nhi kim tác thập ma ?
Sư vân:
Bồng thảo thê đê yến,
Thương minh ẩn cự lân.
Hựu vấn:
Tứ đại đới lai do khoáng kiếp,
Thỉnh Sư vân phương tiện xuất luân hồi.
Sư vân:
Cử thế súc đồ tê thị bảo sơn,
Thực ư kinh cức ngọa ư nê.
Hựu vấn:
– “Chủng chủng thủ xả, giai thị luân hồi.” Bất thủ bất xả thời như hà?
Sư vân:
Tòng lại hồng hiện thù thường sắc,
Hữu diệp sâm si bất hữu hoa.
Hựu vấn: – “Ngôn ngữ đạo đoạn” kỳ ý như hà?
Sư vân:
Giốc hưởng tùy phong xuyên trúc đáo,
Sơn nham đới nguyệt quá tường lai.
Hựu vấn:
– “Chư Phật thuyết pháp giai thị hóa vật, nhược ngộ bản ý, thị danh xuất thế.” Như hà thị bản ý?
Sư vân:
Xuân chức hoa như cẩm,
Thu lai diệp tự hoàng.
Hựu vấn: – Như hà thị “trực tiệt nhất lộ”
Sư vân:
Đông tây xa mã tẩu,
Trần thổ hiểu hôn phi.
Hựu vấn:
Hữu pháp hữu tâm khai vọng thức,
Như hà tâm pháp đăng câu tiêu?
Sư vân:
Khả đoạt tùng sao trường uất uất,
Khởi ưu sương tuyết lạc phân phân.
Hựu vấn: – Tổ ý dữ giáo ý như hà?
Sư vân:
Hứng lại huề trượng du vân kính,
Khốn tức thùy liêm ngọa trúc sàng.
Hựu vấn:
– Tổ tổ tương truyền, hợp truyền hà sự?
Sư vân:
Cơ lai tu tầm thực,
Hàn tức hướng cầu y.
Hựu vấn:
Thế nhân giai nhẫm ốc,
Lậu nhân hà sở tại?
Sư vân:
Kim ô kiêm ngọc thố,
Doanh trắc mạn lao phân.
Hựu vấn: – Như hà thị Tào Khê nhất lộ?
Sư vân:
Khả lân khắc chu khách,
Đáo xứ ý thông thông.
Dịch:
BÀY RÕ BÍ QUYẾT CHO NGƯỜI THAM VẤN
Một hôm ngồi trước tăng đường, có vị tăng hỏi:
Phật và Thánh khác nhau thế nào?
Sư đáp:
Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
Tăng thưa:
– Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra.
Sư đáp:
Ngày thì vầng nhật chiếu, Đêm đến ánh trăng soi.
Tăng lại hỏi:
– Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?
Sư đáp:
Bưng thau nước đầy không chú ý,
Một lúc sảy chân hối ích gì?
Tăng thưa: – Đa tạ!
Sư bảo:
Chớ rửa sông to sóng,
Chính mình đến chết chìm.
Tăng hỏi:
– Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ?
Sư đáp:
Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt,
Đất hiểm, phân ranh có núi sông.
Tăng hỏi:
Thế nào là đại đạo,
Cội nguồn một lối đi?
Sư đáp:
Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng,
Nước nhà lận đận thấy tôi trung.
Hỏi:
Tất cả chúng sanh từ đâu tới,
Sau khi trăm tuổi sẽ về đâu?
Đáp:
Rùa mù dùi vách đá,
Tranh què trèo núi cao.
Hỏi:
“Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như”, thế nào là “dụng” của chân như ?
Đáp:
Tặng anh đi ngàn dặm,
Cười trao một ấm trà.
Lại thưa: – Thế là uổng công đến mà vô ích?
Đáp:
Ai biết được người chủ (Đông A),
Trên đường lại bạc đầu.
Hỏi:
Dã Hiên một nhà kín,
Ai biết gõ dễ dàng?
Đáp:
Kim cốc tiêu điều hoa cỏ loạn,
Mà nay sớm tối mặc ngựa dê.
Hỏi: – Tại sao như thế?
Đáp:
Giàu sang vẫn kiêu sa,
Khiến thành lầu chợ hoại.
Hỏi:
Long nữ dâng châu thành Phật quả,
Đàn-na bố thí phước thế nào?
Đáp:
Quế trong trăng muôn thuở,
Héo tươi tại một vầng.
Lại thưa: – Thế là nhọc mà không công?
Đáp:
Trên trời như treo gương,
Nhân gian nơi nơi tỏ.
Hỏi:
Qua sông cần dùng bè,
Đến bờ thuyền bỏ lại.
Khi không qua thì thế nào?
Đáp:
Hồ khô cá mắc cạn,
Sống được muôn năm xuân.
Lại thưa: – Thế là theo dòng mới được diệu lý?
Đáp:
Thấy nói bạn Kinh Kha,
Một đi không trở lại.
Hỏi:
Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại, Thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh.
Đáp:
Chẳng phải khách nước Tề,
Đâu biết cá to biển.
Lại thưa:
Quách Quân chẳng chịu nhận,
Can gián cũng làm gì?
Đáp:
Nếu muốn trước uống rượu,
Khéo vẽ rắn làm gì?
Hỏi: – Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống?
Sư bảo: – Ông là người phương nào?
Tăng thưa: – Vốn là người ở núi.
Sư bảo:
Núi xưa về ẩn gấp,
Chớ thấy Hứa chân quân.
Hỏi:
Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi, Tào Khê giọt giọt là thế nào?
Đáp:
Trước gió thông reo tiếng buồn bã, Mưa tạnh trên đường ít bùn lầy.
Lại thưa: – Thế là chẳng khác thời nay?
Đáp:
Dưới giậu trùng dương cúc,
Đầu cành xuân ấm oanh.
Hỏi:
Rõ ràng trong khoảng tâm mắt,
Sáng chói ở trong sắc thân.
Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy?
Đáp:
Trong vườn hoa khoe sắc,
Trên bờ cỏ xanh rì.
Hỏi:
Năm lạnh các mầm thối, Lấy gì để khoe xinh.
Đáp:
Mừng ông đã thấu suốt,
Cũng chẳng vui hay sao.
Tăng nói:
Hân hạnh nghe Thầy giải,
Từ đây khỏi chợt không.
Sư đáp:
Chìm cạn vừa ra khỏi,
Quay đầu muôn trượng đầm.
Hỏi:
– “Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy?
Đáp:
Xây tổ trên rèm trướng,
Râu tóc cọng hoa lau.
Hỏi:
Nếu gặp khi bức bách,
Hai chỗ là làm gì?
Đáp:
Trượng phu tùy thong thả, Gió trăng mặc tiêu dao.
Hỏi:
– “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy?
Đáp:
Khuyên ông hãy gắng việc nông tang,
Chớ học theo người đợi thỏ nhọc.
Tăng nói:
Được nhờ Thầy chỉ rõ,
Trọn chẳng đến ai cầu.
Sư nói:
Đáng thương người mắc nghẹn,
Ngồi đói lại quên ăn.
Tăng nói:
Nhiều năm cất giấu báu trong đấy,
Ngày nay trước mắt thấy rõ ràng.
Sư nói:
Chỉ đợi trăng thu sáng,
Đâu ngờ mây mưa che.
Tăng nói:
Tuy nghe Thầy thuyết giảng,
Lý này vẫn chưa rành.
Sư đáp:
Cười kẻ luống ôm cột,
Chết đuối nằm giữa dòng.
Hỏi: – Thế nào là một pháp?
Đáp:
Vừa thấy xuân sanh cùng hạ trưởng, Lại gặp thu chín và đông thâu.
Lại thưa: – Thế là nhiều người thành Phật?
Đáp:
Tổ Long chợt tự dừng,
Từ Phúc xa luống nhọc.
Hỏi:
– “Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào?
Đáp:
Cây khô gặp xuân hoa đua nở,
Gió thổi hương thần thơm rất xa.
Tăng nói: – Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại.
Sư đáp:
Muôn năm cây cà ấy,
Xanh tươi thấu tầng mây.
Hỏi:
Ma-ni cùng các sắc,
Chẳng hợp cũng chẳng lìa?
Đáp:
Hoa xuân cùng bươm bướm,
Lúc mến lúc chia lìa.
Hỏi: – Thế là theo kia hỗn tạp?
Đáp:
Chẳng phải mắt tăng Ấn,
Luống nhọc trình biện châu.
Hỏi: – Thế nào là chạm mắt Bồ-đề?
Đáp:
Chim từng sợ cây cong,
Người thổi mãi rau nguội.
Hỏi: – Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác.
Đáp:
Kẻ điếc nghe đàn sáo,
Người mù ngắm trăng lên.
Hỏi:
Vốn tự có hình cùng có bóng,
Có khi bóng cũng lìa hình chăng?
Đáp:
Các sông về đông chừ muôn dòng tranh chảy,
Chúng sao chầu bắc chừ ngàn xưa về tâm.
Hỏi:
– Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức?
Đáp:
Xa ném Thái Sơn qua biển bắc,
Ngước tung cây gậy đến cung trăng.
Hỏi:
– “Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Đầu gậy gió dễ động,
Trên đường mưa thành lầy.
Hỏi:
Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng,
Không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn.
Ý chỉ rốt ráo thế nào?
Đáp:
Trời thu hoàng oanh hót,
Trong tuyết mẫu đơn xinh.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Một người xoay vách đứng,
Cả nhà uống chẳng vui.
Hỏi:
Cổ kim việc lớn thôi không hỏi,
Chỉ chuyện Tây lai ý thế nào?
Đáp:
Người nói khéo mặt lành,
Kẻ dùi rùa đập ngói.
Hỏi:
– “Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Hoa núi mưa sa, Thần nữ khóc,
Tre sân gió thổi, Bá Nha đàn.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Trong cổ vẫn còn nghẹn,
Thường ở chỗ bất an.
Hỏi:
Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh,
Xuất đầu sao được thoát lồng trần?
Đáp:
Núi cao lại lớn dung chứa bụi,
Bể cả càng sâu nhận các dòng.
Hỏi:
– “Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này?
Đáp:
Đường hẹp trúc um tùm,
Gió thổi thành khúc nhạc.
Hỏi:
– Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao?
Đáp:
Cỏ bồng chim én đậu,
Biển cả náu cá kình.
Hỏi:
Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp,
Thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi?
Đáp:
Tất cả súc sanh tê giác quý,
Ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn.
Hỏi:
– “Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao?
Đáp:
Xưa nay sam tía sắc thường khác,
So le cành lá chẳng có hoa.
Hỏi: – “Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào?
Đáp:
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,
Đầu non mang nguyệt vượt tường sang.
Hỏi:
– “Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý?
Đáp:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu sang lá tợ vàng.
Hỏi: – Thế nào là một đường thẳng đứt?
Đáp:
Đông tây xe ngựa chạy,
Sớm tối bụi mù bay.
Hỏi:
Có pháp có tâm mở vọng thức,
Làm sao tâm pháp thảy tiêu vong?
Đáp:
Vượt được tùng cao che rợp rợp,
Đâu lo sương tuyết rớt bời bời.
Hỏi: – Ý Tổ cùng ý Kinh thế nào?
Đáp:
Hứng lên xách gậy chơi đường núi,
Nhọc tức sổ rèm nằm chõng tre.
Hỏi: – Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì?
Đáp:
Đói đến cần tìm ăn,
Lạnh về phải mặc áo.
Hỏi:
Người đời đều thuê nhà,
Nhà dột ở chỗ nào?
Đáp:
Quạ vàng cùng thỏ bạc,
Đầy vơi chớ bận lòng.
Hỏi: – Thế nào là một con đường Tào Khê
Đáp:
Đáng thương kẻ khắc thuyền,
Đến chốn ý lăng xăng.