Một hôm ngồi trước tăng đường, có vị tăng hỏi:
– Phật và Thánh khác nhau thế nào?
Sư đáp:
Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
Tăng thưa:
– Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra.
Sư đáp:
Ngày thì vầng nhật chiếu,
Đêm đến ánh trăng soi.
Tăng lại hỏi:
– Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?
Sư đáp:
Bưng thau nước đầy không chú ý
Một lúc sảy chân hối ích gì?
Tăng thưa: – Đa tạ!
Sư bảo:
Chớ rửa sông to sóng,
Chính mình đến chết chìm.
Vị tăng hỏi: Phật và Thánh khác nhau thế nào? Vị tăng này thắc mắc, muốn biết chỗ khác nhau giữa Phật và Thánh. Kinh A-hàm gọi Phật là thánh, chữ thánh còn chỉ cho các thầy Tỳ-kheo tu chứng quả A-la-hán. Trong bốn quả Thanh văn, từ sơ quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm đến A-na-hàm gọi là hiền, quả A-la-hán gọi là thánh. Quả vị Bồ-tát thì Thập tín, Thập trụ… thuộc về hiền, từ Sơ địa đến Thập địa thuộc về thánh. Đó là nói trong đạo Phật. Ở đây có thể vị tăng này dùng chữ thánh để chỉ cho Khổng Tử, Mạnh Tử của đạo Nho. Hỏi Phật và các vị thánh này khác nhau như thế nào, ngài đáp: Trùng dương cúc nở dưới rào, trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng. Nghĩa là ở trong rào của miếng vườn trồng hoa cúc, đến tiết mùng chín tháng chín (trùng dương) thì hoa cúc nở, trên đầu cành cây vào mùa xuân ấm chim oanh hót. Qua câu trả lời của ngài, quý vị có hiểu không? Câu trả lời thật lạ lùng, nhưng nên thơ. Mùa xuân chim oanh hót, mùa thu (chín tháng chín) hoa cúc nở là ý gì? Chim oanh, hoa cúc là hai loại tùy thuộc vào thời tiết. Thời tiết đến thì chim oanh hót hoa cúc nở. Chim oanh và hoa cúc là hai, nhưng thời tiết thì không hai, hết xuân tới hạ, hết hạ tới thu, hết thu tới đông. Thời tiết đổi thay có bốn mùa, bốn mùa tuy khác, nhưng thời tiết vẫn là thời tiết. Ý nói Phật và thánh là hai tên khác, nhưng thể cứu cánh thì không hai.
Qua hai câu thơ ngài đáp, vị tăng chưa hội nên nói: Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra. Ngài dạy tiếp: Ngày thì vầng nhật chiếu, đêm đến ánh trăng soi. Hai câu thơ này tả cảnh ngày đêm khác nhau rất linh động, nhưng ý không khác hai câu thơ trước. Ngày thì có mặt trời chiếu, đêm thì có ánh trăng soi. Dù ngày hay đêm, dù mặt trời hay mặt trăng, ánh sáng lúc nào cũng chiếu soi khắp vạn vật. Nghĩa là mặt trăng mặt trời tuy hai, nhưng ánh sáng chiếu soi không khác. Vì ánh sáng không hai cho nên nói ngày thì vầng nhật chiếu, đêm đến ánh trăng soi. Hai câu này lập lại ý trên qua một hình ảnh khác.
Tăng lại hỏi: Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào? Vị tăng nói chân chỉ ngài dạy vị ấy đã nhận được rồi, nhưng huyền cơ thì chưa nhận được mới hỏi ngài là thế nào. Huyền cơ là cơ nhiệm mầu, chúng ta có thể hiểu chân chỉ là thể, huyền cơ là dụng. Và cũng có thể hiểu theo lối quen thuộc là khi được bậc thầy chỉ dạy, nhận ra Phật tánh rồi làm sao gìn giữ? Tức là làm sao giữ được cơ mầu nhiệm.
Ngài trả lời: Bưng thau nước đầy không chú ý, một lúc sảy chân hối ích gì? Nghe câu này chúng ta thấy như nói trên trời trên mây, không dính dáng gì tới câu hỏi hết, nhưng nếu thông thì thấy ngài dạy quá hay. Các vị làm bếp bưng nước rửa rau thì hiểu. Nếu bưng thau nước đầy là phải chú ý giữ thau nước, nếu không cẩn thận trượt chân sảy tay đổ hết. Ý câu này rất phù hợp với lời Phật dạy trong kinh A-hàm qua ví dụ: Có anh tử tội được vua tha, nhưng vua bắt phải bưng đĩa dầu đầy đi từ đầu đường đến cuối đường, không để rơi một giọt dầu thì mới khỏi tội chết. Nếu bất cẩn để dầu đổ thì tên đao phủ đi sau chém đầu. Được lệnh này anh tử tội chăm chú bưng đĩa dầu đi, ngang qua nhiều chỗ ăn chơi hấp dẫn như gái đẹp, quán rượu, quán nhạc… Anh chăm chăm bưng đĩa dầu đi không dám nhìn qua ngó lại, đi đến cuối đường, dầu không đổ, anh thoát chết. Cũng vậy sau khi nhận được chân chỉ thầy dạy rồi là phải khéo bảo nhậm, đừng tưởng mình ngộ rồi là xong, mà vẫn phải cẩn trọng gìn giữ. Thiền sư Trần Tôn Túc cũng đã dạy “việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ” là nhằm ý này.
Đức Phật dùng hình ảnh bưng đĩa dầu, thiền sư Trần Tôn Túc dùng hình ảnh đưa ma mẹ, ngài thì dùng hình ảnh bưng thau nước. Ở đây nhiều thiền khách hỏi, ngài trả lời bằng những câu thơ rất thi vị. Ngày nay nếu có người nêu câu hỏi, chúng ta hiểu ý để trả lời cho đúng đã khó rồi, đâu được như ngài mở miệng là thành thơ lại nghĩa lý rất chính xác. Ngài trả lời quá kỳ đặc, vừa hợp với lý kinh, vừa đúng với tinh thần thiền, vừa thi vị, không sai sót chút nào.
Tăng thưa: Đa tạ! Vị tăng thấy ngài trả lời như vậy là đủ rồi, nên nói đa tạ, cảm ơn thầy. Ngài bảo: Chớ rửa sông to sóng, chính mình đến chết chìm. Nếu sông có sóng to chớ lội xuống tắm rửa hay giặt giũ, sẽ bị sóng cuốn là chết chìm. Ý ngài dạy, tuy đã thấy được chân chỉ, biết cách gìn giữ, song chớ có xông pha, nếu xông pha e có ngày không cứu được. Đa số các thầy trẻ bây giờ có chút hiểu biết, thường có bệnh muốn thử xem mình đã là thánh chưa, nên mới thõng tay vào chợ, nhưng đạo lực chưa vững, tập khí chưa sạch. Thử như thế e có ngày bị dòng đời cuốn trôi hỏng cả đời tu. Vì vậy ngài căn dặn phải dè dặt, nếu dưới sông có sóng to, đừng xuống rửa chân hay giặt giũ, sẽ bị nước cuốn trôi, cứu không được. Ngài khéo vô cùng, dạy hết sức cặn kẽ, chỉ cái thể, dạy cho cách bảo trì, nhắc phải thận trọng chớ có tự cao tự đại, e nguy hiểm tới tuệ mạng.
Tăng hỏi:
– Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ?
Sư đáp:
Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt,
Đất hiểm, phân ranh có núi sông.
Tăng hỏi: Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ? Thiếu Thất là ngọn núi phía tây dãy Tung Sơn ở Trung Quốc. Vua Hiếu Minh Đế nhà Hậu Ngụy xây chùa Thiếu Lâm tại núi này cho thiền sư Phật-đà. Sau tổ Bồ-đề-đạt-ma đến đây ngồi xây mặt vào vách chín năm, ngài Thần Quang đến tham học thiền, được Tổ truyền y bát và đổi tên là Huệ Khả. Ma-kiệt nói đủ là Ma-kiệt-đà, tên một nước lớn ở Ấn Độ thời cổ, nơi đức Phật tu thành đạo và giảng đạo giáo hóa. Có lần đức Phật cũng nhập thất ở nước Ma-kiệt-đà. Thế nên vị tăng nói Thiếu Thất Ma-kiệt rất huyền diệu, hỏi từ xưa đến nay ai là người kế thừa làm chủ tinh thần Thiếu Thất, Ma-kiệt? Ngài trả lời: Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt, đất hiểm, phân ranh có núi sông. Mới nghe chúng ta thấy câu trả lời không dính dáng gì với câu hỏi cả. Vị tăng muốn biết bí quyết của Phật và của tổ Bồ-đề-đạt-ma, ngày nay ai kế thừa nên mới hỏi, ngài trả lời như vậy thì ai là người kế thừa? Khó hiểu quá! Song nếu thấu lý thì thấy ngài trả lời rõ ràng lắm. Trời tối mà muốn được sáng thì phải nhờ mặt trời mặt trăng tỏa ánh sáng, chỗ tối mới được sáng. Đất hiểm là vùng núi rừng được chia ranh từng phần bởi núi sông, vùng này có đặc tính này vùng kia có đặc tính kia. Ý nói ai ngộ đạo thì người đó kế thừa, cũng như trời tối có mặt trăng mặt trời soi mới sáng được. Mặt trăng mặt trời chỉ cho người giác ngộ, người nào giác ngộ là người đó kế thừa. Tùy duyên người truyền bá nơi này, người truyền bá nơi kia, chẳng hạn ngài Thần Tú truyền bá thiền theo lối tiệm tu ở phương bắc và Lục Tổ thì truyền bá thiền đốn ngộ ở phương nam Trung Hoa. Tức là chia ranh người truyền phương này, người truyền phương kia là tùy duyên, cốt yếu là phải giác ngộ. Có giác ngộ thì sự truyền bá kế thừa mới đúng tông phong.
Tăng hỏi:
Thế nào là đại đạo,
Cội nguồn một lối đi?
Sư đáp:
Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng,
Nước nhà lận đận thấy tôi trung.
Tăng hỏi: Thế nào là đại đạo, cội nguồn một lối đi? Đại đạo là con đường lớn, là lối đi, là cội nguồn của tất cả người tu. Vị tăng thắc mắc hỏi đại đạo mà tất cả người tu phải đi là con đường nào, làm sao đi? Ngài trả lời: Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng, nước nhà lận đận thấy tôi trung. Ngài trả lời như vậy có chỉ đường đi chưa? Đường đi ở chỗ nào? Đọc tới chỗ này, tôi giật mình vì lối dạy của ngài quá hay! Cơn gió mạnh nếu cỏ yếu mọc ở bờ cao thì nó rạp xuống không đứng được. Nếu cây nào không rạp xuống thì biết là cây cứng. Cũng như nước nhà gặp lúc binh biến hiểm nguy, người yếu đuối khiếp nhược thì lo chạy trốn hoặc hàng giặc, người chí sĩ gan dạ thì ra cứu nước, người đó mới là người trung nghĩa. Cũng vậy người tu muốn biết được con đường tiến tới chỗ cứu cánh, thì phải xông pha vượt qua khó khăn nguy hiểm và vững vàng không xiêu không ngã. Ngài nói người lôi thôi yếu đuối không thể đi suốt đại đạo. Vậy muốn tiến trên đại đạo, chúng ta phải là cỏ cứng trên bờ cao gió thổi không ngã rạp, là người trung cứu nước lúc nước nhà binh biến lâm nguy.
Ở đây được mấy người là cỏ cứng là người trung? Kiểm điểm lại, số người này rất ít. Là người tu, chúng ta phải là người không chao đảo trước mọi nghịch cảnh, mới là người đi trên đại đạo. Đa số người tu thời nay cầu an nhiều hơn là dấn thân vào khó khăn, nên khó đi trên đại đạo. Người đối với những trở ngại bên ngoài, tâm thản nhiên không lay động, nhiều việc khốn đốn xảy ra dồn dập, tâm bình tĩnh không bấn loạn, người như thế mới là người tìm được cội nguồn tiến trên đại đạo. Vậy người tu thì không sợ khó, nếu sợ khó không phải là người đi trên đại đạo.
Hỏi:
Tất cả chúng sanh từ đâu tới,
Sau khi trăm tuổi sẽ về đâu?
Đáp:
Rùa mù dùi vách đá,
Tranh què trèo núi cao.
Hỏi: Tất cả chúng sanh từ đâu tới, sau khi trăm tuổi sẽ về đâu? Câu hỏi này rất nhiều người nêu lên, thắc mắc hiện tại mình có mặt ở cõi đời này là từ đâu tới và khi chết sẽ đi về đâu? Được ngài trả lời: Rùa mù dùi vách đá, trạnh què trèo núi cao. Nghe qua câu đáp này quý vị có thỏa mãn không? Thấy ngài nói chuyện đâu đâu không dính dáng gì với câu hỏi. Song nếu thấu lý thì thấy ngài trả lời rất chính xác. Chỗ này nếu người chưa chứng được ba minh làm sao biết được! Ba minh là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Người chưa chứng được Túc mạng minh làm gì biết được trước kia mình ở đâu! Nếu chưa chứng được Thiên nhãn minh làm gì biết được sau khi nhắm mắt rồi mình đi về đâu! Vì không biết quá khứ mình đã tạo nghiệp gì và sẽ dẫn mình đi đâu. Còn ở trong mê muội mà muốn biết việc này, giống như rùa mù muốn xoi thủng vách đá, giống như con trạnh què muốn leo lên đỉnh núi cao, việc làm này vượt khả năng không thể thực hiện được. Cũng vậy, người tu chưa sáng đạo không thể nào biết được mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Mình không biết việc của mình làm sao nói được việc của người! Phải khéo tu cho sáng đạo thì tự thấy rõ ràng, chưa sáng đạo đem ra hỏi chỉ vô ích thôi.
Hỏi:
– “Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như”, thế nào là “dụng” của chân như
Đáp:
Tặng anh đi ngàn dặm,
Cười trao một ấm trà.
Hỏi: Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như, thế nào là “dụng” của chân như? Pháp thân hay chân như là thể, vị tăng này muốn hỏi chân như dụng. Ngài trả lời: Tặng anh đi ngàn dặm, cười trao một ấm trà. Tức là anh đi đường xa ngàn dặm, tôi đem ấm trà tặng anh với nụ cười. Đó là dụng của chân như. Để hiểu rõ ý này tôi kể một câu chuyện cho quý vị nghe.
Ngài Nam Tuyền, Quy Tông và Bảo Triệt đến yết kiến thiền sư Cảnh Sơn, đi đường gặp một bà già, ngài Bảo Triệt hỏi:
– Cảnh Sơn đi đường nào?
Bà già đáp:
– Đi thẳng.
– Đầu trước nước sâu qua được chăng?
– Chẳng ướt gót chân.
– Bờ trên lúa trúng gai tốt, bờ dưới lúa trúng gai gầy?
– Thảy bị cua ăn hết.
– Nếp thơm ngon.
– Hết mùi hơi.
– Bà ở chỗ nào?
– Chỉ ở trong ấy.
Ba người đồng vào quán ngồi. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén đến nói:
– Hòa thượng có thần thông thì uống trà.
Ba người nhìn nhau chưa nói câu nào.
Bà già liền bảo:
– Xem kẻ già này trình thần thông đây.
Nói xong, bà cầm chung nghiêng bình rót trà rồi đi.
Bà cầm chung nghiêng bình rót trà là trình thần thông. Qua câu chuyện này chúng ta mới hiểu câu trả lời của ngài. Theo vị tăng này thì chân như thể ở đâu cũng có, còn chân như dụng thì thế nào? Ngài nói anh đang đi xa ngàn dặm, tôi đem ấm trà cười trao cho anh. Cười trao cho anh ấm trà là dụng của chân như chứ gì. Thể chân như thì trùm khắp, dụng chân như là khi cười trao cho ấm trà hay khi rót trà vào chung. Mọi người chúng ta ai cũng có thể chân như và dụng chân như. Nhưng người còn sống với tâm thức cuồng loạn thì hiện ra dụng tâm thức vọng động. Khi nào sạch hết vọng tưởng, hằng sống với thể chân thật thì hiện dụng chân như. Phải nhớ rõ chỗ này. Ngài trả lời vừa khéo vừa chính xác, vậy mà vị tăng này cũng chưa bằng lòng.
Lại Thưa:
– Thế là uổng công đến mà vô ích?
Βάρ:
Ai biết được người chủ (Đông A), Trên đường lại bạc đầu.
Hỏi: Thế là uổng công đến mà vô ích? Vị tăng nghe nói diệu dụng chân như là như thế và ai cũng có, dù biết cũng chẳng được gì, chẳng có gì lạ, ai làm cũng được, nên nói thế là uổng công đến mà vô ích. Ngài đáp: Ai biết được người chủ (Đông A), trên đường lại bạc đầu. Đông A là ông chủ. Ngài nói không có vô ích, người sử dụng được diệu dụng của chân như phải là người nhận ra ông chủ. Vì mọi người ai cũng có những động tác giống nhau, người này đi người kia cũng đi, người này ăn người kia cũng ăn, người này uống trà người kia cũng uống trà, ai cũng như ai. Song người chưa biết được ông chủ thì đi vội vàng, mong cho mau tới, ăn thì thích ăn ngon không có thức ăn ngon thì buồn, uống trà thì nói chuyện bên đông bên tây nghĩ nhớ đủ điều… sinh hoạt như thế không phải là dụng chân như. Người không nhận ra ông chủ thì trên đường lại bạc đầu. Ngài đã chỉ cho diệu dụng, nếu không nhận ra bản thể thì trên đường đi tới già cũng không gặp. Muốn có diệu dụng chân như thì trước phải nhận ra bản thể (ông chủ). Nhận ra bản thể rồi thì mọi động tác đều là diệu dụng.
Hỏi:
Dã Hiên một nhà kín,
Ai biết gõ dễ dàng?
Đáp:
Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn,
Mà nay sớm tối mặc ngựa đê.
Hỏi: – Tại sao như thế?
Đáp:
Giàu sang vẫn kiêu sa,
Khiến thành lầu chợ hoại.
Hỏi: Dã Hiên một nhà kín, ai biết gõ dễ dàng. Vị tăng thắc mắc, nhà ở thôn quê vắng vẻ cửa đóng kín, ai biết gõ để vào cho dễ dàng? Câu này ngầm ý nói chỗ thanh tịnh an tĩnh của nội tâm con người, làm sao mở để vào cho dễ dàng.
Ngài trả lời: Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn, mà nay sớm tối mặc ngựa dê. Kim Cốc là biệt thự của Thạch Sùng. Thạch Sùng ở đất Hà Dương đời Tấn, làm quan tới chức Vệ uy sứ, nhà rất giàu, sống rất kiêu sa. Thạch Sùng có người thiếp tên Lục Châu rất đẹp, Tôn Tú muốn Thạch Sùng nhường nàng cho Tôn Tú, Lục Châu không chịu, nhảy xuống lầu tự tử. Tôn Tú không được Lục Châu nên căm hận, gièm pha Thạch Sùng với Triệu vương, rồi mạo chiếu chỉ của vua đem quân đến giết cả nhà Thạch Sùng. Từ đấy vườn nhà Thạch Sùng bỏ hoang, hoa cỏ mọc ngổn ngang không trật tự, sớm tối mặc ngựa dê ra vào ăn cỏ, không còn là chỗ trật tự sang cả nữa. Tôi nhắc lại ý trước để tiếp ý sau cho quý vị hiểu. Chỗ thanh tịnh yên tĩnh của nội tâm, khởi ý muốn vào là động loạn, giống như biệt thự Kim Cốc của Thạch Sùng bỏ hoang, nên ngựa dê qua lại lộn xộn trong đó. Ngài trả lời như thế mà vị tăng ấy chưa lãnh hội vẫn còn thắc mắc, hỏi tiếp:
Tại sao như thế? Ngài đáp: Giàu sang vẫn kiêu sa, khiến thành lầu chợ hoại). Lầu là lầu sò, chợ là chợ bể. Sách xưa có kể rằng: Ở ngoài biển có những con sò lớn nằm phun bọt lên giống như cái lầu, mặt trời chiếu sáng thấy lấp lánh, gọi đó là lầu sò. Chợ bể, sách xưa cũng nói rằng: Các vị a-tu-la hay hiện ngoài biển vì đô thị của họ ở ngoài biển, khi mặt trời chiếu sáng thì thấy người thấy vật đủ thứ như chợ nhóm, nhưng thoáng qua rồi mất, không lâu. Ngày nay khoa học giải thích hiện tượng này là do phóng xạ bên ngoài phản chiếu, không có thật. Vậy lầu sò chợ bể là chỉ cho cái gì phù du tạm bợ không bền. Ngài lấy ý Thạch Sùng giàu sang mà kiêu sa, khiến cho gia cảnh sự nghiệp hoang phế hư hoại, giống như lầu sò chợ bể tạm bợ, để trả lời qua hướng khác. Ngài chỉ thẳng mà vị tăng này không hội, nên buộc lòng ngài phải nói qua hướng: Sở dĩ Kim Cốc bấy giờ hoang phế điêu tàn, vì Thạch Sùng kiêu sa phách lối nên mới như vậy. Vị tăng ấy đâu có biết rằng, người muốn vào chỗ lặng lẽ thanh tịnh của nội tâm thì phải dứt niệm, buông xả tất cả. Còn khởi niệm muốn gõ cửa để vào cho dễ dàng, là có vọng tưởng lăng xăng làm sao vô được. Thế mà vị tăng còn hỏi tại sao như thế, buộc lòng ngài phải mượn hình thức có lý để nói cho hiểu. Trả lời như thế không đúng chỗ ngài muốn nói.
(1) “Khiến thành lầu chợ hoại” được dịch từ câu “phiên linh bại thị lâu”. Chữ “bại” ở câu này chỗ khác in chữ “thận”. Nhưng tôi thấy nhiều bản in chữ “bại” nên tôi để chữ bại.
Hỏi:
Long nữ dâng châu thành Phật quả,
Đàn-na bố thí phước thế nào?
Βάρ:
Quế trong trăng muôn thuở,
Héo tươi tại một vầng.
Lại thưa: – Thế là nhọc mà không công?
Đáp:
Trên trời như treo gương,
Nhân gian nơi nơi tỏ.
Hỏi: Long nữ dâng châu thành Phật quả, đàn-na bố thí phước thế nào? Vị tăng dẫn kinh Pháp Hoa hỏi: Long nữ sau khi được Bồ-tát Văn-thù giáo hóa, ngộ được lý Đại thừa thâm sâu và có thể thành Phật. Tôn giả Xá-lợi-phất không tin Long nữ có thể thành Phật. Long nữ liền đem hạt châu dâng lên đức Phật. Khi Phật nhận hạt châu rồi, Long nữ nói với tôn giả Xá-lợi-phất: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật, mau hơn dâng hạt châu lên đức Phật.” Nói rồi Long nữ hiện thân ở thế giới khác ngồi tòa sen thành Phật. Do đó vị tăng hỏi Long nữ dâng châu cúng Phật được thành Phật và thí chủ bố thí cúng dường có phước như thế nào?
Ngài đáp: Quế trong trăng muôn thuở, héo tươi tại một vầng. Tối, trời có trăng không mây, nhìn lên mặt trăng thấy một đốm đen, đốm đen đó người xưa gọi là cây quế. Ngài nói cây quế ở trong mặt trăng, dù héo hay tươi nó vẫn ở trong mặt trăng muôn đời. Nghĩa là Long nữ dâng châu cúng Phật, sau đó được thành Phật, còn Phật tử cúng dường tăng ni, mặc dù kết quả chưa thành tựu, tuy hai việc làm khác nhau, nhưng thành quả không khác. Tức là cúng dường Phật được thành Phật, cúng dường tăng ni cũng sẽ thành Phật. Giống như cây quế héo hay cây quế tươi khác nhau, nhưng đồng ở trong mặt trăng.
Ngài trả lời như thế, vị tăng này không bằng lòng, nên mới hỏi: Thế là nhọc mà không công? Ý hỏi cây quế tươi hay cây quế héo cũng đồng ở trong mặt trăng, giống như cúng dường Phật, hay không cúng dường Phật mà cúng dường tăng thì cũng đồng thành Phật ở trong Phật tánh, tu làm chi cho nhọc mất công? Ngài đáp: Trên trời như treo gương, nhân gian nơi nơi tỏ. Mặt trăng sáng trên bầu hư không, ở dưới đất nhìn lên thấy mặt trăng sáng giống như gương treo trên bầu trời. Nhờ có mặt trăng tỏa ánh sáng khắp nơi, nên thế gian được soi sáng, mọi người khỏi rơi hầm sụp hố, tránh khỏi những tai nạn hiểm nguy. Cũng vậy, Phật tánh có sẵn nơi mỗi người, nó trùm khắp. Người tu khi hằng sống được với Phật tánh thì có diệu dụng, giúp cho người sáng suốt an vui, hết mê lầm đau khổ. Như vậy là có ích chứ đâu có phí công vô ích.
Hỏi:
Qua sông cần dùng bè,
Đến bờ thuyền bỏ lại.
Khi không qua thì thế nào?
Đáp:
Hồ khô cá mắc cạn,
Sống được muôn năm xuân.
Lại thưa: – Thế là theo dòng mới được diệu lý?
Đáp:
Thấy nói bạn Kinh Kha,
Một đi không trở lại.
Hỏi:
Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại,
Thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh.
Βάρ:
Chẳng phải khách nước Tề,
Đâu biết cá to biển.
Lại thưa:
Quách Quân chẳng chịu nhận,
Can gián cũng làm gì?
Đáp:
Nếu muốn trước uống rượu,
Khéo vẽ rắn làm gì?
Hỏi: Qua sông cần dùng bè, đến bờ thuyền bỏ lại. Khi không qua thì thế nào? Câu này lấy ý kinh đem ra hỏi: qua sông thì dùng bè, khi đến bờ rồi thì bè phải bỏ lại, bây giờ không qua sông, không cần thuyền cũng không bỏ thuyền thì sao? Ngầm ý hỏi, người học đạo phải có kinh điển (cần bè) để biết Phật dạy tu như thế nào mà thực hành, khi tu giác ngộ viên mãn rồi thì kinh điển không dùng nữa (bỏ thuyền), bây giờ tu không cần kinh điển cũng không bỏ kinh điển thì sao? Ngài trả lời: Hồ khô cá mắc cạn, sống được muôn năm xuân. Hồ khô là hồ không có nước, cá sống nhờ nước, nếu cá ở trong hồ khô là cá mắc cạn. Ngài nói cá mắc cạn trong hồ khô, mà sống được đến muôn năm không chết là điều đáng khen. Cũng vậy, nếu tu mà không cần kinh điển không bỏ kinh điển mà ngộ đạo thì đáng khen. Ngược lại chỉ là người thiếu học thiếu tu không ra gì thì vô nghĩa chẳng đáng nói.
Vị tăng nghe ngài nói như thế liền hỏi: Thế là theo dòng mới được diệu lý? Nghĩa là phải theo dòng, nương bè qua sông mới được diệu lý, không theo dòng không nương bè không qua sông thì không được diệu lý? Ngài đáp: Thấy nói bạn Kinh Kha, một đi không trở lại. Kinh Kha là người nước Tề thời Chiến Quốc, là môn khách của thái tử Đan nước Yên. Bấy giờ nước Tần mạnh nhất, Tần Thủy Hoàng cất quân thôn tính các nước chư hầu. Kinh Kha nhận nhiệm vụ đi ám sát Tần Thủy Hoàng. Lúc ra đi thái tử Đan cùng tân khách tiễn Kinh Kha qua sông Dịch Thủy, Kinh Kha nói lời từ biệt: “Tráng sĩ một đi không trở lại, dòng sông Dịch Thủy rẽ đôi nơi…!” Kinh Kha đến cung vua Tần, ám sát Tần Thủy Hoàng không được nên bị giết, từ đó không trở lại nước Yên. Ngài lấy điển tích này để trả lời câu hỏi của vị tăng. Ý ngài nói, nếu để dòng đời cuốn trôi đi thì làm sao được diệu lý? Cũng như Kinh Kha đi ám sát vua Tần, vua Tần không chết, Kinh Kha bị giết không trở về thì nói được diệu lý gì? Theo ngài thì người tu phải vượt khỏi dòng đời mới lên được dòng thánh. Vì theo dòng đời là chấp nhận sống buông thả theo thế tục, buông thả theo thế tục thì trầm luân sanh tử làm sao được đạo lý!
Hỏi: Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại, thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh. Vàng khác với quặng, vì quặng lẫn lộn với nhiều thứ khác, nhưng nó vốn cùng một loại với vàng, thỉnh Thầy phương tiện luyện quặng thành vàng ròng. Câu hỏi dẫn ý trong kinh Viên Giác đức Phật ví dụ cho Bồ-tát Kim Cang Tạng: “Này thiện nam, như lọc quặng vàng, chất vàng không phải do lọc mà có. Khi đã thành vàng ròng rồi thì chẳng trở lại thành khoáng. Trải qua thời gian không cùng, tánh vàng không hề biến hoại…”
Ngài trả lời: Chẳng phải khách nước Tề, đâu biết cá to biển. Điển tích thời Chiến Quốc, tướng quốc nước Tề là Tĩnh Quách Quân được ban phong đất Tiết, muốn xây thành quách. Có nhiều người can ngăn nên ông dặn kẻ gác cửa, hễ ai xin vô để can ngăn thì đừng cho vô. Có người nước Tề xin vô để nói ba tiếng thôi, rồi chết cũng đành. Quách Quân cho vô. Người khách chỉ nói lớn ba tiếng “biển cá lớn”, rồi vọt chạy. Quách Quân ngạc nhiên cho gọi lại. Người khách can gián ông rằng: “Ngài không nghe nói cá lớn ở biển ư? Lưới giăng không ngăn được nó, lưỡi câu không lôi kéo được nó; rủi thay khi mất nước thì loài dế kiến có thể khống chế nó. Ngài ở tại nước Tề giống như cá ở trong nước. Nếu ngài khéo làm cho nước Tề thạnh trị thì nước Tề hùng cường, ngài còn lo nghĩ gì nữa. Nếu lỡ mai kia nước Tề mất, tuy ngài xây thành tại đất Tiết giả sử có cao hơn trời vẫn là vô ích vậy.” Quách Quân mới thôi xây thành Tiết.
Ở đây Quách Quân nhận ra đúng sai nhờ người khách biết cách khéo léo chỉ cho. Ý ngài nói, ông muốn luyện thành thì trước phải rõ cái nào là quặng cái nào vàng mới không lầm. Ngài đáp như thế, vị tăng hỏi tiếp: Quách Quân chẳng chịu nhận, can gián cũng làm gì? Nếu Quách Quân không nghe thì vị khách can gián cũng vô ích. Ý của vị tăng nói, đối với mê và ngộ, ông không cần quan tâm, ngài nói phải ngộ rồi mới thấy chỗ chân thật, việc ấy không có nghĩa đối với ông, giải thích thế này hay thế kia chỉ là vô ích thôi.
Ngài đáp: Nếu muốn trước uống rượu, khéo vẽ rắn làm gì? Chuyện vẽ rắn lấy từ điển tích: Các xá nhân ở nước Sở được tặng một chung rượu ngon. Có một chung rượu mà đến mấy người chia nên họ bàn với nhau: mỗi người vẽ một con rắn, người nào vẽ rồi trước sẽ được uống chung rượu đó. Có một anh chàng vẽ rất nhanh nên vẽ xong trước, nhìn thấy các bạn còn đang chăm chú vẽ, anh ngồi không chẳng biết làm gì, bèn vẽ thêm chân cho con rắn. Lúc anh đang chăm chú vẽ chân rắn thì bạn anh vẽ rồi, liền uống hết uống chung rượu. Ngài dùng điển tích này để nói với vị tăng rằng: Nếu đã nhận ra chỗ chân thật, tức là vàng ròng, thì không cần luyện. Còn nếu là quặng lẫn trong vàng thì phải luyện. Như vậy ông nói tới chỗ rốt ráo, song rốt cuộc thì không có thật, giống như xá nhân kia vẽ rắn nhanh, nhưng rốt cuộc không được uống rượu. Bởi ông cho rằng ông không cần giản trạch ai mê ai ngộ, thì đâu cần hỏi quặng và vàng phải luyện làm sao? Hỏi như vậy là bày chuyện vô ích giống như vẽ rắn thêm chân vậy.
Hỏi: – Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống?
Sư bảo: – Ông là người phương nào?
Tăng thưa: – Vốn là người ở núi.
Sư bảo:
Núi xưa về ẩn gấp,
Chớ thấy Hứa chân quân.
Hỏi: Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống. Đây là câu hỏi của một vị tu tương đối có công phu sâu dày. Câu hỏi này có hai ý: Ý thứ nhất, con là người đi tìm đạo, mà tìm mãi không ra bây giờ giống như người chết, nhờ Thầy chỉ cho con phương tiện tiến đạo, tức là cứu sống con. Đó là ý trong lời lẽ bình thường. Ý thứ hai là con tu đến chỗ lặng lẽ, không còn niệm khởi, tâm như cây đá, như người chết, xin Thầy chỉ cho con cách thắp sáng trí tuệ để con được sống dậy.
Ngài muốn xác nhận kỹ mới hỏi: Ông là người phương nào? Tức là ông đang ở trạng thái nào mà xin cứu? Vị tăng này mới nói rõ: Vốn là người ở núi. Ở núi thì đâu phải là người đi trên đường cầu đạo bị kẹt không ra được. Vì ở núi là đã sạch hết tâm điên đảo rồi, như vậy ông đang chìm ở chỗ lặng lẽ vô tri vô giác, nên ngài bảo: Núi xưa về ẩn gấp, chớ thấy Hứa chân quân. Núi xưa chỉ cho chân tâm, là cồn đảo để người tu nương tựa. Hứa chân quân tên là Hứa Tốn, đời Tấn ở Trung Hoa, ông học phép tiên, rồi chu du khắp nơi vì người trị bệnh cho thuốc, nên được gọi là Hứa chân quân. Ngài nói, nếu ông thấy tâm lặng lẽ dường như vô tri vô giác, thì phải an trụ nơi tâm chân thật, tức là tánh giác của ông; đừng học đòi theo Hứa chân quân, tức là đi tìm kiếm ở bên ngoài. Như vậy là ông sẽ sống không chết, vì tánh giác không phải vô tri mà hằng giác hằng sáng.
Hỏi:
Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi,
Tào Khê giọt giọt là thế nào?
Đáp:
Trước gió thông reo tiếng buồn bã,
Mưa tạnh trên đường ít bùn lầy.
Lại thưa: – Thế là chẳng khác thời nay?
Đáp:
Dưới giậu trùng dương cúc,
Đầu cành xuân ấm oanh.
Hỏi: Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi, Tào Khê giọt giọt là thế nào? Vị tăng này không hỏi về kinh điển, vì kinh điển rộng mênh mông như biển cả, chỉ hỏi những giọt nước Tào Khê như thế nào. Tào Khê là một dòng suối ở phía bắc tỉnh Quảng Đông. Quảng Đông có nhiều châu như Tân Châu, Quảng Châu, Thiều Châu… Suối Tào Khê chảy ngang qua chùa Nam Hoa, ra sông Khúc Giang ở Thiều Châu, là chỗ giáo hóa của Lục tổ Huệ Năng. Vị tăng hỏi về Lục Tổ mà không gọi danh hiệu ngài, chỉ gọi chỗ giáo hóa. Hỏi giọt nước Tào Khê là thế nào, tức là hỏi đường lối dạy tu của Lục tổ Huệ Năng như thế nào.
Ngài trả lời: Trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy. Mới nghe, thấy câu đáp không dính dáng gì với câu hỏi, song nếu thấu lý thiền mới thấy ngài trả lời rất trung thực với chủ trương của Lục Tổ. Tại sao hỏi ý nghĩa Tào Khê, mà ngài đáp: trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy? Trên ngọn núi bên cạnh suối Tào Khê có những rặng thông, gió thổi tiếng thông reo vi vu nghe buồn bã lắm. Và trước cửa chùa Nam Hoa gần bên suối Tào Khê, có con đường đi khi mưa tạnh thì bùn lầy ít, đang mưa thì bùn lầy nhiều. Ngài nói thế là ý gì? Lục Tổ đâu không nói “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Gió thổi, thông reo, mưa tạnh, đường ít bùn là chuyện thế gian. Ngay trong chuyện thế gian mà thấy Phật pháp, chứ không phải lìa thế gian mà có Phật pháp, đó là trọng tâm của Lục Tổ dạy. Chúng ta tu muốn được giác ngộ thì phải ngay trong pháp thế gian mà ngộ chứ không ngộ đâu xa. Chính tại thế gian mà ngộ mới thật ngộ, còn đi tìm ở đâu đâu là chuyện không thực tế. Chỗ này Lục Tổ có dạy thêm “ly thế mích Bồ-đề, kháp tự tầm thố giác”. Nghĩa là lìa thế gian mà tìm sự giác ngộ, giống như tìm lông rùa sừng thỏ. Rùa đâu có lông, thỏ đâu có sừng mà tìm! Đi tìm là làm chuyện vô ích. Như vậy gió thổi, thông reo, mưa tạnh, đường ít bùn là chuyện thế gian, ngay đó giác ngộ là đúng, tìm nơi khác là sai. Tôi chia làm hai phần để giảng rõ tinh thần Phật pháp, kể cả Phật pháp nguyên thủy và Phật pháp phát triển, hay thiền tông cũng ở trong đó.
Đa số người đời cứ ngỡ rằng Phật pháp là cái gì cao siêu vượt ngoài thế gian và sự giác ngộ của mình ở trên mây trên trời, chứ không ở ngay trong cuộc sống hằng ngày. Đâu ngờ ngay trong cuộc sống thực tế mới có giác ngộ. Chúng ta lúc còn khỏe mạnh, thích làm việc này việc nọ quên tu, đó là lúc chúng ta mê. Bất thần xảy ra một trận đau chí tử, chúng ta thức tỉnh, khi bệnh lành lo nỗ lực tu hành. Vậy cái gì làm cho chúng ta thức tỉnh? Do bệnh mà chúng ta thức tỉnh. Đau bệnh là chuyện thế gian chứ đâu phải chuyện của Phật, thế mà nhân bệnh chúng ta thức tỉnh. Rộng hơn chút nữa, nhìn sự vật ở chung quanh, chúng ta thấy nó hợp tan tan hợp, có đó rồi mất đó, không bền không thật nên không đuổi bắt đắm nhiễm. Đó là chúng ta tỉnh giác, tỉnh giác đối với mọi vật chung quanh mình chứ không ở đâu xa. Như vậy tất cả chuyện ở thế gian, nhìn cái gì chúng ta cũng có thể giác ngộ được. Tất cả cảnh vật chung quanh, cái đau chết làm cho chúng ta giác ngộ mạnh nhất. Chẳng hạn một người thân của chúng ta đang khỏe mạnh, bỗng ngã bệnh vài hôm chết. Ngay khi đó chúng ta giật mình nhớ lại thân phận mình rồi đây cũng chết, nên cố gắng tu, không dám bê trễ.
Ngày xưa khi đức Phật còn là Thái tử, đi dạo bốn cửa thành thấy cảnh người già, người bệnh, người chết, ngài băn khoăn thắc mắc: Tại sao kiếp người ai rồi cũng già bệnh chết, không thoát được? Sau đó ngài quyết tâm vất bỏ tất cả sự cao sang quyền quý của một ông hoàng để đi tu. Chúng ta ngày nay ra vào thấy người già, người bệnh, người chết thường xuyên, sự nghiệp thì chẳng được bao nhiêu, thế mà đâu dám vất bỏ để tu. Cùng thấy người già người bệnh người chết, mà chúng ta dửng dưng, như vậy là mê hay tỉnh? Còn ngài thấy, liền tư duy: Họ là con người, họ già bệnh chết, mình là người rồi cũng già bệnh chết, đâu thoát khỏi, nên tỉnh giác xuất gia tu hành.
Tôi nghĩ các bác sĩ ngày nào cũng đối diện với người già người bệnh người chết, chắc là dễ tu lắm. Nhưng hỏi ra thì không dễ tu, vì thấy hoài thành ra lờn, không tỉnh. Lâu lâu chúng ta vào bệnh viện, thấy cảnh bệnh khổ của người, về chùa buồn không còn hứng thú làm việc, nhưng vài ba ngày lại quên, rồi cũng hăng hái làm đủ thứ chuyện. Lâu lâu có người thân chết, mấy ngày đầu buồn dàu dàu, nhưng chừng một tuần nửa tháng thì hết, rồi cũng tham sân si đủ thứ. Điều này cho thấy sức tỉnh giác của chúng ta quá yếu, vừa tỉnh một chút liền mê lại. Còn Phật và Bồ-tát giác rồi không bao giờ mê lại, nên các ngài tu mới thành đạo. Chúng ta vì mau quên nên tu tiến chậm. Nếu chúng ta có trí tuệ có tỉnh giác cao, đi đâu và ở chỗ nào cũng tu được. Ra đường thấy người đời vì hơn thua một chút quyền lợi cãi nhau rồi đánh lộn, cảnh người già, cảnh người tàn tật đói khổ lê từng bước chân xin chút cơm thừa để sống, cảnh người quyền thế kiêu xa phách lối… cũng đủ cho chúng ta tỉnh giác rồi. Rất tiếc vì mê muôn đời nên tỉnh không lâu, gặp duyên lóe sáng chút xíu rồi lại mê nữa. Thậm chí trước cảnh chết chóc mà người ta bày rượu thịt ra ăn nhậu vui cười… Người ta mê đến mức đó là cùng, ai chết mặc ai, miễn mình no vui là được. Thật là cái mê khó cứu. Đó là cái giác của người tầm thường.
Sau đây là sự giác ngộ của thiền sư. Đối với thiền sư thì cảnh nào cũng đưa đến giác ngộ, nên nói “kiến sắc minh tâm”, tức là thấy sắc biết mình có tâm sáng đang thấy. Hoặc nghe tiếng biết mình có tâm sáng đang nghe… Lúc nào cũng có tâm sáng hay tánh giác hiện tiền. Thế nên ngài nói: Trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy, ngay đây mà giác ngộ.
Vị tăng này nghe không bằng lòng hỏi tiếp: Thế nào là chẳng khác thời nay? Ý vị tăng này nói, ngày xưa chư tổ thấy cảnh liền giác, ngày nay cũng thấy cảnh ấy không giác là thế nào? Ngài đáp: Dưới giậu trùng dương cúc, đầu cành xuân ấm oanh. Hoa cúc nở vào mùa thu (tiết trùng dương đã giảng ở trước), chim hoàng oanh hót vào mùa xuân ấm. Hoa cúc nở và chim oanh hót là hai loại khác nhau, nhưng tiết trùng dương và mùa xuân ấm đều là thời tiết. Cùng một cảnh mà người tỉnh thấy liền giác, người mê thấy vẫn cứ mê. Như vậy thời tiết cũng như cảnh vật không làm cho người giác, không làm cho người mê, mê hay giác là do dụng công tu đã chín muồi hay chưa chín muồi.
Hỏi:
Rõ ràng trong khoảng tâm mắt,
Sáng chói ở trong sắc thân.
Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy?
Đáp:
Trong vườn hoa khoe sắc,
Trên bờ cỏ xanh rì.
Hỏi:
Năm lạnh các mầm thối,
Lấy gì để khoe xinh.
Đáp:
Mừng ông đã thấu suốt,
Cũng chẳng vui hay sao.
Tăng nói:
Hân hạnh nghe Thầy giải,
Từ đây khỏi chợt không.
Sư đáp:
Chìm cạn vừa ra khỏi,
Quay đầu muôn trượng đầm.
Hỏi: Rõ ràng trong khoảng tâm mắt, sáng chói ở trong sắc thân. Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy? Vị tăng này nghe Phật tổ dạy trong kinh luận: nơi mình có tâm hằng giác hằng tri, hiển hiện ở sáu căn, trùm khắp cả. Ông hỏi cái nào thuộc về lý (tâm) cái nào thuộc về tướng (thân), tại sao không thấy không biết nó? Ngài đáp: Trong vườn hoa khoe sắc, trên bờ cỏ xanh rì. Trước mắt nhìn thấy cỏ mọc xanh rì trên bờ, hoa trổ màu vàng màu đỏ trong vườn. Thấy đó phải khéo nhận, nếu không khéo nhận thì chịu, tâm hằng giác hằng linh tri không hình tướng làm sao chỉ được.
Vị tăng này thấy khó hiểu quá, nên mới hỏi tiếp: Năm lạnh các mầm thối, lấy gì để khoe xinh. Vì ngài nói hoa khoe sắc xinh, nên vị tăng này nói, mùa lạnh mầm thối hết thì còn gì hoa khoe xinh khoe đẹp? Tức là người tu khi vọng niệm lăng xăng đã lặng hết rồi (mầm thối) thì còn gì nói giác nói linh tri? Ngài đáp: Mừng ông đã thấu suốt, cũng chẳng vui hay sao. Ngài nói biết được như vậy là ông đã thấu suốt rồi, vậy là vui lắm.
Tới đây vị tăng thưa: Hân hạnh nghe Thầy giải, từ đây khỏi chợt không. Vị tăng này nói, nghe Thầy phân giải như vậy, con rất hân hạnh, từ đây con không để tâm không nữa. Tức là từ đây không để tâm chìm trong không lặng nữa. Ngài đáp: Chìm cạn vừa ra khỏi, quay đầu muôn trượng đầm. Vừa thoát khỏi cái chết trên cạn, mới quay đầu lại thì chìm ở dưới đầm sâu muôn trượng. Nghĩa là tu bặt vọng tưởng được yên lặng, tới đây tưởng là hết không còn gì nữa, đó là chết trên cạn. Ngài dạy: tuy lặng lẽ, nhưng tri giác hằng hiện tiền. Nghe nói vậy vị tăng ấy mừng quá, nên nói từ đây về sau con không để tâm không nữa, tức là để cho tâm khởi niệm mới khỏi cái chết trên cạn. Tuy có tâm lặng lẽ hằng giác hằng tri, nhưng nếu để niệm dấy khởi thì tâm lặng lẽ hằng giác hằng tri bị che khuất. Đó là vừa quay đầu lại chìm trong đầm sâu muôn trượng.
Hỏi: – “Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy
Đáp:
Xây tổ trên rèm trướng,
Râu tóc cọng hoa lau.
Hỏi:
Nếu gặp khi bức bách,
Hai chỗ là làm gì?
Đáp:
Trượng phu tùy thong thả,
Gió trăng mặc tiêu dao.
Hỏi: “Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy? Trong kinh2, có đoạn Phật dạy, nếu còn thấy Niết-bàn là cứu cánh vẫn còn chìm trong chỗ nguy hiểm. Hầu hết chúng ta tu là cầu Niết-bàn. Niết-bàn là vô sanh không còn sanh tử. Muốn hết sanh tử thì phải dứt vọng niệm (mầm sanh tử) mới được Niết-bàn. Vị tăng này nghi: Tu cốt là đạt được Niết-bàn dứt sanh tử, thế mà Niết-bàn vẫn còn nguy hiểm, vậy thì tu phải tới đâu mới hết nguy? Ngài đáp: Xây tổ trên rèm trướng, râu tóc cọng hoa lau. Mới nghe ngài đáp chúng ta thấy chẳng dính dáng gì tới câu hỏi, nhưng nếu thông suốt thì thấy rất chí lý. Chỗ cứu cánh của đạo vượt ngoài tướng đối đãi sanh tử Niết-bàn, còn thấy đây là sanh tử kia là Niết-bàn là còn thấy hai bên, còn thấy hai bên là còn trong đối đãi chưa tới chỗ cứu cánh. Cho cái đối đãi là cứu cánh là lầm nên nói nguy, vậy muốn ra khỏi hiểm nguy thì phải vượt ra ngoài đối đãi. Chư tổ thường hay quở, không cho chúng ta chấp sanh tử cũng không cho chúng ta chấp Niết-bàn, vì sanh tử và Niết-bàn là ý niệm đối đãi giả lập hư dối không thật. Còn tìm chỗ an ổn bền chắc tức là còn trong vòng nguy khốn, thế nên ngài nói, như chim tha cỏ làm tổ trên tấm mành, như người lấy cọng hoa lau làm râu tóc, như vậy được bao lâu? Xây tổ trên tấm mành thì sáng chiều mành cuốn rèm sổ, tổ tan tành. Và bông cỏ lau mong manh làm râu tóc thì làn gió thổi qua, cỏ hoa tơi tả. Ý nói khi vọng niệm hai bên đối đãi sạch hết mới hết nguy.
Tú tài Trương Chuyết đến tham vấn thiền sư Thạch Sương. Ngài hỏi:
– Tú tài tên họ gì?
– Tôi họ Trương tên Chuyết.
– Tìm cái xảo (khéo) còn không thể được, cái chuyết (vụng) từ đâu lại?
Ông chợt tỉnh ngộ, trình kệ. Tôi trích hai câu trong bài kệ của Trương Chuyết cho quý vị thấy chỗ ngộ đạo của ông:
Tùy thuận các duyên không chướng ngại,
Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
Người tu đến chỗ cứu cánh tùy thuận các duyên mà không bị chướng ngại. Niết-bàn và sanh tử là những ý niệm, là những danh từ giả lập, giống như hoa đốm trong hư không không thật, nếu chấp thật là nguy.
Ngài đáp mà vị tăng này chưa hài lòng nên hỏi tiếp: Nếu gặp khi bức bách, hai chỗ là làm gì? Nếu khi sanh tử dồn ép bức bách thì phải tìm Niết-bàn hay phải làm gì? Ngài đáp: Trượng phu tùy thong thả, gió trăng mặc tiêu dao. Người tu là bậc trượng phu, khi đã vượt qua kiến chấp hai bên thì lúc đó thong thả, mặc tình tiêu dao với gió trăng, không còn việc gì phải làm nữa. Chỗ này có nhiều người thắc mắc: Tại sao cùng đạo Phật mà chỗ này dạy khác chỗ kia dạy khác? Trong các kinh A-hàm thì dạy chúng ta phải sợ sanh tử vì sanh tử khổ, cấp bách tu để đạt Niết-bàn vui. Còn ở đây nói sanh tử và Niết-bàn đều không thật thì thảnh thơi mặc tình tiêu dao tự tại. Như vậy giá trị ở chỗ nào? Vì chúng ta say mê ngũ dục chìm trong sanh tử, không chịu tìm lối thoát ra, nên Phật dạy sanh tử khổ đau, phải nỗ lực tu để được Niết-bàn an vui. Đó là bước đầu Phật dạy chán sanh tử cầu Niết-bàn. Qua kinh điển Đại thừa hay Thiền tông thì dạy, người khi đã giác ngộ thấy Niết-bàn và sanh tử như hoa đốm trong hư không, không thật. Nhớ là phải giác ngộ rồi, chứ chớm giác ngộ cũng chưa được. Nếu chúng ta còn thấy Niết-bàn thật là còn kẹt trong sanh tử đối đãi, tức là chưa toàn giác nên còn nguy. Và, khi đã thấy sanh tử Niết-bàn không thật thì sợ cái gì và chạy trốn ở đâu! Do đó ngài mới bảo Trượng phu tùy thong thả, gió trăng mặc tiêu dao. Nếu chúng ta chưa giác ngộ học câu này mà chấp thì sẽ rơi vào bệnh phóng túng, khi đã giác ngộ rồi thì tùy duyên sống thoải mái. Thế nên chư tổ khi đã triệt ngộ, các ngài tùy tục buông thõng tay vào chợ là vậy. Ngược lại chúng ta chưa ngộ mà tùy tục thì chìm sâu trong biển khổ không ra khỏi. Chúng ta học phải biết cho tận nguồn, nếu biết lem nhem thì dễ lầm chấp, từ lầm chấp mà sanh ra bệnh hoạn. Người nói được câu này là phải người triệt ngộ, nếu chưa triệt ngộ thì không nên nói vậy.
Tôi dạy tu có khi cũng mâu thuẫn, tôi chủ trương tu thiền mà dạy cho các cụ niệm Phật. Tại sao như thế? Vì các cụ già yếu, tinh thần mỏi mệt, dạy thiền quán các cụ không thực hành được. Dạy niệm Phật cho các cụ có điểm tựa, tâm thường nhớ Phật không nhớ con cháu, bớt luyến ái, không lo buồn, khi chết được nhẹ nhàng và được sanh vào cõi lành. Còn tăng ni trẻ là rường cột của Phật pháp mai sau, nên phải dạy thiền quán cho họ thực hành, có thực hành tâm thanh tịnh trí tuệ sáng mới giác ngộ. Giáo hóa là phải đối cơ, tùy căn cơ của người học đạo ở trình độ nào dạy ngang trình độ nấy, người học tiếp thu và thực hành được mới có ích. Ở đây đối với người tham mê ngũ dục đắm chìm trong sanh tử là nguy hiểm, Phật dạy phải xa lìa, rồi ngài chỉ Niết-bàn an vui cho có điểm tựa để tiến. Dạy xa lìa mà không có điểm tựa thì họ chới với không chịu tu, nên phải nói như thế.
Ví dụ có một số người ở ven rừng, bấy giờ rừng cháy gần tới chỗ họ ở, mà họ cứ vui với công việc bên rừng không chịu chạy đi. Chúng ta thấy rừng cháy nguy hiểm nên bảo họ: “Chỗ này rừng cháy nguy hiểm lắm, các vị hãy chạy ra chỗ trống phía ngoài hồ, ở đó lửa không cháy tới!” Nếu họ ra phía ngoài hồ thì họ thoát được nạn cháy rừng. Nhưng họ chạy ra tới mé hồ, thấy nước mát liền nhảy xuống hồ thì bị chết chìm lên không được. Đó là tránh chết cháy lại bị chết chìm. Như vậy ra tới hồ, phải ở trên bờ, không được nhảy xuống hồ. Cũng vậy, sợ sanh tử khổ nên xa lìa, để được Niết-bàn vui. Nhưng nghe nói Niết-bàn vui lại chấp Niết-bàn vui, chẳng khác nào tránh chết cháy bị chết chìm. Tuy đạo lý cao siêu, nhưng phải tùy căn cơ dạy pháp tu cho vừa với trình độ người học, mới được lợi ích và hợp đạo.
Người sơ cơ mới vào chùa mà dạy pháp tối thượng thừa, làm sao họ hiểu và thực hành? Không hiểu không thực hành được, thấy đạo Phật như vô ích. Thế nên khi giảng dạy phải thấy rõ hai mặt, mặt tương đối và mặt tuyệt đối. Mặt tương đối thì phải hướng dẫn từng bước cho người học tiến vững vàng. Mặt tuyệt đối thì không còn chấp hai bên là chỗ cứu cánh. Không còn chấp hai bên thì không còn khổ. Vì chúng ta còn thấy thân này thật, nên ai động đến thân này là chúng ta đau khổ. Nếu chúng ta thấy thân này không thật, dù có bị bức hại cũng thấy như trò chơi, không khổ. Thế nên mặt tương đối hay tuyệt đối phải tùy căn cơ mà hướng dẫn, chứ không thể nói như một được.
Hỏi:
– “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy?
Đáp:
Khuyên ông hãy gắng việc nông tang,
Chớ học theo người đợi thỏ nhọc.
Tăng nói:
Được nhờ Thầy chỉ rõ,
Trọn chẳng đến ai cầu.
Sư nói:
Đáng thương người mắc nghẹn,
Ngồi đói lại quên ăn.
Hỏi: “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy. Người hỏi thấy trong kinh nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có Phật tánh tức là có Phật. Người hỏi nói lý này chưa hiểu, xin ngài chỉ dạy. Ngài đáp: Khuyên ông hãy gắng việc nông tang, chớ học theo người đợi thỏ nhọc. Câu này có nhiều người hiểu quá sai lầm, cho thiền sư Viên Chiếu nghĩ tới việc đồng áng nhiều hơn việc học đạo lý. Vì ngài khuyên hãy gắng làm ruộng trồng dâu nuôi tằm, đừng có mơ ước Phật; làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm là Phật rồi. Lý giải như vậy thì mấy chú nông dân thành Phật hết. Ngài khuyên chở học theo người đợi thỏ nhọc. Ý này lấy từ truyện tích: Xưa có một người khờ cày ruộng, chợt gặp con thỏ chạy đâm đầu vô gốc cây ngã lăn ra chết. Anh vui mừng nhặt xác thỏ đem về làm thịt ăn. Anh nghĩ ngày mai thỏ sẽ chạy đâm đầu vô gốc cây chết nữa, nên hôm sau anh tới gốc cây chờ nhặt xác thỏ. Anh chờ mãi không thấy thỏ chạy tới. Câu chuyện này ngụ ý nói người ngu thấy việc xảy ra một lần, nghĩ sẽ xảy ra luôn luôn nên trông chờ. Ngài khuyên đừng mơ ước trông đợi những chuyện không đâu, mà phải thực tế làm ruộng trồng dâu. Vì hỏi tất cả chúng sanh đều nói là Phật, lý này chưa rõ xin thầy chỉ dạy Phật ở đâu, Phật là gì, thế nên ngài mới lấy câu chuyện có nghĩa “tâm bình thường là đạo” để dạy. Dù cho trồng dâu nuôi tằm, cuốc rẫy làm ruộng. tâm không vọng tưởng ngay đó là Phật, đừng có tìm kiếm Phật ở đâu. Mơ ước trông chờ như anh chàng ôm cây đợi thỏ, chỉ nhọc nhằn phí công thôi. Ý nghĩa rõ ràng như vậy, thế mà người ta lại hiểu khác đi. Ngay trong sinh hoạt hàng ngày tâm bình thường là Phật rồi. Tôi thường nói với tăng ni, đâu phải chỉ giờ ngồi thiền chúng ta mới làm Phật, mà chính giờ cuốc đất, trồng rau, quét nhà, nấu cơm… giờ nào cũng là Phật cả. Chỉ khi làm mà vọng tưởng nhớ chuyện đông tây, Phật mới ẩn khuất. Làm tất cả việc mà tâm trong sáng lặng lẽ thì giờ nào không phải là giờ Phật? Nếu không có Phật làm sao biết làm việc? Ngài bảo gắng việc nông tang, ngầm ý dạy chúng ta làm tất cả mọi việc, mà tâm bình thường lặng lẽ sáng suốt, lúc đó Phật tánh hiện tiền. Vì vậy nên nói “tâm bình thường là đạo”.
Vị tăng này chưa thông mới nói: Được nhờ Thầy chỉ rõ, trọn chẳng đến ai cầu. Vị tăng nghe lời ngài đáp tưởng mình đã ngộ rồi, không cần phải học hỏi nữa, mới nói Thầy chỉ dạy cho con rõ ràng rồi, con không cần phải đi cầu học với ai nữa. Vị tăng này nói như vậy là mắc bệnh tự mãn, chưa được mà tưởng mình được. Thế nên ngài nói để phá chấp: Đáng thương người mắc nghẹn, ngồi đói lại quên ăn. Ngài thấy vị tăng này tỏ ra thông hiểu, sự thật chưa được gì, mà tự mãn thấy không cần học với ai, ngài mới nói đáng thương, giống như người nuốt cơm mới tới cổ, chưa xuống bao tử mà cho là no, không chịu nuốt không chịu ăn. Ngài quở người học đạo vừa nghe vội cho là hiểu, vội cho là đủ, lấy làm tự mãn không chịu tham cầu học hỏi, đó là bệnh. Bệnh này người thời nay cũng hay mắc phải, học chút ít cho là đủ, đi lại nói năng tự do chẳng hợp đạo lý chút nào! Nghe người xưa dạy mới biết bệnh của mình, nếu không thì không biết mình bệnh. Bệnh này gọi là khẩu đầu thiền.
Tăng nói:
Nhiều năm cất giấu báu trong đây,
Ngày nay trước mắt thấy rõ ràng.
Sư nói:
Chỉ đợi trăng thu sáng,
Đâu ngờ mây mưa che.
Tăng nói:
Tuy nghe Thầy thuyết giảng,
Lý này vẫn chưa rành.
Sư đáp:
Cười kẻ luống ôm cột,
Chết đuối nằm giữa dòng.
Tăng nói: Nhiều năm cất giấu báu trong đấy, ngày nay trước mắt thấy rõ ràng. Câu này hỏi mà dường như không hỏi. Vị tăng nói hạt ngọc quý được cất trong đây nhiều năm, nay mắt trông thấy rõ ràng rồi. Nghe qua câu này chúng ta tưởng vị tăng đã ngộ, vì biết trong đãy mình có hòn ngọc báu. Cái đãy chỉ cho thân tứ đại, hòn ngọc báu chỉ cho tánh giác. Từ lâu tánh giác có sẵn nơi thân này mà chưa biết, bây giờ đã biết, thấy rõ ràng trước mắt. Ngài đáp: Chỉ đợi trăng thu sáng, đâu ngờ mây mưa che. Câu này có ý chê vị tăng. Vì câu nói vị tăng này mâu thuẫn, vừa nói ngọc báu ở trong đấy, liền nói thấy ngọc báu ở trước mắt. Còn thấy trong ngoài, còn thấy trước sau là chưa thấy đúng như thật. Ngài nói, tưởng đâu trăng mùa thu trong sáng nào ngờ mây kéo mưa mịt mù, ý nói vị tăng này tâm chưa sáng vì còn thấy trong ngoài trước sau. Nếu không phải là bậc sáng mắt thì nhận lầm vị tăng ấy đã ngộ rồi.
Tăng nói: Tuy nghe Thầy thuyết giảng, lý này vẫn chưa rành. Nghe thầy thuyết giảng thấy như ngộ rồi, nhưng sự thật thì lý chưa rành. Ngài mới nói: Cười kẻ luống ôm cột, chết đuối nằm giữa dòng. Câu này dẫn từ truyện tích: Xưa có chàng trai tên Vi Sinh, anh thương một cô gái, cô gái đó hẹn gặp anh tại cây cầu lúc chiều tối. Cây cầu này trên là chỗ ngồi chơi, dưới có thang đi xuống nước. Chiều anh tới trước núp dưới thang cầu đợi tối lên trên cầu gặp cô bạn. Anh đinh ninh như vậy, nên anh ngồi mãi dưới thang cầu. Nước lớn dần mà anh không lên, vì chưa tối sợ chun ra thì thất hẹn. Anh cứ ngồi mãi, nước dâng ngập người anh, khiến anh chết đuối dưới cầu. Vị tăng này đã được ngài chỉ rõ bệnh cho rồi mà vẫn không biết, nói: Tuy nghe Thầy thuyết giảng, lý này vẫn chưa rành, nên ngài dùng câu chuyện anh chàng si mê cố chấp chết đuối dưới dòng sông để nói phá.
Hỏi: – Thế nào là một pháp?
Đáp:
Vừa thấy xuân sanh cùng hạ trưởng,
Lại gặp thu chín và đông thâu.
Lại thưa: – Thế là nhiều người thành Phật?
Đáp:
Tổ Long chợt tự dừng,
Từ Phúc xa luống nhọc.
Hỏi: Thế nào là một pháp? Vị tăng này lấy kinh Đại thừa ra hỏi: Tất cả chỉ có một pháp, không có hai không có ba, vậy thế nào là một pháp? Ngài trả lời: Vừa thấy xuân sanh cùng hạ trưởng, lại gặp thu chín và đông thâu. Ngày xưa nhà nông làm ruộng cuối mùa xuân thì gieo giống, hạt nảy mầm gọi là sanh, mùa hạ vun bón phân cho cây lúa phát triển lớn mạnh gọi là trưởng, mùa thu lúa chín, mùa đông gặt hái, đó là một pháp. Hỏi một pháp, ngài nói tới bốn mùa làm ruộng của người nông phu: xuân gieo lúa, hạ lúa lớn, thu lúa chín, đông gặt lúa. Đứng về thời tiết thì thấy có bốn mùa xuân hạ thu đông, nhưng đứng về cây lúa từ gieo hạt cho đến gặt, tức là từ nhân đến quả chỉ là lúa. Như vậy ngài muốn nói gì? Nói một pháp là tất cả. Thiền tông nói tất cả pháp chỉ là tâm, tâm là một pháp, muôn sự muôn vật tuy có thiên hình vạn trạng nhưng gốc chỉ là một tâm. Thế nên dụ tâm là cái gương, muôn sự muôn vật như bóng trong gương. Bóng thì trăm ngàn thứ, gương thì không hai. Trăm ngàn thứ (bóng) thì không thật, cái không hai (gương) thì chân thật. Cũng vậy, tâm thể trùm khắp nên nói không hai, muôn sự muôn vật là pháp sanh diệt thì không thật. Thêm một ví dụ nữa: Trong bầu hư không này có rất nhiều hành tinh, nhất là hành tinh chúng ta đang sống có đủ thứ nào là sông, biển, núi, rừng, cây, cỏ, người, thú… Tất cả mọi loài trên hành tinh này kể cả hành tinh đều ở trong hư không. Hư không thì không hai, nhưng sự vật trong hành tinh thì có muôn ngàn thứ. Hư không dụ cho thể của tâm thì không hai, còn sự tướng của vật thì chuyển biến ngàn muôn thứ. Thế nên ngài nói lúa từ khi gieo giống, lớn lên, chín, gặt hái, tuy thấy dòng sanh diệt luôn đổi khác, nhưng thể của nó là lúa không hai.
Ngài nói thế vị tăng này không bằng lòng, mới hỏi: Thế là nhiều người thành Phật? Vị tăng thắc mắc: Tuy sự vật có chuyển biến, nhưng nhân và quả không khác, như vậy thì ai sanh ra cũng ở trong một pháp đó, rồi lẩn quẩn cũng trở về một pháp đó thì ai cũng thành Phật hết chứ gì? Ngài đáp: Tổ Long chợt tự dừng, Từ Phúc xa luống nhọc. Tổ Long là hiệu của vua Tần Thủy Hoàng trong thời Chiến quốc ở Trung Hoa, Từ Phúc là một phương sĩ đời Tần tự xưng là Quân Phòng. Tần Thủy Hoàng sai ông ra biển tìm cỏ trường sanh, Từ Phúc liền đem hết gia quyến đi tìm nhưng không trở về, còn Tần Thủy Hoàng thì im lặng ở tại một chỗ, tức là ở tại quê hương. Ngài trả lời như thế là ý gì? Từ Phúc dụ cho người mê ra đi, cứ đi mãi không dừng để trở lại cố hương. Còn Tổ Long dụ cho người giác, tuy ông có sai đi nhưng ông ở một chỗ không đi. Tuy mọi người ai cũng có tánh giác như nhau, nhưng người giác biết quay lại tánh giác thì hằng an trụ, người mê không biết quay lại tánh giác thì phiêu lưu mãi trong sanh tử. Như vậy, làm sao nói ai cũng đều thành Phật! Và, nếu tất cả đều thành Phật thì đâu cần tu.
Hỏi: – “Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào?
Đáp:
Cây khô gặp xuân hoa đua nở,
Gió thổi hương thần thơm rất xa.
Tăng nói: – Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại.
Sư đáp:
Muôn năm cây cà ấy,
Xanh tươi thấu tầng mây.
Hỏi: “Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào? Vị tăng này là người trong nhà thiền cho nên mới hỏi ý nghĩa kiến tánh thành Phật. Ngài đáp: Cây khô gặp xuân hoa đua nở, gió thổi hương thần thơm rất xa. Theo lẽ thường thì cây khô dù ở thời tiết nào cũng không thể trổ hoa lá. Thế mà ngài nói cây khô gặp tiết xuân trổ hoa, hương thần là hương mầu nhiệm gió thổi thơm rất xa. Hai câu này nói lên ý nghĩa kiến tánh thành Phật. Tất cả người tu chúng ta ai cũng đang là kẻ mê, chưa phải là người tỉnh. Do đó phải tu để nhận ra tánh giác nơi mình gọi là kiến tánh. Sau khi kiến tánh phải tiếp tục tu nữa để hằng sống với tánh giác mới thành Phật. Nói kiến tánh thành Phật nghe thấy như nhanh, nhưng phải trải qua bao nhiêu năm tu hành, buông bỏ tập khí vọng tưởng trải qua từng phần giác, mới được toàn giác thành Phật. Không phải vừa kiến tánh là thành Phật liền. Nhưng nói kiến tánh thành Phật nghĩa đó không sai. Ví dụ: Chúng ta không có hạt bắp, mà bảo trồng để lấy trái bắp có được không? Chắc chắn là không. Nhưng chúng ta có sẵn hạt bắp, muốn trồng để lấy trái ăn có được không? Chắc chắn là được. Nhưng từ khi gieo hạt xuống đất, tưới nước, làm cỏ, bón phân… phải trải qua thời gian dài mới có trái bắp để ăn. Rõ ràng có nhân là có quả không nghi. Cũng vậy từ khi nhận ra tánh giác nơi mình rồi nỗ lực tu, được từng phần giác ngộ mới thành Phật. Đó là ý nghĩa kiến tánh thành Phật.
Ngày nay có lắm người tu mà không nghĩ thành Phật, chỉ mong đời sau có phước hình vóc đẹp đẽ, giàu sang, tài giỏi, có quyền thế v.v… tất cả đều được như ý. Có người nói thành Phật buồn, vì thấy tượng Phật ngồi trên bàn im lìm bất động, không nói cười với ai cả. Còn làm người thế gian thì đi lại tự do, ăn uống nói năng thoải mái. Thế nên không dám làm Phật mà thích làm người. Chúng ta đừng hiểu lầm, tượng Phật ngồi trên bàn là hình ảnh biểu trưng ý nghĩa chứ không phải Phật thật. Nếu thành Phật mà ngồi bất động như vậy thì thành làm gì? Thành Phật có tất cả diệu dụng linh động, muốn cứu giúp ai cũng được, muốn đi muôn dặm muôn nước, hay đi từ hành tinh này qua hành tinh khác cũng được, muốn cái gì cũng đều được như ý. Như vậy mới ham thành Phật.
Trong kinh A-hàm nói người tu chứng quả A-la-hán thì được lục thông, trong lục thông có Thần túc thông. Người được Thần túc thông thì đi lại tự do, nhanh như ý mình nghĩ. Ví dụ bây giờ đang ở đây khởi nghĩ đi tới Cực lạc, liền thấy mình đang ở Cực lạc. Hiện tại khoa học tiến bộ, máy bay đưa chúng ta đi trong nước hay ra nước ngoài, cách xa hàng ngàn cây số chỉ mất ít tiếng đồng hồ, tới lui rất nhanh chóng dễ dàng. Nhưng phương tiện nhanh chóng này còn e ngại hồi hộp, vì thỉnh thoảng máy bay hỏng rơi xuống đất nát thây. Còn người tu có Thần túc thông nghĩ tới chỗ nào liền tới chỗ đó, không trở ngại không nguy hiểm. Như thế mới ham tu và không nghĩ tu thành Phật im lìm bất động là buồn. Chính vì chỗ này nên ngài nói Cây khô gặp xuân hoa đua nở, gió thổi hương thần thơm rất xa. Cây khô dụ cho thân năm uẩn mê muội của con người, khi tu kiến tánh giác ngộ thành Phật thì có vô số diệu dụng không thể nghĩ lường. Giống như cây khô vô dụng gặp tiết xuân trổ hoa đẹp hương thơm, theo gió bay đi khắp mọi nơi. Đó là diệu dụng không thể lường nổi của người kiến tánh thành Phật.
Vị tăng này vẫn chưa hội nên thưa: Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại. Ngài đáp: Muôn năm cây cà ấy, xanh tươi thấu tầng mây. Ngài nói cây cà trồng trong vườn chúng ta thấy nó rất tầm thường, nhưng nó xanh tươi vượt lên đến tận mây xanh. Cây cà tầm thường nhưng xanh tươi vượt đến mây xanh dụ cho thân mê muội này không có giá trị gì, song đúng thời tiết nhân duyên thì giác ngộ kiến tánh. Ý nói từ mê tới giác con người có những diệu dụng phi thường, là cái mà chúng ta không thể hiểu không thể biết hết được.
Hỏi:
Ma-ni cùng các sắc,
Chẳng hợp cũng chẳng lìa?
Đáp:
Hoa xuân cùng bươm bướm,
Lúc mến lúc chia lìa.
Hỏi: – Thế là theo kia hỗn tạp?
Đáp:
Chẳng phải mắt tăng Ấn,
Luống nhọc trình biện châu.
Hỏi: Ma-ni cùng các sắc, chẳng hợp cũng chẳng lìa?
Ma-ni là hòn ngọc quý trong suốt, không có màu sắc.
Nếu để vật màu đỏ thì thấy ngọc ma-ni ửng đỏ, để vật màu xanh thì thấy ngọc ma-ni ửng xanh… Màu sắc của vật xung quanh phản ảnh vào, ngọc ma-ni có màu sắc của vật. Nguyên ngọc ma-ni vốn không có màu sắc, do sắc của vật để gần phản ảnh vào, thấy ngọc ma-ni ửng màu đỏ màu xanh. Nếu lấy vật đi thì ngọc ma-ni trong suốt không màu sắc nên nói chẳng hợp cũng chẳng lìa. Ngọc ma-ni trong suốt mà có màu này sắc nọ dụ cho tâm thể thanh tịnh trong sáng của con người. Nó vốn không tham, không sân, không có tất cả cái xấu, nhưng do thấy cảnh đẹp bên ngoài tham dục dấy khởi, gặp việc xấu sân giận nổi dậy… tùy duyên tùy cảnh bên ngoài mà có tham sân ô uế. Tâm thể con người không là gì hết, do ảnh hưởng bên ngoài mà có đủ thứ. Tuy ảnh hưởng nhưng không phải một mà cũng không lìa.
Ngài trả lời: Hoa xuân cùng bươm bướm, lúc mến lúc chia lìa. Vào mùa xuân hoa nở bày nhụy tỏa hương, bươm bướm bay đến hút mật, khi bướm cần mật thì bay đến hút, khi hết cần thì bay đi. Như vậy là hợp hay lìa? Bướm là bướm, hoa là hoa, vì nhu cầu và tùy duyên mà bướm gặp hoa, khi không cần nữa thì bướm bay đi, không có cái gì nhất định hợp nhất định lìa. Ý ngài nói tâm thể thanh tịnh trong sáng của mỗi người nếu không có duyên trần thì trong sạch không nhiễm nhơ, nếu có duyên trần thì liền ô nhiễm. Song, ô nhiễm chỉ là bóng thôi, chứ không thật.
Ví dụ hiện giờ tâm chúng ta đang thanh tịnh an ổn, bỗng có người đến mắng chửi. Chúng ta không tự chủ được, liền khởi niệm sân giận thì lúc đó tâm chúng ta trở thành ô nhiễm, nhưng ô nhiễm chỉ là cái bóng chứ không có bản chất thật. Vì duyên trần qua rồi niệm sân giận theo đó cũng mất, hết sân giận thì thể thanh tịnh hiện tiền không mất. Như vậy duyên trần đến thì thấy như hợp, duyên trần đi thì thấy như ly, kỳ thật thì không hợp không ly. Bởi tâm thể con người vốn không có tham sân…, do duyên cảnh bên ngoài nên mới khởi tham sân… Song tham sân… chỉ là bóng không thật, nếu thật thì tham sân còn hoài không hết. Qua rồi mất làm sao nói thật được? Nhưng làm sao đối trị nó? Ví dụ gặp duyên cảnh bất như ý, tham sân dấy khởi, liền quán duyên cảnh là huyễn hóa, tham sân cũng huyễn hóa không thật, quán như thế thì tham sân không khởi nữa, đó là tu. Nếu thấy duyên cảnh là thật, tham sân là thật thì si mê phiền não không bao giờ hết, đó là không khéo tu. Chúng ta tu phải hiểu chỗ này cho rõ.
Ngài đáp như thế mà vị tăng này vẫn chưa hiểu nên hỏi tiếp: Thế là theo kia hỗn tạp? Vị tăng này thắc mắc, ngọc ma-ni trong suốt, vật bên ngoài màu gì phản ảnh màu đó vào ngọc ma-ni, như thế thì ngọc ma-ni trở thành hỗn tạp đủ màu sắc sao? Ngài trả lời chẳng phải mắt tăng Ấn, luống nhọc trình biện châu. Tăng Ấn là các vị cao tăng Ấn Độ như tổ Bồ-đề-đạt-ma, tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi… Nếu không phải là người có mắt của chư tổ Ấn Độ, đối với hạt châu trong suốt không màu sắc thì không ai có thể nhận ra hạt châu quý. Kẻ dung thường thì không quý trọng, vì nó không có màu sắc, đem ra luận bàn dài dòng chỉ uổng công vô ích thôi. Đó là nghĩa hạt châu không hỗn tạp màu sắc. Như hiện tại, gặp cảnh ưa thích khởi niệm tham, chúng ta nói tôi tham, gặp cảnh bức xúc khởi niệm sân, nói tôi sân, gặp cảnh buồn khởi niệm buồn, nói tôi buồn… Như vậy là chúng ta nhận niệm tham, niệm sân là mình. Nhưng lúc không khởi niệm thì không thấy tôi, tức là không biết tánh giác mình đang hiện tiền. Câu trả lời của ngài thâm thúy vô cùng. Cái gì có hình tướng thì mắt phàm mới nhận ra được, cái không hình tướng thì không thể nhận được. Tâm thanh tịnh không dấy niệm, lúc đó không tự biết tâm mình đang thanh tịnh, khi khởi niệm này niệm kia mình mới biết, biết ý niệm mà không biết thể hằng hữu thanh tịnh trong sáng. Chúng ta thật đáng thương, cái thật mà không biết, cái giả lại nhận là mình! Có khi nào chúng ta giận mà thấy cái giận này không phải của tôi không? Thấy cái giận không phải của tôi thì hết giận, nhận cái giận là tôi thì tức lắm, nhưng tức một lúc rồi cũng hết. Chỉ còn lại thể tánh hằng hữu thì không mất. Thể tánh này chỉ có chư tổ mới nhận ra. Nó luôn luôn thanh tịnh trong suốt không xen tạp bất cứ một thứ gì.
Hỏi: – Thế nào là chạm mắt Bồ-đề?
Đáp:
Chim từng sợ cây cong,
Người thổi mãi rau nguội.
Hỏi: – Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác.
Đáp:
Kẻ điếc nghe đàn sáo,
Người mù ngắm trăng lên.
Hỏi: Thế nào là chạm mắt Bồ-đề? Thấy người là Bồ-đề, thấy vật là Bồ-đề, thấy cây cỏ là Bồ-đề, thấy cái gì cũng là Bồ-đề hết, như vậy là thế nào? Ngài trả lời: Chim từng sợ cây cong, người thổi mãi rau nguội. Ý nói chim bị cung bắn thoát chết một lần, từ đó về sau thấy cây cong liền sợ bay chỗ khác tránh. Câu người thổi mãi rau nguội dẫn từ truyện tích: Xưa có anh chàng háu ăn, lên mâm cơm anh húp canh nóng lia lịa nên bị phỏng miệng. Từ đó về sau thấy thức ăn là anh sợ phỏng miệng. Một hôm người ta dọn cho anh đĩa rau luộc nguội, anh liền thổi không cần biết rau nóng hay rau nguội. Ngài dùng hai chuyện này để nói ý nghĩa chạm mắt là Bồ-đề. Tức là vừa thấy vật liền biết không đợi nghĩ suy mới biết. Mỗi ngày từ sáng tới chiều ai cũng thấy biết bao là người, thấy biết bao là cảnh vật, tức biết bao là Bồ-đề! Vậy chúng ta thấy bao nhiêu người bao nhiêu cảnh vật là bấy nhiêu Bồ-đề hay bấy nhiêu phiền não? Thấy người thấy vật khởi niệm phân biệt khen chê thủ xả thì nhiễm như dính mắc, không phiền não là gì? Người nào tâm thanh tịnh trong sáng như ngọc ma-ni, thấy người biết người, thấy vật biết vật, không khởi một niệm nhiễm như dính mắc, thì thấy tất cả là Bồ-đề. Như vậy, cũng là người mà thấy là Bồ-đề hay phiền não, gốc tại nhiễm như dính mắc hay không nhiễm như dính mắc.
Quý vị có mặt ở đây tu cũng được năm bảy năm rồi, quý vị chạm mắt là Bồ-đề hay chạm mắt là phiền não? Thấy người không ưa thì ghét, thấy vật không khen thì chê, thấy như vậy là phiền não. Bởi thế nên mọi người than thế gian này nhiều buồn phiền quá! Thế gian không có buồn phiền, do mình dính mắc với thế gian mới thành phiền não. Người tu chúng ta có những cái lầm lẫn rất buồn cười, trách thế gian phiền phức lắm, muốn ẩn trốn trong núi rừng cho hết phiền não. Nhưng trốn không được, lâu lâu có việc cũng phải ra thành thị, lúc trốn thì yên lúc ra thành thị thì phiền não bức xúc trở lại. Như vậy chừng nào hết phiền não? Thôi thì đi giữa cõi đời làm sao không dính không kẹt mới thật là Bồ-đề. Gốc của sự tu là làm sao ở trong trần mà không nhiễm như chứ không phải trốn. Hai câu trả lời của ngài nói lên rằng khi sáu căn đối cảnh liền biết là Bồ-đề.
Vị tăng này vẫn chưa hội, hỏi tiếp: Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác. Ngài đáp: Kẻ điếc nghe đàn sáo, người mù ngắm trăng lên. Ngài đã chỉ trắng rồi mà vị tăng này không chịu nhận, bảo cho ví dụ khác, chẳng khác nào kẻ điếc nghe đàn sáo, người mù ngắm trăng, vậy làm sao nghe làm sao thấy? Ngài chê và quở người hỏi.
Hỏi:
Vốn tự có hình cùng có bóng,
Có khi bóng cũng lìa hình chăng?
Đáp:
Các sông về đông chừ muôn dòng tranh chảy,
Chúng sao chầu bắc chừ ngàn xưa về tâm.
Hỏi: Vốn tự có hình cùng có bóng, có khi bóng cũng lìa hình chăng? Ý vị tăng hỏi có hình là có bóng, có khi nào bóng lìa hình chăng? Câu hỏi này nhắc chúng ta nhớ câu chuyện ngài Động Sơn Lương Giới đi qua cầu, thấy bóng mình hiện dưới nước, ngài liền ngộ. Bóng không phải là hình, mà rời hình thì không có bóng, nhưng hình tức là bóng vì có hình mới có bóng. Hình thì có tướng trạng sờ mó được, bóng không sờ mó được, nên bóng không phải là hình, do có hình mới có bóng. Theo vị tăng này thì hình chỉ cho thể chân thật, bóng chỉ cho cái hư dối. Như vậy thể chân thật chính là mình, bóng hư dối không phải là mình có rời nhau không?
Ngài đáp: Các sông về đông chừ muôn dòng tranh chảy, chúng sao chầu bắc chừ ngàn xưa về tâm. Tất cả sông, sông nào cũng chảy từ nguồn, chia ra nhiều nhánh nhiều phụ lưu, tuôn chảy ra biển, ở Việt Nam biển ở phía đông nên nói chảy về đông. Các sao trên không sao nào cũng hướng về phía bắc chầu sao bắc đẩu. Và tất cả vạn vật đều quy về tâm. Ngài nói rằng bóng là cái tạm bợ hư ảo, hình là thể chân thật, thấy dường như hai nhưng tất cả đều không rời thể chân thật. Tức là tất cả đều quy về tâm, vì tâm là nguồn gốc của tất cả. Ví dụ tôi đứng ở giữa nhà, chung quanh tôi để mười tấm gương, trong mười tấm gương hiện mười cái bóng. Vậy mười cái bóng gốc từ đâu mà ra? Có phải từ con người của tôi mà ra không? Chỉ có một mình tôi đứng mà có tới mười bóng. Điều này để nói lên muôn sự muôn vật hư ảo gốc từ tâm hiện ra.
Hỏi: – Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức?
Đáp:
Xa ném Thái Sơn qua biển bắc,
Ngước tung cây gậy đến cung trăng.
Hỏi: Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức? Câu này dẫn từ Chứng Đạo Ca của thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác. Ý hỏi một câu mà sáng tỏ rồi thì vượt khỏi trăm ngàn ức là thế nào? Ngài đáp: Xa ném Thái Sơn qua biển bắc, ngước tung cây gậy đến cung trăng. Nghĩa là cầm núi Thái Sơn ném xa tới tận biển phương bắc, ngước đầu lên hư không ném tung cây gậy đến tận cung trăng. Đó là một câu sáng tỏ siêu trăm ức. Thái Sơn là một ngọn núi lớn, đâu phải vật nhỏ mà tay người có thể cầm được. Thế mà người sáng tỏ một câu có thể cầm ném xa tới biển bắc, không siêu bách ức cây số là gì? Còn cung trăng và quả đất cách nhau quá xa, thế mà người sáng tỏ một câu, từ quả đất có thể ném cây gậy tới cung trăng, không siêu bách ức cây số là gì? Ý ngài nói người thấu suốt một câu của Phật tổ, thì vượt qua dễ dàng tất cả những cái tầm thường của thế gian, vì người đó được cái diệu dụng phi thường. Như Lục Tổ ngộ một câu trong kinh Kim Cang ngài siêu vượt một cách phi thường, sánh với chúng ta tu mấy chục kiếp không biết kịp ngài chưa! Ngài ngộ một câu rồi thì tất cả những nghiệp chướng, những cái tầm thường đều vượt qua hết. Tổ Lâm Tế sau khi ngộ một câu ở thiền sư Đại Ngu, từ đó về sau tâm ngài không có niệm lẫn lộn. Đó là siêu trăm ức. Chúng ta ngày nay nghe một câu có chút tỉnh, vừa tỉnh lại mê. Chẳng khác nào người đang ngủ say, có tiếng động mạnh nhướn mắt lên, tưởng chừng như đã thức, nhưng lại nhắm mắt ngáy nữa, nên không siêu nổi. Đó là cái bệnh chung của người tu bây giờ, vì vậy mà phải giảng dạy thường xuyên. Nếu chúng ta nghe một câu siêu trăm ức như Lục Tổ thì thảnh thơi biết mấy! Ngũ Tổ chỉ gọi Lục Tổ vào thất dạy một lúc là xong việc. Chúng ta ngày nay không được như thế, nên cả thầy lẫn trò đều rất cực nhọc. Đó là ý nghĩa một câu sáng tỏ siêu trăm ức.
Hỏi:
– “Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Đầu gậy gió dễ động,
Trên đường mưa thành lầy.
Hỏi: Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân, thế nào là chân? Câu này phát xuất từ kinh Pháp Hoa, ý nói các vị tu từ Nhị thừa tiến đến Nhất thừa (Phật thừa), Nhất thừa là chân, nếu còn thấy có Nhị thừa thì không phải chân, vị tăng này hỏi thế nào là chân? Ngài đáp: Đầu gậy gió dễ động, trên đường mưa thành lầy. Ngài đáp như vậy đã chỉ cái chân là thế nào chưa? Trong nhà thiền có câu “chạm mắt tức Bồ-đề” để chỉ cho cái chân thật này. Vì gió thổi động đầu gậy dễ thấy, trên đường đất mưa nhiều nên lầy lội. Nếu chúng ta tỉnh giác, nhìn tất cả mọi vật thấy cái gì cũng là chân hết. Nếu chúng ta mê mờ nhìn cái gì cũng thấy theo mê vọng. Như vậy, nếu tỉnh thì cái chân thật hiển hiện ngay trước mắt chứ không ở đâu xa cả, nếu mê khởi niệm tìm thì không thấy.
Hỏi:
Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng,
Không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn.
Ý chỉ rốt ráo thế nào?
Đáp:
Trời thu hoàng oanh hót,
Trong tuyết mẫu đơn xinh.
Hỏi: Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng, không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn. Ý chỉ rốt ráo thế nào? Người hỏi dẫn lời của một thiền sư ra hỏi. Ý nói không cầu diệu tạng của đức Phật, cũng không làm người tiếp nối đèn của chư tổ, vậy ý nghĩa cuối cùng như thế nào? Tất cả người tu nhất là người tu thiền, lúc nào cũng hướng về đức Phật, tìm cho ra chỗ tột cùng của Phật dạy để tu và tiếp nối chư tổ truyền bá. Nhưng tại sao đây lại nói không cầu Phật, không nối tổ là ý thế nào? Ngài trả lời hai câu rất nên thơ: Trời thu hoàng oanh hót, trong tuyết mẫu đơn xinh. Thông lệ thì mùa xuân chim hoàng oanh hót, mà đây nói mùa thu chim hoàng oanh hót. Hoa mẫu đơn trổ vào mùa hè, mà đây nói hoa mẫu đơn trổ trong tuyết tức là mùa đông. Ngài nói như thế hàm ý gì? Câu Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng, không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn là câu nói ngược với ý người xưa, không có ý nghĩa thật. Thế mà người sau cứ lấy làm chuẩn là sai lầm. Do đó mà ngài trả lời đảo ngược.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Một người xoay vách đứng,
Cả nhà uống chẳng vui.
Hỏi: Thế nào là câu tuyệt diệu? Ngài trả lời bằng hai câu thơ: Một người xoay vách đứng, cả nhà uống chẳng vui. Mọi người trong nhà bày tiệc đang xúm xít quanh bàn ăn uống cho vui, nhưng có người đứng xoay mặt vô vách không dự, nên mọi người dự tiệc không vui. Câu tuyệt diệu là cái ngược với vòng quanh quẩn trầm luân của kiếp người, có khả năng giải thoát mọi phiền trược. Nếu còn ở trong quanh quẩn trầm luân thì chưa tuyệt diệu. Câu tuyệt diệu là câu làm cho mọi người chấn động, vì ngược lại với tất cả những cái tầm thường. Giống như bao nhiêu người ngồi trong tiệc, chỉ một người đứng xoay mặt vô vách làm hành động ngược lại, khiến cho mọi người dự tiệc lòng nao núng không vui. Như vậy câu nào là câu tuyệt diệu? Câu nào mà thiên hạ nghe liền xoay lưng với trần cảnh, trở về với tánh giác, tức là “bối trần hiệp giác”, đó là câu tuyệt diệu.
Hỏi:
Cổ kim việc lớn thôi không hỏi,
Chỉ chuyện Tây lai ý thế nào?
Đáp:
Người nói khéo mặt lành,
Kẻ dùi rùa đập ngói.
Hỏi: Cổ kim việc lớn thôi không hỏi, chỉ chuyện Tây lai ý thế nào? Người hỏi nói, chuyện to lớn từ xưa đến nay không hỏi, chỉ hỏi tổ sư Đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa ý thế nào? Ngài đáp: Người nói khéo mặt lành, kẻ dùi rùa đập ngói. Người nói khéo mặt lành là người ngoài mặt giả bộ hiền lành, nhưng lòng dạ thì thâm hiểm ác độc. Kẻ dùi rùa đập ngói, là dùng mũi nhọn đâm vào những chỗ lõm trên yếm con rùa, rồi hơ trên lửa những chỗ lõm đó nứt ra, hoặc đập hai miếng ngói vào nhau, xem vết nứt đoán lành dữ… Tức chỉ phường thầy bói, những người nói dựa vào tâm trạng đối phương mà phán để lấy tiền. Ngài nói thế là sao? Trong nhà thiền, các thiền sư thường dạy, muốn thấy được ý của Tổ sư thì khi các ngài nói bên đông phải hiểu bên tây mới đúng. Nếu nói bên đông mà hiểu bên đông thì trật. Câu nói bên đông mà ý bên tây, giống như người ngoài mặt giả bộ hiền lành mà trong lòng thâm hiểm ác độc, tâm và mặt không giống nhau. Cũng vậy, chư tổ nói bên này phải hiểu bên kia, đừng mắc kẹt ở câu nói. Muốn biết được ý Tổ sư hay vào cửa Tổ sư phải như thế. Ngoài ra đều vô nghĩa như phường thầy bói nói mò thôi. Đó là ngài trả lời câu hỏi ý Tổ sư từ Ấn Độ sang.
Hỏi: – “Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Hoa núi mưa sa, Thần nữ khóc, Tre sân gió thổi, Bá Nha đàn.
Hỏi: “Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân? Tâm là nội tâm, pháp là ngoại cảnh, nội tâm và ngoại cảnh cả hai đều không dính mắc thì lúc đó là chân. Hỏi thế nào là chân, ngài đáp: Hoa núi mưa sa Thần nữ khóc, tre sân gió thổi Bá Nha đàn. Hoa ở trên núi khi trời mưa, hạt nước đọng lại trong lòng hoa, giống như hạt nước mắt của Thần nữ. Những bụi tre ở trước sân gió thổi cọ với nhau, nghe kẽo kẹt giống như tiếng đàn của Bá Nha. Ngài trả lời nghe rất là nên thơ, nhưng chúng ta không biết ngài nói gì. Vậy ngài đã trả lời thế nào là chân chưa? Hoa trên núi, mưa rơi hạt nước đọng trong lòng hoa đó là sự thật, thế mà người ta tưởng tượng là Thần nữ khóc. Tre ở trước sân gió thổi cọ vào nhau đó là sự thật, thế mà người ta tưởng tượng là tiếng đàn của Bá Nha. Muôn sự muôn vật lúc nào cũng hiện cái chân thật của nó, thế mà do tưởng tượng của con người nên mất hết chân thật. Vậy nếu không tưởng tượng, thấy cái nào đúng như cái nấy là chân. Nếu khởi tưởng thì mất chân.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Trong cổ vẫn còn nghẹn,
Thường ở chỗ bất an.
Hỏi: Thế nào là câu tuyệt diệu? Ở trước có vị đã hỏi câu này, bây giờ có người hỏi lại. Ngài trả lời: Trong cổ vẫn còn nghẹn, thường ở chỗ bất an. Người ăn bị mắc nghẹn hay mắc xương thì khó chịu không vui dù ở chỗ vui nhộn. Câu tuyệt diệu là câu mà một việc chưa giải quyết được thì tất cả việc khác đều không ổn, nếu giải quyết được một việc thì mọi việc đều ổn. Ở trước ngài trả lời câu này bằng câu chuyện cả nhà bày tiệc ăn uống, một người đứng xoay mặt vào vách nên mọi người không vui. Ở đây ngài nói đang bị nghẹn trong cổ, đứng trước mọi cảnh, thấy cảnh nào cũng buồn không vui. Như vậy, câu tuyệt diệu là câu khi chúng ta chưa giải quyết được “việc lớn” thì nơi nào cũng mù tối cũng đau khổ, nếu giải quyết được “việc lớn” thì chỗ nào cũng thảnh thơi an lạc.
Hỏi:
Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh,
Xuất đầu sao được thoát lồng trần?
Đáp:
Núi cao lại lớn dung chứa bụi,
Bể cả càng sâu nhận các dòng.
Hỏi: Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh, xuất đầu sao được thoát lồng trần? Người hỏi dẫn kinh Viên Giác: Người tu còn thấy có tu có chứng thì mắc phải bốn bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt. Như vậy thì xuất đầu làm sao thoát được lồng trần? Xuất đầu là chui ra cho người ta thấy. Dụ như cây dùi bén để trong cái đãy kín không ai thấy, bấy giờ mũi dùi chui ra khỏi đây ai cũng thấy. Ý hỏi người tu khi đã tiến đạo được kết quả tốt, khi ra giáo hóa làm sao khỏi bị cái lồng trần tục bao vây? Ngài đáp: Núi cao lại lớn dung chứa bụi, bể cả càng sâu nhận các dòng. Nghĩa là núi càng ngày càng lớn là nhờ bụi đất phủ lấp thêm nên mới lớn. Biển cả càng sâu là nhờ nước từ nhiều dòng sông đổ ra, nên biển mới đầy và sâu. Nếu không có bụi đất phủ lấp thì núi không lớn, nếu không có nước sông đổ ra thì biển không sâu. Vị tăng này sợ khi ra làm Phật sự bị mắc kẹt trong sự bao phủ của trần tục. Ngài nói trần tục là cái làm lớn thêm từ bi trí tuệ. Ngài khuyên đem ánh sáng trí tuệ hòa lẫn trong bụi bặm để làm lợi ích cho chúng sanh. Bụi bặm tuy nhơ nhớp lẫn trong ánh sáng, nhưng không làm cho ánh sáng nhiễm nhơ thì có hại gì. Giống như núi đã cao, có bụi đất phủ lấp thì núi càng thêm lớn. Biển đã rộng sâu nếu nước nhiều dòng sông chảy ra, thì biển càng thêm rộng thêm sâu đâu có hại gì. Có hại hay không là do mình. Nếu còn kẹt ở hình tướng thì mới nhiễm ô, mới giới hạn, không kẹt trên hình tướng thì có gì nhiễm ô giới hạn. Ngài khuyến khích ra làm Phật sự không nên trốn tránh, đó là cái duyên để tăng thêm công đức.
Hỏi: – “Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này?
Đáp:
Đường hẹp trúc um tùm,
Gió thổi thành khúc nhạc.
Hỏi: “Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này? Chủ yếu của người hỏi là hỏi việc này, tức chỗ chỉ có Phật với Phật mới biết. Chỗ Phật với Phật biết, chúng ta là phàm có thể hiểu và thiền sư có chỉ được không? Thật là vượt khỏi chuyện bình thường. Ở đây ngài trả lời rất đơn giản: Đường hẹp trúc um tùm, gió thổi thành khúc nhạc. Chỗ Phật với Phật biết là tất cả những cái mà phàm phu chúng ta biết. Đó là đường đi chật hẹp trúc trồng bên đường phủ lá um tùm, gió thổi thân trúc cọ vào nhau phát thành tiếng nghe như bản nhạc. Chuyện này ở nhà quê ai cũng biết, rất bình thường. Nhưng cái bình thường đó khéo thấy thì có cái phi thường trong ấy. Mọi người ai cũng tưởng chuyện Phật với Phật biết là chuyện phi thường, người thường không thể biết. Kỳ thật chính chỗ bình thường hằng ngày ai cũng gặp cũng thấy có cái phi thường, khéo nhận thì thấy, không khéo nhận thì không thấy. Cái phi thường ở ngay trong cõi trần này chứ không phải ở trên trời trên mây mà chúng ta không thể biết.
Hỏi: – Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao?
Đáp:
Cỏ bồng chim én đậu,
Biển cả náu cá kình.
Hỏi: Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao? Câu hỏi này thật lạ lùng. Bình thường cũng không dùng, thiên nhiên cũng không dùng, tác dụng cũng không dùng. Vì bình thường thì quá dung dị, thiên nhiên thì không thể tạo tác, còn tác dụng thì sanh diệt, vậy phải làm sao đây? Ngài đáp: Cỏ bồng chim én đậu, biển cả náu cá kình. Nghĩa là chim én đậu trong đám cỏ bồng rậm, cá kình ẩn dưới biển sâu. Ngài nói thế ngầm ý dạy cái gì? Câu hỏi này là câu hỏi của người tu thấy được lẽ thật, muốn ứng xử với đời cho hợp, mà không biết phải làm sao. Ngài nói chim én đậu trong đám cỏ bồng, cá kình ẩn dưới biển sâu, là ngầm ý dạy phải tùy duyên mà ứng xử cho thích hợp.
Hỏi:
Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp,
Thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi?
Đáp:
Tất cả súc sanh tê giác quý,
Ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn.
Hỏi: Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp, thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi. Người hỏi nói tôi đã nhiều kiếp mang thân tứ đại này, bây giờ chán ngán không thích mang nó nữa, nhờ Thầy dạy cho một phương tiện để tôi tu thoát khỏi luân hồi. Ngài đáp: Tất cả súc sanh tê giác quý, ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn. Tất cả súc sanh thì con tê giác quý hơn hết, vì sừng của nó dùng để làm thuốc, làm đồ dùng thử thuốc độc trong thực phẩm, da dày chống tên đạn v.v… Ăn thì nó ăn gai góc của các loại cây, ngủ thì ngủ trong bùn. Người hỏi vì chán cái thân tứ đại sanh tử này muốn thoát ra, nên xin ngài chỉ cho cách tu giải thoát. Ngài dạy muốn thoát trần phải ngay trong trần mà thoát, đừng tìm kiếm ở đâu cả. Cái quý không ở ngoài cái tầm thường nhơ nhớp này. Giống như con tê giác ăn gai góc ngủ trong bùn rất nhớp nhúa, nhưng nó có cái sừng rất quý báu. Chúng ta mang thân tứ đại tầm thường này rất đáng chán ghét, nhưng bỏ cái thân tầm thường đáng chán ghét này để tìm cái cao siêu hơn không thể được. Chúng ta phải ngay nơi thân này mà tìm, bỏ cái này cầu cái kia là bệnh.
Hỏi: – “Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao?
Đáp:
Xưa nay sam tia sắc thường khác,
So le cành lá chẳng có hoa.
Hỏi: “Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao? Vị tăng này thấy trong kinh Phật thường dạy còn thủ còn xả là còn luân hồi, nên thắc mắc: khi không còn thủ xả thì sao? Ngài đáp: Xưa nay sam tía sắc thường khác, so le cành lá chẳng có hoa. Có lẽ lúc vị tăng hỏi câu này là lúc ngài đang ngồi bên hông chùa trước mặt có đám rau sam nên mới nói: xưa nay rau sam màu tía, khác với sắc màu của những cây khác, cành lá rau sam so le nhưng không có hoa, không thủ không xả là như vậy đó. Nếu còn thủ thì còn chấp, có xả thì có bỏ đi. Có chấp có bỏ thì có khác. Khi tâm không còn kẹt ở thủ xả thì sự vật như thế nào thấy như thế ấy. Ví dụ có người đem đồng hồ đẹp tới để trên bàn, chúng ta chỉ biết đó là cái đồng hồ đẹp vậy thôi. Nếu thấy đồng hồ đẹp muốn mua một cái để trong phòng riêng của mình, đó là thủ. Còn nếu không muốn mua sắm mà khởi nghĩ “đồng hồ này đẹp, cám dỗ người ta, đừng thèm nhìn”, đó là xả. Muốn mua là thủ, không nhìn là xả, cả hai đều không được. Đồng hồ đẹp là đồng hồ đẹp, cứ nhìn rồi thôi, nó như thế nào thấy như thế ấy thì không có lỗi. Thấy đồng hồ đẹp khởi lòng tham là có lỗi, nhưng thấy nó đẹp không dám nhìn cũng có lỗi, vì không bình thường. Nó như thế nào thấy như thế ấy là hợp đạo, khởi niệm thủ xả là chưa làm chủ được mình, chưa tự do tự tại.
Hỏi: – “Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào?
Đáp:
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,
Đầu non mang nguyệt vượt tường sang.
Hỏi:
– “Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý?
Đáp:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu sang lá tự vàng.
Hỏi: “Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào? Vị tăng này lấy câu “ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt” đem ra hỏi. Nghĩa là không còn ngôn ngữ không còn tâm suy nghĩ mới là chỗ cứu cánh là ý thế nào? Ngài đáp: Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến, đầu non mang nguyệt vượt tường sang. Hai câu thơ hay làm sao! Gió thổi đưa tiếng còi luồn qua bụi trúc đến tai người nghe. Trên đỉnh núi bóng mặt trăng vượt bức tường đến mắt người thấy. Gió thổi không có ý, tiếng còi không có ý, nó luồn qua bụi trúc đến tai người nghe cũng không có ý. Như vậy gió, còi không tâm ý không ngôn ngữ, mà vẫn chuyển động tới tai người nghe. Và đỉnh núi, mặt trăng không tâm ý, không ngôn ngữ, mà vẫn vượt tường tới mắt người thấy. Hai hình ảnh này nói lên chỗ tâm ý ngôn ngữ dứt bặt, mà vạn vật vẫn chuyển động bình thường. Nó không ý không lời giống như gió thổi đưa tiếng còi luồn qua bụi trúc đến tai người nghe, giống như đỉnh núi đưa bóng trăng đến mắt người thấy. Chỗ bặt dứt tâm ý bặt dứt ngôn ngữ, mà đem ra hỏi phải trả lời sao đây?
Hỏi: “Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý? Vị tăng này dẫn kinh hỏi, Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi người, ai ngộ được bản ý Phật, người đó là kẻ xuất trần, vậy thế nào là bản ý Phật? Ngài đáp: Xuân dệt hoa như gấm, thu sang lá tợ vàng. Mùa xuân nhiều loại hoa trổ bông, thấy như tấm thảm gấm có nhiều màu sắc. Xuân này ở đâu chứ miền Nam mùa xuân quá nắng hoa không trổ bông. Mùa thu thì lá cây tự vàng úa rơi rụng, thu này cũng ở đâu chứ không ở miền Nam. Vậy bản ý của chư Phật là gì? Là mùa xuân hoa nở, mùa thu lá vàng, chứ không có gì lạ. Qua hai câu thơ chúng ta thấy bản ý của chư Phật là cái hiện tiền. Nghĩa là mùa xuân thì hoa nở, mùa thu thì lá cây vàng. Thấy các pháp như vậy là bản ý của chư Phật. Thấy các pháp khác đi thì không đúng bản ý của chư Phật. Các pháp thế nào thấy như thế ấy, mới là bản ý của chư Phật. Ý câu này có trùng với ý câu trước.
Hỏi: – Thế nào là một đường thẳng đứt?
Đáp:
Đông tây xe ngựa chạy,
Sớm tối bụi mù bay.
Hỏi: Thế nào là một đường thẳng đứt? Ngài trả lời: Đông tây xe ngựa chạy, sớm tối bụi mù bay. Con đường phía đông con đường phía tây xe ngựa chạy qua chạy lại, nên sớm chiều bụi bay mù mịt. Quý vị có thấy ngài chỉ con đường thẳng đứt chưa? Giống như ở trước, mùa xuân hoa nở, mùa thu lá vàng. Con đường thẳng đứt là con đường thực tế của thế gian, nó thế nào thấy như thế ấy. Ai nhìn các pháp đúng như thật thì thấy con đường thẳng đứt, nếu còn quán cách này hay cách khác thì chưa thấy. Như vậy con đường thẳng đứt là con đường cao tuyệt, mà cũng là con đường thực tế giản dị của thế gian. Đối với muôn sự muôn vật trên thế gian này, thấy đúng như thật bản chất của nó là thấy đường thẳng đứt. Đi trên đường xe chạy bụi bay không sợ bụi dơ, không sợ xe chạy nhanh thì thấy con đường thẳng đứt chứ gì? Sở dĩ không thấy đường thẳng đứt là vì chúng ta thấy mà còn khởi niệm này khởi niệm nọ, nên cứ quanh co hoài. Muốn biết con đường thẳng đứt thì nhìn sự vật như thế nào thấy như thế ấy, đó là thấy đường thẳng đứt.
Hỏi:
Có pháp, có tâm mở vọng thức,
Làm sao tâm pháp thảy tiêu vong?
Đáp:
Vượt được tùng cao che rợp rợp,
Đâu lo sương tuyết rớt bời bời.
Hỏi: Có pháp có tâm mở vọng thức, làm sao tâm pháp thảy tiêu vong? Vị tăng hỏi câu này cốt để tu. Vì nếu còn thấy có tâm thật có pháp thật thì sanh ra vọng thức phân biệt. Bây giờ làm sao cho tâm pháp dứt hết? Ngài đáp: Vượt được tùng cao che rợp rợp, đâu lo sương tuyết rớt bời bời. Cây tùng là loại cây chịu đựng, đứng giữa trời mặc cho sương tuyết rơi phủ. Người núp dưới rặng tùng là đang bị sương tuyết phủ, nếu ra khỏi rặng tùng thì không còn sợ sương tuyết phủ nữa. Hình ảnh này chỉ cho người còn thấy có pháp làm cho tâm mình rối rắm cần phải tránh duyên. Ngài nói nếu tâm không dính với pháp thì đâu có gì làm rối mà sợ phải tránh. Cây tùng dụ cho tâm, sương tuyết dụ cho pháp. Nếu vượt khỏi không còn dính mắc với tâm pháp thì không còn lo sợ bận rộn rối rắm. Giống như người ra khỏi rặng tùng thì không còn bị sương tuyết phủ nữa.
Hỏi: – Ý Tổ cùng ý Kinh thế nào?
Đáp:
Hứng lên xách gậy chơi đường núi,
Nhọc tức sổ rèm nằm chõng tre.
Hỏi: Ý Tổ cùng ý Kinh thế nào? Thường thường thiền tăng hay hỏi ý Kinh và ý Thiền có khác nhau không? Ở đây hỏi ý Tổ cùng ý Kinh thế nào? Ngài trả lời: Hứng lên xách gậy chơi đường núi, nhọc tức sổ rèm nằm chõng tre. Người hứng và người nhọc chỉ là một người. Song, người ấy có khi chống gậy đi đường núi, lúc thì sổ rèm nằm chõng tre. Tuy có đi có nằm nhưng không phải hai người. Cũng vậy, nói là Kinh nói là Tổ, nhưng ý không hai.
Hỏi:
– Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì?
Βάρ:
Đói đến cần tìm ăn,
Lạnh về phải mặc áo.
Hỏi: Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì? Ngài đáp: Đói đến cần tìm ăn, lạnh về phải mặc áo. Chư tổ truyền nhau là truyền cái này đây, thật đơn giản. Quý vị thấy cái mà chư tổ truyền chưa? Chư tổ truyền nhau cái mà mọi người có sẵn, đó là đói biết đi ăn, lạnh biết lấy áo mặc. Nghe bụng đói thì đi ăn, người cho gì ăn nấy không tìm cầu đòi hỏi món ngon vật quý. Lạnh thì lấy áo mặc không chọn lụa là gấm vóc. Hằng ngày sống cũng ăn cũng mặc như mọi người, nhưng không khởi vọng tưởng. Đó là chỗ tổ tổ truyền nhau. Chúng ta ngày nay dám nói là đồ đệ của chư tổ, thế mà đói không biết ăn, lạnh không biết mặc. Tới bữa ăn hỏi tri khố nay ăn cái gì? Nếu tri khố nói món ăn vừa khẩu vị thì vui, nói món ăn không vừa khẩu vị thì buồn, mặc thì lựa vải tốt may vừa ý. Đó là tìm cầu món ăn ngon cái mặc đẹp. Đâu chịu đói cần ăn thì ăn, lạnh cần mặc thì mặc. Lúc ăn lúc mặc để vọng tưởng dấy khởi lung tung, không giống chư tổ, nên không được tổ truyền là tại chỗ đó. Quý vị nắm vững chỗ này thì tu dễ lắm.
Hỏi:
Người đời đều thuê nhà,
Nhà dột ở chỗ nào?
Đáp:
Quạ vàng cùng thỏ bạc,
Đầy vơi chớ bận lòng.
Hỏi: Người đời đều thuê nhà, nhà dột ở chỗ nào? Vị tăng này dẫn ý kinh hỏi: Ai ai sanh ra cũng mang thân tứ đại này, giống như nhà mướn mình ở trọ, mai kia thân tứ đại này hoại diệt (nhà dột) sẽ đi đâu, ở đâu? Ngài đáp: Quạ vàng cùng thỏ bạc, đầy vơi chớ bận lòng. Quạ vàng là mặt trời, thỏ bạc là mặt trăng. Mặt trời và mặt trăng có khi tròn có khi khuyết, tròn gọi là đầy, khuyết gọi là vơi. Ngài khuyên chúng ta chỉ cần biết có mặt trời và biết có mặt trăng, còn chuyện tròn khuyết chớ bận lòng. Nghĩa là chúng ta chỉ cần biết có ông chủ nơi thân tứ đại này thôi, còn chuyện nhà mới nhà dột, hay thân khỏe thân hoại là chuyện thường, giống như trò đùa vậy. Mặt trời mặt trăng tự nó không có tròn khuyết. Sở dĩ có tròn khuyết là do mắt nhìn thấy lúc nó quay, che khuất lẫn nhau, rồi chấp tròn khuyết. Cũng vậy, thể chân thật ở mỗi người vốn không sanh không diệt, sở dĩ có sanh diệt là do mắt thấy tướng tứ đại hư dối tụ tán, rồi chấp nên có sanh có tử. Như vậy có gì mà hỏi tướng hư dối tan rã, thể chân thật ở đâu?
Hỏi: – Thế nào là một con đường Tào Khê?
Đáp:
Đáng thương kẻ khắc thuyền,
Đến chốn ý lăng xăng.
Hỏi: Thế nào là một con đường Tào Khê? Vị tăng hỏi con đường Tào Khê thế nào, nghĩa là con đường Lục Tổ dạy mỗi người đi là đường nào? Tức là chủ yếu mà mọi người phải đạt được như Lục Tổ, phải thực hiện như thế nào? Ngài đáp: Đáng thương kẻ khắc thuyền, đến chốn ý lăng xăng. Câu đáp này ngài dẫn điển tích: Xưa có một người nước Sở sang sông, anh ngồi trên thuyền bất cẩn đánh rơi cây kiếm xuống nước. Anh bèn khắc trên be thuyền ngay chỗ kiếm rơi để làm dấu. Chờ thuyền cập bến, anh lại be thuyền có khắc dấu, nhảy xuống nước để mò cây kiếm. Việc làm này là việc làm của người khôn hay người khờ? Thật đáng thương!
Con đường Tào Khê là đường nào quý vị có biết không? Con đường mà từ trước ngài đã nói tôi đã giảng. Nếu ai thấy các pháp trước mắt mình đúng như thật, người đó là người đi trên đường Tào Khê, rất đơn giản. Không cần phải đi Trung Quốc lên Thiều Châu, tới suối Tào Khê mới gọi là đi đường Tào Khê. Trong cõi đời này, ở đâu cũng có đường Tào Khê. Nghĩa là thấy các pháp đúng như thật, đó là đi đường Tào Khê. Vì thế mà Lục Tổ nói “bất ly thế gian giác”. Ngài nói ngay nơi thế gian mà thấy các pháp đúng như thật là giác ngộ. Song chúng ta không chịu thấy như vậy, cứ thấy như thế này như thế kia rồi hỏi đường Tào Khê. Chẳng khác chú khờ đi thuyền làm rơi kiếm, khắc dấu trên be thuyền chờ thuyền tới bến, đứng ngay dấu khắc nhảy xuống nước mò. Thật đáng thương cho người khờ khạo nghĩ tưởng lăng xăng vô ích. Ngài quở người không biết đường Tào Khê là đường “thấy các pháp trước mắt đúng như thật”, mà cứ nghĩ tưởng lăng xăng rồi thưa hỏi. Vậy quý vị có mặt ở đây có đi đường Tào Khê chưa? Sao không gan nói thẳng? Muốn đi đường Tào Khê mà cũng hơi muốn làm anh khắc thuyền tìm kiếm. Nhớ nghe, bắt chước anh khắc thuyền tìm kiếm là kẻ khờ đó. Người sáng không làm như thế, đi thẳng tắt đường Tào Khê chứ không đi quanh co.
Tham Đồ Hiển Quyết không phải là một bài luận, mà là tập hợp nhiều câu hỏi của môn đồ và tập hợp nhiều câu đáp của thiền sư Viên Chiếu, chung kết lại thành một bài để tựa là Tham Đồ Hiển Quyết. Câu hỏi và câu đáp này rời rạc với câu hỏi và câu đáp kia, không liên hệ trước sau. Do đó chúng tôi không thể toát yếu toàn bài, mà chỉ có thể nói thiền sư Viên Chiếu quả là một thiền sư xuất cách, chẳng những thông đạo lý lại còn giỏi văn chương. Hỏi đạo lý ngài đáp bằng thơ kệ vừa thấu lý thiền vừa thi vị nên thơ. Ngài làm thơ không cần phải suy nghĩ, hỏi đâu đáp đó, mỗi câu đáp là một bài thơ, thật là kỳ đặc. Cái kỳ đặc này có ở các thiền sư Việt Nam. Chúng ta học ngài vừa thấu được lý đạo vừa thấy tài văn chương qua những câu đối đáp xuất kỳ bất ý, mở miệng là thành thơ. Chúng ta ngày nay muốn làm một bài thơ phải tốn nhiều thời gian mới làm được. Song, chưa chắc đã làm hay, rõ nghĩa sáng ý. Còn ngài thì hỏi đâu đáp đó thành từng bài thơ rất đặc sắc, không cần thời gian tìm ý tứ, trau chuốt câu văn. Những bậc tiền bối của chúng ta ngày xưa rất lỗi lạc, đối đáp vừa văn chương vừa đầy đủ ý nghĩa đạo lý. Thật tuyệt vời! So sánh thì chúng ta ngày nay quá ám độn, nếu bị hỏi chúng ta phải suy nghĩ đau cái đầu, mới trả lời được. Có khi trả lời không suôn không chỉnh nữa là khác. Thế nên chúng ta phải học cái hay của người xưa để cố thực hành theo, bằng không chúng ta cứ tự mãn, tự cao thấy mình hay mà kỳ thật chẳng có gì hay cả.
Giảng:
Một hôm ngồi trước tăng đường, có vị tăng hỏi:
– Phật và Thánh khác nhau thế nào?
Sư đáp:
Trùng dương cúc nở dưới rào,
Trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng.
Tăng thưa:
– Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại
nêu bày ra.
Sư đáp:
Ngày thì vầng nhật chiếu,
Đêm đến ánh trăng soi.
Tăng lại hỏi:
– Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào?
Sư đáp:
Bưng thau nước đầy không chú ý
Một lúc sảy chân hối ích gì?
Tăng thưa: – Đa tạ!
Sư bảo:
Chớ rửa sông to sóng,
Chính mình đến chết chìm.
Vị tăng hỏi: Phật và Thánh khác nhau thế nào? Vị tăng này thắc mắc, muốn biết chỗ khác nhau giữa Phật và Thánh. Kinh A-hàm gọi Phật là thánh, chữ thánh còn chỉ cho các thầy Tỳ-kheo tu chứng quả A-la-hán. Trong bốn quả Thanh văn, từ sơ quả Tu-đà-hoàn, quả Tư-đà-hàm đến A-na-hàm gọi là hiền, quả A-la-hán gọi là thánh. Quả vị Bồ-tát thì Thập tín, Thập trụ… thuộc về hiền, từ Sơ địa đến Thập địa thuộc về thánh. Đó là nói trong đạo Phật. Ở đây có thể vị tăng này dùng chữ thánh để chỉ cho Khổng Tử, Mạnh Tử của đạo Nho. Hỏi Phật và các vị thánh này khác nhau như thế nào, ngài đáp: Trùng dương cúc nở dưới rào, trên cành oanh hót thanh tao dịu dàng. Nghĩa là ở trong rào của miếng vườn trồng hoa cúc, đến tiết mùng chín tháng chín (trùng dương) thì hoa cúc nở, trên đầu cành cây vào mùa xuân ấm chim oanh hót. Qua câu trả lời của ngài, quý vị có hiểu không? Câu trả lời thật lạ lùng, nhưng nên thơ. Mùa xuân chim oanh hót, mùa thu (chín tháng chín) hoa cúc nở là ý gì? Chim oanh, hoa cúc là hai loại tùy thuộc vào thời tiết. Thời tiết đến thì chim oanh hót hoa cúc nở. Chim oanh và hoa cúc là hai, nhưng thời tiết thì không hai, hết xuân tới hạ, hết hạ tới thu, hết thu tới đông. Thời tiết đổi thay có bốn mùa, bốn mùa tuy khác, nhưng thời tiết vẫn là thời tiết. Ý nói Phật và thánh là hai tên khác, nhưng thể cứu cánh thì không hai.
Qua hai câu thơ ngài đáp, vị tăng chưa hội nên nói: Cảm tạ Thầy chỉ dạy, học nhân chẳng hội, xin lại nêu bày ra. Ngài dạy tiếp: Ngày thì vầng nhật chiếu, đêm đến ánh trăng soi. Hai câu thơ này tả cảnh ngày đêm khác nhau rất linh động, nhưng ý không khác hai câu thơ trước. Ngày thì có mặt trời chiếu, đêm thì có ánh trăng soi. Dù ngày hay đêm, dù mặt trời hay mặt trăng, ánh sáng lúc nào cũng chiếu soi khắp vạn vật. Nghĩa là mặt trăng mặt trời tuy hai, nhưng ánh sáng chiếu soi không khác. Vì ánh sáng không hai cho nên nói ngày thì vầng nhật chiếu, đêm đến ánh trăng soi. Hai câu này lập lại ý trên qua một hình ảnh khác.
Tăng lại hỏi: Đã được chân chỉ của Thầy, còn huyền cơ thì dạy thế nào? Vị tăng nói chân chỉ ngài dạy vị ấy đã nhận được rồi, nhưng huyền cơ thì chưa nhận được mới hỏi ngài là thế nào. Huyền cơ là cơ nhiệm mầu, chúng ta có thể hiểu chân chỉ là thể, huyền cơ là dụng. Và cũng có thể hiểu theo lối quen thuộc là khi được bậc thầy chỉ dạy, nhận ra Phật tánh rồi làm sao gìn giữ? Tức là làm sao giữ được cơ mầu nhiệm.
Ngài trả lời: Bưng thau nước đầy không chú ý, một lúc sảy chân hối ích gì? Nghe câu này chúng ta thấy như nói trên trời trên mây, không dính dáng gì tới câu hỏi hết, nhưng nếu thông thì thấy ngài dạy quá hay. Các vị làm bếp bưng nước rửa rau thì hiểu. Nếu bưng thau nước đầy là phải chú ý giữ thau nước, nếu không cẩn thận trượt chân sảy tay đổ hết. Ý câu này rất phù hợp với lời Phật dạy trong kinh A-hàm qua ví dụ: Có anh tử tội được vua tha, nhưng vua bắt phải bưng đĩa dầu đầy đi từ đầu đường đến cuối đường, không để rơi một giọt dầu thì mới khỏi tội chết. Nếu bất cẩn để dầu đổ thì tên đao phủ đi sau chém đầu. Được lệnh này anh tử tội chăm chú bưng đĩa dầu đi, ngang qua nhiều chỗ ăn chơi hấp dẫn như gái đẹp, quán rượu, quán nhạc… Anh chăm chăm bưng đĩa dầu đi không dám nhìn qua ngó lại, đi đến cuối đường, dầu không đổ, anh thoát chết. Cũng vậy sau khi nhận được chân chỉ thầy dạy rồi là phải khéo bảo nhậm, đừng tưởng mình ngộ rồi là xong, mà vẫn phải cẩn trọng gìn giữ. Thiền sư Trần Tôn Túc cũng đã dạy “việc lớn chưa sáng như đưa ma mẹ, việc lớn đã sáng như đưa ma mẹ” là nhằm ý này.
Đức Phật dùng hình ảnh bưng đĩa dầu, thiền sư Trần Tôn Túc dùng hình ảnh đưa ma mẹ, ngài thì dùng hình ảnh bưng thau nước. Ở đây nhiều thiền khách hỏi, ngài trả lời bằng những câu thơ rất thi vị. Ngày nay nếu có người nêu câu hỏi, chúng ta hiểu ý để trả lời cho đúng đã khó rồi, đâu được như ngài mở miệng là thành thơ lại nghĩa lý rất chính xác. Ngài trả lời quá kỳ đặc, vừa hợp với lý kinh, vừa đúng với tinh thần thiền, vừa thi vị, không sai sót chút nào.
Tăng thưa: Đa tạ! Vị tăng thấy ngài trả lời như vậy là đủ rồi, nên nói đa tạ, cảm ơn thầy. Ngài bảo: Chớ rửa sông to sóng, chính mình đến chết chìm. Nếu sông có sóng to chớ lội xuống tắm rửa hay giặt giũ, sẽ bị sóng cuốn là chết chìm. Ý ngài dạy, tuy đã thấy được chân chỉ, biết cách gìn giữ, song chớ có xông pha, nếu xông pha e có ngày không cứu được. Đa số các thầy trẻ bây giờ có chút hiểu biết, thường có bệnh muốn thử xem mình đã là thánh chưa, nên mới thõng tay vào chợ, nhưng đạo lực chưa vững, tập khí chưa sạch. Thử như thế e có ngày bị dòng đời cuốn trôi hỏng cả đời tu. Vì vậy ngài căn dặn phải dè dặt, nếu dưới sông có sóng to, đừng xuống rửa chân hay giặt giũ, sẽ bị nước cuốn trôi, cứu không được. Ngài khéo vô cùng, dạy hết sức cặn kẽ, chỉ cái thể, dạy cho cách bảo trì, nhắc phải thận trọng chớ có tự cao tự đại, e nguy hiểm tới tuệ mạng.
Tăng hỏi:
– Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ?
Sư đáp:
Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt,
Đất hiểm, phân ranh có núi sông.
Tăng hỏi: Thiếu Thất, Ma-kiệt rất huyền diệu, từ xưa đến nay ai kế thừa làm chủ? Thiếu Thất là ngọn núi phía tây dãy Tung Sơn ở Trung Quốc. Vua Hiếu Minh Đế nhà Hậu Ngụy xây chùa Thiếu Lâm tại núi này cho thiền sư Phật-đà. Sau tổ Bồ-đề-đạt-ma đến đây ngồi xây mặt vào vách chín năm, ngài Thần Quang đến tham học thiền, được Tổ truyền y bát và đổi tên là Huệ Khả. Ma-kiệt nói đủ là Ma-kiệt-đà, tên một nước lớn ở Ấn Độ thời cổ, nơi đức Phật tu thành đạo và giảng đạo giáo hóa. Có lần đức Phật cũng nhập thất ở nước Ma-kiệt-đà. Thế nên vị tăng nói Thiếu Thất Ma-kiệt rất huyền diệu, hỏi từ xưa đến nay ai là người kế thừa làm chủ tinh thần Thiếu Thất, Ma-kiệt? Ngài trả lời: Trời tối, sáng soi nhờ nhật nguyệt, đất hiểm, phân ranh có núi sông. Mới nghe chúng ta thấy câu trả lời không dính dáng gì với câu hỏi cả. Vị tăng muốn biết bí quyết của Phật và của tổ Bồ-đề-đạt-ma, ngày nay ai kế thừa nên mới hỏi, ngài trả lời như vậy thì ai là người kế thừa? Khó hiểu quá! Song nếu thấu lý thì thấy ngài trả lời rõ ràng lắm. Trời tối mà muốn được sáng thì phải nhờ mặt trời mặt trăng tỏa ánh sáng, chỗ tối mới được sáng. Đất hiểm là vùng núi rừng được chia ranh từng phần bởi núi sông, vùng này có đặc tính này vùng kia có đặc tính kia. Ý nói ai ngộ đạo thì người đó kế thừa, cũng như trời tối có mặt trăng mặt trời soi mới sáng được. Mặt trăng mặt trời chỉ cho người giác ngộ, người nào giác ngộ là người đó kế thừa. Tùy duyên người truyền bá nơi này, người truyền bá nơi kia, chẳng hạn ngài Thần Tú truyền bá thiền theo lối tiệm tu ở phương bắc và Lục Tổ thì truyền bá thiền đốn ngộ ở phương nam Trung Hoa. Tức là chia ranh người truyền phương này, người truyền phương kia là tùy duyên, cốt yếu là phải giác ngộ. Có giác ngộ thì sự truyền bá kế thừa mới đúng tông phong.
Tăng hỏi:
Thế nào là đại đạo,
Cội nguồn một lối đi?
Sư đáp:
Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng,
Nước nhà lận đận thấy tôi trung.
Tăng hỏi: Thế nào là đại đạo, cội nguồn một lối đi? Đại đạo là con đường lớn, là lối đi, là cội nguồn của tất cả người tu. Vị tăng thắc mắc hỏi đại đạo mà tất cả người tu phải đi là con đường nào, làm sao đi? Ngài trả lời: Gió mạnh bờ cao biết cỏ cứng, nước nhà lận đận thấy tôi trung. Ngài trả lời như vậy có chỉ đường đi chưa? Đường đi ở chỗ nào? Đọc tới chỗ này, tôi giật mình vì lối dạy của ngài quá hay! Cơn gió mạnh nếu cỏ yếu mọc ở bờ cao thì nó rạp xuống không đứng được. Nếu cây nào không rạp xuống thì biết là cây cứng. Cũng như nước nhà gặp lúc binh biến hiểm nguy, người yếu đuối khiếp nhược thì lo chạy trốn hoặc hàng giặc, người chí sĩ gan dạ thì ra cứu nước, người đó mới là người trung nghĩa. Cũng vậy người tu muốn biết được con đường tiến tới chỗ cứu cánh, thì phải xông pha vượt qua khó khăn nguy hiểm và vững vàng không xiêu không ngã. Ngài nói người lôi thôi yếu đuối không thể đi suốt đại đạo. Vậy muốn tiến trên đại đạo, chúng ta phải là cỏ cứng trên bờ cao gió thổi không ngã rạp, là người trung cứu nước lúc nước nhà binh biến lâm nguy.
Ở đây được mấy người là cỏ cứng là người trung? Kiểm điểm lại, số người này rất ít. Là người tu, chúng ta phải là người không chao đảo trước mọi nghịch cảnh, mới là người đi trên đại đạo. Đa số người tu thời nay cầu an nhiều hơn là dấn thân vào khó khăn, nên khó đi trên đại đạo. Người đối với những trở ngại bên ngoài, tâm thản nhiên không lay động, nhiều việc khốn đốn xảy ra dồn dập, tâm bình tĩnh không bấn loạn, người như thế mới là người tìm được cội nguồn tiến trên đại đạo. Vậy người tu thì không sợ khó, nếu sợ khó không phải là người đi trên đại đạo.
Hỏi:
Tất cả chúng sanh từ đâu tới,
Sau khi trăm tuổi sẽ về đâu?
Đáp:
Rùa mù dùi vách đá,
Tranh què trèo núi cao.
Hỏi: Tất cả chúng sanh từ đâu tới, sau khi trăm tuổi sẽ về đâu? Câu hỏi này rất nhiều người nêu lên, thắc mắc hiện tại mình có mặt ở cõi đời này là từ đâu tới và khi chết sẽ đi về đâu? Được ngài trả lời: Rùa mù dùi vách đá, trạnh què trèo núi cao. Nghe qua câu đáp này quý vị có thỏa mãn không? Thấy ngài nói chuyện đâu đâu không dính dáng gì với câu hỏi. Song nếu thấu lý thì thấy ngài trả lời rất chính xác. Chỗ này nếu người chưa chứng được ba minh làm sao biết được! Ba minh là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh. Người chưa chứng được Túc mạng minh làm gì biết được trước kia mình ở đâu! Nếu chưa chứng được Thiên nhãn minh làm gì biết được sau khi nhắm mắt rồi mình đi về đâu! Vì không biết quá khứ mình đã tạo nghiệp gì và sẽ dẫn mình đi đâu. Còn ở trong mê muội mà muốn biết việc này, giống như rùa mù muốn xoi thủng vách đá, giống như con trạnh què muốn leo lên đỉnh núi cao, việc làm này vượt khả năng không thể thực hiện được. Cũng vậy, người tu chưa sáng đạo không thể nào biết được mình từ đâu đến và chết rồi sẽ đi về đâu. Mình không biết việc của mình làm sao nói được việc của người! Phải khéo tu cho sáng đạo thì tự thấy rõ ràng, chưa sáng đạo đem ra hỏi chỉ vô ích thôi.
Hỏi:
– “Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như”, thế nào là “dụng” của chân như
Đáp:
Tặng anh đi ngàn dặm,
Cười trao một ấm trà.
Hỏi: Trúc biếc xanh xanh trọn là chân như, thế nào là “dụng” của chân như? Pháp thân hay chân như là thể, vị tăng này muốn hỏi chân như dụng. Ngài trả lời: Tặng anh đi ngàn dặm, cười trao một ấm trà. Tức là anh đi đường xa ngàn dặm, tôi đem ấm trà tặng anh với nụ cười. Đó là dụng của chân như. Để hiểu rõ ý này tôi kể một câu chuyện cho quý vị nghe.
Ngài Nam Tuyền, Quy Tông và Bảo Triệt đến yết kiến thiền sư Cảnh Sơn, đi đường gặp một bà già, ngài Bảo Triệt hỏi:
– Cảnh Sơn đi đường nào?
Bà già đáp:
– Đi thẳng.
– Đầu trước nước sâu qua được chăng?
– Chẳng ướt gót chân.
– Bờ trên lúa trúng gai tốt, bờ dưới lúa trúng gai gầy?
– Thảy bị cua ăn hết.
– Nếp thơm ngon.
– Hết mùi hơi.
– Bà ở chỗ nào?
– Chỉ ở trong ấy.
Ba người đồng vào quán ngồi. Bà già nấu một bình trà, bưng ba chén đến nói:
– Hòa thượng có thần thông thì uống trà.
Ba người nhìn nhau chưa nói câu nào.
Bà già liền bảo:
– Xem kẻ già này trình thần thông đây.
Nói xong, bà cầm chung nghiêng bình rót trà rồi đi.
Bà cầm chung nghiêng bình rót trà là trình thần thông. Qua câu chuyện này chúng ta mới hiểu câu trả lời của ngài. Theo vị tăng này thì chân như thể ở đâu cũng có, còn chân như dụng thì thế nào? Ngài nói anh đang đi xa ngàn dặm, tôi đem ấm trà cười trao cho anh. Cười trao cho anh ấm trà là dụng của chân như chứ gì. Thể chân như thì trùm khắp, dụng chân như là khi cười trao cho ấm trà hay khi rót trà vào chung. Mọi người chúng ta ai cũng có thể chân như và dụng chân như. Nhưng người còn sống với tâm thức cuồng loạn thì hiện ra dụng tâm thức vọng động. Khi nào sạch hết vọng tưởng, hằng sống với thể chân thật thì hiện dụng chân như. Phải nhớ rõ chỗ này. Ngài trả lời vừa khéo vừa chính xác, vậy mà vị tăng này cũng chưa bằng lòng.
Lại Thưa:
– Thế là uổng công đến mà vô ích?
Βάρ:
Ai biết được người chủ (Đông A), Trên đường lại bạc đầu.
Hỏi: Thế là uổng công đến mà vô ích? Vị tăng nghe nói diệu dụng chân như là như thế và ai cũng có, dù biết cũng chẳng được gì, chẳng có gì lạ, ai làm cũng được, nên nói thế là uổng công đến mà vô ích. Ngài đáp: Ai biết được người chủ (Đông A), trên đường lại bạc đầu. Đông A là ông chủ. Ngài nói không có vô ích, người sử dụng được diệu dụng của chân như phải là người nhận ra ông chủ. Vì mọi người ai cũng có những động tác giống nhau, người này đi người kia cũng đi, người này ăn người kia cũng ăn, người này uống trà người kia cũng uống trà, ai cũng như ai. Song người chưa biết được ông chủ thì đi vội vàng, mong cho mau tới, ăn thì thích ăn ngon không có thức ăn ngon thì buồn, uống trà thì nói chuyện bên đông bên tây nghĩ nhớ đủ điều… sinh hoạt như thế không phải là dụng chân như. Người không nhận ra ông chủ thì trên đường lại bạc đầu. Ngài đã chỉ cho diệu dụng, nếu không nhận ra bản thể thì trên đường đi tới già cũng không gặp. Muốn có diệu dụng chân như thì trước phải nhận ra bản thể (ông chủ). Nhận ra bản thể rồi thì mọi động tác đều là diệu dụng.
Hỏi:
Dã Hiên một nhà kín,
Ai biết gõ dễ dàng?
Đáp:
Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn,
Mà nay sớm tối mặc ngựa đê.
Hỏi: – Tại sao như thế?
Đáp:
Giàu sang vẫn kiêu sa,
Khiến thành lầu chợ hoại.
Hỏi: Dã Hiên một nhà kín, ai biết gõ dễ dàng. Vị tăng thắc mắc, nhà ở thôn quê vắng vẻ cửa đóng kín, ai biết gõ để vào cho dễ dàng? Câu này ngầm ý nói chỗ thanh tịnh an tĩnh của nội tâm con người, làm sao mở để vào cho dễ dàng.
Ngài trả lời: Kim Cốc tiêu điều hoa cỏ loạn, mà nay sớm tối mặc ngựa dê. Kim Cốc là biệt thự của Thạch Sùng. Thạch Sùng ở đất Hà Dương đời Tấn, làm quan tới chức Vệ uy sứ, nhà rất giàu, sống rất kiêu sa. Thạch Sùng có người thiếp tên Lục Châu rất đẹp, Tôn Tú muốn Thạch Sùng nhường nàng cho Tôn Tú, Lục Châu không chịu, nhảy xuống lầu tự tử. Tôn Tú không được Lục Châu nên căm hận, gièm pha Thạch Sùng với Triệu vương, rồi mạo chiếu chỉ của vua đem quân đến giết cả nhà Thạch Sùng. Từ đấy vườn nhà Thạch Sùng bỏ hoang, hoa cỏ mọc ngổn ngang không trật tự, sớm tối mặc ngựa dê ra vào ăn cỏ, không còn là chỗ trật tự sang cả nữa. Tôi nhắc lại ý trước để tiếp ý sau cho quý vị hiểu. Chỗ thanh tịnh yên tĩnh của nội tâm, khởi ý muốn vào là động loạn, giống như biệt thự Kim Cốc của Thạch Sùng bỏ hoang, nên ngựa dê qua lại lộn xộn trong đó. Ngài trả lời như thế mà vị tăng ấy chưa lãnh hội vẫn còn thắc mắc, hỏi tiếp:
Tại sao như thế? Ngài đáp: Giàu sang vẫn kiêu sa, khiến thành lầu chợ hoại). Lầu là lầu sò, chợ là chợ bể. Sách xưa có kể rằng: Ở ngoài biển có những con sò lớn nằm phun bọt lên giống như cái lầu, mặt trời chiếu sáng thấy lấp lánh, gọi đó là lầu sò. Chợ bể, sách xưa cũng nói rằng: Các vị a-tu-la hay hiện ngoài biển vì đô thị của họ ở ngoài biển, khi mặt trời chiếu sáng thì thấy người thấy vật đủ thứ như chợ nhóm, nhưng thoáng qua rồi mất, không lâu. Ngày nay khoa học giải thích hiện tượng này là do phóng xạ bên ngoài phản chiếu, không có thật. Vậy lầu sò chợ bể là chỉ cho cái gì phù du tạm bợ không bền. Ngài lấy ý Thạch Sùng giàu sang mà kiêu sa, khiến cho gia cảnh sự nghiệp hoang phế hư hoại, giống như lầu sò chợ bể tạm bợ, để trả lời qua hướng khác. Ngài chỉ thẳng mà vị tăng này không hội, nên buộc lòng ngài phải nói qua hướng: Sở dĩ Kim Cốc bấy giờ hoang phế điêu tàn, vì Thạch Sùng kiêu sa phách lối nên mới như vậy. Vị tăng ấy đâu có biết rằng, người muốn vào chỗ lặng lẽ thanh tịnh của nội tâm thì phải dứt niệm, buông xả tất cả. Còn khởi niệm muốn gõ cửa để vào cho dễ dàng, là có vọng tưởng lăng xăng làm sao vô được. Thế mà vị tăng còn hỏi tại sao như thế, buộc lòng ngài phải mượn hình thức có lý để nói cho hiểu. Trả lời như thế không đúng chỗ ngài muốn nói.
(1) “Khiến thành lầu chợ hoại” được dịch từ câu “phiên linh bại thị lâu”. Chữ “bại” ở câu này chỗ khác in chữ “thận”. Nhưng tôi thấy nhiều bản in chữ “bại” nên tôi để chữ bại.
Hỏi:
Long nữ dâng châu thành Phật quả,
Đàn-na bố thí phước thế nào?
Βάρ:
Quế trong trăng muôn thuở,
Héo tươi tại một vầng.
Lại thưa: – Thế là nhọc mà không công?
Đáp:
Trên trời như treo gương,
Nhân gian nơi nơi tỏ.
Hỏi: Long nữ dâng châu thành Phật quả, đàn-na bố thí phước thế nào? Vị tăng dẫn kinh Pháp Hoa hỏi: Long nữ sau khi được Bồ-tát Văn-thù giáo hóa, ngộ được lý Đại thừa thâm sâu và có thể thành Phật. Tôn giả Xá-lợi-phất không tin Long nữ có thể thành Phật. Long nữ liền đem hạt châu dâng lên đức Phật. Khi Phật nhận hạt châu rồi, Long nữ nói với tôn giả Xá-lợi-phất: “Lấy sức thần của các ông xem tôi thành Phật, mau hơn dâng hạt châu lên đức Phật.” Nói rồi Long nữ hiện thân ở thế giới khác ngồi tòa sen thành Phật. Do đó vị tăng hỏi Long nữ dâng châu cúng Phật được thành Phật và thí chủ bố thí cúng dường có phước như thế nào?
Ngài đáp: Quế trong trăng muôn thuở, héo tươi tại một vầng. Tối, trời có trăng không mây, nhìn lên mặt trăng thấy một đốm đen, đốm đen đó người xưa gọi là cây quế. Ngài nói cây quế ở trong mặt trăng, dù héo hay tươi nó vẫn ở trong mặt trăng muôn đời. Nghĩa là Long nữ dâng châu cúng Phật, sau đó được thành Phật, còn Phật tử cúng dường tăng ni, mặc dù kết quả chưa thành tựu, tuy hai việc làm khác nhau, nhưng thành quả không khác. Tức là cúng dường Phật được thành Phật, cúng dường tăng ni cũng sẽ thành Phật. Giống như cây quế héo hay cây quế tươi khác nhau, nhưng đồng ở trong mặt trăng.
Ngài trả lời như thế, vị tăng này không bằng lòng, nên mới hỏi: Thế là nhọc mà không công? Ý hỏi cây quế tươi hay cây quế héo cũng đồng ở trong mặt trăng, giống như cúng dường Phật, hay không cúng dường Phật mà cúng dường tăng thì cũng đồng thành Phật ở trong Phật tánh, tu làm chi cho nhọc mất công? Ngài đáp: Trên trời như treo gương, nhân gian nơi nơi tỏ. Mặt trăng sáng trên bầu hư không, ở dưới đất nhìn lên thấy mặt trăng sáng giống như gương treo trên bầu trời. Nhờ có mặt trăng tỏa ánh sáng khắp nơi, nên thế gian được soi sáng, mọi người khỏi rơi hầm sụp hố, tránh khỏi những tai nạn hiểm nguy. Cũng vậy, Phật tánh có sẵn nơi mỗi người, nó trùm khắp. Người tu khi hằng sống được với Phật tánh thì có diệu dụng, giúp cho người sáng suốt an vui, hết mê lầm đau khổ. Như vậy là có ích chứ đâu có phí công vô ích.
Hỏi:
Qua sông cần dùng bè,
Đến bờ thuyền bỏ lại.
Khi không qua thì thế nào?
Đáp:
Hồ khô cá mắc cạn,
Sống được muôn năm xuân.
Lại thưa: – Thế là theo dòng mới được diệu lý?
Đáp:
Thấy nói bạn Kinh Kha,
Một đi không trở lại.
Hỏi:
Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại,
Thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh.
Βάρ:
Chẳng phải khách nước Tề,
Đâu biết cá to biển.
Lại thưa:
Quách Quân chẳng chịu nhận,
Can gián cũng làm gì?
Đáp:
Nếu muốn trước uống rượu,
Khéo vẽ rắn làm gì?
Hỏi: Qua sông cần dùng bè, đến bờ thuyền bỏ lại. Khi không qua thì thế nào? Câu này lấy ý kinh đem ra hỏi: qua sông thì dùng bè, khi đến bờ rồi thì bè phải bỏ lại, bây giờ không qua sông, không cần thuyền cũng không bỏ thuyền thì sao? Ngầm ý hỏi, người học đạo phải có kinh điển (cần bè) để biết Phật dạy tu như thế nào mà thực hành, khi tu giác ngộ viên mãn rồi thì kinh điển không dùng nữa (bỏ thuyền), bây giờ tu không cần kinh điển cũng không bỏ kinh điển thì sao? Ngài trả lời: Hồ khô cá mắc cạn, sống được muôn năm xuân. Hồ khô là hồ không có nước, cá sống nhờ nước, nếu cá ở trong hồ khô là cá mắc cạn. Ngài nói cá mắc cạn trong hồ khô, mà sống được đến muôn năm không chết là điều đáng khen. Cũng vậy, nếu tu mà không cần kinh điển không bỏ kinh điển mà ngộ đạo thì đáng khen. Ngược lại chỉ là người thiếu học thiếu tu không ra gì thì vô nghĩa chẳng đáng nói.
Vị tăng nghe ngài nói như thế liền hỏi: Thế là theo dòng mới được diệu lý? Nghĩa là phải theo dòng, nương bè qua sông mới được diệu lý, không theo dòng không nương bè không qua sông thì không được diệu lý? Ngài đáp: Thấy nói bạn Kinh Kha, một đi không trở lại. Kinh Kha là người nước Tề thời Chiến Quốc, là môn khách của thái tử Đan nước Yên. Bấy giờ nước Tần mạnh nhất, Tần Thủy Hoàng cất quân thôn tính các nước chư hầu. Kinh Kha nhận nhiệm vụ đi ám sát Tần Thủy Hoàng. Lúc ra đi thái tử Đan cùng tân khách tiễn Kinh Kha qua sông Dịch Thủy, Kinh Kha nói lời từ biệt: “Tráng sĩ một đi không trở lại, dòng sông Dịch Thủy rẽ đôi nơi…!” Kinh Kha đến cung vua Tần, ám sát Tần Thủy Hoàng không được nên bị giết, từ đó không trở lại nước Yên. Ngài lấy điển tích này để trả lời câu hỏi của vị tăng. Ý ngài nói, nếu để dòng đời cuốn trôi đi thì làm sao được diệu lý? Cũng như Kinh Kha đi ám sát vua Tần, vua Tần không chết, Kinh Kha bị giết không trở về thì nói được diệu lý gì? Theo ngài thì người tu phải vượt khỏi dòng đời mới lên được dòng thánh. Vì theo dòng đời là chấp nhận sống buông thả theo thế tục, buông thả theo thế tục thì trầm luân sanh tử làm sao được đạo lý!
Hỏi: Quặng, vàng lẫn lộn nguyên một loại, thỉnh Thầy phương tiện luyện cho tinh. Vàng khác với quặng, vì quặng lẫn lộn với nhiều thứ khác, nhưng nó vốn cùng một loại với vàng, thỉnh Thầy phương tiện luyện quặng thành vàng ròng. Câu hỏi dẫn ý trong kinh Viên Giác đức Phật ví dụ cho Bồ-tát Kim Cang Tạng: “Này thiện nam, như lọc quặng vàng, chất vàng không phải do lọc mà có. Khi đã thành vàng ròng rồi thì chẳng trở lại thành khoáng. Trải qua thời gian không cùng, tánh vàng không hề biến hoại…”
Ngài trả lời: Chẳng phải khách nước Tề, đâu biết cá to biển. Điển tích thời Chiến Quốc, tướng quốc nước Tề là Tĩnh Quách Quân được ban phong đất Tiết, muốn xây thành quách. Có nhiều người can ngăn nên ông dặn kẻ gác cửa, hễ ai xin vô để can ngăn thì đừng cho vô. Có người nước Tề xin vô để nói ba tiếng thôi, rồi chết cũng đành. Quách Quân cho vô. Người khách chỉ nói lớn ba tiếng “biển cá lớn”, rồi vọt chạy. Quách Quân ngạc nhiên cho gọi lại. Người khách can gián ông rằng: “Ngài không nghe nói cá lớn ở biển ư? Lưới giăng không ngăn được nó, lưỡi câu không lôi kéo được nó; rủi thay khi mất nước thì loài dế kiến có thể khống chế nó. Ngài ở tại nước Tề giống như cá ở trong nước. Nếu ngài khéo làm cho nước Tề thạnh trị thì nước Tề hùng cường, ngài còn lo nghĩ gì nữa. Nếu lỡ mai kia nước Tề mất, tuy ngài xây thành tại đất Tiết giả sử có cao hơn trời vẫn là vô ích vậy.” Quách Quân mới thôi xây thành Tiết.
Ở đây Quách Quân nhận ra đúng sai nhờ người khách biết cách khéo léo chỉ cho. Ý ngài nói, ông muốn luyện thành thì trước phải rõ cái nào là quặng cái nào vàng mới không lầm. Ngài đáp như thế, vị tăng hỏi tiếp: Quách Quân chẳng chịu nhận, can gián cũng làm gì? Nếu Quách Quân không nghe thì vị khách can gián cũng vô ích. Ý của vị tăng nói, đối với mê và ngộ, ông không cần quan tâm, ngài nói phải ngộ rồi mới thấy chỗ chân thật, việc ấy không có nghĩa đối với ông, giải thích thế này hay thế kia chỉ là vô ích thôi.
Ngài đáp: Nếu muốn trước uống rượu, khéo vẽ rắn làm gì? Chuyện vẽ rắn lấy từ điển tích: Các xá nhân ở nước Sở được tặng một chung rượu ngon. Có một chung rượu mà đến mấy người chia nên họ bàn với nhau: mỗi người vẽ một con rắn, người nào vẽ rồi trước sẽ được uống chung rượu đó. Có một anh chàng vẽ rất nhanh nên vẽ xong trước, nhìn thấy các bạn còn đang chăm chú vẽ, anh ngồi không chẳng biết làm gì, bèn vẽ thêm chân cho con rắn. Lúc anh đang chăm chú vẽ chân rắn thì bạn anh vẽ rồi, liền uống hết uống chung rượu. Ngài dùng điển tích này để nói với vị tăng rằng: Nếu đã nhận ra chỗ chân thật, tức là vàng ròng, thì không cần luyện. Còn nếu là quặng lẫn trong vàng thì phải luyện. Như vậy ông nói tới chỗ rốt ráo, song rốt cuộc thì không có thật, giống như xá nhân kia vẽ rắn nhanh, nhưng rốt cuộc không được uống rượu. Bởi ông cho rằng ông không cần giản trạch ai mê ai ngộ, thì đâu cần hỏi quặng và vàng phải luyện làm sao? Hỏi như vậy là bày chuyện vô ích giống như vẽ rắn thêm chân vậy.
Hỏi: – Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống?
Sư bảo: – Ông là người phương nào?
Tăng thưa: – Vốn là người ở núi.
Sư bảo:
Núi xưa về ẩn gấp,
Chớ thấy Hứa chân quân.
Hỏi: Rắn chết trên đường xin Thầy cứu sống. Đây là câu hỏi của một vị tu tương đối có công phu sâu dày. Câu hỏi này có hai ý: Ý thứ nhất, con là người đi tìm đạo, mà tìm mãi không ra bây giờ giống như người chết, nhờ Thầy chỉ cho con phương tiện tiến đạo, tức là cứu sống con. Đó là ý trong lời lẽ bình thường. Ý thứ hai là con tu đến chỗ lặng lẽ, không còn niệm khởi, tâm như cây đá, như người chết, xin Thầy chỉ cho con cách thắp sáng trí tuệ để con được sống dậy.
Ngài muốn xác nhận kỹ mới hỏi: Ông là người phương nào? Tức là ông đang ở trạng thái nào mà xin cứu? Vị tăng này mới nói rõ: Vốn là người ở núi. Ở núi thì đâu phải là người đi trên đường cầu đạo bị kẹt không ra được. Vì ở núi là đã sạch hết tâm điên đảo rồi, như vậy ông đang chìm ở chỗ lặng lẽ vô tri vô giác, nên ngài bảo: Núi xưa về ẩn gấp, chớ thấy Hứa chân quân. Núi xưa chỉ cho chân tâm, là cồn đảo để người tu nương tựa. Hứa chân quân tên là Hứa Tốn, đời Tấn ở Trung Hoa, ông học phép tiên, rồi chu du khắp nơi vì người trị bệnh cho thuốc, nên được gọi là Hứa chân quân. Ngài nói, nếu ông thấy tâm lặng lẽ dường như vô tri vô giác, thì phải an trụ nơi tâm chân thật, tức là tánh giác của ông; đừng học đòi theo Hứa chân quân, tức là đi tìm kiếm ở bên ngoài. Như vậy là ông sẽ sống không chết, vì tánh giác không phải vô tri mà hằng giác hằng sáng.
Hỏi:
Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi,
Tào Khê giọt giọt là thế nào?
Đáp:
Trước gió thông reo tiếng buồn bã,
Mưa tạnh trên đường ít bùn lầy.
Lại thưa: – Thế là chẳng khác thời nay?
Đáp:
Dưới giậu trùng dương cúc,
Đầu cành xuân ấm oanh.
Hỏi: Biển cả mênh mông trọn chẳng hỏi, Tào Khê giọt giọt là thế nào? Vị tăng này không hỏi về kinh điển, vì kinh điển rộng mênh mông như biển cả, chỉ hỏi những giọt nước Tào Khê như thế nào. Tào Khê là một dòng suối ở phía bắc tỉnh Quảng Đông. Quảng Đông có nhiều châu như Tân Châu, Quảng Châu, Thiều Châu… Suối Tào Khê chảy ngang qua chùa Nam Hoa, ra sông Khúc Giang ở Thiều Châu, là chỗ giáo hóa của Lục tổ Huệ Năng. Vị tăng hỏi về Lục Tổ mà không gọi danh hiệu ngài, chỉ gọi chỗ giáo hóa. Hỏi giọt nước Tào Khê là thế nào, tức là hỏi đường lối dạy tu của Lục tổ Huệ Năng như thế nào.
Ngài trả lời: Trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy. Mới nghe, thấy câu đáp không dính dáng gì với câu hỏi, song nếu thấu lý thiền mới thấy ngài trả lời rất trung thực với chủ trương của Lục Tổ. Tại sao hỏi ý nghĩa Tào Khê, mà ngài đáp: trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy? Trên ngọn núi bên cạnh suối Tào Khê có những rặng thông, gió thổi tiếng thông reo vi vu nghe buồn bã lắm. Và trước cửa chùa Nam Hoa gần bên suối Tào Khê, có con đường đi khi mưa tạnh thì bùn lầy ít, đang mưa thì bùn lầy nhiều. Ngài nói thế là ý gì? Lục Tổ đâu không nói “Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác”. Gió thổi, thông reo, mưa tạnh, đường ít bùn là chuyện thế gian. Ngay trong chuyện thế gian mà thấy Phật pháp, chứ không phải lìa thế gian mà có Phật pháp, đó là trọng tâm của Lục Tổ dạy. Chúng ta tu muốn được giác ngộ thì phải ngay trong pháp thế gian mà ngộ chứ không ngộ đâu xa. Chính tại thế gian mà ngộ mới thật ngộ, còn đi tìm ở đâu đâu là chuyện không thực tế. Chỗ này Lục Tổ có dạy thêm “ly thế mích Bồ-đề, kháp tự tầm thố giác”. Nghĩa là lìa thế gian mà tìm sự giác ngộ, giống như tìm lông rùa sừng thỏ. Rùa đâu có lông, thỏ đâu có sừng mà tìm! Đi tìm là làm chuyện vô ích. Như vậy gió thổi, thông reo, mưa tạnh, đường ít bùn là chuyện thế gian, ngay đó giác ngộ là đúng, tìm nơi khác là sai. Tôi chia làm hai phần để giảng rõ tinh thần Phật pháp, kể cả Phật pháp nguyên thủy và Phật pháp phát triển, hay thiền tông cũng ở trong đó.
Đa số người đời cứ ngỡ rằng Phật pháp là cái gì cao siêu vượt ngoài thế gian và sự giác ngộ của mình ở trên mây trên trời, chứ không ở ngay trong cuộc sống hằng ngày. Đâu ngờ ngay trong cuộc sống thực tế mới có giác ngộ. Chúng ta lúc còn khỏe mạnh, thích làm việc này việc nọ quên tu, đó là lúc chúng ta mê. Bất thần xảy ra một trận đau chí tử, chúng ta thức tỉnh, khi bệnh lành lo nỗ lực tu hành. Vậy cái gì làm cho chúng ta thức tỉnh? Do bệnh mà chúng ta thức tỉnh. Đau bệnh là chuyện thế gian chứ đâu phải chuyện của Phật, thế mà nhân bệnh chúng ta thức tỉnh. Rộng hơn chút nữa, nhìn sự vật ở chung quanh, chúng ta thấy nó hợp tan tan hợp, có đó rồi mất đó, không bền không thật nên không đuổi bắt đắm nhiễm. Đó là chúng ta tỉnh giác, tỉnh giác đối với mọi vật chung quanh mình chứ không ở đâu xa. Như vậy tất cả chuyện ở thế gian, nhìn cái gì chúng ta cũng có thể giác ngộ được. Tất cả cảnh vật chung quanh, cái đau chết làm cho chúng ta giác ngộ mạnh nhất. Chẳng hạn một người thân của chúng ta đang khỏe mạnh, bỗng ngã bệnh vài hôm chết. Ngay khi đó chúng ta giật mình nhớ lại thân phận mình rồi đây cũng chết, nên cố gắng tu, không dám bê trễ.
Ngày xưa khi đức Phật còn là Thái tử, đi dạo bốn cửa thành thấy cảnh người già, người bệnh, người chết, ngài băn khoăn thắc mắc: Tại sao kiếp người ai rồi cũng già bệnh chết, không thoát được? Sau đó ngài quyết tâm vất bỏ tất cả sự cao sang quyền quý của một ông hoàng để đi tu. Chúng ta ngày nay ra vào thấy người già, người bệnh, người chết thường xuyên, sự nghiệp thì chẳng được bao nhiêu, thế mà đâu dám vất bỏ để tu. Cùng thấy người già người bệnh người chết, mà chúng ta dửng dưng, như vậy là mê hay tỉnh? Còn ngài thấy, liền tư duy: Họ là con người, họ già bệnh chết, mình là người rồi cũng già bệnh chết, đâu thoát khỏi, nên tỉnh giác xuất gia tu hành.
Tôi nghĩ các bác sĩ ngày nào cũng đối diện với người già người bệnh người chết, chắc là dễ tu lắm. Nhưng hỏi ra thì không dễ tu, vì thấy hoài thành ra lờn, không tỉnh. Lâu lâu chúng ta vào bệnh viện, thấy cảnh bệnh khổ của người, về chùa buồn không còn hứng thú làm việc, nhưng vài ba ngày lại quên, rồi cũng hăng hái làm đủ thứ chuyện. Lâu lâu có người thân chết, mấy ngày đầu buồn dàu dàu, nhưng chừng một tuần nửa tháng thì hết, rồi cũng tham sân si đủ thứ. Điều này cho thấy sức tỉnh giác của chúng ta quá yếu, vừa tỉnh một chút liền mê lại. Còn Phật và Bồ-tát giác rồi không bao giờ mê lại, nên các ngài tu mới thành đạo. Chúng ta vì mau quên nên tu tiến chậm. Nếu chúng ta có trí tuệ có tỉnh giác cao, đi đâu và ở chỗ nào cũng tu được. Ra đường thấy người đời vì hơn thua một chút quyền lợi cãi nhau rồi đánh lộn, cảnh người già, cảnh người tàn tật đói khổ lê từng bước chân xin chút cơm thừa để sống, cảnh người quyền thế kiêu xa phách lối… cũng đủ cho chúng ta tỉnh giác rồi. Rất tiếc vì mê muôn đời nên tỉnh không lâu, gặp duyên lóe sáng chút xíu rồi lại mê nữa. Thậm chí trước cảnh chết chóc mà người ta bày rượu thịt ra ăn nhậu vui cười… Người ta mê đến mức đó là cùng, ai chết mặc ai, miễn mình no vui là được. Thật là cái mê khó cứu. Đó là cái giác của người tầm thường.
Sau đây là sự giác ngộ của thiền sư. Đối với thiền sư thì cảnh nào cũng đưa đến giác ngộ, nên nói “kiến sắc minh tâm”, tức là thấy sắc biết mình có tâm sáng đang thấy. Hoặc nghe tiếng biết mình có tâm sáng đang nghe… Lúc nào cũng có tâm sáng hay tánh giác hiện tiền. Thế nên ngài nói: Trước gió thông reo tiếng buồn bã, mưa tạnh trên đường ít bùn lầy, ngay đây mà giác ngộ.
Vị tăng này nghe không bằng lòng hỏi tiếp: Thế nào là chẳng khác thời nay? Ý vị tăng này nói, ngày xưa chư tổ thấy cảnh liền giác, ngày nay cũng thấy cảnh ấy không giác là thế nào? Ngài đáp: Dưới giậu trùng dương cúc, đầu cành xuân ấm oanh. Hoa cúc nở vào mùa thu (tiết trùng dương đã giảng ở trước), chim hoàng oanh hót vào mùa xuân ấm. Hoa cúc nở và chim oanh hót là hai loại khác nhau, nhưng tiết trùng dương và mùa xuân ấm đều là thời tiết. Cùng một cảnh mà người tỉnh thấy liền giác, người mê thấy vẫn cứ mê. Như vậy thời tiết cũng như cảnh vật không làm cho người giác, không làm cho người mê, mê hay giác là do dụng công tu đã chín muồi hay chưa chín muồi.
Hỏi:
Rõ ràng trong khoảng tâm mắt,
Sáng chói ở trong sắc thân.
Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy?
Đáp:
Trong vườn hoa khoe sắc,
Trên bờ cỏ xanh rì.
Hỏi:
Năm lạnh các mầm thối,
Lấy gì để khoe xinh.
Đáp:
Mừng ông đã thấu suốt,
Cũng chẳng vui hay sao.
Tăng nói:
Hân hạnh nghe Thầy giải,
Từ đây khỏi chợt không.
Sư đáp:
Chìm cạn vừa ra khỏi,
Quay đầu muôn trượng đầm.
Hỏi: Rõ ràng trong khoảng tâm mắt, sáng chói ở trong sắc thân. Mà lý không thể phân, tướng không thể thấy, tại sao không thấy? Vị tăng này nghe Phật tổ dạy trong kinh luận: nơi mình có tâm hằng giác hằng tri, hiển hiện ở sáu căn, trùm khắp cả. Ông hỏi cái nào thuộc về lý (tâm) cái nào thuộc về tướng (thân), tại sao không thấy không biết nó? Ngài đáp: Trong vườn hoa khoe sắc, trên bờ cỏ xanh rì. Trước mắt nhìn thấy cỏ mọc xanh rì trên bờ, hoa trổ màu vàng màu đỏ trong vườn. Thấy đó phải khéo nhận, nếu không khéo nhận thì chịu, tâm hằng giác hằng linh tri không hình tướng làm sao chỉ được.
Vị tăng này thấy khó hiểu quá, nên mới hỏi tiếp: Năm lạnh các mầm thối, lấy gì để khoe xinh. Vì ngài nói hoa khoe sắc xinh, nên vị tăng này nói, mùa lạnh mầm thối hết thì còn gì hoa khoe xinh khoe đẹp? Tức là người tu khi vọng niệm lăng xăng đã lặng hết rồi (mầm thối) thì còn gì nói giác nói linh tri? Ngài đáp: Mừng ông đã thấu suốt, cũng chẳng vui hay sao. Ngài nói biết được như vậy là ông đã thấu suốt rồi, vậy là vui lắm.
Tới đây vị tăng thưa: Hân hạnh nghe Thầy giải, từ đây khỏi chợt không. Vị tăng này nói, nghe Thầy phân giải như vậy, con rất hân hạnh, từ đây con không để tâm không nữa. Tức là từ đây không để tâm chìm trong không lặng nữa. Ngài đáp: Chìm cạn vừa ra khỏi, quay đầu muôn trượng đầm. Vừa thoát khỏi cái chết trên cạn, mới quay đầu lại thì chìm ở dưới đầm sâu muôn trượng. Nghĩa là tu bặt vọng tưởng được yên lặng, tới đây tưởng là hết không còn gì nữa, đó là chết trên cạn. Ngài dạy: tuy lặng lẽ, nhưng tri giác hằng hiện tiền. Nghe nói vậy vị tăng ấy mừng quá, nên nói từ đây về sau con không để tâm không nữa, tức là để cho tâm khởi niệm mới khỏi cái chết trên cạn. Tuy có tâm lặng lẽ hằng giác hằng tri, nhưng nếu để niệm dấy khởi thì tâm lặng lẽ hằng giác hằng tri bị che khuất. Đó là vừa quay đầu lại chìm trong đầm sâu muôn trượng.
Hỏi: – “Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy
Đáp:
Xây tổ trên rèm trướng,
Râu tóc cọng hoa lau.
Hỏi:
Nếu gặp khi bức bách,
Hai chỗ là làm gì?
Đáp:
Trượng phu tùy thong thả,
Gió trăng mặc tiêu dao.
Hỏi: “Trong thành Niết-bàn vẫn còn nguy”, thế nào là chỗ chẳng nguy? Trong kinh2, có đoạn Phật dạy, nếu còn thấy Niết-bàn là cứu cánh vẫn còn chìm trong chỗ nguy hiểm. Hầu hết chúng ta tu là cầu Niết-bàn. Niết-bàn là vô sanh không còn sanh tử. Muốn hết sanh tử thì phải dứt vọng niệm (mầm sanh tử) mới được Niết-bàn. Vị tăng này nghi: Tu cốt là đạt được Niết-bàn dứt sanh tử, thế mà Niết-bàn vẫn còn nguy hiểm, vậy thì tu phải tới đâu mới hết nguy? Ngài đáp: Xây tổ trên rèm trướng, râu tóc cọng hoa lau. Mới nghe ngài đáp chúng ta thấy chẳng dính dáng gì tới câu hỏi, nhưng nếu thông suốt thì thấy rất chí lý. Chỗ cứu cánh của đạo vượt ngoài tướng đối đãi sanh tử Niết-bàn, còn thấy đây là sanh tử kia là Niết-bàn là còn thấy hai bên, còn thấy hai bên là còn trong đối đãi chưa tới chỗ cứu cánh. Cho cái đối đãi là cứu cánh là lầm nên nói nguy, vậy muốn ra khỏi hiểm nguy thì phải vượt ra ngoài đối đãi. Chư tổ thường hay quở, không cho chúng ta chấp sanh tử cũng không cho chúng ta chấp Niết-bàn, vì sanh tử và Niết-bàn là ý niệm đối đãi giả lập hư dối không thật. Còn tìm chỗ an ổn bền chắc tức là còn trong vòng nguy khốn, thế nên ngài nói, như chim tha cỏ làm tổ trên tấm mành, như người lấy cọng hoa lau làm râu tóc, như vậy được bao lâu? Xây tổ trên tấm mành thì sáng chiều mành cuốn rèm sổ, tổ tan tành. Và bông cỏ lau mong manh làm râu tóc thì làn gió thổi qua, cỏ hoa tơi tả. Ý nói khi vọng niệm hai bên đối đãi sạch hết mới hết nguy.
Tú tài Trương Chuyết đến tham vấn thiền sư Thạch Sương. Ngài hỏi:
– Tú tài tên họ gì?
– Tôi họ Trương tên Chuyết.
– Tìm cái xảo (khéo) còn không thể được, cái chuyết (vụng) từ đâu lại?
Ông chợt tỉnh ngộ, trình kệ. Tôi trích hai câu trong bài kệ của Trương Chuyết cho quý vị thấy chỗ ngộ đạo của ông:
Tham Đồ Hiển Quyết Giảng Giải
Tùy thuận các duyên không chướng ngại, Niết-bàn sanh tử thảy không hoa.
Người tu đến chỗ cứu cánh tùy thuận các duyên mà không bị chướng ngại. Niết-bàn và sanh tử là những ý niệm, là những danh từ giả lập, giống như hoa đốm trong hư không không thật, nếu chấp thật là nguy.
Ngài đáp mà vị tăng này chưa hài lòng nên hỏi tiếp: Nếu gặp khi bức bách, hai chỗ là làm gì? Nếu khi sanh tử dồn ép bức bách thì phải tìm Niết-bàn hay phải làm gì? Ngài đáp: Trượng phu tùy thong thả, gió trăng mặc tiêu dao. Người tu là bậc trượng phu, khi đã vượt qua kiến chấp hai bên thì lúc đó thong thả, mặc tình tiêu dao với gió trăng, không còn việc gì phải làm nữa. Chỗ này có nhiều người thắc mắc: Tại sao cùng đạo Phật mà chỗ này dạy khác chỗ kia dạy khác? Trong các kinh A-hàm thì dạy chúng ta phải sợ sanh tử vì sanh tử khổ, cấp bách tu để đạt Niết-bàn vui. Còn ở đây nói sanh tử và Niết-bàn đều không thật thì thảnh thơi mặc tình tiêu dao tự tại. Như vậy giá trị ở chỗ nào? Vì chúng ta say mê ngũ dục chìm trong sanh tử, không chịu tìm lối thoát ra, nên Phật dạy sanh tử khổ đau, phải nỗ lực tu để được Niết-bàn an vui. Đó là bước đầu Phật dạy chán sanh tử cầu Niết-bàn. Qua kinh điển Đại thừa hay Thiền tông thì dạy, người khi đã giác ngộ thấy Niết-bàn và sanh tử như hoa đốm trong hư không, không thật. Nhớ là phải giác ngộ rồi, chứ chớm giác ngộ cũng chưa được. Nếu chúng ta còn thấy Niết-bàn thật là còn kẹt trong sanh tử đối đãi, tức là chưa toàn giác nên còn nguy. Và, khi đã thấy sanh tử Niết-bàn không thật thì sợ cái gì và chạy trốn ở đâu! Do đó ngài mới bảo Trượng phu tùy thong thả, gió trăng mặc tiêu dao. Nếu chúng ta chưa giác ngộ học câu này mà chấp thì sẽ rơi vào bệnh phóng túng, khi đã giác ngộ rồi thì tùy duyên sống thoải mái. Thế nên chư tổ khi đã triệt ngộ, các ngài tùy tục buông thõng tay vào chợ là vậy. Ngược lại chúng ta chưa ngộ mà tùy tục thì chìm sâu trong biển khổ không ra khỏi. Chúng ta học phải biết cho tận nguồn, nếu biết lem nhem thì dễ lầm chấp, từ lầm chấp mà sanh ra bệnh hoạn. Người nói được câu này là phải người triệt ngộ, nếu chưa triệt ngộ thì không nên nói vậy.
Tôi dạy tu có khi cũng mâu thuẫn, tôi chủ trương tu thiền mà dạy cho các cụ niệm Phật. Tại sao như thế? Vì các cụ già yếu, tinh thần mỏi mệt, dạy thiền quán các cụ không thực hành được. Dạy niệm Phật cho các cụ có điểm tựa, tâm thường nhớ Phật không nhớ con cháu, bớt luyến ái, không lo buồn, khi chết được nhẹ nhàng và được sanh vào cõi lành. Còn tăng ni trẻ là rường cột của Phật pháp mai sau, nên phải dạy thiền quán cho họ thực hành, có thực hành tâm thanh tịnh trí tuệ sáng mới giác ngộ. Giáo hóa là phải đối cơ, tùy căn cơ của người học đạo ở trình độ nào dạy ngang trình độ nấy, người học tiếp thu và thực hành được mới có ích. Ở đây đối với người tham mê ngũ dục đắm chìm trong sanh tử là nguy hiểm, Phật dạy phải xa lìa, rồi ngài chỉ Niết-bàn an vui cho có điểm tựa để tiến. Dạy xa lìa mà không có điểm tựa thì họ chới với không chịu tu, nên phải nói như thế.
Ví dụ có một số người ở ven rừng, bấy giờ rừng cháy gần tới chỗ họ ở, mà họ cứ vui với công việc bên rừng không chịu chạy đi. Chúng ta thấy rừng cháy nguy hiểm nên bảo họ: “Chỗ này rừng cháy nguy hiểm lắm, các vị hãy chạy ra chỗ trống phía ngoài hồ, ở đó lửa không cháy tới!” Nếu họ ra phía ngoài hồ thì họ thoát được nạn cháy rừng. Nhưng họ chạy ra tới mé hồ, thấy nước mát liền nhảy xuống hồ thì bị chết chìm lên không được. Đó là tránh chết cháy lại bị chết chìm. Như vậy ra tới hồ, phải ở trên bờ, không được nhảy xuống hồ. Cũng vậy, sợ sanh tử khổ nên xa lìa, để được Niết-bàn vui. Nhưng nghe nói Niết-bàn vui lại chấp Niết-bàn vui, chẳng khác nào tránh chết cháy bị chết chìm. Tuy đạo lý cao siêu, nhưng phải tùy căn cơ dạy pháp tu cho vừa với trình độ người học, mới được lợi ích và hợp đạo.
Người sơ cơ mới vào chùa mà dạy pháp tối thượng thừa, làm sao họ hiểu và thực hành? Không hiểu không thực hành được, thấy đạo Phật như vô ích. Thế nên khi giảng dạy phải thấy rõ hai mặt, mặt tương đối và mặt tuyệt đối. Mặt tương đối thì phải hướng dẫn từng bước cho người học tiến vững vàng. Mặt tuyệt đối thì không còn chấp hai bên là chỗ cứu cánh. Không còn chấp hai bên thì không còn khổ. Vì chúng ta còn thấy thân này thật, nên ai động đến thân này là chúng ta đau khổ. Nếu chúng ta thấy thân này không thật, dù có bị bức hại cũng thấy như trò chơi, không khổ. Thế nên mặt tương đối hay tuyệt đối phải tùy căn cơ mà hướng dẫn, chứ không thể nói như một được.
Hỏi:
– “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy?
Đáp:
Khuyên ông hãy gắng việc nông tang,
Chớ học theo người đợi thỏ nhọc.
Tăng nói:
Được nhờ Thầy chỉ rõ,
Trọn chẳng đến ai cầu.
Sư nói:
Đáng thương người mắc nghẹn,
Ngồi đói lại quên ăn.
Hỏi: “Tất cả chúng sanh đều nói là Phật”, lý này chưa rõ xin Thầy chỉ dạy. Người hỏi thấy trong kinh nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, có Phật tánh tức là có Phật. Người hỏi nói lý này chưa hiểu, xin ngài chỉ dạy. Ngài đáp: Khuyên ông hãy gắng việc nông tang, chớ học theo người đợi thỏ nhọc. Câu này có nhiều người hiểu quá sai lầm, cho thiền sư Viên Chiếu nghĩ tới việc đồng áng nhiều hơn việc học đạo lý. Vì ngài khuyên hãy gắng làm ruộng trồng dâu nuôi tằm, đừng có mơ ước Phật; làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm là Phật rồi. Lý giải như vậy thì mấy chú nông dân thành Phật hết. Ngài khuyên chở học theo người đợi thỏ nhọc. Ý này lấy từ truyện tích: Xưa có một người khờ cày ruộng, chợt gặp con thỏ chạy đâm đầu vô gốc cây ngã lăn ra chết. Anh vui mừng nhặt xác thỏ đem về làm thịt ăn. Anh nghĩ ngày mai thỏ sẽ chạy đâm đầu vô gốc cây chết nữa, nên hôm sau anh tới gốc cây chờ nhặt xác thỏ. Anh chờ mãi không thấy thỏ chạy tới. Câu chuyện này ngụ ý nói người ngu thấy việc xảy ra một lần, nghĩ sẽ xảy ra luôn luôn nên trông chờ. Ngài khuyên đừng mơ ước trông đợi những chuyện không đâu, mà phải thực tế làm ruộng trồng dâu. Vì hỏi tất cả chúng sanh đều nói là Phật, lý này chưa rõ xin thầy chỉ dạy Phật ở đâu, Phật là gì, thế nên ngài mới lấy câu chuyện có nghĩa “tâm bình thường là đạo” để dạy. Dù cho trồng dâu nuôi tằm, cuốc rẫy làm ruộng. tâm không vọng tưởng ngay đó là Phật, đừng có tìm kiếm Phật ở đâu. Mơ ước trông chờ như anh chàng ôm cây đợi thỏ, chỉ nhọc nhằn phí công thôi. Ý nghĩa rõ ràng như vậy, thế mà người ta lại hiểu khác đi. Ngay trong sinh hoạt hàng ngày tâm bình thường là Phật rồi. Tôi thường nói với tăng ni, đâu phải chỉ giờ ngồi thiền chúng ta mới làm Phật, mà chính giờ cuốc đất, trồng rau, quét nhà, nấu cơm… giờ nào cũng là Phật cả. Chỉ khi làm mà vọng tưởng nhớ chuyện đông tây, Phật mới ẩn khuất. Làm tất cả việc mà tâm trong sáng lặng lẽ thì giờ nào không phải là giờ Phật? Nếu không có Phật làm sao biết làm việc? Ngài bảo gắng việc nông tang, ngầm ý dạy chúng ta làm tất cả mọi việc, mà tâm bình thường lặng lẽ sáng suốt, lúc đó Phật tánh hiện tiền. Vì vậy nên nói “tâm bình thường là đạo”.
Vị tăng này chưa thông mới nói: Được nhờ Thầy chỉ rõ, trọn chẳng đến ai cầu. Vị tăng nghe lời ngài đáp tưởng mình đã ngộ rồi, không cần phải học hỏi nữa, mới nói Thầy chỉ dạy cho con rõ ràng rồi, con không cần phải đi cầu học với ai nữa. Vị tăng này nói như vậy là mắc bệnh tự mãn, chưa được mà tưởng mình được. Thế nên ngài nói để phá chấp: Đáng thương người mắc nghẹn, ngồi đói lại quên ăn. Ngài thấy vị tăng này tỏ ra thông hiểu, sự thật chưa được gì, mà tự mãn thấy không cần học với ai, ngài mới nói đáng thương, giống như người nuốt cơm mới tới cổ, chưa xuống bao tử mà cho là no, không chịu nuốt không chịu ăn. Ngài quở người học đạo vừa nghe vội cho là hiểu, vội cho là đủ, lấy làm tự mãn không chịu tham cầu học hỏi, đó là bệnh. Bệnh này người thời nay cũng hay mắc phải, học chút ít cho là đủ, đi lại nói năng tự do chẳng hợp đạo lý chút nào! Nghe người xưa dạy mới biết bệnh của mình, nếu không thì không biết mình bệnh. Bệnh này gọi là khẩu đầu thiền.
Tăng nói:
Nhiều năm cất giấu báu trong đây,
Ngày nay trước mắt thấy rõ ràng.
Sư nói:
Chỉ đợi trăng thu sáng,
Đâu ngờ mây mưa che.
Tăng nói:
Tuy nghe Thầy thuyết giảng,
Lý này vẫn chưa rành.
Sư đáp:
Cười kẻ luống ôm cột,
Chết đuối nằm giữa dòng.
Tăng nói: Nhiều năm cất giấu báu trong đấy, ngày nay trước mắt thấy rõ ràng. Câu này hỏi mà dường như không hỏi. Vị tăng nói hạt ngọc quý được cất trong đây nhiều năm, nay mắt trông thấy rõ ràng rồi. Nghe qua câu này chúng ta tưởng vị tăng đã ngộ, vì biết trong đãy mình có hòn ngọc báu. Cái đãy chỉ cho thân tứ đại, hòn ngọc báu chỉ cho tánh giác. Từ lâu tánh giác có sẵn nơi thân này mà chưa biết, bây giờ đã biết, thấy rõ ràng trước mắt. Ngài đáp: Chỉ đợi trăng thu sáng, đâu ngờ mây mưa che. Câu này có ý chê vị tăng. Vì câu nói vị tăng này mâu thuẫn, vừa nói ngọc báu ở trong đấy, liền nói thấy ngọc báu ở trước mắt. Còn thấy trong ngoài, còn thấy trước sau là chưa thấy đúng như thật. Ngài nói, tưởng đâu trăng mùa thu trong sáng nào ngờ mây kéo mưa mịt mù, ý nói vị tăng này tâm chưa sáng vì còn thấy trong ngoài trước sau. Nếu không phải là bậc sáng mắt thì nhận lầm vị tăng ấy đã ngộ rồi.
Tăng nói: Tuy nghe Thầy thuyết giảng, lý này vẫn chưa rành. Nghe thầy thuyết giảng thấy như ngộ rồi, nhưng sự thật thì lý chưa rành. Ngài mới nói: Cười kẻ luống ôm cột, chết đuối nằm giữa dòng. Câu này dẫn từ truyện tích: Xưa có chàng trai tên Vi Sinh, anh thương một cô gái, cô gái đó hẹn gặp anh tại cây cầu lúc chiều tối. Cây cầu này trên là chỗ ngồi chơi, dưới có thang đi xuống nước. Chiều anh tới trước núp dưới thang cầu đợi tối lên trên cầu gặp cô bạn. Anh đinh ninh như vậy, nên anh ngồi mãi dưới thang cầu. Nước lớn dần mà anh không lên, vì chưa tối sợ chun ra thì thất hẹn. Anh cứ ngồi mãi, nước dâng ngập người anh, khiến anh chết đuối dưới cầu. Vị tăng này đã được ngài chỉ rõ bệnh cho rồi mà vẫn không biết, nói: Tuy nghe Thầy thuyết giảng, lý này vẫn chưa rành, nên ngài dùng câu chuyện anh chàng si mê cố chấp chết đuối dưới dòng sông để nói phá.
Hỏi: – Thế nào là một pháp?
Đáp:
Vừa thấy xuân sanh cùng hạ trưởng,
Lại gặp thu chín và đông thâu.
Lại thưa: – Thế là nhiều người thành Phật?
Đáp:
Tổ Long chợt tự dừng,
Từ Phúc xa luống nhọc.
Hỏi: Thế nào là một pháp? Vị tăng này lấy kinh Đại thừa ra hỏi: Tất cả chỉ có một pháp, không có hai không có ba, vậy thế nào là một pháp? Ngài trả lời: Vừa thấy xuân sanh cùng hạ trưởng, lại gặp thu chín và đông thâu. Ngày xưa nhà nông làm ruộng cuối mùa xuân thì gieo giống, hạt nảy mầm gọi là sanh, mùa hạ vun bón phân cho cây lúa phát triển lớn mạnh gọi là trưởng, mùa thu lúa chín, mùa đông gặt hái, đó là một pháp. Hỏi một pháp, ngài nói tới bốn mùa làm ruộng của người nông phu: xuân gieo lúa, hạ lúa lớn, thu lúa chín, đông gặt lúa. Đứng về thời tiết thì thấy có bốn mùa xuân hạ thu đông, nhưng đứng về cây lúa từ gieo hạt cho đến gặt, tức là từ nhân đến quả chỉ là lúa. Như vậy ngài muốn nói gì? Nói một pháp là tất cả. Thiền tông nói tất cả pháp chỉ là tâm, tâm là một pháp, muôn sự muôn vật tuy có thiên hình vạn trạng nhưng gốc chỉ là một tâm. Thế nên dụ tâm là cái gương, muôn sự muôn vật như bóng trong gương. Bóng thì trăm ngàn thứ, gương thì không hai. Trăm ngàn thứ (bóng) thì không thật, cái không hai (gương) thì chân thật. Cũng vậy, tâm thể trùm khắp nên nói không hai, muôn sự muôn vật là pháp sanh diệt thì không thật. Thêm một ví dụ nữa: Trong bầu hư không này có rất nhiều hành tinh, nhất là hành tinh chúng ta đang sống có đủ thứ nào là sông, biển, núi, rừng, cây, cỏ, người, thú… Tất cả mọi loài trên hành tinh này kể cả hành tinh đều ở trong hư không. Hư không thì không hai, nhưng sự vật trong hành tinh thì có muôn ngàn thứ. Hư không dụ cho thể của tâm thì không hai, còn sự tướng của vật thì chuyển biến ngàn muôn thứ. Thế nên ngài nói lúa từ khi gieo giống, lớn lên, chín, gặt hái, tuy thấy dòng sanh diệt luôn đổi khác, nhưng thể của nó là lúa không hai.
Ngài nói thế vị tăng này không bằng lòng, mới hỏi: Thế là nhiều người thành Phật? Vị tăng thắc mắc: Tuy sự vật có chuyển biến, nhưng nhân và quả không khác, như vậy thì ai sanh ra cũng ở trong một pháp đó, rồi lẩn quẩn cũng trở về một pháp đó thì ai cũng thành Phật hết chứ gì? Ngài đáp: Tổ Long chợt tự dừng, Từ Phúc xa luống nhọc. Tổ Long là hiệu của vua Tần Thủy Hoàng trong thời Chiến quốc ở Trung Hoa, Từ Phúc là một phương sĩ đời Tần tự xưng là Quân Phòng. Tần Thủy Hoàng sai ông ra biển tìm cỏ trường sanh, Từ Phúc liền đem hết gia quyến đi tìm nhưng không trở về, còn Tần Thủy Hoàng thì im lặng ở tại một chỗ, tức là ở tại quê hương. Ngài trả lời như thế là ý gì? Từ Phúc dụ cho người mê ra đi, cứ đi mãi không dừng để trở lại cố hương. Còn Tổ Long dụ cho người giác, tuy ông có sai đi nhưng ông ở một chỗ không đi. Tuy mọi người ai cũng có tánh giác như nhau, nhưng người giác biết quay lại tánh giác thì hằng an trụ, người mê không biết quay lại tánh giác thì phiêu lưu mãi trong sanh tử. Như vậy, làm sao nói ai cũng đều thành Phật! Và, nếu tất cả đều thành Phật thì đâu cần tu.
Hỏi: – “Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào?
Đáp:
Cây khô gặp xuân hoa đua nở,
Gió thổi hương thần thơm rất xa.
Tăng nói: – Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại.
Sư đáp:
Muôn năm cây cà ấy,
Xanh tươi thấu tầng mây.
Hỏi: “Kiến tánh thành Phật”, nghĩa này thế nào? Vị tăng này là người trong nhà thiền cho nên mới hỏi ý nghĩa kiến tánh thành Phật. Ngài đáp: Cây khô gặp xuân hoa đua nở, gió thổi hương thần thơm rất xa. Theo lẽ thường thì cây khô dù ở thời tiết nào cũng không thể trổ hoa lá. Thế mà ngài nói cây khô gặp tiết xuân trổ hoa, hương thần là hương mầu nhiệm gió thổi thơm rất xa. Hai câu này nói lên ý nghĩa kiến tánh thành Phật. Tất cả người tu chúng ta ai cũng đang là kẻ mê, chưa phải là người tỉnh. Do đó phải tu để nhận ra tánh giác nơi mình gọi là kiến tánh. Sau khi kiến tánh phải tiếp tục tu nữa để hằng sống với tánh giác mới thành Phật. Nói kiến tánh thành Phật nghe thấy như nhanh, nhưng phải trải qua bao nhiêu năm tu hành, buông bỏ tập khí vọng tưởng trải qua từng phần giác, mới được toàn giác thành Phật. Không phải vừa kiến tánh là thành Phật liền. Nhưng nói kiến tánh thành Phật nghĩa đó không sai. Ví dụ: Chúng ta không có hạt bắp, mà bảo trồng để lấy trái bắp có được không? Chắc chắn là không. Nhưng chúng ta có sẵn hạt bắp, muốn trồng để lấy trái ăn có được không? Chắc chắn là được. Nhưng từ khi gieo hạt xuống đất, tưới nước, làm cỏ, bón phân… phải trải qua thời gian dài mới có trái bắp để ăn. Rõ ràng có nhân là có quả không nghi. Cũng vậy từ khi nhận ra tánh giác nơi mình rồi nỗ lực tu, được từng phần giác ngộ mới thành Phật. Đó là ý nghĩa kiến tánh thành Phật.
Ngày nay có lắm người tu mà không nghĩ thành Phật, chỉ mong đời sau có phước hình vóc đẹp đẽ, giàu sang, tài giỏi, có quyền thế v.v… tất cả đều được như ý. Có người nói thành Phật buồn, vì thấy tượng Phật ngồi trên bàn im lìm bất động, không nói cười với ai cả. Còn làm người thế gian thì đi lại tự do, ăn uống nói năng thoải mái. Thế nên không dám làm Phật mà thích làm người. Chúng ta đừng hiểu lầm, tượng Phật ngồi trên bàn là hình ảnh biểu trưng ý nghĩa chứ không phải Phật thật. Nếu thành Phật mà ngồi bất động như vậy thì thành làm gì? Thành Phật có tất cả diệu dụng linh động, muốn cứu giúp ai cũng được, muốn đi muôn dặm muôn nước, hay đi từ hành tinh này qua hành tinh khác cũng được, muốn cái gì cũng đều được như ý. Như vậy mới ham thành Phật.
Trong kinh A-hàm nói người tu chứng quả A-la-hán thì được lục thông, trong lục thông có Thần túc thông. Người được Thần túc thông thì đi lại tự do, nhanh như ý mình nghĩ. Ví dụ bây giờ đang ở đây khởi nghĩ đi tới Cực lạc, liền thấy mình đang ở Cực lạc. Hiện tại khoa học tiến bộ, máy bay đưa chúng ta đi trong nước hay ra nước ngoài, cách xa hàng ngàn cây số chỉ mất ít tiếng đồng hồ, tới lui rất nhanh chóng dễ dàng. Nhưng phương tiện nhanh chóng này còn e ngại hồi hộp, vì thỉnh thoảng máy bay hỏng rơi xuống đất nát thây. Còn người tu có Thần túc thông nghĩ tới chỗ nào liền tới chỗ đó, không trở ngại không nguy hiểm. Như thế mới ham tu và không nghĩ tu thành Phật im lìm bất động là buồn. Chính vì chỗ này nên ngài nói Cây khô gặp xuân hoa đua nở, gió thổi hương thần thơm rất xa. Cây khô dụ cho thân năm uẩn mê muội của con người, khi tu kiến tánh giác ngộ thành Phật thì có vô số diệu dụng không thể nghĩ lường. Giống như cây khô vô dụng gặp tiết xuân trổ hoa đẹp hương thơm, theo gió bay đi khắp mọi nơi. Đó là diệu dụng không thể lường nổi của người kiến tánh thành Phật.
Vị tăng này vẫn chưa hội nên thưa: Đệ tử chưa hiểu, xin Thầy chỉ lại. Ngài đáp: Muôn năm cây cà ấy, xanh tươi thấu tầng mây. Ngài nói cây cà trồng trong vườn chúng ta thấy nó rất tầm thường, nhưng nó xanh tươi vượt lên đến tận mây xanh. Cây cà tầm thường nhưng xanh tươi vượt đến mây xanh dụ cho thân mê muội này không có giá trị gì, song đúng thời tiết nhân duyên thì giác ngộ kiến tánh. Ý nói từ mê tới giác con người có những diệu dụng phi thường, là cái mà chúng ta không thể hiểu không thể biết hết được.
Hỏi:
Ma-ni cùng các sắc,
Chẳng hợp cũng chẳng lìa?
Đáp:
Hoa xuân cùng bươm bướm,
Lúc mến lúc chia lìa.
Hỏi: – Thế là theo kia hỗn tạp?
Đáp:
Chẳng phải mắt tăng Ấn,
Luống nhọc trình biện châu.
Hỏi: Ma-ni cùng các sắc, chẳng hợp cũng chẳng lìa? Ma-ni là hòn ngọc quý trong suốt, không có màu sắc.
Nếu để vật màu đỏ thì thấy ngọc ma-ni ửng đỏ, để vật màu xanh thì thấy ngọc ma-ni ửng xanh… Màu sắc của vật xung quanh phản ảnh vào, ngọc ma-ni có màu sắc của vật. Nguyên ngọc ma-ni vốn không có màu sắc, do sắc của vật để gần phản ảnh vào, thấy ngọc ma-ni ửng màu đỏ màu xanh. Nếu lấy vật đi thì ngọc ma-ni trong suốt không màu sắc nên nói chẳng hợp cũng chẳng lìa. Ngọc ma-ni trong suốt mà có màu này sắc nọ dụ cho tâm thể thanh tịnh trong sáng của con người. Nó vốn không tham, không sân, không có tất cả cái xấu, nhưng do thấy cảnh đẹp bên ngoài tham dục dấy khởi, gặp việc xấu sân giận nổi dậy… tùy duyên tùy cảnh bên ngoài mà có tham sân ô uế. Tâm thể con người không là gì hết, do ảnh hưởng bên ngoài mà có đủ thứ. Tuy ảnh hưởng nhưng không phải một mà cũng không lìa.
Ngài trả lời: Hoa xuân cùng bươm bướm, lúc mến lúc chia lìa. Vào mùa xuân hoa nở bày nhụy tỏa hương, bươm bướm bay đến hút mật, khi bướm cần mật thì bay đến hút, khi hết cần thì bay đi. Như vậy là hợp hay lìa? Bướm là bướm, hoa là hoa, vì nhu cầu và tùy duyên mà bướm gặp hoa, khi không cần nữa thì bướm bay đi, không có cái gì nhất định hợp nhất định lìa. Ý ngài nói tâm thể thanh tịnh trong sáng của mỗi người nếu không có duyên trần thì trong sạch không nhiễm nhơ, nếu có duyên trần thì liền ô nhiễm. Song, ô nhiễm chỉ là bóng thôi, chứ không thật.
Ví dụ hiện giờ tâm chúng ta đang thanh tịnh an ổn, bỗng có người đến mắng chửi. Chúng ta không tự chủ được, liền khởi niệm sân giận thì lúc đó tâm chúng ta trở thành ô nhiễm, nhưng ô nhiễm chỉ là cái bóng chứ không có bản chất thật. Vì duyên trần qua rồi niệm sân giận theo đó cũng mất, hết sân giận thì thể thanh tịnh hiện tiền không mất. Như vậy duyên trần đến thì thấy như hợp, duyên trần đi thì thấy như ly, kỳ thật thì không hợp không ly. Bởi tâm thể con người vốn không có tham sân…, do duyên cảnh bên ngoài nên mới khởi tham sân… Song tham sân… chỉ là bóng không thật, nếu thật thì tham sân còn hoài không hết. Qua rồi mất làm sao nói thật được? Nhưng làm sao đối trị nó? Ví dụ gặp duyên cảnh bất như ý, tham sân dấy khởi, liền quán duyên cảnh là huyễn hóa, tham sân cũng huyễn hóa không thật, quán như thế thì tham sân không khởi nữa, đó là tu. Nếu thấy duyên cảnh là thật, tham sân là thật thì si mê phiền não không bao giờ hết, đó là không khéo tu. Chúng ta tu phải hiểu chỗ này cho rõ.
Ngài đáp như thế mà vị tăng này vẫn chưa hiểu nên hỏi tiếp: Thế là theo kia hỗn tạp? Vị tăng này thắc mắc, ngọc ma-ni trong suốt, vật bên ngoài màu gì phản ảnh màu đó vào ngọc ma-ni, như thế thì ngọc ma-ni trở thành hỗn tạp đủ màu sắc sao? Ngài trả lời chẳng phải mắt tăng Ấn, luống nhọc trình biện châu. Tăng Ấn là các vị cao tăng Ấn Độ như tổ Bồ-đề-đạt-ma, tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi… Nếu không phải là người có mắt của chư tổ Ấn Độ, đối với hạt châu trong suốt không màu sắc thì không ai có thể nhận ra hạt châu quý. Kẻ dung thường thì không quý trọng, vì nó không có màu sắc, đem ra luận bàn dài dòng chỉ uổng công vô ích thôi. Đó là nghĩa hạt châu không hỗn tạp màu sắc. Như hiện tại, gặp cảnh ưa thích khởi niệm tham, chúng ta nói tôi tham, gặp cảnh bức xúc khởi niệm sân, nói tôi sân, gặp cảnh buồn khởi niệm buồn, nói tôi buồn… Như vậy là chúng ta nhận niệm tham, niệm sân là mình. Nhưng lúc không khởi niệm thì không thấy tôi, tức là không biết tánh giác mình đang hiện tiền. Câu trả lời của ngài thâm thúy vô cùng. Cái gì có hình tướng thì mắt phàm mới nhận ra được, cái không hình tướng thì không thể nhận được. Tâm thanh tịnh không dấy niệm, lúc đó không tự biết tâm mình đang thanh tịnh, khi khởi niệm này niệm kia mình mới biết, biết ý niệm mà không biết thể hằng hữu thanh tịnh trong sáng. Chúng ta thật đáng thương, cái thật mà không biết, cái giả lại nhận là mình! Có khi nào chúng ta giận mà thấy cái giận này không phải của tôi không? Thấy cái giận không phải của tôi thì hết giận, nhận cái giận là tôi thì tức lắm, nhưng tức một lúc rồi cũng hết. Chỉ còn lại thể tánh hằng hữu thì không mất. Thể tánh này chỉ có chư tổ mới nhận ra. Nó luôn luôn thanh tịnh trong suốt không xen tạp bất cứ một thứ gì.
Hỏi: – Thế nào là chạm mắt Bồ-đề?
Đáp:
Chim từng sợ cây cong,
Người thổi mãi rau nguội.
Hỏi: – Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác.
Đáp:
Kẻ điếc nghe đàn sáo,
Người mù ngắm trăng lên.
Hỏi: Thế nào là chạm mắt Bồ-đề? Thấy người là Bồ-đề, thấy vật là Bồ-đề, thấy cây cỏ là Bồ-đề, thấy cái gì cũng là Bồ-đề hết, như vậy là thế nào? Ngài trả lời: Chim từng sợ cây cong, người thổi mãi rau nguội. Ý nói chim bị cung bắn thoát chết một lần, từ đó về sau thấy cây cong liền sợ bay chỗ khác tránh. Câu người thổi mãi rau nguội dẫn từ truyện tích: Xưa có anh chàng háu ăn, lên mâm cơm anh húp canh nóng lia lịa nên bị phỏng miệng. Từ đó về sau thấy thức ăn là anh sợ phỏng miệng. Một hôm người ta dọn cho anh đĩa rau luộc nguội, anh liền thổi không cần biết rau nóng hay rau nguội. Ngài dùng hai chuyện này để nói ý nghĩa chạm mắt là Bồ-đề. Tức là vừa thấy vật liền biết không đợi nghĩ suy mới biết. Mỗi ngày từ sáng tới chiều ai cũng thấy biết bao là người, thấy biết bao là cảnh vật, tức biết bao là Bồ-đề! Vậy chúng ta thấy bao nhiêu người bao nhiêu cảnh vật là bấy nhiêu Bồ-đề hay bấy nhiêu phiền não? Thấy người thấy vật khởi niệm phân biệt khen chê thủ xả thì nhiễm như dính mắc, không phiền não là gì? Người nào tâm thanh tịnh trong sáng như ngọc ma-ni, thấy người biết người, thấy vật biết vật, không khởi một niệm nhiễm như dính mắc, thì thấy tất cả là Bồ-đề. Như vậy, cũng là người mà thấy là Bồ-đề hay phiền não, gốc tại nhiễm như dính mắc hay không nhiễm như dính mắc.
Quý vị có mặt ở đây tu cũng được năm bảy năm rồi, quý vị chạm mắt là Bồ-đề hay chạm mắt là phiền não? Thấy người không ưa thì ghét, thấy vật không khen thì chê, thấy như vậy là phiền não. Bởi thế nên mọi người than thế gian này nhiều buồn phiền quá! Thế gian không có buồn phiền, do mình dính mắc với thế gian mới thành phiền não. Người tu chúng ta có những cái lầm lẫn rất buồn cười, trách thế gian phiền phức lắm, muốn ẩn trốn trong núi rừng cho hết phiền não. Nhưng trốn không được, lâu lâu có việc cũng phải ra thành thị, lúc trốn thì yên lúc ra thành thị thì phiền não bức xúc trở lại. Như vậy chừng nào hết phiền não? Thôi thì đi giữa cõi đời làm sao không dính không kẹt mới thật là Bồ-đề. Gốc của sự tu là làm sao ở trong trần mà không nhiễm như chứ không phải trốn. Hai câu trả lời của ngài nói lên rằng khi sáu căn đối cảnh liền biết là Bồ-đề.
Vị tăng này vẫn chưa hội, hỏi tiếp: Đệ tử chẳng hiểu, xin Thầy cho dụ khác. Ngài đáp: Kẻ điếc nghe đàn sáo, người mù ngắm trăng lên. Ngài đã chỉ trắng rồi mà vị tăng này không chịu nhận, bảo cho ví dụ khác, chẳng khác nào kẻ điếc nghe đàn sáo, người mù ngắm trăng, vậy làm sao nghe làm sao thấy? Ngài chê và quở người hỏi.
Hỏi:
Vốn tự có hình cùng có bóng,
Có khi bóng cũng lìa hình chăng?
Đáp:
Các sông về đông chừ muôn dòng tranh chảy,
Chúng sao chầu bắc chừ ngàn xưa về tâm.
Hỏi: Vốn tự có hình cùng có bóng, có khi bóng cũng lìa hình chăng? Ý vị tăng hỏi có hình là có bóng, có khi nào bóng lìa hình chăng? Câu hỏi này nhắc chúng ta nhớ câu chuyện ngài Động Sơn Lương Giới đi qua cầu, thấy bóng mình hiện dưới nước, ngài liền ngộ. Bóng không phải là hình, mà rời hình thì không có bóng, nhưng hình tức là bóng vì có hình mới có bóng. Hình thì có tướng trạng sờ mó được, bóng không sờ mó được, nên bóng không phải là hình, do có hình mới có bóng. Theo vị tăng này thì hình chỉ cho thể chân thật, bóng chỉ cho cái hư dối. Như vậy thể chân thật chính là mình, bóng hư dối không phải là mình có rời nhau không?
Ngài đáp: Các sông về đông chừ muôn dòng tranh chảy, chúng sao chầu bắc chừ ngàn xưa về tâm. Tất cả sông, sông nào cũng chảy từ nguồn, chia ra nhiều nhánh nhiều phụ lưu, tuôn chảy ra biển, ở Việt Nam biển ở phía đông nên nói chảy về đông. Các sao trên không sao nào cũng hướng về phía bắc chầu sao bắc đẩu. Và tất cả vạn vật đều quy về tâm. Ngài nói rằng bóng là cái tạm bợ hư ảo, hình là thể chân thật, thấy dường như hai nhưng tất cả đều không rời thể chân thật. Tức là tất cả đều quy về tâm, vì tâm là nguồn gốc của tất cả. Ví dụ tôi đứng ở giữa nhà, chung quanh tôi để mười tấm gương, trong mười tấm gương hiện mười cái bóng. Vậy mười cái bóng gốc từ đâu mà ra? Có phải từ con người của tôi mà ra không? Chỉ có một mình tôi đứng mà có tới mười bóng. Điều này để nói lên muôn sự muôn vật hư ảo gốc từ tâm hiện ra.
Hỏi: – Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức?
Đáp:
Xa ném Thái Sơn qua biển bắc,
Ngước tung cây gậy đến cung trăng.
Hỏi: Thế nào là một câu sáng tỏ siêu trăm ức? Câu này dẫn từ Chứng Đạo Ca của thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác. Ý hỏi một câu mà sáng tỏ rồi thì vượt khỏi trăm ngàn ức là thế nào? Ngài đáp: Xa ném Thái Sơn qua biển bắc, ngước tung cây gậy đến cung trăng. Nghĩa là cầm núi Thái Sơn ném xa tới tận biển phương bắc, ngước đầu lên hư không ném tung cây gậy đến tận cung trăng. Đó là một câu sáng tỏ siêu trăm ức. Thái Sơn là một ngọn núi lớn, đâu phải vật nhỏ mà tay người có thể cầm được. Thế mà người sáng tỏ một câu có thể cầm ném xa tới biển bắc, không siêu bách ức cây số là gì? Còn cung trăng và quả đất cách nhau quá xa, thế mà người sáng tỏ một câu, từ quả đất có thể ném cây gậy tới cung trăng, không siêu bách ức cây số là gì? Ý ngài nói người thấu suốt một câu của Phật tổ, thì vượt qua dễ dàng tất cả những cái tầm thường của thế gian, vì người đó được cái diệu dụng phi thường. Như Lục Tổ ngộ một câu trong kinh Kim Cang ngài siêu vượt một cách phi thường, sánh với chúng ta tu mấy chục kiếp không biết kịp ngài chưa! Ngài ngộ một câu rồi thì tất cả những nghiệp chướng, những cái tầm thường đều vượt qua hết. Tổ Lâm Tế sau khi ngộ một câu ở thiền sư Đại Ngu, từ đó về sau tâm ngài không có niệm lẫn lộn. Đó là siêu trăm ức. Chúng ta ngày nay nghe một câu có chút tỉnh, vừa tỉnh lại mê. Chẳng khác nào người đang ngủ say, có tiếng động mạnh nhướn mắt lên, tưởng chừng như đã thức, nhưng lại nhắm mắt ngáy nữa, nên không siêu nổi. Đó là cái bệnh chung của người tu bây giờ, vì vậy mà phải giảng dạy thường xuyên. Nếu chúng ta nghe một câu siêu trăm ức như Lục Tổ thì thảnh thơi biết mấy! Ngũ Tổ chỉ gọi Lục Tổ vào thất dạy một lúc là xong việc. Chúng ta ngày nay không được như thế, nên cả thầy lẫn trò đều rất cực nhọc. Đó là ý nghĩa một câu sáng tỏ siêu trăm ức.
Hỏi:
– “Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Đầu gậy gió dễ động,
Trên đường mưa thành lầy.
Hỏi: Chỉ một việc này là thật, còn hai ắt chẳng chân, thế nào là chân? Câu này phát xuất từ kinh Pháp Hoa, ý nói các vị tu từ Nhị thừa tiến đến Nhất thừa (Phật thừa), Nhất thừa là chân, nếu còn thấy có Nhị thừa thì không phải chân, vị tăng này hỏi thế nào là chân? Ngài đáp: Đầu gậy gió dễ động, trên đường mưa thành lầy. Ngài đáp như vậy đã chỉ cái chân là thế nào chưa? Trong nhà thiền có câu “chạm mắt tức Bồ-đề” để chỉ cho cái chân thật này. Vì gió thổi động đầu gậy dễ thấy, trên đường đất mưa nhiều nên lầy lội. Nếu chúng ta tỉnh giác, nhìn tất cả mọi vật thấy cái gì cũng là chân hết. Nếu chúng ta mê mờ nhìn cái gì cũng thấy theo mê vọng. Như vậy, nếu tỉnh thì cái chân thật hiển hiện ngay trước mắt chứ không ở đâu xa cả, nếu mê khởi niệm tìm thì không thấy.
Hỏi:
Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng,
Không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn.
Ý chỉ rốt ráo thế nào?
Đáp:
Trời thu hoàng oanh hót,
Trong tuyết mẫu đơn xinh.
Hỏi: Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng, không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn. Ý chỉ rốt ráo thế nào? Người hỏi dẫn lời của một thiền sư ra hỏi. Ý nói không cầu diệu tạng của đức Phật, cũng không làm người tiếp nối đèn của chư tổ, vậy ý nghĩa cuối cùng như thế nào? Tất cả người tu nhất là người tu thiền, lúc nào cũng hướng về đức Phật, tìm cho ra chỗ tột cùng của Phật dạy để tu và tiếp nối chư tổ truyền bá. Nhưng tại sao đây lại nói không cầu Phật, không nối tổ là ý thế nào? Ngài trả lời hai câu rất nên thơ: Trời thu hoàng oanh hót, trong tuyết mẫu đơn xinh. Thông lệ thì mùa xuân chim hoàng oanh hót, mà đây nói mùa thu chim hoàng oanh hót. Hoa mẫu đơn trổ vào mùa hè, mà đây nói hoa mẫu đơn trổ trong tuyết tức là mùa đông. Ngài nói như thế hàm ý gì? Câu Chẳng hướng Như Lai cầu diệu tạng, không mong đuốc Tổ nối ngọn đèn là câu nói ngược với ý người xưa, không có ý nghĩa thật. Thế mà người sau cứ lấy làm chuẩn là sai lầm. Do đó mà ngài trả lời đảo ngược.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Một người xoay vách đứng,
Cả nhà uống chẳng vui.
Hỏi: Thế nào là câu tuyệt diệu? Ngài trả lời bằng hai câu thơ: Một người xoay vách đứng, cả nhà uống chẳng vui. Mọi người trong nhà bày tiệc đang xúm xít quanh bàn ăn uống cho vui, nhưng có người đứng xoay mặt vô vách không dự, nên mọi người dự tiệc không vui. Câu tuyệt diệu là cái ngược với vòng quanh quẩn trầm luân của kiếp người, có khả năng giải thoát mọi phiền trược. Nếu còn ở trong quanh quẩn trầm luân thì chưa tuyệt diệu. Câu tuyệt diệu là câu làm cho mọi người chấn động, vì ngược lại với tất cả những cái tầm thường. Giống như bao nhiêu người ngồi trong tiệc, chỉ một người đứng xoay mặt vô vách làm hành động ngược lại, khiến cho mọi người dự tiệc lòng nao núng không vui. Như vậy câu nào là câu tuyệt diệu? Câu nào mà thiên hạ nghe liền xoay lưng với trần cảnh, trở về với tánh giác, tức là “bối trần hiệp giác”, đó là câu tuyệt diệu.
Hỏi:
Cổ kim việc lớn thôi không hỏi,
Chỉ chuyện Tây lai ý thế nào?
Đáp:
Người nói khéo mặt lành,
Kẻ dùi rùa đập ngói.
Hỏi: Cổ kim việc lớn thôi không hỏi, chỉ chuyện Tây lai ý thế nào? Người hỏi nói, chuyện to lớn từ xưa đến nay không hỏi, chỉ hỏi tổ sư Đạt-ma từ Ấn Độ sang Trung Hoa ý thế nào? Ngài đáp: Người nói khéo mặt lành, kẻ dùi rùa đập ngói. Người nói khéo mặt lành là người ngoài mặt giả bộ hiền lành, nhưng lòng dạ thì thâm hiểm ác độc. Kẻ dùi rùa đập ngói, là dùng mũi nhọn đâm vào những chỗ lõm trên yếm con rùa, rồi hơ trên lửa những chỗ lõm đó nứt ra, hoặc đập hai miếng ngói vào nhau, xem vết nứt đoán lành dữ… Tức chỉ phường thầy bói, những người nói dựa vào tâm trạng đối phương mà phán để lấy tiền. Ngài nói thế là sao? Trong nhà thiền, các thiền sư thường dạy, muốn thấy được ý của Tổ sư thì khi các ngài nói bên đông phải hiểu bên tây mới đúng. Nếu nói bên đông mà hiểu bên đông thì trật. Câu nói bên đông mà ý bên tây, giống như người ngoài mặt giả bộ hiền lành mà trong lòng thâm hiểm ác độc, tâm và mặt không giống nhau. Cũng vậy, chư tổ nói bên này phải hiểu bên kia, đừng mắc kẹt ở câu nói. Muốn biết được ý Tổ sư hay vào cửa Tổ sư phải như thế. Ngoài ra đều vô nghĩa như phường thầy bói nói mò thôi. Đó là ngài trả lời câu hỏi ý Tổ sư từ Ấn Độ sang.
Hỏi: – “Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân?
Đáp:
Hoa núi mưa sa, Thần nữ khóc, Tre sân gió thổi, Bá Nha đàn.
Hỏi: “Tâm pháp đều quên, tánh tức chân”, thế nào là chân? Tâm là nội tâm, pháp là ngoại cảnh, nội tâm và ngoại cảnh cả hai đều không dính mắc thì lúc đó là chân. Hỏi thế nào là chân, ngài đáp: Hoa núi mưa sa Thần nữ khóc, tre sân gió thổi Bá Nha đàn. Hoa ở trên núi khi trời mưa, hạt nước đọng lại trong lòng hoa, giống như hạt nước mắt của Thần nữ. Những bụi tre ở trước sân gió thổi cọ với nhau, nghe kẽo kẹt giống như tiếng đàn của Bá Nha. Ngài trả lời nghe rất là nên thơ, nhưng chúng ta không biết ngài nói gì. Vậy ngài đã trả lời thế nào là chân chưa? Hoa trên núi, mưa rơi hạt nước đọng trong lòng hoa đó là sự thật, thế mà người ta tưởng tượng là Thần nữ khóc. Tre ở trước sân gió thổi cọ vào nhau đó là sự thật, thế mà người ta tưởng tượng là tiếng đàn của Bá Nha. Muôn sự muôn vật lúc nào cũng hiện cái chân thật của nó, thế mà do tưởng tượng của con người nên mất hết chân thật. Vậy nếu không tưởng tượng, thấy cái nào đúng như cái nấy là chân. Nếu khởi tưởng thì mất chân.
Hỏi: – Thế nào là câu tuyệt diệu?
Đáp:
Trong cổ vẫn còn nghẹn,
Thường ở chỗ bất an.
Hỏi: Thế nào là câu tuyệt diệu? Ở trước có vị đã hỏi câu này, bây giờ có người hỏi lại. Ngài trả lời: Trong cổ vẫn còn nghẹn, thường ở chỗ bất an. Người ăn bị mắc nghẹn hay mắc xương thì khó chịu không vui dù ở chỗ vui nhộn. Câu tuyệt diệu là câu mà một việc chưa giải quyết được thì tất cả việc khác đều không ổn, nếu giải quyết được một việc thì mọi việc đều ổn. Ở trước ngài trả lời câu này bằng câu chuyện cả nhà bày tiệc ăn uống, một người đứng xoay mặt vào vách nên mọi người không vui. Ở đây ngài nói đang bị nghẹn trong cổ, đứng trước mọi cảnh, thấy cảnh nào cũng buồn không vui. Như vậy, câu tuyệt diệu là câu khi chúng ta chưa giải quyết được “việc lớn” thì nơi nào cũng mù tối cũng đau khổ, nếu giải quyết được “việc lớn” thì chỗ nào cũng thảnh thơi an lạc.
Hỏi:
Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh,
Xuất đầu sao được thoát lồng trần?
Đáp:
Núi cao lại lớn dung chứa bụi,
Bể cả càng sâu nhận các dòng.
Hỏi: Còn tu còn chứng sanh bốn bệnh, xuất đầu sao được thoát lồng trần? Người hỏi dẫn kinh Viên Giác: Người tu còn thấy có tu có chứng thì mắc phải bốn bệnh tác, chỉ, nhậm, diệt. Như vậy thì xuất đầu làm sao thoát được lồng trần? Xuất đầu là chui ra cho người ta thấy. Dụ như cây dùi bén để trong cái đãy kín không ai thấy, bấy giờ mũi dùi chui ra khỏi đây ai cũng thấy. Ý hỏi người tu khi đã tiến đạo được kết quả tốt, khi ra giáo hóa làm sao khỏi bị cái lồng trần tục bao vây? Ngài đáp: Núi cao lại lớn dung chứa bụi, bể cả càng sâu nhận các dòng. Nghĩa là núi càng ngày càng lớn là nhờ bụi đất phủ lấp thêm nên mới lớn. Biển cả càng sâu là nhờ nước từ nhiều dòng sông đổ ra, nên biển mới đầy và sâu. Nếu không có bụi đất phủ lấp thì núi không lớn, nếu không có nước sông đổ ra thì biển không sâu. Vị tăng này sợ khi ra làm Phật sự bị mắc kẹt trong sự bao phủ của trần tục. Ngài nói trần tục là cái làm lớn thêm từ bi trí tuệ. Ngài khuyên đem ánh sáng trí tuệ hòa lẫn trong bụi bặm để làm lợi ích cho chúng sanh. Bụi bặm tuy nhơ nhớp lẫn trong ánh sáng, nhưng không làm cho ánh sáng nhiễm nhơ thì có hại gì. Giống như núi đã cao, có bụi đất phủ lấp thì núi càng thêm lớn. Biển đã rộng sâu nếu nước nhiều dòng sông chảy ra, thì biển càng thêm rộng thêm sâu đâu có hại gì. Có hại hay không là do mình. Nếu còn kẹt ở hình tướng thì mới nhiễm ô, mới giới hạn, không kẹt trên hình tướng thì có gì nhiễm ô giới hạn. Ngài khuyến khích ra làm Phật sự không nên trốn tránh, đó là cái duyên để tăng thêm công đức.
Hỏi: – “Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này?
Đáp:
Đường hẹp trúc um tùm,
Gió thổi thành khúc nhạc.
Hỏi: “Chỉ Phật với Phật mới biết việc này”, thế nào là việc này? Chủ yếu của người hỏi là hỏi việc này, tức chỗ chỉ có Phật với Phật mới biết. Chỗ Phật với Phật biết, chúng ta là phàm có thể hiểu và thiền sư có chỉ được không? Thật là vượt khỏi chuyện bình thường. Ở đây ngài trả lời rất đơn giản: Đường hẹp trúc um tùm, gió thổi thành khúc nhạc. Chỗ Phật với Phật biết là tất cả những cái mà phàm phu chúng ta biết. Đó là đường đi chật hẹp trúc trồng bên đường phủ lá um tùm, gió thổi thân trúc cọ vào nhau phát thành tiếng nghe như bản nhạc. Chuyện này ở nhà quê ai cũng biết, rất bình thường. Nhưng cái bình thường đó khéo thấy thì có cái phi thường trong ấy. Mọi người ai cũng tưởng chuyện Phật với Phật biết là chuyện phi thường, người thường không thể biết. Kỳ thật chính chỗ bình thường hằng ngày ai cũng gặp cũng thấy có cái phi thường, khéo nhận thì thấy, không khéo nhận thì không thấy. Cái phi thường ở ngay trong cõi trần này chứ không phải ở trên trời trên mây mà chúng ta không thể biết.
Hỏi: – Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao?
Đáp:
Cỏ bồng chim én đậu,
Biển cả náu cá kình.
Hỏi: Chẳng dùng bình thường, chẳng dùng thiên nhiên, chẳng dùng tác dụng, thì nay phải làm sao? Câu hỏi này thật lạ lùng. Bình thường cũng không dùng, thiên nhiên cũng không dùng, tác dụng cũng không dùng. Vì bình thường thì quá dung dị, thiên nhiên thì không thể tạo tác, còn tác dụng thì sanh diệt, vậy phải làm sao đây? Ngài đáp: Cỏ bồng chim én đậu, biển cả náu cá kình. Nghĩa là chim én đậu trong đám cỏ bồng rậm, cá kình ẩn dưới biển sâu. Ngài nói thế ngầm ý dạy cái gì? Câu hỏi này là câu hỏi của người tu thấy được lẽ thật, muốn ứng xử với đời cho hợp, mà không biết phải làm sao. Ngài nói chim én đậu trong đám cỏ bồng, cá kình ẩn dưới biển sâu, là ngầm ý dạy phải tùy duyên mà ứng xử cho thích hợp.
Hỏi:
Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp,
Thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi?
Đáp:
Tất cả súc sanh tê giác quý,
Ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn.
Hỏi: Tứ đại đeo mang đã nhiều kiếp, thỉnh Thầy phương tiện thoát luân hồi. Người hỏi nói tôi đã nhiều kiếp mang thân tứ đại này, bây giờ chán ngán không thích mang nó nữa, nhờ Thầy dạy cho một phương tiện để tôi tu thoát khỏi luân hồi. Ngài đáp: Tất cả súc sanh tê giác quý, ăn toàn gai góc, ngủ trong bùn. Tất cả súc sanh thì con tê giác quý hơn hết, vì sừng của nó dùng để làm thuốc, làm đồ dùng thử thuốc độc trong thực phẩm, da dày chống tên đạn v.v… Ăn thì nó ăn gai góc của các loại cây, ngủ thì ngủ trong bùn. Người hỏi vì chán cái thân tứ đại sanh tử này muốn thoát ra, nên xin ngài chỉ cho cách tu giải thoát. Ngài dạy muốn thoát trần phải ngay trong trần mà thoát, đừng tìm kiếm ở đâu cả. Cái quý không ở ngoài cái tầm thường nhơ nhớp này. Giống như con tê giác ăn gai góc ngủ trong bùn rất nhớp nhúa, nhưng nó có cái sừng rất quý báu. Chúng ta mang thân tứ đại tầm thường này rất đáng chán ghét, nhưng bỏ cái thân tầm thường đáng chán ghét này để tìm cái cao siêu hơn không thể được. Chúng ta phải ngay nơi thân này mà tìm, bỏ cái này cầu cái kia là bệnh.
Hỏi: – “Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao?
Đáp:
Xưa nay sam tia sắc thường khác,
So le cành lá chẳng có hoa.
Hỏi: “Các thứ thủ xả đều là luân hồi”, khi không thủ không xả thì sao? Vị tăng này thấy trong kinh Phật thường dạy còn thủ còn xả là còn luân hồi, nên thắc mắc: khi không còn thủ xả thì sao? Ngài đáp: Xưa nay sam tía sắc thường khác, so le cành lá chẳng có hoa. Có lẽ lúc vị tăng hỏi câu này là lúc ngài đang ngồi bên hông chùa trước mặt có đám rau sam nên mới nói: xưa nay rau sam màu tía, khác với sắc màu của những cây khác, cành lá rau sam so le nhưng không có hoa, không thủ không xả là như vậy đó. Nếu còn thủ thì còn chấp, có xả thì có bỏ đi. Có chấp có bỏ thì có khác. Khi tâm không còn kẹt ở thủ xả thì sự vật như thế nào thấy như thế ấy. Ví dụ có người đem đồng hồ đẹp tới để trên bàn, chúng ta chỉ biết đó là cái đồng hồ đẹp vậy thôi. Nếu thấy đồng hồ đẹp muốn mua một cái để trong phòng riêng của mình, đó là thủ. Còn nếu không muốn mua sắm mà khởi nghĩ “đồng hồ này đẹp, cám dỗ người ta, đừng thèm nhìn”, đó là xả. Muốn mua là thủ, không nhìn là xả, cả hai đều không được. Đồng hồ đẹp là đồng hồ đẹp, cứ nhìn rồi thôi, nó như thế nào thấy như thế ấy thì không có lỗi. Thấy đồng hồ đẹp khởi lòng tham là có lỗi, nhưng thấy nó đẹp không dám nhìn cũng có lỗi, vì không bình thường. Nó như thế nào thấy như thế ấy là hợp đạo, khởi niệm thủ xả là chưa làm chủ được mình, chưa tự do tự tại.
Hỏi: – “Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào?
Đáp:
Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến,
Đầu non mang nguyệt vượt tường sang.
Hỏi:
– “Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý?
Đáp:
Xuân dệt hoa như gấm,
Thu sang lá tự vàng.
Hỏi: “Đường ngôn ngữ dứt” là ý thế nào? Vị tăng này lấy câu “ngôn ngữ đạo đoạn tâm hành xứ diệt” đem ra hỏi. Nghĩa là không còn ngôn ngữ không còn tâm suy nghĩ mới là chỗ cứu cánh là ý thế nào? Ngài đáp: Gió thổi tiếng còi xuyên trúc đến, đầu non mang nguyệt vượt tường sang. Hai câu thơ hay làm sao! Gió thổi đưa tiếng còi luồn qua bụi trúc đến tai người nghe. Trên đỉnh núi bóng mặt trăng vượt bức tường đến mắt người thấy. Gió thổi không có ý, tiếng còi không có ý, nó luồn qua bụi trúc đến tai người nghe cũng không có ý. Như vậy gió, còi không tâm ý không ngôn ngữ, mà vẫn chuyển động tới tai người nghe. Và đỉnh núi, mặt trăng không tâm ý, không ngôn ngữ, mà vẫn vượt tường tới mắt người thấy. Hai hình ảnh này nói lên chỗ tâm ý ngôn ngữ dứt bặt, mà vạn vật vẫn chuyển động bình thường. Nó không ý không lời giống như gió thổi đưa tiếng còi luồn qua bụi trúc đến tai người nghe, giống như đỉnh núi đưa bóng trăng đến mắt người thấy. Chỗ bặt dứt tâm ý bặt dứt ngôn ngữ, mà đem ra hỏi phải trả lời sao đây?
Hỏi: “Chư Phật thuyết pháp đều nhằm giáo hóa mọi người, nếu ngộ bản ý gọi là xuất thế”, sao gọi là bản ý? Vị tăng này dẫn kinh hỏi, Phật thuyết pháp là để giáo hóa mọi người, ai ngộ được bản ý Phật, người đó là kẻ xuất trần, vậy thế nào là bản ý Phật? Ngài đáp: Xuân dệt hoa như gấm, thu sang lá tợ vàng. Mùa xuân nhiều loại hoa trổ bông, thấy như tấm thảm gấm có nhiều màu sắc. Xuân này ở đâu chứ miền Nam mùa xuân quá nắng hoa không trổ bông. Mùa thu thì lá cây tự vàng úa rơi rụng, thu này cũng ở đâu chứ không ở miền Nam. Vậy bản ý của chư Phật là gì? Là mùa xuân hoa nở, mùa thu lá vàng, chứ không có gì lạ. Qua hai câu thơ chúng ta thấy bản ý của chư Phật là cái hiện tiền. Nghĩa là mùa xuân thì hoa nở, mùa thu thì lá cây vàng. Thấy các pháp như vậy là bản ý của chư Phật. Thấy các pháp khác đi thì không đúng bản ý của chư Phật. Các pháp thế nào thấy như thế ấy, mới là bản ý của chư Phật. Ý câu này có trùng với ý câu trước.
Hỏi: – Thế nào là một đường thẳng đứt?
Đáp:
Đông tây xe ngựa chạy,
Sớm tối bụi mù bay.
Hỏi: Thế nào là một đường thẳng đứt? Ngài trả lời: Đông tây xe ngựa chạy, sớm tối bụi mù bay. Con đường phía đông con đường phía tây xe ngựa chạy qua chạy lại, nên sớm chiều bụi bay mù mịt. Quý vị có thấy ngài chỉ con đường thẳng đứt chưa? Giống như ở trước, mùa xuân hoa nở, mùa thu lá vàng. Con đường thẳng đứt là con đường thực tế của thế gian, nó thế nào thấy như thế ấy. Ai nhìn các pháp đúng như thật thì thấy con đường thẳng đứt, nếu còn quán cách này hay cách khác thì chưa thấy. Như vậy con đường thẳng đứt là con đường cao tuyệt, mà cũng là con đường thực tế giản dị của thế gian. Đối với muôn sự muôn vật trên thế gian này, thấy đúng như thật bản chất của nó là thấy đường thẳng đứt. Đi trên đường xe chạy bụi bay không sợ bụi dơ, không sợ xe chạy nhanh thì thấy con đường thẳng đứt chứ gì? Sở dĩ không thấy đường thẳng đứt là vì chúng ta thấy mà còn khởi niệm này khởi niệm nọ, nên cứ quanh co hoài. Muốn biết con đường thẳng đứt thì nhìn sự vật như thế nào thấy như thế ấy, đó là thấy đường thẳng đứt.
Hỏi:
Có pháp, có tâm mở vọng thức,
Làm sao tâm pháp thảy tiêu vong?
Đáp:
Vượt được tùng cao che rợp rợp,
Đâu lo sương tuyết rớt bời bời.
Hỏi: Có pháp có tâm mở vọng thức, làm sao tâm pháp thảy tiêu vong? Vị tăng hỏi câu này cốt để tu. Vì nếu còn thấy có tâm thật có pháp thật thì sanh ra vọng thức phân biệt. Bây giờ làm sao cho tâm pháp dứt hết? Ngài đáp: Vượt được tùng cao che rợp rợp, đâu lo sương tuyết rớt bời bời. Cây tùng là loại cây chịu đựng, đứng giữa trời mặc cho sương tuyết rơi phủ. Người núp dưới rặng tùng là đang bị sương tuyết phủ, nếu ra khỏi rặng tùng thì không còn sợ sương tuyết phủ nữa. Hình ảnh này chỉ cho người còn thấy có pháp làm cho tâm mình rối rắm cần phải tránh duyên. Ngài nói nếu tâm không dính với pháp thì đâu có gì làm rối mà sợ phải tránh. Cây tùng dụ cho tâm, sương tuyết dụ cho pháp. Nếu vượt khỏi không còn dính mắc với tâm pháp thì không còn lo sợ bận rộn rối rắm. Giống như người ra khỏi rặng tùng thì không còn bị sương tuyết phủ nữa.
Hỏi: – Ý Tổ cùng ý Kinh thế nào?
Đáp:
Hứng lên xách gậy chơi đường núi,
Nhọc tức sổ rèm nằm chõng tre.
Hỏi: Ý Tổ cùng ý Kinh thế nào? Thường thường thiền tăng hay hỏi ý Kinh và ý Thiền có khác nhau không? Ở đây hỏi ý Tổ cùng ý Kinh thế nào? Ngài trả lời: Hứng lên xách gậy chơi đường núi, nhọc tức sổ rèm nằm chõng tre. Người hứng và người nhọc chỉ là một người. Song, người ấy có khi chống gậy đi đường núi, lúc thì sổ rèm nằm chõng tre. Tuy có đi có nằm nhưng không phải hai người. Cũng vậy, nói là Kinh nói là Tổ, nhưng ý không hai.
Hỏi:
– Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì?
Βάρ:
Đói đến cần tìm ăn,
Lạnh về phải mặc áo.
Hỏi: Tổ tổ truyền nhau là truyền việc gì? Ngài đáp: Đói đến cần tìm ăn, lạnh về phải mặc áo. Chư tổ truyền nhau là truyền cái này đây, thật đơn giản. Quý vị thấy cái mà chư tổ truyền chưa? Chư tổ truyền nhau cái mà mọi người có sẵn, đó là đói biết đi ăn, lạnh biết lấy áo mặc. Nghe bụng đói thì đi ăn, người cho gì ăn nấy không tìm cầu đòi hỏi món ngon vật quý. Lạnh thì lấy áo mặc không chọn lụa là gấm vóc. Hằng ngày sống cũng ăn cũng mặc như mọi người, nhưng không khởi vọng tưởng. Đó là chỗ tổ tổ truyền nhau. Chúng ta ngày nay dám nói là đồ đệ của chư tổ, thế mà đói không biết ăn, lạnh không biết mặc. Tới bữa ăn hỏi tri khố nay ăn cái gì? Nếu tri khố nói món ăn vừa khẩu vị thì vui, nói món ăn không vừa khẩu vị thì buồn, mặc thì lựa vải tốt may vừa ý. Đó là tìm cầu món ăn ngon cái mặc đẹp. Đâu chịu đói cần ăn thì ăn, lạnh cần mặc thì mặc. Lúc ăn lúc mặc để vọng tưởng dấy khởi lung tung, không giống chư tổ, nên không được tổ truyền là tại chỗ đó. Quý vị nắm vững chỗ này thì tu dễ lắm.
Hỏi:
Người đời đều thuê nhà,
Nhà dột ở chỗ nào?
Đáp:
Quạ vàng cùng thỏ bạc,
Đầy vơi chớ bận lòng.
Hỏi: Người đời đều thuê nhà, nhà dột ở chỗ nào? Vị tăng này dẫn ý kinh hỏi: Ai ai sanh ra cũng mang thân tứ đại này, giống như nhà mướn mình ở trọ, mai kia thân tứ đại này hoại diệt (nhà dột) sẽ đi đâu, ở đâu? Ngài đáp: Quạ vàng cùng thỏ bạc, đầy vơi chớ bận lòng. Quạ vàng là mặt trời, thỏ bạc là mặt trăng. Mặt trời và mặt trăng có khi tròn có khi khuyết, tròn gọi là đầy, khuyết gọi là vơi. Ngài khuyên chúng ta chỉ cần biết có mặt trời và biết có mặt trăng, còn chuyện tròn khuyết chớ bận lòng. Nghĩa là chúng ta chỉ cần biết có ông chủ nơi thân tứ đại này thôi, còn chuyện nhà mới nhà dột, hay thân khỏe thân hoại là chuyện thường, giống như trò đùa vậy. Mặt trời mặt trăng tự nó không có tròn khuyết. Sở dĩ có tròn khuyết là do mắt nhìn thấy lúc nó quay, che khuất lẫn nhau, rồi chấp tròn khuyết. Cũng vậy, thể chân thật ở mỗi người vốn không sanh không diệt, sở dĩ có sanh diệt là do mắt thấy tướng tứ đại hư dối tụ tán, rồi chấp nên có sanh có tử. Như vậy có gì mà hỏi tướng hư dối tan rã, thể chân thật ở đâu?
Hỏi: – Thế nào là một con đường Tào Khê?
Đáp:
Đáng thương kẻ khắc thuyền,
Đến chốn ý lăng xăng.
Hỏi: Thế nào là một con đường Tào Khê? Vị tăng hỏi con đường Tào Khê thế nào, nghĩa là con đường Lục Tổ dạy mỗi người đi là đường nào? Tức là chủ yếu mà mọi người phải đạt được như Lục Tổ, phải thực hiện như thế nào? Ngài đáp: Đáng thương kẻ khắc thuyền, đến chốn ý lăng xăng. Câu đáp này ngài dẫn điển tích: Xưa có một người nước Sở sang sông, anh ngồi trên thuyền bất cẩn đánh rơi cây kiếm xuống nước. Anh bèn khắc trên be thuyền ngay chỗ kiếm rơi để làm dấu. Chờ thuyền cập bến, anh lại be thuyền có khắc dấu, nhảy xuống nước để mò cây kiếm. Việc làm này là việc làm của người khôn hay người khờ? Thật đáng thương!
Con đường Tào Khê là đường nào quý vị có biết không? Con đường mà từ trước ngài đã nói tôi đã giảng. Nếu ai thấy các pháp trước mắt mình đúng như thật, người đó là người đi trên đường Tào Khê, rất đơn giản. Không cần phải đi Trung Quốc lên Thiều Châu, tới suối Tào Khê mới gọi là đi đường Tào Khê. Trong cõi đời này, ở đâu cũng có đường Tào Khê. Nghĩa là thấy các pháp đúng như thật, đó là đi đường Tào Khê. Vì thế mà Lục Tổ nói “bất ly thế gian giác”. Ngài nói ngay nơi thế gian mà thấy các pháp đúng như thật là giác ngộ. Song chúng ta không chịu thấy như vậy, cứ thấy như thế này như thế kia rồi hỏi đường Tào Khê. Chẳng khác chú khờ đi thuyền làm rơi kiếm, khắc dấu trên be thuyền chờ thuyền tới bến, đứng ngay dấu khắc nhảy xuống nước mò. Thật đáng thương cho người khờ khạo nghĩ tưởng lăng xăng vô ích. Ngài quở người không biết đường Tào Khê là đường “thấy các pháp trước mắt đúng như thật”, mà cứ nghĩ tưởng lăng xăng rồi thưa hỏi. Vậy quý vị có mặt ở đây có đi đường Tào Khê chưa? Sao không gan nói thẳng? Muốn đi đường Tào Khê mà cũng hơi muốn làm anh khắc thuyền tìm kiếm. Nhớ nghe, bắt chước anh khắc thuyền tìm kiếm là kẻ khờ đó. Người sáng không làm như thế, đi thẳng tắt đường Tào Khê chứ không đi quanh co.
Tham Đồ Hiển Quyết không phải là một bài luận, mà là tập hợp nhiều câu hỏi của môn đồ và tập hợp nhiều câu đáp của thiền sư Viên Chiếu, chung kết lại thành một bài để tựa là Tham Đồ Hiển Quyết. Câu hỏi và câu đáp này rời rạc với câu hỏi và câu đáp kia, không liên hệ trước sau. Do đó chúng tôi không thể toát yếu toàn bài, mà chỉ có thể nói thiền sư Viên Chiếu quả là một thiền sư xuất cách, chẳng những thông đạo lý lại còn giỏi văn chương. Hỏi đạo lý ngài đáp bằng thơ kệ vừa thấu lý thiền vừa thi vị nên thơ. Ngài làm thơ không cần phải suy nghĩ, hỏi đâu đáp đó, mỗi câu đáp là một bài thơ, thật là kỳ đặc. Cái kỳ đặc này có ở các thiền sư Việt Nam. Chúng ta học ngài vừa thấu được lý đạo vừa thấy tài văn chương qua những câu đối đáp xuất kỳ bất ý, mở miệng là thành thơ. Chúng ta ngày nay muốn làm một bài thơ phải tốn nhiều thời gian mới làm được. Song, chưa chắc đã làm hay, rõ nghĩa sáng ý. Còn ngài thì hỏi đâu đáp đó thành từng bài thơ rất đặc sắc, không cần thời gian tìm ý tứ, trau chuốt câu văn. Những bậc tiền bối của chúng ta ngày xưa rất lỗi lạc, đối đáp vừa văn chương vừa đầy đủ ý nghĩa đạo lý. Thật tuyệt vời! So sánh thì chúng ta ngày nay quá ám độn, nếu bị hỏi chúng ta phải suy nghĩ đau cái đầu, mới trả lời được. Có khi trả lời không suôn không chỉnh nữa là khác. Thế nên chúng ta phải học cái hay của người xưa để cố thực hành theo, bằng không chúng ta cứ tự mãn, tự cao thấy mình hay mà kỳ thật chẳng có gì hay cả.