Muôn pháp về tâm hỏi đáp rõ ràng. Bậc thượng căn vừa xem qua liền ngộ bản tâm, kẻ trung hạ căn ngu độn nghi ngờ bài báng chẳng tin, nên dẫn lời kinh của Phật để chứng minh, hầu đoạn trừ những nghi hoặc, tin một cách thành thật chẳng lầm. Hoặc có người được ngộ, y lời dạy mà vâng làm, vào thẳng tòng lâm của cổ Phật, vượt thẳng qua lãnh vực then chốt của tổ sư. Có thể bảo, ngay nơi nhục nhãn mà viên thông Phật nhãn, ngay nơi tâm phàm mà hiển chân tâm. Nay thuật lời trong kinh Phật và lời của tổ sư để ấn chứng chánh lý quy tâm.
Kinh Bát-nhã nói: “Hết thảy chư Phật đồng ở một chỗ, gom về cảnh giới vô lậu và tự tánh thanh tịnh.”
Kinh Hoa Nghiêm nói: “Ngôn từ thuyết pháp, kẻ tiểu trí vọng phân biệt nên sanh chướng ngại, chẳng rõ ở tự tâm. Không rõ tự tâm làm sao biết chánh đạo? Kẻ kia dùng tư tưởng điên đảo, nên tăng trưởng tất cả điều ác.”
Kinh Lăng-già nói: “Đệ nhất nghĩa đế chỉ là tâm. Vô vàn tướng bên ngoài, tất cả đều không có. Kẻ ngu phu kia chấp trước vào ác kiến, khi dối tự tha, không thấy rõ được chỗ trụ như thật của hết thảy các pháp. Đại Huệ! Hết thảy các pháp như thật, ấy nghĩa là hay liễu đạt lý duy tâm sở hiện.”
Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Người xuất gia làm Sa-môn, phải đoạn dứt ham muốn, khử trừ khát ái, biết được nguồn tâm của mình, đạt được lý gốc của Phật, ngộ pháp vô vi, bên trong không sở đắc, bên ngoài không sở cầu, tâm không hạn cuộc nơi đạo, cũng không tạo nghiệp, vô niệm vô tác, phi tu phi chứng, chẳng trải qua các ngôi thứ mà tự cao tột, đó gọi là đạo.”
Kinh Bảo Vân nói: “Hết thảy các pháp, tâm là trên hết. Nếu biết tâm thì có thể biết được tất cả pháp.”
Bài kệ trong kinh Nhân Quả nói:
Nhất thiết tạo thiện ác,
Giai tùng tâm tưởng sanh,
Thị cố chân xuất gia,
Giai minh tâm vi bổn.
Dịch:
Tất cả thiện ác tạo,
Đều từ tâm tưởng sanh,
Người xuất gia chân chánh,
Lấy minh tâm làm gốc.
Kinh Niệm Phật Tam-muội nói: “Tâm như kim cang, vì căn lành hay xuyên thấu tất cả pháp. Tâm như áo Ca-lân-đề, vì mềm dịu căn lành. Tâm như bể cả, vì căn lành nhiếp các giới tụ. Tâm như đá bằng phẳng, vì căn lành gìn giữ tất cả sự nghiệp. Tâm như núi chúa, vì căn lành hay phát sanh tất cả pháp lành. Tâm như cõi đất, vì căn lành hay gánh vác và gìn giữ sự nghiệp cho chúng sanh.”
Kinh Định Ý nói: “Trong thiền định chẳng dính mắc trong ngoài, cũng không ở giữa, đó gọi là nhất tâm.”
Kinh Bảo Khiếp nói: “Văn-thù-sư-lợi bảo Xá-lợi-phất rằng, như hỏa tại bùng cháy trong hằng sa kiếp, rốt lại cũng không đốt được hư không. Xá-lợi-phất! Cũng như vậy, mỗi mỗi chúng sanh tạo tội ngũ nghịch, cùng nghiệp chẳng lành trong hằng sa kiếp, nhưng mà tâm tánh họ rốt lại cũng chẳng thể nhơ.”
Bài kệ trong kinh Đại Hư Không Tạng Bồ-tát Sở Vấn nói:
Hư không ly sanh diệt,
Pháp giới vô khứ lai.
Chúng sắc hiện ư không,
Chư pháp y tâm trụ.
Không vô sắc phi sắc,
Tâm tánh diệc phục nhiên.
Hư không duy giả danh,
Tâm ý thức như thị.
Dịch:
Hư không lìa sanh diệt,
Pháp giới không tới lui.
Các sắc hiện trong không,
Các pháp nương tâm trụ.
Không, không sắc phi sắc,
Tâm tánh cũng như vậy.
Hư không chỉ giả danh,
Tâm ý thức cũng vậy.
Bài kệ kinh Lăng-già nói:
Chư pháp vô pháp thể,
Nhi thuyết duy thị tâm,
Bất kiến ư tự tâm,
Nhi khởi ư phân biệt.
Dịch:
Các pháp không pháp thể
Mà nói chỉ là tâm,
Chẳng thấy được tự tâm,
Mà khởi ra phân biệt.
Kinh Xuất Diệu nói: “Người thân mặc giáp giới luật, mà tâm không có gươm trí tuệ thì không làm tan hoại được bọn đầu sỏ kiết sử. Cho nên biết, nếu chẳng quán tâm cho diệu tuệ thành tựu thì không thể chặt đứt được căn bản vô minh.”
Kinh Niết-bàn nói: “Sư tử rống, ấy là nói một cách quyết định rằng, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Nếu biết tự tâm mình Phật tánh đầy đủ thì ngoài tánh lại có pháp đáng cầu ư?”
Kinh Pháp Hoa Tam-muội nói: “Không dính mắc, không chỗ nương, không hệ lụy vào tâm tịch diệt, bản tánh như hư không, đó gọi là vô thượng đạo.”
Ngài dẫn những câu kinh để chứng minh “tất cả pháp đều về tâm”. Lời kinh rõ ràng rồi, không cần phải giải thích thêm. Trước ngài dẫn kinh, kế dẫn kệ của bảy đức Phật, sau cùng là dẫn lời chư tổ.
KỆ CỦA BẢY ĐỨC PHẬT
Bài kệ của Phật Tỳ-bà-thi nói:
Thân tùng vô tướng trung thọ sanh,
Du như huyễn xuất chư hình tượng,
Huyễn nhân tâm thức bản lai vô,
Tội phước giai không vô sở trụ.
Dich:
Thân từ trong vô tướng thọ sanh,
Dụ như huyễn, xuất các hình tượng.
Người huyễn, tâm thức xưa nay không,
Tội phước đều không, không chỗ trụ.
Thân này từ trong tánh không, do duyên hợp mà thành có, nên nói từ trong vô tướng thọ sanh. Bởi duyên hợp nên nó là huyễn hóa, như hình tượng trong gương, không thật. Thân đã là giả huyễn thì tâm thức hư vọng xưa nay cũng giả huyễn. Thân và tâm thức đều huyễn thì tội phước đâu thật có, vì tội phước là thuộc về nghiệp thiện ác, mà nghiệp đó gốc từ thân tâm tạo, nên nói tội phước đều không, không chỗ trụ. Nói như vậy là có tội phước hay không? Nếu mê thì rõ ràng trước mắt, ngộ rồi tự tánh nó là không, nói có nói không đều sai.
Chúng ta có bệnh, nói có hoặc nói không. Cho nên nghe nói có tội phước thì cho là quyết định có, nghe nói không thì chấp là không tội phước, rồi muốn làm gì cứ làm, như vậy rất nguy hiểm. Nên nhớ, quyết định có hay quyết định không đều là chấp một bên. Tội phước có là có với người mê, mà không là không với người ngộ.
Bài kệ của Phật Thi-khí nói:
Khởi chư thiện pháp bổn thị huyễn,
Tạo chư ác nghiệp diệc thị huyễn,
Thân như tụ mạt tâm như phong,
Huyễn xuất vô căn vô thật tánh.
Dịch:
Tạo các pháp lành vốn là huyễn,
Tạo các nghiệp ác cũng là huyễn.
Thân như hòn bọt, tâm như gió,
Huyễn hiện không nguồn, không thật tánh.
Chư Phật nói pháp như nhau, bài kệ này cũng không khác bài kệ của đức Phật Tỳ-bà-thi, nên nói Phật Phật đều trao một pháp. Nghiệp lành là huyễn thì nghiệp ác cũng là huyễn. Tại sao? Bởi vì thân như hòn bọt, tâm như gió. Hòn bọt chợt có chợt tan, gió thoảng qua rồi mất, không có gì là thật cả.
Bài kệ của Phật Tỳ-xá-phù nói:
Giả tá tứ đại dĩ vi thân,
Tâm bổn vô sanh nhân cảnh hữu,
Tiền cảnh nhược vô tâm diệc vô,
Tội phước như huyễn khởi diệc diệt.
Dịch:
Vay mượn bốn đại ngỡ là thân,
Tâm vốn không sanh nhân cảnh có.
Cảnh trước nếu không, tâm cũng không.
Tội phước như huyễn khởi rồi diệt.
Chữ tâm ở đây là chỉ cho vọng thức, vọng tâm, chứ không phải chân tâm. Thân do vay mượn bốn đại mà có, rồi cứ tưởng nó là thật mình. Tâm cũng vậy, vốn là hư vọng không thật, bởi duyên với cảnh mà dấy lên, nương nơi cảnh mà có, rồi cho đó là tâm mình. Nếu thấy cảnh trước mắt không thật thì tâm vọng duyên theo cảnh cũng là không, khởi lên như huyễn, diệt cũng như huyễn, tội phước cũng như huyễn.
Bài kệ của Phật Câu-lưu-tôn nói:
Kiến thân vô thật thị Phật kiến,
Liễu tâm như huyễn thị Phật liễu.
Liễu đắc thân tâm bản tánh không,
Tư nhân dữ Phật hà thù biệt.
Dịch:
Thấy thân không thật là Phật thấy,
Rõ tâm như huyễn là Phật rõ.
Rõ được thân tâm bản tánh không,
Người này cùng Phật có gì khác?
Chúng ta tu thành Phật đâu cần gì nhiều, chỉ cần bao nhiêu đây thôi. Ngay thân thấy nó không thật thì nhiễm ô trần tục hết, đó là cái thấy của Phật. Rõ tâm vọng thức như huyễn hóa, rõ biết đó giống như Phật rõ rồi. Đơn giản như vậy. Biết thân vay mượn, biết tâm hư vọng, đó là cái thấy biết của Phật. Nếu rõ được thân tâm mình bản tánh là không thì cùng Phật không khác, tức đã giác ngộ.
Bài kệ của Phật Câu-na-hàm-mâu-ni nói:
Phật bất kiến thân tri thị Phật,
Nhược thật hữu tri biệt vô Phật.
Trí giả năng tri tội tánh không,
Thản nhiên bất cụ ư sanh tử.
Dịch:
Phật chẳng thấy thân, biết là Phật,
Nếu thật có biết, chẳng có Phật.
Người trí hay biết tội tánh không,
Thản nhiên chẳng sợ việc sanh tử.
Không thấy có thân thật, biết đó là Phật. Nếu còn chấp, có cái biết là thân mình, biết mình là Phật, thì không phải là Phật. Thấy mình chứng đạo, thành Phật, cái thấy đó thuộc về sở tri chướng. Vì vậy người trí biết tánh tội là không, tánh phước cũng là không. Chúng ta thường lầm, nghe nói tánh tội là không, lại tưởng tánh phước là có, vậy cũng là kẹt. Biết tánh của thân tâm là không, thì tánh của nghiệp thiện nghiệp ác cũng không, an nhiên hết sợ sanh tử.
Bài kệ của Phật Ca-diếp nói:
Nhất thiết chúng sanh tánh thanh tịnh,
Tùng bản vô sanh vô khả diệt.
Tức thử thân tâm thị huyễn sanh,
Huyễn hóa chi trung vô tội phước.
Dịch:
Hết thảy chúng sanh tánh thanh tịnh,
Từ xưa không sanh, không thể diệt.
Ngay thân tâm này là huyễn sanh,
Trong huyễn hóa không tội, không phước.
Tất cả chúng ta đều sẵn có Phật tánh thanh tịnh, từ xưa tới nay không sanh cũng không diệt. Thân tâm này đã là từ huyễn hóa sanh ra, cho nên nghiệp tội hay nghiệp phước cũng là huyễn hóa không thật.
Bài kệ đức Phật Thích-ca-mâu-ni nói:
Huyễn hóa vô nhân diệc vô sanh,
Giai tức tự nhiên kiến như thị.
Chư pháp vô phi tự hóa sanh,
Huyễn hóa vô sanh vô sở úy.
Dịch:
Huyễn hóa không nhân cũng không sanh,
Đều là tự nhiên thấy như vậy.
Các pháp thảy đều tự hóa sanh,
Huyễn hóa không sanh, không chỗ sợ.
Bởi đã là huyễn hóa nên không có nhân nào thật, cũng không có cái sanh nào thật. Thấy rõ ràng như vậy, chứ không phải tìm cách để chia chẻ ra mà thấy. Các pháp đều do nhân duyên mà hóa sanh ra, không có cái gì là thật, không sanh không diệt cũng không có gì đáng sợ. Biết là huyễn hóa thì còn gì nữa mà phải sợ.
Như vậy kệ của bảy đức Phật đều gồm chung một ý, chỉ cho thân tứ đại và vọng tâm của chúng ta hiện nay, đều huyễn hóa không thật. Cho đến nghiệp thiện, nghiệp ác cũng không thật, gốc từ bản thể chân tâm mà ra, nên nói vạn pháp quy tâm.
LỜI CHƯ TỔ
Bài kệ của Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nói:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độn
Bất dữ phàm thánh đồng triều,
Siêu nhiên danh chi viết tổ.
Bởi đã là huyễn hóa nên không có nhân nào thật, cũng không có cái sanh nào thật. Thấy rõ ràng như vậy, chứ không phải tìm cách để chia chẻ ra mà thấy. Các pháp đều do nhân duyên mà hóa sanh ra, không có cái gì là thật, không sanh không diệt cũng không có gì đáng sợ. Biết là huyễn hóa thì còn gì nữa mà phải sợ.
Như vậy kệ của bảy đức Phật đều gồm chung một ý, chỉ cho thân tứ đại và vọng tâm của chúng ta hiện nay, đều huyễn hóa không thật. Cho đến nghiệp thiện, nghiệp ác cũng không thật, gốc từ bản thể chân tâm mà ra, nên nói vạn pháp quy tâm.
LỜI CHƯ TỔ
Bài kệ của Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nói:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố,
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Đạt đại đạo hề quá lượng,
Thông Phật tâm hề xuất độn
Bất dữ phàm thánh đồng triều,
Siêu nhiên danh chi viết tổ.
Dịch:
Chớ thấy ác mà sanh chán,
Chớ thấy thiện mà sanh ưa.
Chẳng bỏ trí mà gần ngu,
Chẳng bỏ mê mà đến ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quá lượng,
Thông Phật tâm chừ vô số.
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Siêu nhiên gọi đó là Tổ.
Nhị Tổ nói: “Tâm này là Phật, tâm này là pháp. Pháp và Phật không hai, Tăng bảo cũng vậy.”
Tam Tổ nói:
Nhãn nhược bất thụy,
Chư mộng tự trừ,
Tâm nhược bất dị,
Vạn pháp nhất như.
Nhất như thể huyền,
Ngột nhĩ vong duyên,
Vạn pháp tề quán,
Quy phục tự nhiên.
Dịch:
Mắt nếu chẳng ngủ,
Các mộng tự trừ.
Tâm nếu không khác,
Muôn pháp nhất như.
Nhất như thể mầu,
Lặng lẽ quên duyên,
Muôn pháp đều quán,
Trở về tự nhiên.
Tứ Tổ nói với Ngưu Đầu Pháp Dung rằng: “Trăm ngàn cửa diệu đồng về gang tấc (tự tánh), hằng sa công đức gom ở nguồn tâm. Tất cả định môn, tuệ môn và hạnh môn đều đầy đủ, thần thông diệu dụng đều ở nơi tâm ông.”
Ngũ Tổ nói: “Muốn biết pháp yếu, tâm là căn bản của mười hai bộ kinh. Chỉ có pháp nhất thừa, pháp nhất thừa là nhất tâm vậy. Chỉ giữ nhất tâm tức là tâm chân như môn. Hết thảy các pháp chẳng ra ngoài tự tâm, chỉ tự tâm biết tâm không hình sắc. Chư tổ chỉ lấy tâm truyền tâm, bậc liễu đạt ấn khả, không pháp gì khác.”
Lục Tổ nói: “Hết thảy các ngươi tự tâm là Phật, chớ có hồ nghi. Ngoài tâm không có một pháp có thể dựng lập, đều là tự tâm sanh muôn thứ pháp. Kinh nói: “Tâm sanh muôn ngàn pháp sanh.” Pháp kia không hai, tâm kia cũng vậy. Đạo kia thanh tịnh, không có các tướng. Ông chớ quán tịnh và chớ rỗng không tâm kia. Tâm này không hai, không thể thủ xả. Đi đứng nằm ngồi đều một trực tâm, tức là Tịnh độ. Y lời nói ta nhất định ông sẽ được Bồ-đề.”
Trong lời của chư tổ, tôi chỉ giải thích một bài kệ của tổ Bồ-đề-đạt-ma, còn lại thì dễ hiểu nên không cần giải thích hết.
Chớ thấy ác mà sanh chán,
Chớ thấy thiện mà sanh ưa.
Chẳng bỏ trí mà gần ngu,
Chẳng bỏ mê mà đến ngộ.
Người tu không nên chấp một bên. Đừng chấp ngu chấp trí, đừng chấp mê cũng đừng chấp ngộ.
Đạt đạo lớn chừ quả lượng,
Thông Phật tâm chừ vô số.
Chẳng cùng phàm thánh đồng vai,
Siêu nhiên gọi đó là Tổ.
Người được như vậy là đạt đạo lớn, là thông được tâm của Phật. Người ấy không đồng hành với phàm và thánh mà được gọi là Tổ. Tóm lại, Tổ là người dứt tất cả các chấp hai bên.
TUYỆT QUÁN LUẬN
(Đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung)
Hỏi: Thế nào là tâm?
Đáp: Chỗ quan sát của sáu căn đều là tâm.
Hỏi: Tâm chỗ nào?
Đáp: Tâm ngay chỗ diệt.
Phương pháp này, nói theo trong nguồn thiền là thu vào hay là loại ra. Cho nên khi hỏi, thế nào là tâm? Ngài nói chỗ quan sát của sáu căn đều là tâm. Tức là những thức phân biệt nhận xét đều gốc từ tâm mà ra. Muốn biết tâm ở chỗ nào, ngay chỗ vọng niệm lặng mà nhận, chứ không đâu xa.
Hỏi: Gì là thể?
Đáp: Tâm là thể.
Hỏi: Gì là tông?
Đáp: Tâm là tông.
Hỏi: Gì là gốc?
Đáp: Tâm là gốc.
Hỏi: Thế nào là định tuệ đồng hành?
Đáp: Tâm tánh lặng lẽ là định, thường hiểu rõ cái lặng lẽ ấy là tuệ.
Khi tâm lặng lẽ an nhiên, lúc đó vẫn có cái thấy biết mà không phải khởi nghĩ rằng tôi đang lặng lẽ. Nếu khởi nghĩ tôi đang lặng lẽ là bệnh, mà biết mình lặng lẽ thì là tuệ.
Hỏi: Gì là trí?
Đáp: Cảnh dấy lên mà hiểu rõ là trí.
Hỏi: Gì là cảnh?
Đáp: Tự thân tâm tánh là cảnh.
Đối cảnh mà biết rõ cảnh không thật, đó là trí. Ngay tự thân tâm tánh là cảnh.
Hỏi: Gì là thư
Đáp: Dụng chiếu soi là thư
Hỏi: Gì là quyện?
Đáp: Tâm lặng lẽ không đến đi là quyện. Trải ra thì đầy khắp pháp giới, cuốn lại thì dấu vết khó tìm.
Thư tức là trải ra. Dùng diệu dụng mà chiếu soi gọi là trải ra. Quyện là cuốn lại, nghĩa là thu vào một thể. Trải ra là khởi diệu dụng, thu vào là trở về thể. Khởi diệu dụng thì hằng chiếu soi, về thể thì lặng lẽ không có hình dáng.
Hỏi: Gì là pháp giới?
Đáp: Không bờ mé để chỉ bày được, gọi là pháp giới.
Nói pháp giới là chỉ cho cái không thể chỉ bày, không có bờ mé, để cho người ta biết chừng hạn của nó.
Thiền sư Trù nói: “Hết thảy duyên bên ngoài gọi là tướng định, sự phải quấy sanh diệt, tất cả đều do tự tâm. Nếu tự tâm mà vô tâm, ai ngại gì phải quấy? Năng sở đều không, tức các tướng đều lặng.”
Bài kệ của Bàng cư sĩ nói:
Muôn pháp từ tâm khởi,
Tâm sanh muôn pháp sanh.
Đời đời chẳng biết có,
Tới lui uổng công thôi.
Muôn pháp đều gốc từ tâm khởi, nên tâm sanh thì các pháp theo đó mà sanh. Khi đã biết các pháp đều từ tâm sanh không thật, thì trên sự tu hành nói dụng công thế này thế kia, chỉ là luống uổng thôi không có lợi. Bởi vì các pháp là huyễn mà còn chấp vào sự dụng công, tức là dụng công trong cái huyễn sao? Nên nói tới lui uổng công thôi.
Nhắn gửi người tu đạo,
Không sanh có chẳng sanh.
Nếu hay đạt lý này,
Chẳng động thoát hầm sâu.
Nhắn nhủ người ham tu, trong không sanh đó có cái chẳng sanh. Nghĩa là rõ các pháp tự tánh là không, thấy tất cả những vọng niệm là không, nhưng phải biết ở trong cái không ấy có cái chẳng không. Đạt được lý này rồi thì không cần tu hành, không cần dụng công mà đã ra khỏi hầm sâu.
Bài ca của hòa thượng Đằng Đằng:
Tu đạo, đạo không thể tu,
Hỏi pháp, pháp không thể hỏi.
Người mê không ngộ sắc không,
Kẻ đạt vốn không nghịch thuận.
Nói tu đạo nhưng sự thật đạo là thể thanh tịnh an nhiên, có gì đâu mà phải tu. Pháp là chỉ cho tâm, pháp đó đã sẵn nơi mình rồi thì có gì mà hỏi nữa. Người mê không ngộ được sắc tức là không, không tức là sắc; còn người đạt được rồi thì thấy không có gì là thuận, không có gì là nghịch cả.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn,
Rốt lý chẳng hơn gang tấc.
Phiền não chính là Bồ-đề,
Hoa sạch sanh nơi bùn nhớp.
Chớ đối, chơi châu huyện khác.
Tám muôn bốn ngàn pháp môn, rốt lại gốc chỉ từ tâm mà ra. Phiền não hay Bồ-đề cũng đâu ngoài tâm, ngay phiền não tức là Bồ-đề, ngay ô nhiễm tức là thanh tịnh. Đừng đi tìm nơi này, đi kiếm nơi kia. Ngay đó mà nhận đi, tìm kiếm bên ngoài chi nữa!
Thiền sư Ngọa Luân nói: Thấu đáo được tâm tánh kia trạm nhiên rỗng suốt, xưa nay chẳng sanh cũng chẳng diệt, nào phải dồn ép. Chỉ biết tâm khởi vọng, tức là phải hướng nội phản chiếu lại nguồn tâm. Không có gốc rễ, tức là chỗ vô sanh. Vì vô sanh nên tâm tịch tĩnh vô tướng vô vị.
Bài tụng Tâm Cảnh của thiền sư Trí Đạt nói:
Cảnh lập, tâm liền có,
Tâm không, cảnh chẳng sanh.
Nếu đem tâm cột cảnh,
Tâm cảnh cả đều mù.
Khi thấy cảnh hiện ra, tâm liền duyên theo. Nếu tâm không chạy theo cảnh thì cảnh sẽ tự hết. Còn để tâm dính mắc nơi cảnh, tức là tâm và cảnh đều bị mù, không thấy đúng như thật nữa.
Cảnh tâm mỗi tự dừng,
Tâm cảnh tánh thường trong.
Ngộ cảnh tâm không khởi,
Mê tâm cảnh đồng hành.
Cảnh và tâm, mỗi cái tự không đến nhau, tánh nó thường trong lặng, tâm như cảnh như. Thấy cảnh biết cảnh là huyễn hóa thì tâm còn theo nó làm gì, nếu quên mình chấp cảnh là thật thì tâm sẽ chạy theo cảnh.
Nếu mê tâm tạo cảnh,
Tâm cảnh loạn tung hoành.
Ngộ cảnh tâm vốn tịnh,
Biết tâm cảnh vốn trong.
Do mình quên tâm nên thấy cảnh là thật, thấy thật thì tâm và cảnh duyên nhau, lăng xăng chạy tung hoành. Nếu ngộ được cảnh không thật, chỉ từ tâm mà ra thì cảnh tự nhiên thanh tịnh. Biết tâm chân thật không có vọng động, cảnh vốn từ tâm khởi, là huyễn thì có gì mà chấp.
Biết tâm không cảnh tánh,
Rõ cảnh tâm không hình.
Cảnh rỗng tâm lặng lẽ,
Tâm chiếu cảnh im lìm.
Biết tâm là không, rõ tánh của cảnh cũng không. Cảnh và tâm, cả hai đều không có hình tướng. Thấy được như vậy rồi thì lúc đó cảnh lặng lẽ mà tâm hằng chiếu soi.
Đại sư Phổ Ngạn nói: Đại đạo rộng lớn, chỉ một chân tâm. Thiện ác chớ nghĩ, thần trong vật hiện, lại có lo gì?”
Hòa thượng Quy Sơn nói: Các pháp trong ngoài đều chẳng thật, từ tâm hóa sanh, tất cả đều giả danh. Mặc tình pháp tánh châu lưu, chớ đoạn cũng chớ tiếp tục.
Hòa thượng Hoàng Bá nói: Chỉ ngộ nhất tâm, lại không một chút pháp có thể được. Đây tức là chân Phật. Phật cùng chúng sanh một tâm không khác. Chẳng bằng ngay nơi lời tự nhận giữ bản pháp. Pháp này tức là tâm, ngoài tâm không pháp. Tâm này tức là pháp, ngoài pháp không tâm.
Hòa thượng Ngưỡng Sơn nói: Đốn ngộ tự tâm không tướng, giống như hư không. Nương nơi căn mà phát minh, tức là bản tâm đủ hằng sa diệu dụng, không có chỗ gìn giữ riêng, không có chỗ an lập riêng, tức là quê nhà, tức là nước nhà.
Hòa thượng An Quốc nói: Kinh nói “nên không có chỗ trụ mà sanh tâm”.
Những bài kệ trên đây dễ, không có gì giải thích. Riêng bài kệ của hòa thượng An Quốc, tôi giải thích thêm cho rõ.
Hòa thượng An Quốc là đồ đệ của tổ Huệ Năng. Ngài dẫn trong kinh Kim Cang nói “nên không có chỗ trụ mà sanh tâm”, rồi giải thích.
“Không chỗ trụ” ấy là chẳng trụ sắc, chẳng trụ thinh, chẳng trụ mê, chẳng trụ ngộ, chẳng trụ thể, chẳng trụ dụng. “Mà sanh tâm” ấy, tức là tất cả chỗ mà hiển nhất tâm.
Không chỗ trụ tức là không trụ vào hai bên, sắc thinh, mê ngộ, thể dụng… Mà sanh tâm tức khi không trụ vào tất cả pháp, đó là nơi tất cả chỗ mà hiển bày nhất tâm rồi.
Nếu trụ vào thiện mà sanh tâm tức là điều thiện hiện, nếu trụ vào ác mà sanh tâm tức là điều ác hiện, vậy thì bản tâm liền ẩn mất. Nếu không chỗ trụ thì mười phương thế giới chỉ một tâm. Biết rõ gió phướn chẳng động, tâm ấy động.
Bản tâm là chỉ cho chân tâm. Nếu dính mắc theo nghiệp thì làm sao thấy được chân tâm, tức là chân tâm bị ẩn mất. Cho nên đối với tất cả pháp mà tâm không dính mắc thì lúc đó mười phương thế giới chỉ một tâm. Chúng ta mới tin câu Lục Tổ nói: “Chẳng phải gió động, chẳng phải phướn động, mà tâm ông động.”
Hòa thượng Quy Tông nói: Ngay tâm này là Phật, tột cùng chỉ có tánh. Sơn hà đại địa một pháp ấn định, là thần chú lớn chân thật không dối, là bản nguyên của chư Phật, là cội gốc và là xương tủy của Bồ-đề. Phật là gì? Là ngay lời nói này, lại không người khác. Kinh nói: “Ví như một hình sắc tùy theo cái nhìn của chúng sanh mà có muôn ngàn tên. Tất cả pháp chỉ là một pháp, tùy chỗ mà mang tên.”
Bài kệ trong luận Bảo Tánh nói:
Như hư không biến khắp cả,
Mà hư không chẳng phân biệt.
Tự tâm và vô cấu tâm,
Cũng không phân biệt cùng khắp.
Tâm tới chỗ vô phân biệt thì sẽ trùm khắp, chẳng khác nào hư không. Hư không vô phân biệt nên hư không trùm khắp, tâm vô phân biệt cho nên tâm cũng trùm khắp.