Hòa thượng:
Hôm nay là ngày lễ tất niên, chư tăng chư ni và Phật tử có mặt ở đây. Buổi lễ tất niên này, trước hết bên Tăng báo cáo tình hình một năm qua, chỗ nào ưu chỗ nào khuyết để tôi kết thúc nhắc nhở cho cố gắng lên. Bên Ni cũng vậy, năm nay Quản chúng chân đau thành ra ngồi tại chỗ báo cáo đơn giản thôi, chứ không báo cáo thì làm sao biết mà nhắc nhở.
Thầy trụ trì Trúc Lâm Tăng (thầy Tỉnh Khang):
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Kính bạch trên Hòa thượng,
Hôm nay là ngày cuối tháng của một năm, Hòa thượng đã chỉ dạy chúng con báo cáo trong một năm qua về việc ưu khuyết của chúng tăng, con xin đại diện cho huynh đệ báo cáo lên Sư ông.
Trong một năm qua, về phần tu thì trước khi Hòa thượng ra thất, quý huynh đệ cũng có tinh tấn tiến tu nhưng bên cạnh đó cũng có ít vị chểnh mảng trong công phu của mình. Sau khi Hòa thượng ra thất, Hòa thượng đã giảng giải rõ về nội quy của Thiền viện, con thấy trong chúng tăng tất cả huynh đệ đều tinh tấn hết, riêng có một hai vị cũng còn tâm lười biếng giải đãi. Cụ thể như có một vị thầy vào ban đêm, 3 giờ 15 phút thức chúng không chịu dậy ngồi thiền mà nằm ở trong mùng. Con hỏi thăm thì vị ấy chỉ nói nhức đầu, đó là một cái dở.
Kế đến là việc học. Trước khi Hòa thượng nhập thất, cũng như sau khi Hòa thượng ra thất, tất cả huynh đệ đều rất ham học. Những giờ học của ban giáo thọ cũng như những giờ học xem băng hình và nghe băng cassette, tất cả đều rất trân trọng và đều có một ý chí rất đáng khen.
Kế nữa là phần lao động. Các huynh đệ ở trong chúng đều rất hăng hái nỗ lực trong công tác lao động; nhưng cũng còn một hai vị không được siêng năng, thường lánh nặng tìm nhẹ để mặc mọi người khổ nhọc, như vậy con thấy không có hay.
Kế nữa, cũng có một hai huynh đệ trong việc cư xử với quý thầy lớn lại không có tâm kính nhường, đối với những vị cao tuổi hạ hơn mình, mà có thái độ la lối nạt nộ. Đó là những khuyết điểm, những tật xấu của chúng. Con cũng kính bạch trình lên Sư ông.
Trong năm qua, những ưu khuyết của chúng tăng như thế, kính mong Hòa thượng từ bi chứng minh và ban bố những lời chỉ dạy cho chúng con.
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Hòa thượng: Kế đó là bên Ni.
Ni sư trụ trì Trúc Lâm Ni
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Ngưỡng bạch trên Hòa thượng.
Kính thưa chư tôn đức tăng ni. Hôm nay con xin thay mặt cho toàn thể ni chúng kính trình lên Hòa thượng những cái ưu và cái khuyết ở trong chúng.
Ngưỡng bạch Thầy, con xin kính trình những cái ưu của chúng. Trong hai năm qua, tuy Thầy nhập thất nhưng vẫn ở gần bên chúng con, đại chúng cũng nhìn thấy hình bóng Thầy mà nỗ lực, và bên cạnh đó con cũng thường xuyên nhắc nhở.
Về phần tu, cũng có những huynh đệ rất nhiệt tình rất hăng hái và nỗ lực tinh tấn; nhưng cũng có những vị bê trễ chút ít. Con xét kỹ thì đa phần ai cũng ham tu và quyết định tu cho có kết quả. Nhất là mỗi lần Thầy dạy chúng con thì huynh đệ rất hớn hở vui vẻ để ứng dụng tu. Về thời khóa, thì lúc sau này thực lòng con cũng có dở vì con đau chân nên cũng ít đi tới lui. Tuy nhiên nhờ quý sư cô nhìn ngó phụ nên quý huynh đệ cũng không dám bê trễ. Do đó về mặt ngồi thiền, đi tụng kinh hay học đều đúng giờ giấc không trễ nải, chỉ một ít người giải đãi thôi. Tuy Sư cô phó có đi vắng nửa năm, nhưng ở nhà cũng nhờ có các sư cô phụ dạy dỗ, trong suốt một tuần từ thứ hai cho tới chủ nhật chúng con đều có học đều đặn không thiếu sót.
Về phần làm việc, trong chúng vâng lời con làm việc sốt sắng, nhiệt tình khi con giao trách nhiệm. Do đó con thấy cũng được phần an ủi là tu học, làm việc không dám giải đãi. Đó là những cái ưu mà con thấy được trong tu học và làm việc.
Nhưng bên cạnh cái ưu đó, cũng có những cái khuyết. Ví dụ như, nhất là một năm nay có nhiều huynh đệ bệnh xin đi Thành phố hơi lâu. Khi về Sài Gòn, có những huynh đệ biết giữ gìn tu hành, cũng có những người lơ đễnh, xem phim ảnh. Điều này con nghe được, đó là một thiếu sót, đến bây giờ thì con cũng chưa rầy. Trước khi đi, con cũng có nhắc, nhưng huynh đệ còn nhỏ vào trong đó không tự chủ được. Cũng có những người bệnh nhiều muốn đi chữa bệnh để có cơ hội đi đó đi đây. Con cũng nhắc, đi nhiều quá tiếp duyên nhiều thì tâm không thanh tịnh. Huynh đệ nào quyết chí tu thì nghe lời, có những huynh đệ cũng muốn đi lâu xả hơi. Con thấy đó là những khuyết điểm của chúng con.
Ngưỡng mong Thầy từ bi chứng minh và kính mong Thầy chỉ dạy thêm cho chúng con.
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Hòa thượng:
Qua hai bên tăng ni báo cáo nhưng vẫn còn thiếu một điểm, biết điểm gì không? Ai đi ngoại quốc? Bên Tăng mấy người, bên Ni mấy người, báo cáo cho biết chứ! Những người đi không nói gì hết.
Ni sư quản chúng Nội viện Ni:
Ngưỡng bạch Thầy, bên chúng con đưa được hai cô đệ tử ở Úc, hai cô đệ tử ở Quang Chiếu là ở Mỹ. Bây giờ con mới cho đi qua thêm một cô nữa là năm, rồi con sẽ chuẩn bị một cô nữa là sáu. Đó là hiện tại ở ngoại quốc có năm người, còn một người sẽ chuẩn bị qua.
Thầy trụ trì (thầy Tỉnh Khang):
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Trong những năm vừa qua, bên chư tăng kiểm lại có hai thầy đi Canada, chỉ có bấy nhiêu đó thôi.
Hòa thượng:
Hai thầy, đơn giản hơn, thôi ngồi xuống đi.
Hôm nay là ngày lễ tất niên, tất niên thì luôn luôn có ăn uống rồi mới nói chuyện. Nãy giờ thầy nghe báo cáo, báo cáo xong rồi sẽ có sự nhắc nhở hay nói cách khác là bị rầy. Ăn uống trước cho vui đi, lát nữa sẽ nhắc nhở. Ở ngoài người ta ăn uống, thôi thì mình ở chùa nhất là ở Thiền viện chỉ được uống chứ không được ăn. Mỗi người được một ly sữa, uống cho đúng pháp tất niên. Quý vị báo cáo mà quên cho biết, sĩ số của Tăng hiện giờ là bao nhiêu, sĩ số của Ni hiện giờ là bao nhiêu?
Thầy trụ trì (thầy Tỉnh Khang):
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Kính bạch trên Hòa thượng, hiện diện sĩ số của chư tăng thiền viện Trúc Lâm, tất cả là 61 vị.
Hòa thượng: Kế tiếp bên Ni.
Ni sư quản chúng Nội viện Ni
Nam-mô Phật Bổn sư Thích-ca-mâu-ni.
Ngưỡng bạch Thầy, bên chúng con là 86 vị.
Hòa thượng:
Như vậy cho biết bên ni hơi đông hơn bên tăng. Tăng ít cũng có lý do, gần đây các Thiền viện ở ngoài Bắc, mỗi nơi đều có một số chư tăng ra để phụ nên bây giờ còn lại càng ít.
Bây giờ bắt đầu nói chuyện. Tôi trách trước, đúng hơn là phải quở trách. Trách là trách bên Tăng có một thiểu số hơi ngang ngạnh không chịu nghe lời những người lớn mà còn cãi vã, có tánh cách như muốn cự lộn, đó thật là một điều đáng buồn. Chúng ta tới đây là để tu chứ không phải để giành quyền lực gì. Khi người có trách nhiệm nhắc nhở mình, mình có lỗi phải xấu hổ, phải sám hối, không có lý do gì cự lại! Đó là điều không thể chấp nhận.
Tôi rất tiếc trụ trì đây hiền quá, ai hét thì cũng làm thinh lâu lâu báo cáo vậy thôi. Nếu tôi biết trước ai mà có thái độ hung dữ đó, tôi cho rằng không phải người tu thì tôi mời ra khỏi Thiền viện. Chỗ này là chỗ tu, vì sự tu mà đến, không phải vì lợi danh gì, lại còn hung hăng như vậy thì không có tư cách người tu. Người như vậy ở chung với chúng hiền lành sẽ làm lây những cái dở. Nếu tôi nhắc tôi rầy biết nghe biết sửa thì sau này mới ở luôn với chúng được. Còn nếu giữ cái tật đó tôi nghe báo cáo một lần nữa thì nhất định tôi cho ra khỏi chúng. Vì không xứng đáng là một vị tăng làm mẫu mực cho người.
Người tu đã bỏ hết danh lợi vào đạo, lại còn hung hăng cái gì, giành giật cái gì, mà cãi lẫy hung dữ. Đó là một điều quá tệ, không tốt. Nếu một hai người đó không trị phạt thì sẽ kéo lây thêm nhiều người nữa. Ngang đây, vì cuối năm tôi mới nghe nên tôi chỉ nhắc cho biết. Nếu sang năm những vị cứng đầu cứng cổ đó vẫn còn tiếp tục thì tôi sẽ cho ra khỏi chúng. Không thể chấp nhận một người tu mà hung dữ ở trong tăng đoàn.
Bây giờ nhắc bên Ni, bên Ni cũng có những người lâu lâu đi chỗ này chỗ kia bỏ bê công việc tu học. Như lấy cớ là đi trị bệnh phải không? Bệnh thì cứ thỉnh thoảng đi, đi rồi lại ở lâu, ở lâu rồi có khi nhân cơ hội đó đi du lịch. Đó là thái độ không tốt. Tất cả chúng ta tu phải quý tiếc thời gian, không dám bỏ quên bỏ sót một ngày. Người xưa tu có khi đêm không ngủ, suốt ngày tu mà đêm cũng tu. Được như vậy tâm mới thật thanh tịnh, ý chí như vậy mới giải thoát sanh tử. Còn người bây giờ tu mà còn lười biếng, kiếm cớ né tránh sự tu hành, là không tốt, đó là cái tâm chểnh mảng lười biếng. Từ đây về sau ai có cái bệnh đó ráng chừa. Thầy không chấp nhận ở Thiền viện Tăng cũng như Ni mà có những cái lôi thôi lười biếng. Những người như vậy không xứng đáng làm Tăng làm Ni ở đây. Hơn nữa một người lười biếng mà được dung dưỡng thì những người khác bắt chước. Vì vậy phải có biện pháp với những người đó để những người khác không bị lây.
Thầy nhắc kể cả tăng ni, chúng ta tới Thiền viện vì sự tu hành, vì giải thoát sanh tử. Không phải tới đây để vui cho qua ngày hay để sống nhẹ nhàng thảnh thơi. Không bận rộn chuyện thế gian mà không chịu tu thì thật là quá dở, quá yếu.
Mong rằng năm tới tăng ni phải cố gắng tinh tấn hơn để xứng đáng là người vì thoát ly sanh tử mà đi tu, không vì lý do nào khác. Nếu còn ôm ấp trong lòng những ý niệm khác thì không phải, chỉ có hình thức chứ tâm niệm chưa xứng đáng là người tu. Vậy mong tất cả tăng ni sang năm phải cố gắng hơn, tốt đẹp hơn và hiền hòa hơn năm này. Đó là lời nhắc nhở chung của tôi.
Năm nay tôi nói một đề tài hơi cao một chút là “giải thoát sanh tử”. Vì chư tăng chư ni ai đi tu cũng đều nói rằng, “muốn giác ngộ giải thoát sanh tử”. Vì giác ngộ, vì giải thoát sanh tử mà đi tu phải vậy không?
– Dạ phải!
– Ờ phải vậy mới được chứ, có sao nói vậy. Như vậy, quý vị biết giải thoát cái gì, làm sao ra khỏi sanh tử không? Đó là vấn đề trong thời gian nhập thất, tôi nghiền ngẫm thấy rất rõ. Ngày nay chỉ ra cho tất cả nghe, biết rồi thực hành cho đúng với ý nghĩa giải thoát sanh tử. Vì khi làm một việc nào chúng ta cũng thấy rõ nhân và quả của nó. Nhân gì khiến phải trầm luân và nhân gì đưa tới giải thoát, quý vị nghĩ làm sao? Đó là vấn đề nói thì rất rộng, nhưng chỗ cốt yếu là nơi chúng ta. Mỗi người có hai loại tâm – nói hai chứ theo Duy thức học thì phân tích nhiều lắm! Hai loại tâm là tâm sanh diệt và tâm không sanh diệt.
Tâm sanh diệt là những cái nghĩ suy, hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất… Tâm không sanh diệt thì lúc nào cũng hiện hữu ở mình mà mình không biết. Phật dạy chúng ta tu, bảo phải ngồi thiền cho lặng tâm sanh diệt vọng động lăng xăng. Tâm đó là nhân dẫn chúng ta luân hồi liên miên không dứt, muốn ra khỏi vòng sanh tử thì tâm đó phải dừng phải lặng. Đức Phật ngày xưa cũng ngồi thiền dưới cội bồ-đề, ngài dừng được tâm đó gọi là định, định rồi mới giác ngộ. Như vậy, muốn được giác ngộ viên mãn như Phật, hay giác ngộ từng phần như Bồ-tát thì chúng ta phải dừng tâm sanh diệt.
Bây giờ quý vị ngồi thiền tâm đó có lộn xộn không? Nó nhỏ nhiệm quá, nhiều khi quậy trong đó mà nói nhỏ quá tưởng như hiền. Sự thực là ai cũng bị nó quậy hết vì nó làm cho mình xáo trộn, ngồi tu mà cứ lan man nghĩ nhớ hết chuyện năm trên tới chuyện năm dưới, hết chuyện của mình tới chuyện người khác. Ở đâu nó cũng dồn tới, nhớ rồi vui buồn theo những cái niệm đó. Như vậy, chúng ta muốn yên mà nó không để chúng ta yên, không yên thì chúng ta sẽ đi đâu? Sẽ tiếp tục trầm luân vì tâm đó là tâm tạo nghiệp. Tâm nghĩ suy hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất… đó là tâm tạo nghiệp. Còn lưu nó thì chúng ta bị dẫn đi trong vòng sanh tử không dừng được. Vì thế tu là để định tức là dừng tâm sanh diệt, định rồi mới tới tuệ, tuệ rồi mới tới giải thoát sanh tử.
Trong quý vị có ai ngồi định được một giờ không, hay là hai giờ mà nó chiếm hết ba phần tư? Ba phần tư là lăng xăng lộn xộn, chỉ lâu lâu yên một tý, một tý rồi lại lộn xộn nữa. Vì vậy chúng ta tu không được định, không được định thì làm sao được giác ngộ. Con đường tu chúng ta rất cay đắng, vì cái tâm lăng xăng sanh diệt đó. Ngồi thiền hai tiếng mà chỉ cần một giờ lặng yên cũng khó có. Vậy mới thấy cái cay đắng của mình. Trong ba môn vô lậu học Giới Định Tuệ thì tuệ đi chót, nhưng ở đây, tôi nói tuệ đi đầu, tuệ rồi mới tới định. Tại sao? Vì có trí tuệ chúng ta mới biết các pháp giả dối không thật, tâm không chạy theo. Còn thấy thật thì chặn mấy nó cũng chạy tuốt, phải vậy không?
Thấy các pháp từ con người đến muôn vật duyên hợp hư dối không thật, thấy cho tường tận đó là tuệ. Từ thấy tường tận rồi tâm chúng ta không chạy theo, mới được định. Định rồi mới được trí tuệ viên mãn, tuệ ban đầu là tuệ quán chiếu. Chúng ta tu nếu không dùng trí tuệ quán chiếu thì ngồi tới nghìn năm cũng không yên được. Không yên thì sự tu của mình không thành công, vì còn bị niệm dẫn đi sanh tử, còn niệm là còn sanh tử. Niệm lành thì sanh tử cõi lành, niệm dữ thì sanh tử cõi dữ, đều là gốc của sanh tử.
Nhà thiền thường dùng câu “dĩ vô niệm vi tông”, nghĩa là dùng tâm không sanh diệt làm tông chỉ. Tâm sanh diệt lặng rồi mới giải thoát sanh tử. Muốn tâm sanh diệt suy giảm, không phá rầy mình, không làm mất thời gian quý báu của mình, thì phải dùng trí tuệ đi trước quán chiếu tất cả pháp đều là hư dối. Ví dụ: Chiều đó mình bị một huynh đệ nói nặng một câu, lẽ ra mình phải cự lộn mà ráng nhịn. Nhưng đến giờ ngồi thiền câu nói đó trở lại cứ ôn tới ôn lui thì hết buổi ngồi thiền không kết quả gì. Chúng ta thường bị những ngôn ngữ, hành động, hình ảnh bên ngoài chi phối, nó không để chúng ta yên tu vì thấy nó thật. Thấy tất cả đều là giả thì sao? Như vừa nhớ đến câu người đó nói nặng, thì quán nó thật đâu mà nặng; nếu nhớ câu đó thật rồi cứ ôn tới ôn lui cả buổi khiến tâm xao động. Cho nên muốn tu được kết quả thì trước hết chúng ta phải dùng trí tuệ quán chiếu, thấy tường tận lẽ thật rồi tu có kết quả. Đó là kinh nghiệm của tôi. Bước đầu tu thiền mà không có tuệ quán chiếu thì không thể được tam vô lậu học. Phải có tuệ để phá những cố chấp, cố chấp phá được rồi thì ngồi mới yên.
Tất cả chúng ta tu, ai cũng có nguyện cao cả là giải thoát ra khỏi vòng sanh tử trầm luân là nguyện rất lớn. Nhưng còn nhân sanh tử là những niệm, những nghĩ tưởng trong lòng liên miên thì làm sao thoát ly sanh tử.
Phật dạy người tu phải định, mà định là gì? Định tất cả tâm sanh diệt. Muốn thế phải thấy tất cả niệm tưởng đều là hư ảo không thật. Khi biết rồi liền buông bỏ, đến khi tất cả niệm không còn thì chừng đó mới giải thoát sanh tử, còn niệm thì không giải thoát sanh tử. Có nhiều vị sẽ đặt câu hỏi, niệm Phật có giải thoát sanh tử không? Thật ra niệm Phật mà tới giải thoát sanh tử là niệm đến vô niệm. Ban đầu là niệm được nhất tâm, nhất tâm đến vô niệm thì giải thoát sanh tử. Chỗ giải thoát là chỗ vô niệm, còn niệm thì đi đường này đường nọ thôi. Vì vậy, chúng ta tu pháp môn nào cũng phải tới cứu cánh, tới cứu cánh thì mới giải thoát sanh tử.
Thiền tông thì chủ trương lấy vô niệm là chỗ cuối cùng, cùng tột. Tu mà không đi tới chỗ vô niệm thì không bao giờ giải thoát. Vô niệm tức là không còn những nghĩ suy tính toán sanh diệt. Như vậy, tu đến giải thoát không đơn giản, mà phải lặng hết những niệm nghĩ suy đó. Bởi vậy nên chúng ta ngồi thiền là dừng lặng tâm nghĩ suy. Tâm nghĩ suy hết thì còn gì nữa không? Tâm nghĩ suy lặng thì tâm không nghĩ suy hiện tiền. Gọi là chân tâm, tâm chân thật.
Trong con người chúng ta ngầm có hai bên, một bên là sanh diệt một bên là vô sanh. Tâm sanh diệt là vọng tưởng mình thấy đó, còn tâm không sanh diệt là chân tâm. Tôi định nghĩa rõ cho tất cả hiểu. Tâm là gì? Là cái biết, cái biết sanh diệt và cái biết không sanh diệt. Ngay nơi đây có nhận ra cái biết không sanh diệt không? Nó ở đâu?
Chúng ta thường lầm cho cái suy nghĩ sanh diệt là tâm mình. Tâm sanh diệt nên nó dẫn mình đi luân hồi sanh tử. Vì thế tu thiền bắt buộc ngồi để định tâm sanh diệt đó thì mới có thể giải thoát sanh tử. Nhưng nó không chịu định rồi làm sao đây? Rất cay đắng không đơn giản, nói thì dễ mà thực hành rất khó. Tâm chân thật vẫn ở ngay nơi mỗi người mà vì quên nên không biết tới. Vì quên nên tu rất cay đắng mà không được kết quả. Ngày xưa các vị thiền sư khi ngộ đạo rồi thì đi đứng nằm ngồi đều vô tâm nghĩa là không còn tâm sanh diệt. Từ đó các ngài giải thoát sanh tử. Chúng ta bây giờ tu rất lâu mà tâm sanh diệt cũng còn mạnh mẽ, có khi còn to lớn hơn. Như vậy thì chừng nào ra khỏi sanh tử?
Đây là vấn đề tôi muốn nói cho tất cả tăng ni biết. Sở dĩ chúng ta bị tâm sanh diệt lôi cuốn vì lâu nay chỉ biết có nó thôi. Cho nó là tâm mình nên ngồi lại là nhớ chuyện năm trên năm dưới đâu đâu, cứ nhớ cứ nghĩ. Nhớ nghĩ như vậy cho đó là tâm, còn tâm không sanh diệt sẵn một bên đó mà không ai biết. Trong nhà Phật dùng danh từ là mê, có mà không biết cũng như mù.
Tâm không sanh diệt hiện tiền, ai cũng có. Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Bây giờ muốn nhận ra nó, làm sao đây? Chúng ta có thể dùng một hai phương tiện nhỏ để biết. Bởi vì mình tu thì phải nhận ra nơi mình có tâm sanh diệt, mà cũng có tâm không sanh diệt. Tâm không sanh diệt là chân tâm, tâm sanh diệt là vọng tâm. Tôi khuyên quý vị, trước phải dùng phương tiện nhắc nhở vì chân tâm mình quên lâu quá rồi, không biết. Trước phải nhớ, mắt thấy là chân tâm, tai nghe là chân tâm, thân xúc chạm là chân tâm… Chân tâm ở khắp sáu căn, mình không nhận ra vì cứ nhận cái bóng vọng tưởng nên rồi bỏ quên. Bây giờ tôi bắt quý vị phải nhớ, mắt thấy là chân tâm. Khi mắt nhìn sự vật, theo Duy thức học, cái niệm đầu là cái biết thật, nên nó là chân tâm, qua niệm thứ hai niệm thứ ba khởi phân biệt, đó là vọng tâm. Chúng ta phải chặn nó ngay cái đầu, mắt thấy tai nghe sáu căn tiếp xúc sáu trần, mình nhận cái đầu đó là chân tâm để dừng lại vọng tưởng lôi kéo lâu nay. Đường lối tu này, tôi nói là ôm cái gốc không chạy theo ngọn.
Ngày xưa tôi nói bỏ vọng tưởng nhưng bỏ hoài không được, tại sao? Vì thấy tất cả sự vật là thật, khi ngồi nhớ chuyện này nhớ chuyện nọ, bỏ không được. Gần đây ngồi tu tôi thấy mình cần phương tiện mạnh hơn. Cứ nhắc nhớ nơi sáu căn có sẵn chân tâm, từ từ chúng ta đi dần tới chỗ buông hết các vọng tưởng hư dối. Vọng tưởng hết rồi thì toàn bộ chân tâm hiện tiền, tức là tới chỗ vô niệm. Vì còn niệm là còn sanh tử, vô niệm mới thoát ly sanh tử.
Mình phải có một cái nhìn, có cái thấy biết kinh nghiệm, không phải làm gì thì cứ đứng y một chỗ, đứng một chỗ hết năm này qua năm nọ thì tốt hơn xách gói đi ở chỗ khác. Thà là tôi chỉ còn một người nghe lời dạy tu còn hơn là năm bảy chục người ở mà không nghe theo. Nếu tăng ni ai không tin thì cứ xách gói đi về, còn muốn tu theo tôi thì phải nghe lời chỉ dạy, không thể nào cứ ỳ ra đó. Hết ngày hết tháng, hết cả cuộc đời rồi đổ thừa tôi dạy không có kết quả.
Đời của tôi, tôi phải tìm, phải mày mò làm sao cho ra manh mối để chỉ dạy cho huynh đệ tu có kết quả. Tôi hy sinh cả năm này qua năm nọ, mà khi tôi phát minh được rồi chỉ dạy mà không làm theo, vậy tôi chỉ làm gì. Thà là tôi đóng cửa tu còn có lợi hơn, nếu dạy mà người ta không theo thì hỏi dạy cái gì, nuôi chúng làm gì? Đó là những vấn đề tôi nêu lên cho quý vị xét, nếu thấy không muốn tu theo tôi thì cứ hoan hỷ xách gói về, không có gì bắt buộc. Nếu muốn ở tu thì phải thực hành, tôi dạy thì phải làm theo, rồi tu mới biết có tiến, không tiến. Quý vị cố gắng tu, tôi cố gắng lo chỗ ăn nơi ở cho quý vị yên tu. Khi đó những gì tôi tìm ra, thấy được tôi mừng, tôi cung cấp cho quý vị trước. Đã nói quyết tu thì phải cố gắng. Nếu đã tin thì tới với tôi, không tin thì tìm chỗ khác, không ai bắt buộc gì.
Từ đây về sau tất cả phải thực hành những gì đổi mới mà tôi đã chỉ dạy cặn kẽ. Nếu cứ lơ là bỏ qua ngày tháng thì tốt hơn là tôi không dạy không nói gì hết, mà tốt hơn nữa là xách gói đi. Ở đây ăn của đàn-na thí chủ mà không dụng công, không dụng công thì làm sao tôi biết tôi dạy. Đó là điều tôi khẳng định, tôi không muốn làm việc gì lừng chừng, không tới không lui, uổng đi một đời. Đây là phần tôi nhắc cho tất cả thấy.
Tôi nhắc thêm, vì khi nhập thất tu tôi thấy rõ câu Dĩ vô niệm vi tông (Lấy vô niệm làm tông chỉ). Tại sao? Vì niệm là suy nghĩ, là sức dẫn chúng ta đi trong luân hồi, còn niệm là còn sanh tử. Cho nên niệm Phật, còn niệm thì được vãng sanh, khi nào hết niệm thì mới giải thoát sanh tử.
Chúng ta tu Thiền cũng vậy, còn niệm là còn đi trong sanh tử. Vì vậy các thiền sư dùng vô niệm làm tông chỉ, làm chỗ tột cùng. Đạt tới chỗ vô niệm không phải là chuyện thường, rất khó. Thực ra nếu biết thì không khó gì. Tại sao? Lâu nay chúng ta cứ lấy cái suy nghĩ tính toán cho đó là tâm mình, nên nó cứ liên miên dẫn đi chỗ này chỗ nọ chỗ kia không cùng tận. Bây giờ đi thẳng để thấy cái chân thật của mình, lúc đó mới không chạy theo cái hư dối. Cái chân thật ở đâu? Nó ở ngay nơi sáu căn của mình, mắt thấy tai nghe… đều có cái chân thật. Chỉ vì chúng ta không dừng được ở chỗ chân thật đó nên cứ đi qua. Qua những niệm sanh diệt, thì mình bị tiếp tục luân hồi. Như khi nhìn cái hoa, ngang chừng đó hoa là hoa thì được rồi, lại thêm phân biệt đẹp xấu… tiếp tục. Niệm thứ hai thứ ba đó là sanh diệt, còn niệm đầu chân thật thì thấy hoa là hoa. Thiền sư Vân Môn nói, cây gậy là cây gậy, đi cứ đi, ngồi cứ ngồi, đừng đụng tới.
Chúng ta thì thấy rồi không chịu dừng, cứ chạy tới, chạy tới mãi nên rốt cuộc bị vọng tưởng dẫn. Người tu thiền là phải thấy được rõ ràng nơi mình, ở mắt ở tai, ở mũi ở lưỡi ở thân ở ý đều có cái chân thật lồng sẵn trong đó. Mình không chạy thêm bước thứ hai thứ ba thì cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật này, nếu chúng ta khéo như các thiền sư hay như trong kinh nói: “Tâm mình trùm khắp hư không.” Nói như vậy thì ai dám nhận nghĩ tâm mình là cái biết ở trong tâm, trong cơ thể của mình. Nói trùm khắp hư không là một điều khó hiểu khó tin, nhưng vì chúng ta quen nói tâm là cái suy nghĩ có giới hạn. Không ngờ cái biết biết được tất cả, đó mới thật là tâm mình. Cái biết biết tất cả là gì? Tức là cái biết thấu suốt tất cả mà không có niệm, không có nghĩ, đó chính là cái biết chân thật trùm khắp.
Như khi chúng ta nhìn trên hư không thấy đàn chim bay. Nếu không chú tâm để ý vào đàn chim bay thì con mắt mình thấy chừng bao lớn, bao xa? Thấy trùm hết, mà khi mình chú ý vào đàn chim thì tâm mình dồn có một chỗ. Như vậy, cái thấy chính là tâm, mình cứ tưởng thấy là thấy, tâm khác với cái thấy. Thấy tức là biết, có khi nào thấy mà không biết không? Quý vị nhìn thấy mây biết là mây, thấy chim bay qua biết là chim. Tất cả những gì tới mình biết hết, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi… Vậy thì hiện giờ tâm mình trùm khắp mà mình chỉ cột nó trên tư tưởng, trên đầu mình, cho nó là tâm, còn tất cả cái kia không phải là tâm.
Định nghĩa rõ, tâm là cái biết: cái biết sanh diệt và cái biết không sanh diệt. Biết không sanh diệt, như khi thấy đàn chim bay, có suy nghĩ không? Thấy là biết đàn chim bay, nhưng suy nghĩ thì đó là ý sanh diệt. Như vậy, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, nếu dừng ngay ở cái biết thì mình đã sống được với tâm chân thật. Còn nếu mình cứ chạy qua khỏi chỗ chân thật đó để sưu tầm, tìm kiếm cái này cái nọ thì không bao giờ sống được với chân thật.
Từ trước, chúng ta nghĩ rằng ngồi thiền buông hết vọng tưởng rồi mới biết có cái chân thật. Sự thật không phải như thế, cái chân thật luôn đang có, hiện có, nhớ như vậy thì dễ buông vọng tưởng. Sống được với cái chân thật đang có và hiện có nơi mình, mình biết rõ. Ví dụ đang ngồi, muỗi chích ở dưới bàn chân, biết hay không? Mình vẫn biết, khắp người mình cái biết lúc nào cũng có, mà cái biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ rất là nhỏ nhặt giới hạn, chúng ta chạy theo cái biết suy nghĩ lăng xăng đó mà muốn kìm chế nó dừng lại thì rất là khó. Cái biết chân tâm trùm khắp không suy nghĩ. Mắt thấy tới đâu, tâm tới đó; tai nghe tới đâu thì tâm tới đó… Các thiền sư ít ngồi thiền, đi đứng nằm ngồi các vị cũng sống được với cái chân thật. Chúng ta vì không nhận ra cái chân thật nên ráng ngồi kìm chế, các ngài đi đứng nằm ngồi đều là thiền.
Đại cương chỗ người xưa đã làm được, bây giờ chúng ta tu cốt phải tiến lên và thấy được, nhận được điểm trọng yếu này. Chúng ta tu là cốt giải thoát sanh tử, nếu còn ôm tâm sanh diệt thì muôn đời không giải thoát được. Phải nhận ra nơi mình có tâm chân thật trùm khắp, không phải là cái hiểu biết chút xíu lăng xăng trong trán trong đầu mình. Hiểu vậy thì quý vị tu mới có thể đi tới giải thoát sanh tử, còn không hiểu thì tu hoài cũng không tới đâu. Đó là một chuyện rất khó, nhưng biết rồi nó cũng chẳng khó mấy.
Như vậy thì chúng ta biết cái không suy nghĩ đó, cái thấy, cái nghe… nó không suy nghĩ. Mà không suy nghĩ nó có động không? Có tướng không? Không động không tướng thì không sanh diệt. Tánh biết không động không tướng, luôn hiện hữu trùm khắp, chưa từng vắng thiếu bao giờ. Nhận được là trở thành chủ nhân ông.
Như vậy tôi cố nói lên những kinh nghiệm của tôi cho quý vị biết, nếu ai quyết tâm tu thì cố gắng tu. Còn ai không quyết tâm tu thì cứ tự do xách gói đi không bắt buộc. Đó là lời nhắc nhở cuối năm của tôi, vậy mong tất cả cố gắng.