Chánh văn:
Thứ lớp cùng sanh là thềm thang vào đạo. Nếu ở cõi Dục giới khéo thực hành sáu pháp mà chỉ riêng thành tựu pháp Tịnh tâm thứ sáu cũng được giải thoát của bậc Tam thừa, huống chi được đủ các thiền tam-muội. Phần này với phần trước có khác. Vì cớ sao?
Như Sổ tức có hai:
1- Tu Sổ tức: Hành giả điều hòa hơi thở không mạnh không gấp, yên ổn thong thả đếm từ một đến mười, nhiếp tâm tại số không cho giong ruổi, gọi là tu Sổ tức.
2- Chứng Sổ tức: Hành giả biết tâm vận chuyển tự nhiên từ một đến mười không cần gia công. Tâm trụ duyên nơi hơi thở, biết hơi thở rỗng nhẹ, tướng tâm lần lần tế nhị. Ngại hơi thở là thô không muốn đếm, khi ấy hành giả nên bỏ Sổ tức tu Tùy tức.
Tùy tức có hai:
1- Tu Tùy tức: Xả pháp đếm hơi thở trước, nhất tâm nương theo hơi thở ra vào, nhiếp tâm duyên hơi thở, biết hơi thở vào ra, tâm trụ dứt các duyên, ý không phân tán, gọi là tu Tùy tức.
2- Chứng Tùy tức: Tâm đã vi tế an tịnh không có loạn, biết hơi thở dài, ngắn, khắp thân ra, vào. Tâm và hơi thở nương nhau vận động một cách tự nhiên, ý nghĩ lóng đứng lặng lẽ. Biết theo hơi thở là thô, tâm chán muốn bỏ, như người mệt nhọc muốn ngủ không ưa làm các việc, khi ấy hành giả nên xả Tùy tức tu Chỉ.
Chỉ cũng có hai:
1- Tu Chỉ: Dứt các duyên lự không nhớ đếm hơi thở hay theo hơi thở, tâm ngưng lặng, gọi là tu Chỉ.
2- Chứng Chỉ: Biết thân tâm đứng lặng vào định, không thấy tướng mạo trong ngoài, pháp định giữ tâm thầm chuyển không động. Hành giả khi ấy liền khởi nghĩ: Tam-muội này tuy là vô vi tịch tịnh, an ổn khoái lạc, mà không có trí tuệ phương tiện thì không thể phá hoại sanh tử. Lại khởi nghĩ: Định này thuộc về nhân duyên, do pháp ấm giới nhập hòa hợp mà có, hư dối không thật, ta nay không thấy không biết, cần phải chiếu soi. Khởi nghĩ thế rồi, không đắm nơi Chỉ, mà khởi Quán phân biệt.
Quán có hai:
1- Tu Quán: Tâm ở trong định dùng tuệ phân biệt quán tướng hơi thở ra vào vi tế như gió trong hư không; da, thịt, gân, xương v.v… ba mươi sáu vật trong thân không thật như bẹ cây chuối; tâm thức vô thường sanh diệt từng sát-na, không thật có ta và người; thân tâm và sự nhận chịu các pháp đều không tự tánh; nhân pháp đều không thì định nương vào đâu? Ấy gọi là tu Quán.
2- Chứng Quán: Khi quán như trên, biết hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông, tâm nhãn mở sáng thấy ba mươi sáu vật và các loài hộ trùng trong thân, toàn thân trong ngoài đều bất tịnh, biến đổi từng sát-na, tâm sanh buồn mừng được Tứ niệm xứ, phá Tứ điên đảo, gọi là chứng Quán. Tướng quán đã phát, tâm duyên Quán cảnh phân biệt phá dẹp, biết niệm lưu động không phải đạo chân thật; khi ấy nên xả Quán tu Hoàn.
Hoàn có hai:
1- Tu Hoàn: Đã biết Quán từ tâm sanh, hoặc từ phân tích cảnh sanh đều không hợp bản nguyên, phải phản quán, quán lại tâm năng quán. Tâm quán này từ đâu mà sanh? Là từ quán tâm sanh hay từ không quán tâm sanh? Nếu từ quán tâm sanh tức đã có quán, nay thật không phải thế. Vì sao? Vì ba pháp Sổ tức, Tùy tức và Chỉ trước chưa có pháp nào là Quán. Nếu từ không quán tâm sanh, thì cái không quán tâm đó diệt rồi mới sanh hay không diệt mà sanh? Nếu không diệt mà sanh tức hai tâm đồng có. Nếu diệt rồi mới sanh, nó đã diệt mất thì không thể sanh tâm quán được. Nếu chấp cũng diệt cũng không diệt sanh, cho đến không diệt không không diệt sanh đều không thể được. Phải biết tâm quán vốn tự không sanh, bởi không sanh cho nên không có, không có nên tức là không, không nên không có tâm quán. Nếu không có tâm quán thì đâu có cảnh quán. Cảnh và trí cả hai đều mất là lối trọng yếu để trở về nguồn vậy. Đó gọi là tu Hoàn.
2- Chứng Hoàn: Tâm tuệ khai phát, không gia công lực mà tự thầm vận chuyển hay phá dẹp phản bản hoàn nguyên, gọi là chứng Hoàn. Hành giả phải biết, nếu rời cảnh trí muốn về không cảnh trí, không khỏi sự trói buộc của cảnh trí, vì còn theo hai bên vậy. Khi ấy nên xả Hoàn an tâm nơi Tịnh đạo.
Tịnh có hai:
1- Tu Tịnh: Vì biết sắc ấm tịnh không khởi vọng tưởng phân biệt, thọ tưởng hành thức cũng như thế. Dứt vọng tưởng cấu gọi là tu Tịnh. Dứt phân biệt cấu gọi là tu Tịnh. Dứt chấp ngã cấu gọi là tu Tịnh. Tóm lại, nếu tâm như bản tịnh gọi là tu Tịnh, cũng không thể có năng tu sở tu và tịnh bất tịnh gọi là tu Tịnh.
2- Chứng Tịnh: Khi tu như trên, bỗng suốt thông tâm tuệ tương ưng, vô ngại phương tiện tự nhiên dần dần khai phát, được Tam-muội chánh thọ, tâm không còn nương tựa.
Chứng Tịnh có hai:
– Một là Tương tự chứng. Năm thứ phương tiện tương tự, đạo tuệ vô lậu phát hiện.
– Hai là Chân thật chứng. Được Khổ pháp nhẫn cho đến vô ngại đạo thứ chín v.v… tuệ Vô lậu chân thật phát hiện, những phiền não cấu trong tam giới hết, gọi là chứng Tịnh.
Lại nữa, quán chúng sanh không, gọi là Quán; quán thật pháp không, gọi là Hoàn; quán bình đẳng không, gọi là Tịnh. Không tam-muội tương ưng gọi là Quán, Vô tướng tam-muội tương ưng gọi là Hoàn, Vô tác tam-muội tương ưng gọi là Tịnh. Tất cả ngoại quán gọi là Quán, tất cả nội quán gọi là Hoàn, tất cả phi nội phi ngoại quán gọi là Tịnh. Cho nên Phạm chí Tiên-ni nói: “Phi nội quán cho nên được trí tuệ ấy, phi ngoại quán cho nên được trí tuệ ấy, phi nội ngoại quán cho nên được trí tuệ ấy, cũng chẳng phải không quán cho nên được trí tuệ ấy.”
Giảng:
Thứ lớp cùng sanh là thềm thang vào đạo. Nếu ở cõi Dục giới khéo thực hành sáu pháp mà chỉ riêng thành tựu pháp Tịnh tâm thứ sáu cũng được giải thoát của bậc Tam thừa, huống chi được đủ các thiền tam-muội. Phần này với phần trước có khác. Vì cớ sao?
Như Sổ tức có hai:
1- Tu Sổ tức: Hành giả điều hòa hơi thở không mạnh không gấp, yên ổn thong thả đếm từ một đến mười, nhiếp tâm tại số không cho giong ruổi, gọi là tu Sổ tức.
Chỗ này các vị tập tu Sổ tức phải nắm thật vững. Khi tọa thiền, sửa tư thế ngồi yên ổn rồi, hít hơi vô thật sâu, thở ra dài nhẹ nhàng, gọi là điều hòa hơi thở. Khi hơi thở điều hòa được thông thì bắt đầu đếm số.
Đếm số có hai cách:
– Cách thứ nhất, hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai, đếm tới mười thì bỏ rồi đếm lại từ một đến mười. Đếm như vậy gọi là cấp, tức là gấp.
– Cách thứ hai, hít vô cùng thở ra sạch đếm một, hít vô cùng thở ra sạch đếm hai, cứ đếm như thế từ một đến mười. Cách đếm này gọi là hoãn. Đếm cấp thì nhặt quá, đếm hoãn tốt hơn, vì thở sạch rồi mới đếm nên không bị ngăn nghẹn.
Có người ngồi đếm từ một tới mười, rồi đếm ngược trở lại từ mười xuống một. Theo kinh nghiệm của tôi, đếm cách này rắc rối lắm! Bởi vì ý chúng ta như khỉ vượn, lâu nay quen duyên theo sáu trần, khi ngồi lại nó chạy chỗ này chỗ kia không yên, muốn kìm chế lại thì phải cột dây cổ để lôi nó. Cột dây cổ bằng cách bắt nó theo hơi thở vô ra đếm từ một đến mười, nếu đang đếm mà quên số thì bắt phạt phải đếm lại từ đầu. Suốt giờ ngồi thiền cứ làm một việc như vậy tưởng chừng như rất trẻ con, không có gì mầu nhiệm. Nhưng nhờ bận đếm hơi thở vô ra mà không nhớ nghĩ việc khác, tức là lấy hơi thở và đếm số làm sợi dây cột cổ nó, nhờ đó mà kìm chế thắng được con khỉ ý thức của mình.
Hơi thở rất quan trọng mà chúng ta thường hay quên. Thân này sống là nhờ vào ăn uống và thở, trong đó thở là quan trọng hơn hết, nhưng dường như chúng ta quan trọng cái ăn hơn. Suốt ngày không nhớ hơi thở ra sao, mà phần nhiều chỉ nghĩ đến ăn uống. Sáng lo ăn, trưa lo ăn, chiều lo ăn. Nghĩ tới ăn nhiều hơn nghĩ tới thở. Chúng ta xét kỹ lại xem cái gì quan trọng? Nhịn ăn, nhịn uống bao lâu thì chết? Nhịn ăn được bảy ngày, nhịn uống khoảng ba ngày, còn nhịn thở thì chết liền. Như vậy hơi thở quan trọng thiết yếu mà chúng ta lại quên, chỉ nhớ toàn là những thứ tầm thường nên cuộc sống của chúng ta trở thành sai lầm lệch lạc.
Tu thiền buộc phải chú tâm vào hơi thở và đếm số. Nếu chỉ chuyên tâm vào một việc này thôi thì đến lúc nào đó chắc chắn dễ sanh nghi. Tại sao? Vì ngồi thiền lâu, dần dần thấy hơi thở dường như không còn, hơi thở không còn thì lấy gì để đếm, nên chới với hoảng hốt không biết làm sao. Đây tôi nói rõ, sự thật chỗ này không sao hết, người tu thiền không phải sanh nghi. Bởi vì thông thường chúng ta thở bằng mũi, nhưng khi ngồi thiền tâm yên định rồi, thì không những thở bằng mũi mà thở khắp cả các lỗ chân lông, cho nên lúc đó tưởng như không thở chứ không phải là ngưng thở. Vì vậy tôi luôn nhắc các vị xả thiền, phải xoa kỹ cho các lỗ chân lông kín lại, ra ngoài gặp gió không bị cảm. Như ở Tây Tạng, có nhiều vị tu chôn đầu xuống đất mà vẫn sống, bởi vì các vị này không thở bằng mũi mà thở từ các lỗ chân lông.
Như vậy khi tu đến đây chúng ta biết tâm mình đang yên định, không có gì phải nghi sợ. Nếu ngồi thiền mà nghe hơi thở không thông, mệt mỏi là tâm không yên, thì nên chấn chỉnh điều hòa hơi thở lại. Nhắc lại, tu Sổ tức rất quan trọng, chúng ta cần phải chú ý hơi thở ra vô nhớ đếm số từ một đến mười, nếu quên thì đếm lại, cứ chuyên tâm thực hành dần dần sẽ thuần thục.
2- Chứng Sổ tức: Hành giả biết tâm vận chuyển tự nhiên từ một đến mười không cần gia công. Tâm trụ duyên nơi hơi thở, biết hơi thở rỗng nhẹ, tướng tâm lần lần tế nhị. Ngại hơi thở là thô không muốn đếm, khi ấy hành giả nên bỏ Sổ tức tu Tùy tức.
Khi đếm hơi thở không còn lầm lẫn, không phải dụng công cũng không cần kìm chế mà hơi thở tự nhiên rỗng nhẹ tế nhị, là biết đếm hơi thở đã thành công, lúc này bỏ không đếm hơi thở nữa, tiến qua bước thứ hai là Tùy tức.
Tùy tức có hai:
1- Tu Tùy tức: Xả pháp đếm hơi thở trước, nhất tâm nương theo hơi thở ra vào, nhiếp tâm duyên hơi thở, biết hơi thở vào ra, tâm trụ dứt các duyên, ý không phân tán, gọi là tu Tùy tức.
Sổ tức là làm hai việc một lượt, vừa theo dõi hơi thở vô ra vừa đếm số. Tùy tức thì đơn giản hơn, bởi đến đây tâm thô đã bớt, nên chỉ theo hơi thở vô ra tới đâu thấy biết rõ ràng. Trong kinh nói, giống như chủ nợ đi đòi nợ, nếu gặp người thiếu nợ thì phải theo sát không dám rời bỏ. Tùy tức cũng vậy, chú tâm vào hơi thở, hơi thở đến đâu tâm duyên theo tới đó, không cho suy nghĩ việc gì khác.
2- Chứng Tùy tức: Tâm đã vi tế an tịnh không có loạn, biết hơi thở dài, ngắn, khắp thân ra, vào. Tâm và hơi thở nương nhau vận động một cách tự nhiên, ý nghĩ lóng đứng lặng lẽ. Biết theo hơi thở là thô, tâm chán muốn bỏ, như người mệt nhọc muốn ngủ không ưa làm các việc, khi ấy hành giả nên xả Tùy tức tu Chỉ.
Chú tâm theo hơi thở lâu cảm thấy chán mệt, lúc ấy nên bỏ Tùy tức để qua tu Chỉ. Sự tu hành có thứ bậc, lúc đầu vì ý niệm lăng xăng nên dùng Sổ tức để trị tâm thô động, đến khi hơi thở bớt thô thì tiến lên Tùy tức, theo hơi thở lâu cảm thấy nhọc mệt nên chuyển qua tu Chỉ.
Chỉ cũng có hai:
1- Tu Chỉ: Dứt các duyên lự không nhớ đếm hơi thở hay theo hơi thở, tâm ngưng lặng, gọi là tu Chỉ.
2- Chứng Chỉ: Biết thân tâm đứng lặng vào định, không thấy tướng mạo trong ngoài, pháp định giữ tâm thầm chuyển không động. Hành giả khi ấy liền khởi nghĩ: Tam-muội này tuy là vô vi tịch tịnh, an ổn khoái lạc, mà không có trí tuệ phương tiện thì không thể phá hoại sanh tử. Lại khởi nghĩ: Định này thuộc về nhân duyên, do pháp ấm giới nhập hòa hợp mà có, hư dối không thật, ta nay không thấy không biết, cần phải chiếu soi. Khởi nghĩ thế rồi, không đắm nơi Chỉ, mà khởi Quán phân biệt.
Chỉ tức là định, không đếm hơi thở cũng không cần theo hơi thở, chỉ để tâm yên tịnh gọi là tu Chỉ.
Do tu Chỉ nên tâm yên định không nghĩ tưởng, khỏe khoắn nhẹ nhàng rồi đắm chìm trong ấy không muốn làm gì, đó là bệnh. Vì vậy tới đây phải bước qua phần thứ ba là tu Quán. Quán là trí tuệ. Người tu Phật phải có định tuệ gồm đủ, không để thiên lệch một bên.
Quán có hai:
1- Tu Quán: Tâm ở trong định dùng tuệ phân biệt quán tướng hơi thở ra vào vi tế như gió trong hư không; da, thịt, gân, xương v.v… ba mươi sáu vật trong thân không thật như bẹ cây chuối; tâm thức vô thường sanh diệt từng sát-na, không thật có ta và người; thân tâm và sự nhận chịu các pháp đều không tự tánh; nhân pháp đều không thì định nương vào đâu? Ấy gọi là tu Quán.
Tu Quán là để phá chấp ngã của thân và tâm. Về thân thì dùng trí tuệ quán tưởng hơi thở ra vô vi tế giống như hư không. Hoặc quán các phần duyên hợp trong thân, da thịt gân xương ráp lại thành ba mươi sáu vật bất tịnh, đầu tay mắt mũi v.v… mỗi cái có phần vị riêng, không thật như bẹ chuối, lột ra từng bẹ tìm không có cây chuối thật. Về tâm thì thức tâm chỉ là một dòng sanh diệt vô thường, tâm ta và tâm người đều không thật có. Như thế quán sát thân tâm đều không tự tánh, sát-na không có chủ thể cố định, nhân pháp đã không thì định nương vào đâu mà có? Ấy gọi là tu Quán.
2- Chứng Quán: Khi quán như trên, biết hơi thở ra vào khắp các lỗ chân lông, tâm nhãn mở sáng thấy ba mươi sáu vật và các loài hộ trùng trong thân, toàn thân trong ngoài đều bất tịnh, biến đổi từng sát-na, tâm sanh buồn mừng được Tứ niệm xứ, phá Tứ điên đảo, gọi là chứng Quán. Tướng quán đã phát, tâm duyên Quán cảnh phân biệt phá dẹp, biết niệm lưu động không phải đạo chân thật; khi ấy nên xả Quán tu Hoàn.
Khi quán như trên thuần thục, tướng quán được phát, mắt trí tự sáng thấy rõ cả các loài vi trùng trong thân… Khi ấy nếu còn khởi niệm quán là còn dao động chưa phải đạo chân thật, cho nên phải xả bỏ Quán chuyển qua tu Hoàn.
Hoàn có hai:
1- Tu Hoàn: Đã biết Quán từ tâm sanh, hoặc từ phân tích cảnh sanh đều không hợp bản nguyên, phải phản quán, quán lại tâm năng quán. Tâm quán này từ đâu mà sanh? Là từ quán tâm sanh hay từ không quán tâm sanh? Nếu từ quán tâm sanh tức đã có quán, nay thật không phải thế. Vì sao? Vì ba pháp Sổ tức, Tùy tức và Chỉ trước chưa có pháp nào là Quán. Nếu từ không quán tâm sanh, thì cái không quán tâm đó diệt rồi mới sanh hay không diệt mà sanh? Nếu không diệt mà sanh tức hai tâm đồng có. Nếu diệt rồi mới sanh, nó đã diệt mất thì không thể sanh tâm quán được. Nếu chấp cũng diệt cũng không diệt sanh, cho đến không diệt không không diệt sanh đều không thể được. Phải biết tâm quán vốn tự không sanh, bởi không sanh cho nên không có, không có nên tức là không, không nên không có tâm quán. Nếu không có tâm quán thì đâu có cảnh quán. Cảnh và trí cả hai đều mất là lối trọng yếu để trở về nguồn vậy. Đó gọi là tu Hoàn.
2- Chứng Hoàn: Tâm tuệ khai phát, không gia công lực mà tự thầm vận chuyển hay phá dẹp phản bản hoàn nguyên, gọi là chứng Hoàn. Hành giả phải biết, nếu rời cảnh trí muốn về không cảnh trí, không khỏi sự trói buộc của cảnh trí, vì còn theo hai bên vậy. Khi ấy nên xả Hoàn an tâm nơi Tịnh đạo.
Hoàn là xét lại. Gốc của sự quán chiếu là do vận dụng tâm phân tích để quán, như quán thân bất tịnh, quán tâm vô thường v.v… Nhìn lại tâm hay quán chiếu đó, rốt ráo không thật, tìm không thấy có chỗ nơi thì nó liền tiêu mất. Quán đã không thật thì Hoàn cũng không thật, vì vậy phải bỏ Hoàn để an tâm nơi Tịnh. Đây là trọng yếu để trở về nguồn.
Tịnh có hai:
1- Tu Tịnh: Vì biết sắc ấm tịnh không khởi vọng tưởng phân biệt, thọ tưởng hành thức cũng như thế. Dứt vọng tưởng cấu gọi là tu Tịnh. Dứt phân biệt cấu gọi là tu Tịnh. Dứt chấp ngã cấu gọi là tu Tịnh. Tóm lại, nếu tâm như bản tịnh gọi là tu Tịnh, cũng không thể có năng tu sở tu và tịnh bất tịnh gọi là tu Tịnh.
Biết ngũ ấm sắc thọ tưởng hành thức đều do vọng tưởng khởi phân biệt, cho nên dứt vọng tưởng cấu, dứt phân biệt cấu, dứt chấp ngã cấu. Ba thứ này được tịnh rồi, không còn đối đãi cũng không thấy có năng tịnh sở tịnh, đó gọi là tu Tịnh.
2- Chứng Tịnh: Khi tu như trên, bỗng suốt thông tâm tuệ tương ưng, vô ngại phương tiện tự nhiên dần dần khai phát, được Tam-muội chánh thọ, tâm không còn nương tựa.
Chứng Tịnh có hai:
– Một là Tương tự chứng. Năm thứ phương tiện tương tự, đạo tuệ vô lậu phát hiện.
– Hai là Chân thật chứng. Được Khổ pháp nhẫn cho đến vô ngại đạo thứ chín v.v… tuệ Vô lậu chân thật phát hiện, những phiền não cấu trong tam giới hết, gọi là chứng Tịnh.
Khi tu Tịnh như vậy rồi sẽ được chứng Tịnh, tức là suốt thông tâm tuệ tương ưng, vô ngại phương tiện tự nhiên dần dần khai phát, được Tịnh tam-muội, tâm không còn chỗ nương tựa nữa, là đạt được kết quả của tu Tịnh.
Trong chứng Tịnh lại có hai là Tương tự chứng và Chân thật chứng. Tương tự chứng tức là phương tiện tương tự, đạo tuệ vô lậu phát ra, đây mới chỉ là tương tự chứ chưa phải thật. Chân thật chứng là được Khổ pháp nhẫn cho đến Vô ngại đạo thứ chín, tức là chứng được trí tuệ vô lậu và tất cả pháp trong kinh Phật dạy, những phiền não cấu trong tam giới đều sạch, gọi là chứng Tịnh.
Lại nữa, quán chúng sanh không, gọi là Quán; quán thật pháp không, gọi là Hoàn; quán bình đẳng không, gọi là Tịnh. Không tam-muội tương ưng gọi là Quán, Vô tướng tam-muội tương ưng gọi là Hoàn, Vô tác tam-muội tương ưng gọi là Tịnh. Tất cả ngoại quán gọi là Quán, tất cả nội quán gọi là Hoàn, tất cả phi nội phi ngoại quán gọi là Tịnh. Cho nên Phạm chí Tiên-ni nói: “Phi nội quán cho nên được trí tuệ ấy, phi ngoại quán cho nên được trí tuệ ấy, phi nội ngoại quán cho nên được trí tuệ ấy, cũng chẳng phải không quán cho nên được trí tuệ ấy.”
Quán chúng sanh không, tức là quán tất cả chúng sanh đều vô ngã, gọi là Quán. Quán thật pháp không, tức là quán pháp Phật dạy tu cũng không thật, gọi là Hoàn. Quán các pháp bình đẳng không, gọi là Tịnh. Không tam-muội tương ưng, cho đến phi nội phi ngoại quán v.v… Quán có nhiều thứ. Tóm lại, quán ra ngoài gọi là Quán, quay lại quán cái hay quán gọi là Hoàn, biết cái hay quán đó không phải trong không phải ngoài gọi là Tịnh. Tu đến đây có thể dung thông hết các pháp.