Chánh văn:
Đối riêng qua các pháp thiền để rõ Lục diệu môn có sáu ý:
Hành giả nhân Sổ tức phát sanh Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, nếu rốt sau được định Phi phi tưởng hay hiểu biết không phải Niết-bàn, người ấy quyết định được đạo Tam thừa. Vì sao? Vì định này do ngũ ấm thập bát giới thập nhị nhập hòa hợp mà có, hư dối không thật, tuy không có phiền não thô mà vẫn còn mười món phiền não tế. Biết rồi phá dẹp không trụ không trước, tâm được giải thoát, chứng Tam thừa Niết-bàn. Nghĩa này, như trong kinh Phật dạy ông Tu-bạt-đà-la đoạn mê lầm cõi Phi phi tưởng liền chứng được quả A-la-hán. Số tức là diệu môn ý tại đây vậy.
Hành giả nhân Tùy tức liền phát sanh mười sáu thứ đặc thắng. Đó là:
1- Biết hơi thở vào.
2- Biết hơi thở ra.
3- Biết hơi dài ngắn.
4- Biết hơi thở khắp thân.
5- Trừ các thân hành.
6- Tâm thọ hỷ.
7- Tâm thọ lạc.
8- Thọ các thứ tâm hành.
9- Tâm khởi mừng.
10- Tâm khởi nhiếp.
11- Tâm khởi giải thoát.
12- Quán vô thường.
13- Quán tan hoại.
14- Quán ly dục.
15- Quán diệt.
16- Quán buông bỏ.
Tại sao quán buông bỏ? Pháp quán này phá mê lầm cõi Phi tưởng. Vì sao? Bởi phàm phu khi tu Phi tưởng, quán Hữu tưởng như nhọt như ghẻ, quán Vô tưởng như si mê, cái định thù thắng bậc nhất là Phi tưởng. Khởi niệm ấy rồi, liền buông bỏ hữu tưởng vô tưởng, gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cho nên Phi tưởng tức là nghĩa buông bỏ cả hai. Đệ tử Phật quán phá dẹp như đoạn trước đã nói. Thế nên thâm quán buông bỏ không trước Phi tưởng hay được Niết-bàn.
Hành giả nhân Chỉ tâm thứ lớp phát Ngũ luân thiền:
1- Địa luân tam-muội tức là vị đáo địa.
2- Thủy luân tam-muội tức là những thứ thiền định khai phát thiện căn.
3- Hư không luân tam-muội là người đủ ngũ phương tiện giác ngộ nhân duyên không tánh như hư không.
4- Kim sa luân tam-muội là thấy nghĩ đều giải thoát, chánh tuệ không chấp trước như cát vàng.
5- Kim cang luân tam-muội là vô ngại đạo thứ chín hay đoạn kiết sử trong tam giới hằng dứt sạch không còn thừa, chứng Tận trí, Vô sanh trí, nhập Niết-bàn.
Hành giả nhân tu Quán xuất sanh Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bội xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam-muội, Siêu việt tam-muội, Luyện thiền, Thập tứ biến hóa tâm, Tam minh, Lục thông và Bát giải thoát, được Diệt thọ tưởng liền vào Niết-bàn.
Hành giả nếu dùng tuệ hành khôn khéo phá dẹp phản bản hoàn nguyên, khi ấy liền xuất sanh Không, Vô tướng, Vô tác, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ đế, Mười hai nhân duyên, chánh quán Trung đạo, nhân đó được vào Niết-bàn.
Hành giả nếu hay thấu biết tất cả pháp bản tánh thanh tịnh liền đạt được Tự tánh thiền. Vì được thiền này, người Nhị thừa quyết định chứng Niết-bàn, nếu là Bồ-tát vào vị Thiết luân đủ Thập tín tâm, tu hành không dừng liền xuất sanh chín thứ đại thiền:
1- Tự tánh thiền.
2- Nhất thiết thiền.
3- Nan thiền.
4- Nhất thiết môn thiền.
5- Thiện nhân thiền.
6- Nhất thiết hạnh thiền.
7- Trừ não thiền.
8- Thử thế tha thế cộng lạc thiền.
9- Thanh tịnh thiền.
Bồ-tát y những thứ thiền này được quả đại Bồ-đề, hoặc đã được, hiện được và sẽ được.
Giảng:
Đối riêng qua các pháp thiền để rõ Lục diệu môn có sáu ý:
Hành giả nhân Sổ tức phát sanh Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, nếu rốt sau được định Phi phi tưởng hay hiểu biết không phải Niết-bàn, người ấy quyết định được đạo Tam thừa. Vì sao? Vì định này do ngũ ấm thập bát giới thập nhị nhập hòa hợp mà có, hư dối không thật, tuy không có phiền não thô mà vẫn còn mười món phiền não tế. Biết rồi phá dẹp không trụ không trước, tâm được giải thoát, chứng Tam thừa Niết-bàn. Nghĩa này, như trong kinh Phật dạy ông Tu-bạt-đà-la đoạn mê lầm cõi Phi phi tưởng liền chứng được quả A-la-hán. Số tức là diệu môn ý tại đây vậy.
Sổ tức là diệu môn . Tại sao? Bởi do đếm hơi thở mà việc tu hành được thông suốt, tiến lên Tứ thiền, Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định, cuối cùng đến Phi phi tưởng. Nhưng định này vẫn chưa rốt ráo, cần phải vượt qua mới đến quả A-la-hán, tức là Diệt tận định.
Ngày nay có một số người không hiểu, họ cho rằng Tứ thiền là cứu cánh, mà không biết Tứ thiền chỉ là phàm phu thiền chứ chưa phải chỗ giác ngộ tột cùng. Cho dù được Tứ vô lượng tâm, Tứ vô sắc định tức Tứ không, cho đến Phi phi tưởng cũng chưa phải cứu cánh Niết-bàn, phải qua khỏi Phi phi tưởng mới chứng Niết-bàn. Như ông Tu-bạt-đà-la tu đến Phi phi tưởng rồi mà hài lòng ở đó, nên Phật dạy phải đoạn mê lầm cõi Phi phi tưởng mới chứng được quả A-la-hán.
Hành giả nhân Tùy tức liền phát sanh mười sáu thứ đặc thắng. Đó là:
1- Biết hơi thở vào.
2- Biết hơi thở ra.
3- Biết hơi dài ngắn.
4- Biết hơi thở khắp thân.
5- Trừ các thân hành.
6- Tâm thọ hỷ.
7- Tâm thọ lạc.
8- Thọ các thứ tâm hành.
9- Tâm khởi mừng.
10- Tâm khởi nhiếp.
11- Tâm khởi giải thoát.
12- Quán vô thường.
13- Quán tan hoại.
14- Quán ly dục.
15- Quán diệt.
16- Quán buông bỏ.
Đây gọi là Thập lục đặc thắng, nhân tu theo hơi thở mà được kết quả có mười sáu thứ đặc thắng này.
Tại sao quán buông bỏ? Pháp quán này phá mê lầm cõi Phi tưởng. Vì sao? Bởi phàm phu khi tu Phi tưởng, quán Hữu tưởng như nhọt như ghẻ, quán Vô tưởng như si mê, cái định thù thắng bậc nhất là Phi tưởng. Khởi niệm ấy rồi, liền buông bỏ hữu tưởng vô tưởng, gọi là Phi hữu tưởng phi vô tưởng. Cho nên Phi tưởng tức là nghĩa buông bỏ cả hai. Đệ tử Phật quán phá dẹp như đoạn trước đã nói. Thế nên thâm quán buông bỏ không trước Phi tưởng hay được Niết-bàn.
Khi tu dù bỏ hết niệm lăng xăng mà còn chút tâm tưởng rất nhẹ nhàng như có như không cũng chưa rốt ráo, chừng nào dẹp hết mới đến Niết-bàn.
Hành giả nhân Chỉ tâm thứ lớp phát Ngũ luân thiền:
1- Địa luân tam-muội tức là vị đáo địa.
2- Thủy luân tam-muội tức là những thứ thiền định khai phát thiện căn.
3- Hư không luân tam-muội là người đủ ngũ phương tiện giác ngộ nhân duyên không tánh như hư không.
4- Kim sa luân tam-muội là thấy nghĩ đều giải thoát, chánh tuệ không chấp trước như cát vàng.
5- Kim cang luân tam-muội là vô ngại đạo thứ chín hay đoạn kiết sử trong tam giới hằng dứt sạch không còn thừa, chứng Tận trí, Vô sanh trí, nhập Niết-bàn.
Chỉ là định, là dừng. Nếu khéo tu Chỉ thì sẽ lần lượt phát ra Ngũ luân thiền.
1- Địa luân tam-muội tức là vị đáo địa. Sắp vào Sơ thiền mà chưa đến Sơ thiền.
2- Thủy luân tam-muội tức là những thứ thiền định khai phát thiện căn. Do định nên tâm phát ra những thứ hiểu biết hay lạ mới mẻ, không giống như xưa.
3- Hư không luân tam-muội là người đủ ngũ phương tiện giác ngộ nhân duyên không tánh như hư không. Ngũ phương tiện là: đủ ngũ duyên, trách ngũ dục, bỏ ngũ cái, điều ngũ sự, hành ngũ pháp. Như trong Tu Tập Tọa Thiền Chỉ Quán nói.
4- Kim sa luân tam-muội là thấy nghĩ đều giải thoát, chánh tuệ không chấp trước như cát vàng. Nghĩa là trí tuệ chân chánh không chấp trước, không đắm nhiễm, như là cát vàng. Vàng ở trong cát mà không bị dính cát.
5- Kim cang luân tam-muội là vô ngại đạo thứ chín, tức là giải thoát chín phẩm Tư hoặc ở cõi Phi tưởng phi phi tưởng. Hay đoạn kiết sử trong tam giới hằng dứt sạch không còn thừa, chứng tận trí, vô sanh trí, nhập Niết-bàn. Tới đây là vào Niết-bàn.
Ngũ luân thiền từ định mà được, cho nên thiền sư Huệ Tư nói: “Nếu ta không hướng dẫn chúng tu hành thì ta đã được Kim luân, vì lo dạy chúng nên chỉ được Địa luân.” Kim luân tức là Kim sa luân, Địa luân tức là Vị đáo địa. Lẽ ra ngài tiến tới Kim luân, nhưng vì lo dạy chúng tu nên bị sụt xuống ba cấp, chỉ ở Địa luân. Tại sao? Bởi vì người tu thiền định, nếu có nhiều việc quá thì định bị trở ngại. Cho nên trừ những vị đạt đạo ra, còn chúng ta muốn tu thì phải ở chỗ thanh tịnh vắng vẻ, quyết tâm tu hành mới có kết quả tốt được.
Hành giả nhân tu Quán xuất sanh Cửu tưởng, Bát niệm, Thập tưởng, Bát bội xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ, Cửu thứ đệ định, Sư tử phấn tấn tam-muội, Siêu việt tam-muội, Luyện thiền, Thập tứ biến hóa tâm, Tam minh, Lục thông và Bát giải thoát, được Diệt thọ tưởng liền vào Niết-bàn.
Nhờ quán nên tiến từ Cửu tưởng, Bát niệm v.v… qua hết tất cả thiền, cuối cùng được Diệt thọ tưởng, liền vào Niết-bàn. Đoạn này nói nhiều về từ ngữ nên chỉ đọc qua, đến phần nhắm thẳng vào gốc của sự tu tôi sẽ giải thích kỹ hơn.
Hành giả nếu dùng tuệ hành khôn khéo phá dẹp phản bản hoàn nguyên, khi ấy liền xuất sanh Không, Vô tướng, Vô tác, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo, Tứ đế, Mười hai nhân duyên, chánh quán Trung đạo, nhân đó được vào Niết-bàn.
Hoàn là xoay trở lại. Nhờ khéo xoay trở lại dùng trí tuệ phá dẹp vô minh, nương nơi pháp tu này mà được Không, Vô tướng, Vô tác, Ba mươi bảy phẩm trợ đạo v.v… đi sâu vào chánh quán Trung đạo, nhân đó mà được Niết-bàn, nên nói Hoàn là diệu môn .
Hành giả nếu hay thấu biết tất cả pháp bản tánh thanh tịnh liền đạt được Tự tánh thiền. Vì được thiền này, người Nhị thừa quyết định chứng Niết-bàn, nếu là Bồ-tát vào vị Thiết luân đủ Thập tín tâm, tu hành không dừng liền xuất sanh chín thứ đại thiền:
1- Tự tánh thiền.
2- Nhất thiết thiền.
3- Nan thiền.
4- Nhất thiết môn thiền.
5- Thiện nhân thiền.
6- Nhất thiết hạnh thiền.
7- Trừ não thiền.
8- Thử thế tha thế cộng lạc thiền.
9- Thanh tịnh thiền.
Bồ-tát y những thứ thiền này được quả đại Bồ-đề, hoặc đã được, hiện được và sẽ được.
Tịnh là diệu môn . Do thấu biết được các pháp bản tánh thanh tịnh mà đạt được Tự tánh thiền. Được thiền này hàng Nhị thừa quyết định sẽ chứng Niết-bàn, Bồ-tát thì vào vị Thiết luân đầy đủ Thập tín, tu hành không dừng liền chứng được các thứ đại thiền, từ Tự tánh thiền cho đến Thanh tịnh thiền, hoàn toàn an tịnh không bị nhiễm nhơ.
Đây là khái quát về công dụng lớn lao của Lục diệu môn, kế tiếp là phần chi tiết chỉ rõ cách tu.