Chánh văn:
Tu Chỉ Quán có hai thứ: tu trong khi ngồi thiền và tu trong khi tiếp duyên đối cảnh.
A/ TU TRONG KHI NGỒI THIỀN
Cả bốn oai nghi đều tu được, nhưng người học đạo trong lúc ngồi tu thù thắng hơn, nên trước cuộc trong phạm vi ngồi để giải rõ Chỉ Quán. Lược nói có năm ý:
I- Tu Chỉ Quán đối trị tâm thô loạn ban đầu
Nghĩa là hành giả khi mới ngồi thiền vì tâm thô loạn nên phải tu Chỉ Quán để phá trừ nó. Chỉ nếu không phá được liền nên tu Quán, cho nên nói “Tu Chỉ Quán đối trị tâm thô loạn ban đầu”. Nay nói tu Chỉ Quán có hai ý:
Có ba thứ:
Hai phần trên thuộc về sự tướng không cần phân biệt rộng.
Trong hết thảy các pháp,
Nhân duyên sanh không chủ.
Dứt tâm suốt nguồn gốc,
Gọi là vị Sa-môn.
Hành giả khi mới tập ngồi thiền, tùy tâm khởi niệm tất cả pháp vọng niệm tiếp tục không dừng, tuy dùng phương pháp Thể chân chỉ như trên mà vọng niệm không dứt, phải quán trở lại chỗ khởi của tâm: “Quá khứ đã qua, hiện tại chẳng dừng, vị lai chưa đến, cùng tột ba thời trọn không thể được. Pháp đã không thể được thì tâm cũng không thể có, nếu tâm không có thì tất cả pháp đều không.” Hành giả tuy quán tâm không trụ, đều không thể có, mà không phải không có cái hiểu biết niệm khởi liên tục từng sát-na.
Loại quán tâm niệm này do sáu căn bên trong và sáu trần bên ngoài, căn trần đối nhau, cho nên có thức sanh, căn trần chưa đối thì thức hẳn không sanh. Quán sanh như thế, quán diệt cũng vậy. Danh từ sanh diệt chỉ là giả lập, tâm sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền. Trọn không có chỗ được, ấy gọi là Niết-bàn không tịch, thế là tâm vọng tự dừng vậy. Luận Đại Thừa Khởi Tín chép: “Nếu tâm giong ruổi tán loạn, liền phải thu nhiếp trụ nơi chánh niệm. Nói chánh niệm, nên biết chỉ có tâm, không có ngoại cảnh; lại nội tâm này cũng không có tự tướng, mỗi niệm không thể có được.” Người sơ tâm tu học, tâm chưa có thể dừng trụ, nếu cố ép cho nó trụ, thường hay phát cuồng. Phải như người tập bắn, tập lâu mới bắn trúng.
Quán có hai thứ:
Các pháp không bền chắc,
Thường ở trong tâm niệm,
Người thấu đạt lý không,
Tất cả không khởi niệm.
II- Tu Chỉ Quán đối trị tâm bệnh trầm phù
Hành giả khi ngồi thiền tâm mê muội không nhớ, hoặc nhiều ngủ gục, khi ấy nên tu Quán để chiếu phá nó. Nếu trong khi ngồi, tâm phù động lăng xăng không yên, khi ấy nên tu Chỉ để chặn đứng nó. Ấy là đã lược nói tướng tu Chỉ Quán đối trị tâm bệnh phù trầm; nhưng phải khéo biết thuốc và biết tướng bệnh mà đối dùng, mỗi mỗi đừng để mắc phải lỗi đối trị sai lạc.
III- Tùy tiện nghi tu Chỉ Quán
Hành giả khi tọa thiền, tuy vì đối trị tâm trầm nên tu Quán chiếu, mà tâm vẫn không tỉnh sáng, cũng không có pháp lợi, khi ấy nên thử tu Chỉ mà chặn đứng nó. Nếu khi tu Chỉ liền biết thân tâm an tịnh, là biết hợp với tu Chỉ, nên dùng Chỉ để an tâm. Nếu khi tọa thiền, tuy vì đối trị tâm phù động nên tu Chỉ, mà tâm vẫn không an trụ, cũng không có pháp lợi, nên thử tu Quán. Nếu trong khi Quán liền biết thân tâm tỉnh sáng, an ổn lặng lẽ, là biết hợp tu Quán, liền nên dùng Quán để an tâm. Đó là lược nói tướng tùy tiện nghi tu Chỉ Quán. Chỉ cần khéo chọn pháp thích hợp mà tu thì tâm thần an ổn, loạn phiền não dứt, chứng được các pháp môn.
IV- Đối trị tế tâm trong định tu Chỉ Quán
Nghĩa là hành giả trước dùng Chỉ Quán đối phá tâm thô loạn, loạn tâm đã dứt, liền được nhập định; vì định tâm vi tế, nên cảm biết như thân rỗng lặng thọ sự khoái lạc, hoặc tâm tiện lợi phát khởi, thụ nhận tâm tế vi này, chấp lý lệch lạc tà vạy. Nếu không biết định tâm để ngăn dứt sự hư dối ấy, ắt sanh tham trước chấp cho là thật. Nếu biết nó là hư dối không thật thì hai thứ phiền não ái kiến không khởi, ấy là tu Chỉ. Nếu tâm đắm trước ái kiến kết nghiệp không dứt, khi ấy nên tu Quán. Quán tâm vi tế trong định, nếu không thấy tâm ấy thì không chấp định kiến; nếu không chấp định kiến thì ái kiến nghiệp phiền não thảy đều diệt sạch, ấy gọi là tu Quán. Đây là lược nói tướng đối trị tâm vi tế trong định tu Chỉ Quán. Phân biệt phương pháp Chỉ Quán cũng đồng như trước, duy có phá lỗi định kiến vi tế là khác.
V- Quân bình định tuệ tu Chỉ Quán
Hành giả trong khi tọa thiền nhân tu Chỉ, hoặc nhân tu Quán được nhập thiền định. Tuy được nhập định mà không có quán tuệ, ấy là si định, không thể đoạn kiết. Hoặc quán tuệ kém ít thì không thể phát khởi được chân tuệ, đoạn các kiết sử, phát các pháp môn. Khi ấy nên tu Quán mà phá dẹp thì định tuệ được quân bình, hay đoạn được kiết sử và chứng các pháp môn.
Hành giả trong khi tọa thiền nhân Quán, tâm rỗng rang khai ngộ, trí tuệ sáng suốt, mà định tâm kém ít, nên tâm tán động, như ngọn đèn trước gió không chiếu rõ các vật, không thể xuất ly sanh tử. Khi ấy nên tu Chỉ, do tu Chỉ mà tâm được định, như ngọn đèn để trong nhà kín, hay phá được tối tăm và soi vật rõ ràng. Đó là lược nói quân bình định tuệ tu Chỉ Quán. Hành giả nếu như thế trong khi ngồi thân ngay thẳng khéo dùng năm ý tu Chỉ Quán này, thủ hay xả không mất sự thích ứng của nó, là người ấy đã khéo tu Phật pháp, vì khéo tu nên một đời không luống uổng vậy.
B/ TU CHỈ QUÁN KHI TRẢI DUYÊN, ĐỐI CẢNH
Thân thường ngồi ngay thẳng tu Chỉ Quán là phương pháp thù thắng cần yếu để vào đạo, nhưng còn ngại khi thân tiếp duyên đối cảnh. Nếu khi tiếp duyên đối cảnh mà không tu Chỉ Quán, ấy là tu tâm có gián đoạn, những kiết nghiệp khi xúc cảnh liền sanh khởi, không thể chóng tương ưng với Phật pháp được. Nếu trong tất cả thời đều tu phương tiện Chỉ Quán thì chắc chắn người ấy thông đạt Phật pháp một cách nhanh chóng.
Thế nào là tu Chỉ Quán khi trải duyên? Nói duyên có sáu thứ: 1- Đi, 2- Đứng, 3- Ngồi, 4- Nằm, 5- Làm việc, 6- Nói năng.
Thế nào là tu Chỉ Quán khi đối cảnh? Nói cảnh là sáu trần: 1- Mắt đối sắc, 2- Tai đối tiếng, 3- Mũi đối mùi, 4- Lưỡi đối vị, 5- Thân đối xúc, 6- Ý đối pháp.
Hành giả tùy trong mười hai việc này mà tu Chỉ Quán, gọi là khi trải duyên, đối cảnh tu Chỉ Quán.
I- Trải duyên tu Chỉ Quán
Nếu khi đi nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì muốn đi? Nếu bị phiền não sai sử và việc ác, vô ký mà đi thì không nên đi; nếu không phải bị phiền não sai sử, vì việc thiện, lợi ích, đúng pháp thì nên đi.” Thế nào trong khi đi tu Chỉ? Nếu khi đi liền biết nhân sự đi mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp trong khi đi đều không thể được, thì tâm vọng niệm tự dứt, đó gọi là tu Chỉ. Thế nào là trong khi đi tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân động, cho nên có tới lui, gọi là đi. Nhân việc đi này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” liền phản quán tâm trong khi đi không thấy tướng mạo, phải biết người đi và tất cả pháp trong khi đi rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Khi đứng nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì mà muốn đứng? Nếu vì các phiền não và việc ác, vô ký mà đứng thì không nên đứng; nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên đứng.” Thế nào trong khi đứng tu Chỉ? Nếu khi đứng liền biết nhân đứng mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp trong khi đứng đều không thể được thì tâm vọng niệm dứt, ấy là tu Chỉ. Thế nào trong khi đứng tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân dừng, nên gọi là đứng. Vì nhân đứng mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phải phản quán tâm trong khi đứng không thấy tướng mạo, nên biết người đứng và tất cả pháp trong khi đứng rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Khi ngồi nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì mà muốn ngồi? Nếu vì phiền não và việc ác, vô ký v.v… thì không nên ngồi; vì việc thiện, lợi ích thì nên ngồi.” Thế nào trong khi ngồi tu Chỉ? Nếu khi ngồi phải biết rõ nhân ngồi nên có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… mà thật không có một pháp có thể được, thế là tâm vọng niệm không sanh, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào trong khi ngồi tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm nghĩ nên xếp chân ngồi yên, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… cho nên gọi là ngồi.” Phải quán trở lại tâm trong khi ngồi không thấy tướng mạo, nên biết người ngồi và tất cả pháp trong khi ngồi rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Khi nằm nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì mà muốn nằm? Nếu vì việc không lành, phóng túng v.v… thì không nên nằm; nếu vì điều hòa tứ đại mà nằm thì nên nằm như sư tử nằm.” Thế nào trong khi nằm tu Chỉ? Nếu khi nằm ngủ nghỉ, phải biết rõ vì nhân nằm mà có tất cả pháp phiền não thiện ác… nhưng thật không có một pháp có thể được, thế là vọng niệm không khởi, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào trong khi nằm tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do sự nhọc nhằn nên sanh mờ mịt, buông lung sáu tình, nhân đó mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Liền phải phản quán tâm trong khi nằm không thấy tướng mạo, nên biết người nằm và tất cả pháp trong khi nằm rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Nếu khi làm việc nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì mà muốn làm như thế? Nếu vì việc bất thiện, vô ký v.v… thì không nên làm, nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên làm.” Thế nào trong khi làm việc tu Chỉ? Nếu khi làm việc nên biết rõ vì nhân làm việc mà có tất cả pháp thiện ác v.v… nhưng thật không có một pháp có thể được, thế là vọng niệm không khởi, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào khi làm việc tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân chuyển động, tay mới tạo tác các việc, nhân đó mà có tất cả pháp thiện ác v.v… cho nên gọi là làm.” Phản quán tâm trong khi làm việc không có tướng mạo, nên biết người làm và tất cả pháp trong khi làm rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Nếu khi nói nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì muốn nói? Nếu tùy thuận phiền não luận bàn những việc ác, vô ký v.v… thì không nên nói; nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên nói.” Thế nào trong khi nói tu Chỉ? Nếu khi nói liền biết bởi nhân lời nói này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp phiền não, thiện ác v.v… trong khi nói đều không thể được thì tâm vọng niệm liền dứt, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào trong khi nói tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm xét nghĩ kích động hơi thở xông lên cổ họng, môi, lưỡi, răng, ổ gà, cho nên xuất ra những tiếng nói. Bởi nhân tiếng nói này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… nên gọi là nói.” Phản quán tâm trong khi nói không thấy tướng mạo, phải biết người nói và tất cả pháp trong khi nói rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Trở lên sáu nghĩa tu tập Chỉ Quán tùy thời thích hợp mà dùng, mỗi nghĩa đều có ý tu Chỉ Quán của năm phần trước. Như trước đã nói.
II- Đối cảnh tu Chỉ Quán
Tùy khi thấy sắc, tưởng như thấy trăng đáy nước, không có thật thể. Nếu thấy sắc đáng yêu không khởi lòng tham ái, thấy sắc đáng ghét không sanh tâm giận ghét, thấy sắc không yêu không ghét, không khởi si mê và loạn tưởng, ấy là tu Chỉ. Thế nào là khi mắt thấy sắc tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Những hình sắc trông thấy, tướng của nó là không tịch. Tại sao? Vì ở trong căn, trần, không, minh kia, mỗi cái không có tự thấy, cũng không phân biệt, do nhân duyên hòa hợp mới sanh nhãn thức, kế sanh ý thức phân biệt các thứ hình sắc, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phản quán tâm nghĩ tưởng sắc ấy không thấy tướng mạo, nên biết thấy sắc và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tùy khi nghe tiếng, nên xét tiếng như âm vang. Nếu nghe tiếng êm tai thích ý không khởi lòng yêu mến, nghe tiếng trái tai nghịch ý không sanh tâm giận hờn, nghe tiếng không thích không trái chẳng khởi tâm phân biệt, ấy là tu Chỉ. Thế nào trong khi nghe tiếng tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Những tiếng nghe không thật có, chỉ do căn trần hòa hợp sanh nhĩ thức, kế sanh ý thức gắng khởi phân biệt, nhân đây có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… gọi là nghe tiếng.” Phản quán tâm nghe tiếng không thấy tướng mạo, nên biết người nghe tiếng và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tùy khi mũi ngửi mùi, biết nó như hơi như khói không thật. Nếu ngửi mùi thơm thích ý không khởi lòng đam mê, ngửi mùi hôi trái ý không khởi tâm ghét giận, ngửi mùi không thơm không hôi chẳng sanh loạn niệm, ấy là tu Chỉ. Thế nào trong khi ngửi mùi tu Quán? Phải nghĩ thế này: “Ta nay ngửi mùi nó hư dối không thật. Tại sao? Vì căn trần hòa hợp sanh tỹ thức, kế sanh ý thức cố chấp nhận tướng mùi, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… cho nên gọi là ngửi mùi.” Phản quán tâm ngửi mùi không thấy tướng mạo, nên biết ngửi mùi và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tùy lưỡi nếm vị liền nghĩ như trong mộng được thức ăn. Nếu được vị ngon không khởi lòng tham đắm, được vị dở không khởi tâm giận ghét, vị không ngon không dở chẳng khởi ý phân biệt, đó là tu Chỉ. Thế nào trong khi lưỡi nếm vị tu Quán? Nên xét thế này: “Ta nay nếm các vị thật không thể được. Tại sao? Vì sáu vị trong ngoài tánh nó không có phân biệt, nhân hòa hợp với thiệt căn bên trong mà sanh thiệt thức, kế sanh ý thức cố gắng chấp nhận tướng vị, nhân đó mới có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phản quán thức duyên vị không thấy tướng mạo, nên biết người nếm vị và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tùy khi xúc chạm liền biết nó như bóng, huyễn hóa không thật. Nếu xúc chạm cái vui thích ý không khởi tham trước, xúc chạm cái khổ trái ý không khởi tâm ghét giận, xúc chạm cái không vui không khổ chẳng khởi nhớ tưởng phân biệt, ấy là tu Chỉ. Thế nào khi xúc chạm tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Chạm những cái nhẹ, nặng, lạnh, nóng, trơn, nhám v.v… gọi là xúc; đầu mình sáu phần gọi là thân; tánh xúc đã hư giả, thân cũng không thật, do nhân duyên hòa hợp liền sanh thân thức, kế sanh ý thức nhớ tưởng phân biệt tướng khổ vui v.v… gọi là xúc.” Phản quán tâm duyên xúc này không thấy tướng mạo, phải biết người xúc chạm và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Như trong đoạn dạy sơ tọa thiền đã nói rõ.
Từ trước y sáu căn tu Chỉ Quán, tùy ý thích dùng mà áp dụng, mỗi mỗi đều có đủ năm ý ở trước, trong đó đã phân biệt rộng, ở đây không cần biện giải lại. Hành giả nếu hay trong tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, thấy nghe hiểu biết v.v… mà tu Chỉ Quán, là người ấy chân thật tu theo Đại thừa. Như kinh Đại Phẩm chép: “Phật bảo ông Tu-bồ-đề: Nếu Bồ-tát khi đi thì biết đi, khi ngồi thì biết ngồi, cho đến mặc y tăng-già-lê, nhìn, chớp mắt… đều nhất tâm, ra vào đều trong thiền định, chính người ấy là Bồ-tát Đại thừa.”
Lại nữa, nếu người hay như thế trong tất cả chỗ tu hạnh Đại thừa, người ấy ở thế gian là bậc tối thắng, tối thượng không có ai bì kịp. Trong bộ Thích Luận, kệ nói:
Yên ngồi trong rừng vắng,
Lặng lẽ diệt các ác,
Đạm bạc được nhất tâm,
Vui đây trời khó bì.
Người cầu lợi thế gian,
Giường nệm, áo quần đẹp,
Vui này không an ổn,
Cầu lợi không chán nhàm.
Áo nhuộm ở chỗ vắng,
Động tịnh tâm thường nhất,
Tự lấy trí tuệ sáng,
Quán thật tướng các pháp.
Trong tất cả các pháp,
Thảy đều do quán nhập,
Tâm giải tuệ lóng lặng,
Ba cõi khôn so bì.
Giảng:
Tu Chỉ Quán có hai thứ: tu trong khi ngồi thiền và tu trong khi tiếp duyên đối cảnh.
Đây là phần trọng tâm của sự tu hành. Thông thường chúng ta hay nghĩ giờ ngồi thiền là tu, còn khi tiếp duyên đối cảnh làm sao tu? Cần biết tu thiền có hai trường hợp: tu trong khi ngồi thiền và tu trong khi tiếp duyên đối cảnh.
Cả bốn oai nghi đều tu được, nhưng người học đạo trong lúc ngồi tu thù thắng hơn, nên trước cuộc trong phạm vi ngồi để giải rõ Chỉ Quán.
Trong bốn oai nghi đi đứng nằm ngồi chúng ta đều có thể tu được, nhưng ngồi thì thù thắng hơn. Vì khi đi hoặc đứng thì thấy đủ thứ, nào là người vật, cảnh này cảnh kia v.v… Lúc đi tâm dễ duyên theo cảnh, xao lãng khó nhiếp phục. Đứng lâu mỏi chân sanh chán nản. Nằm thì một lúc ngủ khò không hay. Ngồi thì thân ngay thẳng đàng hoàng, mắt nhìn xuống vừa phải, hít thở thông suốt, không bị cảnh ở ngoài chi phối, không bị mỏi, không buồn ngủ, tâm dễ chuyên nhất tỉnh táo. Do đó trong bốn oai nghi thì ngồi là thù thắng hơn hết, cho nên chúng ta cần phải ngồi thiền.
Lược nói có năm ý:
I- Tu Chỉ Quán đối trị tâm thô loạn ban đầu
Nghĩa là hành giả khi mới ngồi thiền vì tâm thô loạn nên phải tu Chỉ Quán để phá trừ nó. Chỉ nếu không phá được liền nên tu Quán, cho nên nói “Tu Chỉ Quán đối trị tâm thô loạn ban đầu”. Nay nói tu Chỉ Quán có hai ý:
Có ba thứ:
Đây là chia chẻ cho biết tu thế nào là đúng thế nào là sai, để chúng ta biết mà ứng dụng tu trong khi ngồi thiền. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, nghĩa là giữ tâm một chỗ thì không việc gì chẳng xong. Chế tâm cũng như đây nói Hệ duyên thủ cảnh chỉ vậy.
Hệ duyên thủ cảnh chỉ là buộc tâm tại chót mũi và giữa rốn… khiến tâm không tán loạn . Khi ngồi thiền mắt mở hờ nhìn xuống chỉ thấy chót mũi trắng, không để tâm nghĩ tưởng gì khác; hoặc buộc tâm ở giữa rốn, tức là nhắm mắt tưởng tâm mình ở giữa rốn, còn buộc ở chót mũi thì mắt mở hờ. Đó là tu Chỉ. Chỉ là cột một chỗ để dừng tâm, hay là mượn cảnh để dừng tâm. Theo kinh nghiệm của riêng tôi, khi ngồi nhìn xuống thấy chót mũi lâu thì đầu hơi bị nặng, còn buộc tâm ở dưới rốn thì hơi thở sâu và nhẹ nhàng hơn.
Kinh chép: “Buộc tâm không buông lung, cũng như xích con vượn.” Tâm chúng ta là tâm viên ý mã cứ chạy nhảy lung tung, nên phải lấy chót mũi hoặc rốn làm chỗ cột nó, gọi là xích con vượn của mình lại, chừng nào nó ngủ yên là được.
Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch lúc còn đi tham vấn, đến hỏi thiền sư Trung Ấp: “Bạch Hòa thượng, thế nào là Phật tánh?” Ngài Trung Ấp nói: “Như một con khỉ bị nhốt trong chuồng có sáu cửa. Bên ngoài có con khỉ tới cửa số một kêu chéo chéo, con khỉ bên trong cũng đứng dậy kêu chéo chéo, cứ như vậy tiếp tục hết sáu cửa.” Ngưỡng Sơn thưa: “Nếu con khỉ bên trong ngủ thì sao?” Ngài Trung Ấp từ trên tòa bước xuống nắm đứng nói: “Ta cùng ông thấy nhau rồi.”
Câu chuyện này trong nhà thiền muốn nói lên điều gì? Tâm ý chúng ta theo sáu căn duyên cảnh bên ngoài, mắt duyên hình sắc, tai duyên âm thanh… Nếu khi ngủ lặng yên thì hình sắc âm thanh bên ngoài không còn quyến rũ nữa. Đó là trở về, là an ổn. Tâm chúng ta còn nhanh hơn khỉ vượn, chạy nhảy bốn phía không dừng, trên trời dưới đất gì cũng tới được, như đang ngồi đây mà chợt nhớ đến Vũng Tàu thì liền chạy đến Vũng Tàu, nghĩ tới Cần Thơ liền bay tới Cần Thơ. Bởi nhanh quá cho nên thành lu bù, lộn xộn, đầu óc không yên, rồi than “tôi khó ngủ”. Nằm xuống cứ nhớ chuyện này, chuyện nọ, chuyện kia, chuyện không đáng nhớ cũng nhớ, không đáng nghĩ cũng nghĩ. Nhớ nghĩ hoài thì làm sao ngủ được, rồi đâm ra bực bội khó chịu. Muốn ngủ mà ngủ không được, buộc lòng phải uống thuốc ngủ, uống riết thành bệnh. Nếu người biết tu, khi cần nghĩ cho nghĩ, khi không cần nghĩ thì buông không nghĩ nữa. Làm chủ được như vậy nên dễ ngủ, khỏi thuốc men mà còn được khỏe. Cho nên tu là khéo cột con khỉ con vượn của mình lại, nếu không khéo thì việc tu không thể an ổn.
Hai phần trên thuộc về sự tướng không cần phân biệt rộng.
Chế tâm chỉ là kìm chế hay hạn chế tâm lại, không cho giong ruổi tán loạn nữa.
Kinh chép: “Năm căn, tâm là chủ, thế nên các ông phải khéo dứt tâm.” Năm căn là mắt tai mũi lưỡi thân, năm căn biểu hiện thương ghét, buồn vui v.v… đều do tâm, nên nói năm căn tâm là chủ. Khi năm căn tiếp xúc trần cảnh, chúng ta hạn chế, kìm hãm không cho nó chạy theo trần cảnh, gọi là chế tâm, là dứt tâm. Dứt tâm chứ không phải dứt các căn.
Chúng ta nghe nói tu thiền mắt thấy sắc như mù, tai nghe tiếng như điếc…, rồi cho rằng thấy sắc phải nhắm mắt, nghe tiếng phải bịt tai! Không phải như vậy. Khi thấy sắc tâm không chạy theo sắc thì không dính sắc, nghe tiếng tâm không chạy theo tiếng thì không dính tiếng. Ví dụ sáng nay đi chợ Bến Thành, thấy người vật, đồ đạc… tất cả mọi thứ, nhưng không chú tâm vào cái gì hết, khi về người nhà hỏi, đi chợ có thấy gì không, có nghe gì không, đáp không thấy, không nghe. Nói như vậy không phải là không thấy, không nghe gì hết, mà thấy nghe tất cả nhưng không chú ý. Do không chú ý nên không dính mắc, thấy mà như không thấy, nghe mà như không nghe, gọi là thấy như mù, nghe như điếc. Tu không phải là cấm mắt không được thấy, tai không được nghe… Chỉ cần chúng ta khéo tu thì không bị những cảnh trần chi phối lôi kéo. Đó là thiền, là định.
Hai phần trên là Hệ duyên thủ cảnh chỉ và Chế tâm chỉ, thuộc về sự tướng không cần phân biệt rộng.
Trong hết thảy các pháp,
Nhân duyên sanh không chủ.
Dứt tâm suốt nguồn gốc,
Gọi là vị Sa-môn.
Thể chân chỉ là thể nhập lý chân thật, dừng tâm không chạy theo trần cảnh. Đây là chỗ quan trọng, Phật tử tu nên ứng dụng pháp này, dễ và nhẹ hơn cột tâm ở rốn hay chót mũi, hoặc đè tâm kìm hãm tâm. Khi tâm khởi nghĩ về các pháp, nào là người vật, cảnh trí, xe cộ, đồ đạc v.v… lúc ấy chúng ta liền nhớ pháp đó đều do nhân duyên sanh, nhớ vậy thì liền dừng lại.
Tùy tâm khởi niệm tất cả pháp đều biết do nhân duyên sanh, nó không có tự tánh thì tâm không chấp. Không tự tánh tức là không có chủ thể. Tôi thường ví dụ bàn tay và nắm tay. Bàn tay nắm lại thì gọi là nắm tay, vậy cái gì gọi là chủ thể của nắm tay? Bàn tay có năm ngón riêng biệt, khi co năm ngón lại gọi là nắm tay. Gọi đó là tạm gọi chứ không có thật, bởi không thật nên không có chủ thể. Tất cả sự vật ở thế gian do nhân duyên tụ họp đều không thật. Như cái nhà cũng là nhân duyên. Nhà gỗ thì do cây, tre, lá…, nhà tường thì gạch, cát, xi-măng v.v… nhiều thứ hợp lại mới thành, vậy cái gì là chủ thể của nhà? Nên biết cái nhà chỉ là một giả tướng duyên hợp không có chủ thể, không chủ thể nên nó không thật.
Nếu tâm không chấp thì vọng niệm dứt, cho nên gọi là Chỉ. Lúc khởi tâm duyên thì phải có cảnh có pháp nào đó mới duyên, chứ không thể nào duyên cái không ngơ; cái để duyên đó gọi là pháp. Khi tâm khởi duyên theo pháp gì thì đều biết là duyên hợp, không có chủ thể, không thật. Biết như vậy nên tâm không chấp, vọng niệm liền dừng, gọi là Chỉ.
Trong hết thảy các pháp,
Nhân duyên sanh không chủ.
Dứt tâm suốt nguồn gốc,
Gọi là vị Sa-môn.
Đây dẫn bài kệ trong kinh nói, các pháp đều do nhân duyên sanh, không có gì là chủ thể. Dứt tâm không chạy theo cảnh, thấy tận nguồn gốc của nó, gọi đó là Sa-môn, là người tu giải thoát. Người tu muốn được giải thoát phải thấy đúng như vậy.
Lối tu này thấy dường như Quán mà nó là Chỉ. Bởi vì biết rõ rồi dừng lại, không chạy theo cảnh, cho nên gọi là Chỉ.
Hành giả khi mới tập ngồi thiền, tùy tâm khởi niệm tất cả pháp vọng niệm tiếp tục không dừng, tuy dùng phương pháp Thể chân chỉ như trên mà vọng niệm không dứt, phải quán trở lại chỗ khởi của tâm: “Quá khứ đã qua, hiện tại chẳng dừng, vị lai chưa đến, cùng tột ba thời trọn không thể được. Pháp đã không thể được thì tâm cũng không thể có, nếu tâm không có thì tất cả pháp đều không.” Hành giả tuy quán tâm không trụ, đều không thể có, mà không phải không có cái hiểu biết niệm khởi liên tục từng sát-na.
Những chỗ này hết sức vi tế, chúng ta thâm nhập được là nắm vững pháp tu. Khi mới tập ngồi thiền, biết các pháp duyên hợp không có chủ thể, vừa khởi nghĩ liền dừng lại không theo, gọi là Thể chân chỉ. Tuy biết như vậy mà vọng niệm không dứt, cứ chạy hoài kìm không được thì phải quán trở lại chỗ khởi của tâm, xét xem tâm dấy lên lăng xăng đó ở đâu? Quá khứ đã qua, hiện tại chẳng dừng, vị lai chưa đến, cùng tột ba thời trọn không thể được… Kinh Kim Cang nói: “Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.” Ví dụ chúng ta có người thân đi nước ngoài, hôm nay đang ngồi thiền sực nhớ, tuy biết họ là duyên hợp hư dối không có chủ thể, biết thì biết mà bỏ không được cứ nhớ. Lúc đó phải ứng dụng quán trở lại: quá khứ qua mất rồi, hiện tại không có thật, vị lai thì chưa đến, vậy niệm nhớ đó từ đâu ra? Pháp đã không thể được thì tâm cũng không thể có, nếu tâm không có thì tất cả pháp đều không. Quán xét như vậy một hồi tâm nhớ đó tự hết, tâm không thì pháp cũng không. Đó là dùng quán để dứt tâm suy nghĩ tưởng nhớ.
Hành giả tuy quán tâm không trụ, đều không thể có, mà không phải không có cái hiểu biết niệm khởi liên tục từng sát-na. Quán tâm niệm nhớ đó ở trong ba thời, quá khứ hiện tại vị lai đều không thật, nhưng không phải không có tâm thấy được niệm khởi biến động ở trong, niệm đang dấy hay niệm đang dừng lặng, đều thấy biết rõ ràng không lầm. Nhiều người tu thiền hay lầm lẫn chỗ này. Ngồi thiền tới một phút giây nào đó, bỗng dưng niệm vọng dừng lại, lặng yên. Lúc đó hoảng sợ tưởng mất mình. Vì khi suy nghĩ cho là có mình, bây giờ lặng yên quá tự nhiên thấy không có mình, liền hoảng hốt lo sợ. Như vậy là đúng hay sai? Cái gì biết niệm mất? Biết niệm mất thì đâu phải là không có biết. Mất là mất cái niệm nghĩ suy chứ không phải mất cái biết niệm nghĩ suy. Đây là chỗ lầm lẫn rất vi tế.
Thông thường chúng ta luôn chấp cái nghĩ suy buồn vui giận ghét là mình, nhưng nghiệm lại xem mỗi ngày buồn vui giận ghét bao nhiêu lần? Lát buồn, lát vui, lát giận, lát ghét… Niệm suy nghĩ buồn vui đó thay đổi liên tục, nên nó thuộc sanh diệt, còn cái biết lúc này vui, lúc kia buồn… thì không bao giờ vắng, nếu vắng thì hết buồn tới vui mình đâu có biết. Vậy mà chúng ta lầm nhận, nên khi nó lặng thì hoảng hốt tưởng mất mình rồi. Nhưng sự thật có mất đâu. Biết đang lặng, biết không dấy niệm, biết rõ ràng thì cái biết đó mới thật là mình, còn cái biết của dấy niệm là cái bị biết, bị biết thì không phải mình. Như tôi thấy bình hoa thì bình hoa là cái bị thấy, nó không phải là cái hay thấy của tôi, vậy nó không phải là tôi. Niệm khởi chúng ta thấy, niệm dừng chúng ta biết, cái chợt khởi chợt dừng là cái bị biết, không phải là mình. Biết được niệm khởi niệm dừng, cái đó mới chính là mình.
Lâu nay chúng ta quên mình theo bóng, như câu chuyện Diễn-nhã-đạt-đa trong kinh Lăng-nghiêm. Một buổi sáng Diễn-nhã-đạt-đa soi gương thấy bóng mặt mình, úp gương xuống không thấy đầu mặt nữa, hoảng quá ôm đầu chạy la “tôi mất đầu rồi”. Mất đầu hay mất bóng? Bóng trong gương không phải là đầu mặt thật, nó là cái bị thấy, còn đầu mặt thật của mình thì mình không thấy được. Thấy bóng rồi bóng bị khuất đi, hoảng tưởng mất đầu mặt chứ không ngờ mặt mình hiện tiền, chỉ là mất bóng mà thôi. Khi biết rõ cái giả không theo thì cái thật hiện tiền, không bao giờ vắng thiếu.
Loại quán tâm niệm này do sáu căn bên trong và sáu trần bên ngoài, căn trần đối nhau, cho nên có thức sanh, căn trần chưa đối thì thức hẳn không sanh. Quán sanh như thế, quán diệt cũng vậy. Danh từ sanh diệt chỉ là giả lập, tâm sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền. Trọn không có chỗ được, ấy gọi là Niết-bàn không tịch, thế là tâm vọng tự dừng vậy.
Quán sáu căn bên trong cùng sáu trần bên ngoài tiếp xúc nhau sanh ra sáu thức, nếu ngoài không có trần, trong không có căn thì thức không khởi phân biệt. Quán sanh như thế, quán diệt cũng vậy . Vì nếu căn và trần không tiếp xúc thì không có sanh diệt, nên danh từ đó cũng chỉ là giả lập mà thôi.
Tâm sanh diệt đã diệt thì tịch diệt hiện tiền. Câu này hết sức thiết yếu. Tâm sanh diệt là tâm nào? Tâm khởi nghĩ là sanh, lặng xuống là diệt. Tâm sanh diệt lặng hết thì tịch diệt hiện tiền. Tịch diệt là lặng lẽ, không còn dấy động. Kinh Niết-bàn nói: “Sanh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc.” Sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui. Vui đó là cái vui của Niết-bàn. Đức Phật Thích-ca sau khi ngộ đạo dưới cội Bồ-đề cho đến lúc nhập Niết-bàn, khoảng giữa đó ngài có Niết-bàn không? Các vị A-la-hán khi chứng quả rồi vẫn còn sống, còn hoạt động thì lúc đó có Niết-bàn chưa? Các ngài đang sống trong Niết-bàn. Bởi tâm tịch diệt lặng lẽ là Niết-bàn, không phải đợi sau khi chết mới nhập Niết-bàn.
Chúng ta cũng vậy, có đầy đủ không thua kém Phật Bồ-tát, nhưng vì cứ nhận cái giả dối, cho thân tâm sanh diệt này là mình, nên không thấy được tịch diệt. Vì vậy ngồi thiền là cốt để cho tâm sanh diệt lặng, chừng đó Niết-bàn hiện tiền.
Trọn không có chỗ được, ấy gọi là Niết-bàn không tịch, thế là tâm vọng tự dừng vậy . Thông thường chúng ta ưa nói tu cho được Niết-bàn. Niết-bàn ở đâu mà được? Tâm sanh diệt dừng lặng, yên tịnh trong sáng hiện tiền là Niết-bàn. Cái đó sẵn ngay nơi mình chứ đâu phải là từ ngoài vào mà gọi là được. Bởi niệm dấy khởi phủ lấp nên không thấy, bây giờ niệm sanh diệt lặng hết thì tịch diệt hiện tiền. Như kinh Bát-nhã nói: “Dĩ vô sở đắc cố…” Chính vì không có chỗ được nên Bồ-tát và chư Phật trong ba đời mới chứng được đạo quả vô thượng, là ở chỗ đó.
Trọng tâm giáo hóa của Phật và Bồ-tát, nhằm nói rõ cho biết cái gì gây đau khổ, cái gì đem lại nguồn an vui. Chúng ta khổ là do chấp thân tâm sanh diệt là mình, khi nào tâm sanh diệt lặng thì chân thật an vui hiện tiền chứ không đâu xa. Niết-bàn này ai cũng sẵn có, chưa chết vẫn được. Nhưng Niết-bàn của Phật và Bồ-tát là Niết-bàn vĩnh viễn, còn Niết-bàn của chúng ta thì không thường hằng, chỉ trong chớp mắt là mất. Như đêm rằm trăng sáng mà mây đen che mịt mù nên không thấy mặt trăng, nếu một phút giây nào đó mây thưa được chút ít thì thấy được trăng, nhưng rồi mây khác kéo tới phủ tiếp nên lại không thấy. Niết-bàn của chúng ta cũng giống như vậy, được một chút rồi ẩn. Tâm vọng vừa lặng thì niệm khác dấy khởi nên tịch diệt liền mất. Việc tu tế nhị, tuy rõ ràng mà phải khéo mới nhận ra.
Luận Đại Thừa Khởi Tín chép: “Nếu tâm giong ruổi tán loạn, liền phải thu nhiếp trụ nơi chánh niệm. Nói chánh niệm, nên biết chỉ có tâm, không có ngoại cảnh; lại nội tâm này cũng không có tự tướng, mỗi niệm không thể có được.” Người sơ tâm tu học, tâm chưa có thể dừng trụ, nếu cố ép cho nó trụ, thường hay phát cuồng. Phải như người tập bắn, tập lâu mới bắn trúng.
Nói chánh niệm, nên biết chỉ có tâm, không có ngoại cảnh. Chánh niệm là chỉ chỗ nhất tâm. Nhất tâm là không còn niệm, vì nếu còn niệm là thành nhị tâm. Như niệm Phật nhất tâm, tức là niệm đến chỗ vô niệm, mới gọi là nhất tâm. Lại nội tâm này cũng không có tự tướng, mỗi niệm không thể có được. Tất cả niệm khởi đều không thật, không cố định.
Người sơ tâm tu học, tâm chưa có thể dừng trụ, nếu cố ép cho nó trụ, thường hay phát cuồng . Người mới tu, khi ngồi thiền tâm dấy nghĩ liên miên chưa dừng được, bực quá ráng kìm không cho dấy động, kìm một hồi phát cuồng. Cho nên người biết thì ngồi thiền gương mặt lúc nào cũng tươi vui, còn không biết thấy vọng niệm sợ quá, cắn răng bặm môi trợn mắt… Đó là sai lầm, là bệnh. Chúng ta tu phải tỉnh táo sáng suốt nhẹ nhàng, dấy niệm liền biết là hư dối không theo thì vọng tưởng tự lặng.
Biết niệm khởi là vọng tưởng có tiến bộ được bước nào chưa? Ngày xưa niệm khởi cho nó là tâm mình, buồn thương giận ghét… đều là tôi hết, tức đồng hóa vọng đó là mình. Bây giờ biết nó hư dối không phải mình, là đã có trí tuệ, tiến bộ một bước khá cao rồi. Ví dụ trước kia có kẻ gian đến nhìn bà con, chúng ta không biết tưởng thật nhận cho ở, cho vô hộ khẩu… Ở lâu họ biết đồ đạc trong nhà để đâu, bèn lén lấy bán đi. Sau chúng ta biết đó là kẻ gian, tuy biết rồi mà đuổi ra liền được không? Phải chịu đựng, nhưng từ đó hành động nào chúng ta cũng đều theo dõi sát thì kẻ gian ấy không thể làm gì được, tuy họ còn ở trong nhà mà chúng ta không bị mất của. Cũng vậy, vọng niệm tuy còn nhưng chúng ta vẫn làm chủ được, vì đã biết rõ bản chất của nó là hư dối. Chúng ta tu nếu hiểu rõ thì sự tu tập được tốt đẹp an ổn không bệnh hoạn, còn không biết mà tu càn thành ra điên cuồng.
Phải như người tập bắn, tập lâu mới bắn trúng . Người tu cũng giống như người tập bắn, mới bắn chưa quen bắn trật hoài chẳng lẽ bẻ cung bỏ tên. Muốn bắn trúng thì phải chịu khó nhắm, tập mãi lâu ngày bắn sẽ trúng. Biết vọng tưởng mà nó vẫn dấy lên liên miên, cứ biết mãi không theo thì lâu ngày nó tự dừng tự lặng.
Quán có hai thứ:
Trong nhà Phật hay nói đối bệnh cho thuốc. Tùy người có bệnh gì thì cho thuốc đúng để trị bệnh đó, cho nên gọi là đối trị.
Quán bất tịnh đối trị tham dục. Người bị bệnh tham dục nặng, Phật dạy quán bất tịnh để đối trị. Tại sao? Bởi vì yêu mến sắc đẹp là gốc của tham dục, nếu quán thấy thân người nhớp nhúa đáng chán chê thì đâu còn tham dục nữa. Cho nên dùng quán bất tịnh để trị tham dục.
Chỗ này chúng ta cần phải hiểu rõ, quán là để đối trị bệnh chứ không phải là cứu cánh. Thời Phật còn tại thế, Phật dạy chư Tỳ-kheo quán bất tịnh để đối trị bệnh tham dục. Nhưng có những Tỳ-kheo quán thân rồi tự chán gớm thân mình bèn đem cúng hết đồ đạc cho huynh đệ, năn nỉ người này người kia cắt cổ mình giùm. Một hôm đức Phật họp chúng, ngài thấy nhiều Tỳ-kheo vắng mặt, hỏi ra mới biết lý do kia. Phật quở, Ta dạy các ông quán bất tịnh để đối trị bệnh tham dục mà tu, chứ không phải quán để chán thân mà tự tử, ấy là sai lầm. Sau đó Phật dạy các Tỳ-kheo phải quán tịnh.
Như vậy phương pháp Phật dạy tu là đối bệnh cho thuốc, khi bệnh được lành thì phải ngưng thuốc để chuyển qua thứ khác. Quán bất tịnh tới giai đoạn gớm ghê thân rồi thì phải quán tịnh trở lại, chứ không được quán bất tịnh nữa. Giá trị của đối bệnh cho thuốc là vậy.
Quán từ bi đối trị giận hờn . Người nào nóng giận thì Phật dạy phải quán từ bi để đối trị. Từ bi là thương mến mọi người. Do thương nên bớt nóng giận, ai có làm gì sai quấy cũng dễ tha thứ; còn ghét thì dễ nổi giận, khó tha thứ. Cho nên muốn giảm nóng giận thì phải quán từ bi. Chừng nào thương hết được người thân lẫn người không thân, thương cả luôn những người oán ghét, đó là quán từ bi thành công. Nhưng phải nhớ, lối quán này là dùng cho người dễ nóng giận, nếu người nào bị bệnh ái nhiều thì không nên quán từ bi.
Quán giới phân biệt đối trị chấp ngã . Nghĩa là quán trong thân, mỗi phần phân biệt chia ra từng ranh giới riêng, để trị bệnh chấp ngã. Như quán những bộ phận trong thân, mắt tai mũi lưỡi thân ý, phân biệt từng phần quán biết rõ ràng. Hoặc quán tứ đại giả hợp, phân chia chất cứng trong người là đất, ướt là nước, động là gió, ấm là lửa… Phân tích ra như vậy gọi là quán giới phân biệt. Chúng ta cứ ngỡ thân này là mình thật, nhưng khi phân chia quán sát từng phần thì cái gì là mình? Tìm cái thật mình không có, tự biết thấy thân này là giả hợp không thật, liền hết chấp ngã.
Quán sổ tức đối trị loạn động . Người tâm nhiều xao xuyến thì phải quán sổ tức. Quán sổ tức là đếm hơi thở. Đếm hoãn là hít vô cùng thở ra sạch đếm một; người loạn tưởng nhiều quá thì hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai, gọi là đếm cấp. Đếm tới mười bỏ đếm lại, nếu đếm nửa chừng quên thì phải đếm lại từ đầu. Đây là bệnh thông dụng nhất, ai cũng có bệnh này, vì vậy người tu thiền ban đầu phải tu Quán sổ tức. Chúng ta biết đại cương những pháp đối trị để thực hành không bị sai lầm.
Các pháp không bền chắc,
Thường ở trong tâm niệm,
Người thấu đạt lý không,
Tất cả không khởi niệm.
Chánh quán là lối quán thẳng vào gốc mà đối trị chứ không phải quán từng phần. Đây là lối tu thuộc về Đại thừa, hay còn gọi là Phật giáo phát triển.
Quán các pháp không tướng đều do nhân duyên sanh, nhân duyên không tánh tức là thật tướng . Ví dụ hiện giờ chúng ta nhìn thấy bình hoa đẹp, nhưng nếu lấy từng cành để rời rạc ra thì bình hoa không còn nữa. Bình hoa chỉ là hợp tướng của nhiều cành hoa, do duyên hợp mà có, không thật, không có cái gì là chủ thể của nó. Những đóa hoa này, nếu chia từng cánh, từng cánh một cũng không thật có. Tất cả pháp thế gian cũng vậy, phân tích chia chẻ ra thì không có cái nào thật, nên nói không tánh tức là thật tướng. Thấy các pháp không có chủ thể, không có tự tánh thật, đó là thấy được tướng thật của các pháp.
Thường chúng ta không thấy được tướng thật của các pháp mà toàn là thấy tướng giả. Nhìn bình hoa vội vàng khen đẹp chê xấu, chứ không bao giờ nhìn tường tận bình hoa này là không thật, do duyên hợp tạm có. Nếu thấy bình hoa không thật thì cái bàn… cho đến thân của chúng ta, tất cả cũng đều là duyên hợp không thật. Vì không thật nên không có chủ thể, không có chủ thể thì cái gì là ngã. Vậy mà chúng ta cứ vỗ ngực xưng ta xưng mình. Đó là lầm lẫn, là nhìn theo mê muội.
Lối tu Quán là cách dạy chúng ta mở sáng con mắt trí tuệ, nhìn đúng như thật. Trong kinh Phật dạy, cái gì nhân duyên hợp thì cái đó không có chủ thể. Chúng ta nhìn khắp địa cầu này xem, có cái nào không phải là do nhân duyên hợp không? Đều là duyên hợp, không có chủ thể, không thật. Như một lượn sóng, một quả núi… chúng ta tưởng đó là thật, mà đâu có thật. Sông có khi chảy, có khi bị cạn hoặc bị lấp. Núi có khi bị lở… Vì duyên hợp cho nên nếu thiếu duyên thì nó tan hoại không còn, tìm thể thật của nó không có. Nếu biết tất cả pháp không có thể thật là thấy được tướng thật của các pháp.
Trước rõ cảnh bị quán tất cả đều không thì tâm năng quán tự nhiên không khởi. Thấy bình hoa không thật, đồng hồ không thật, cái nào cũng không thật hết thì tâm năng quán tự nhiên không khởi.
Lý này trước và sau đã nói nhiều rồi nên ở đây ngài không giải thích thêm nữa, để chúng ta đọc tự hiểu. Đến bài kệ trong Kinh chép:
Các pháp không bền chắc,
Thường ở trong tâm niệm,
Người thấu đạt lý không,
Tất cả không khởi niệm.
Các pháp không bền chắc, do tâm chúng ta chấp thế này thế nọ, nên nó chỉ có ở trong tâm niệm của chính mình mà thôi.
Tóm lại, nếu thấy tất cả sự vật chung quanh đều do nhân duyên hợp, không có thật thể, là thấy được lý không hay tánh không thì chúng ta không dính mắc với nó. Đó là ý nghĩa tu Quán.
II- Tu Chỉ Quán đối trị tâm bệnh trầm phù
Hành giả khi ngồi thiền tâm mê muội không nhớ, hoặc nhiều ngủ gục, khi ấy nên tu Quán để chiếu phá nó. Nếu trong khi ngồi, tâm phù động lăng xăng không yên, khi ấy nên tu Chỉ để chặn đứng nó. Ấy là đã lược nói tướng tu Chỉ Quán đối trị tâm bệnh phù trầm; nhưng phải khéo biết thuốc và biết tướng bệnh mà đối dùng, mỗi mỗi đừng để mắc phải lỗi đối trị sai lạc.
Trầm là chìm, phù là nổi. Người tâm chìm lặng gọi là trầm, tâm dấy động hoài gọi là phù. Hành giả khi ngồi thiền tâm mê muội không nhớ, hoặc nhiều ngủ gục, khi ấy nên tu Quán để chiếu phá nó. Người nào ngồi thiền mà cứ ngủ gục lên gục xuống, phải đánh một cái cho giật mình thức dậy, hoặc là khởi niệm quán. Quán các pháp nhân duyên hay quán thân tứ đại của mình, phân chia nó ra một hồi thì liền tỉnh ngủ. Đó là tu Quán để chiếu phá nó.
Nếu trong khi ngồi, tâm phù động lăng xăng không yên, khi ấy nên tu Chỉ để chặn đứng nó. Khi ngồi thiền mà cứ nghĩ chuyện này chuyện nọ chuyện kia lăng xăng hoài, gọi là phù động. Lúc đó không được tu Quán, vì quán càng động thêm; nên phải tu Chỉ để chặn đứng tâm phù động, chú tâm một chỗ cho nó dừng lại.
Chúng ta tu phải tự biết bệnh của mình, tâm bị trầm dùng Quán trị, nếu tâm đang phù động dùng Chỉ để trị. Nhưng phải khéo biết thuốc và biết tướng bệnh mà đối dùng. Biết đúng trị đúng thì bệnh sẽ lành, không thì bệnh sẽ không khỏi.
III- Tùy tiện nghi tu Chỉ Quán
Hành giả khi tọa thiền, tuy vì đối trị tâm trầm nên tu Quán chiếu, mà tâm vẫn không tỉnh sáng, cũng không có pháp lợi, khi ấy nên thử tu Chỉ mà chặn đứng nó. Nếu khi tu Chỉ liền biết thân tâm an tịnh, là biết hợp với tu Chỉ, nên dùng Chỉ để an tâm.
Nếu khi tọa thiền tâm bị trầm mà tu Quán cũng không tỉnh sáng, không có kết quả thì thử tu Chỉ để kìm nó một chỗ. Trụ tâm trên trán hoặc ở chót mũi, nhớ đừng để dưới rốn vì trụ ở rốn sẽ ngủ ngon hơn. Nếu khi đó thân tâm được tỉnh sáng an tịnh là có pháp lợi, biết hợp với tu Chỉ, nên dùng Chỉ để an tâm.
Nếu khi tọa thiền, tuy vì đối trị tâm phù động nên tu Chỉ, mà tâm vẫn không an trụ, cũng không có pháp lợi, nên thử tu Quán. Nếu trong khi Quán liền biết thân tâm tỉnh sáng, an ổn lặng lẽ, là biết hợp tu Quán, liền nên dùng Quán để an tâm. Đó là lược nói tướng tùy tiện nghi tu Chỉ Quán. Chỉ cần khéo chọn pháp thích hợp mà tu thì tâm thần an ổn, loạn phiền não dứt, chứng được các pháp môn.
Tâm phù động lẽ ra phải tu Chỉ, mà tu Chỉ lâu quá không có kết quả nên thử tu Quán. Nếu chúng ta dừng tâm ở chót mũi hoặc ở rốn mà không có kết quả, hãy thử quán thân này do tứ đại họp thành, phân tích từng phần thử xem tâm phù động đó có được an trụ hay không. Áp dụng tu Quán thân tâm tỉnh sáng, an ổn lặng lẽ, là biết hợp tu Quán thì nên dùng Quán để tu.
Như vậy chúng ta phải khéo chọn pháp thích hợp, có kết quả tốt để tu, trọng tâm tu là làm sao cho tâm an trí sáng. Nếu cách này không có kết quả phải chuyển qua cách khác, chứ đừng cố chấp cho rằng phải tu Chỉ hay phải tu Quán. Nếu tu Chỉ không có kết quả mà không chịu Quán, hoặc tu Quán không được mà không chịu tu Chỉ, đó là sai. Cho nên tùy hoàn cảnh mà đổi thay để tu được lợi lạc.
Đó là lược nói tướng tùy tiện nghi tu Chỉ Quán. Tùy tiện nghi là tùy theo cái gì thích hợp, được kết quả thì hãy tu cái đó chứ không cố định.
IV- Đối trị tế tâm trong định tu Chỉ Quán
Nghĩa là hành giả trước dùng Chỉ Quán đối phá tâm thô loạn, loạn tâm đã dứt, liền được nhập định; vì định tâm vi tế, nên cảm biết như thân rỗng lặng thọ sự khoái lạc, hoặc tâm tiện lợi phát khởi, thụ nhận tâm tế vi này, chấp lý lệch lạc tà vạy.
Đoạn này là phá trừ bệnh chấp. Gần đây có một ít Phật tử khéo tu, tâm được yên định, nhưng do không biết, trở thành bệnh chấp. Bởi định tâm đó vi tế, khi tâm yên định thấy hỷ lạc, nhạy bén lạ thường rồi tưởng chứng thánh quả, chấp cho là mình đạt đạo, đó là bệnh nặng chúng ta phải biết đừng để bị lầm. Nếu thọ nhận tâm vi tế này, trở thành chấp lý lệch lạc tà vạy, cho nên phải vượt qua.
Chúng ta tu tuy có tiến bộ tâm an ổn, nhưng đừng tự mãn dừng ở chỗ đó, mà phải đi sâu hơn nữa để phá những vi tế nhỏ nhiệm thì mới vượt qua những chặng đường khó. Tôi nhắc thêm, người tu thiền thường trải qua các hiện tượng mà đa số đều gặp, chúng ta phải khéo biết để tiến lên. Như nói về Tứ thiền, Tứ thiền gồm có:
– Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc: Lìa dục, lìa pháp ác bất thiện, tâm sanh vui thích. Người tu chứng được Sơ thiền thì lìa tất cả những tham dục, đối với lục trần không còn đắm nhiễm. Nếu khi lìa được sáu trần tâm sanh vui thích rồi tưởng là chỗ cứu cánh dừng trụ vào đó, là mắc kẹt ở Sơ thiền, cho nên phải nỗ lực tu sâu hơn để được định của Nhị thiền.
– Nhị thiền Định sanh hỷ lạc: Do tâm an định sanh ra vui thích. Nếu đến đây mà thỏa mãn với cái vui thích đó thì bị mắc kẹt ở Nhị thiền. Tuy được định vui nhưng vẫn phải vượt qua, cố tu vươn lên Tam thiền.
– Tam thiền Ly hỷ diệu lạc: Được định sanh vui mừng quá thành ra tâm còn thô động, nên phải xả cái vui thô động đó để tiến tới Tam thiền, gọi là Ly hỷ diệu lạc. Tức là lìa vui mừng thô động, còn lại cái vui thầm lặng vi diệu. Đến đây cũng chưa phải là cứu cánh, nên phải ráng tu tiến lên Tứ thiền.
– Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh: Đến chỗ này những niệm vui đều buông hết, chỉ còn một tâm thanh tịnh.
Ở đây tôi chỉ giải thích qua những từ chuyên môn thôi. Đó là những thứ lớp tu tập mà chúng ta nên biết. Việc tu phải trải qua nhiều giai đoạn, nếu mới được một phần mà tưởng là đã xong, rồi hài lòng chỗ đó thì lâu ngày sanh bệnh khó trị. Do đó chúng ta phải hiểu rõ để tu, đừng để mắc kẹt.
Nếu không biết định tâm để ngăn dứt sự hư dối ấy, ắt sanh tham trước chấp cho là thật. Nếu biết nó là hư dối không thật thì hai thứ phiền não ái kiến không khởi, ấy là tu Chỉ. Nếu tâm đắm trước ái kiến kết nghiệp không dứt, khi ấy nên tu Quán. Quán tâm vi tế trong định, nếu không thấy tâm ấy thì không chấp định kiến; nếu không chấp định kiến thì ái kiến nghiệp phiền não thảy đều diệt sạch, ấy gọi là tu Quán. Đây là lược nói tướng đối trị tâm vi tế trong định tu Chỉ Quán. Phân biệt phương pháp Chỉ Quán cũng đồng như trước, duy có phá lỗi định kiến vi tế là khác.
Nếu không biết định tâm , để kẹt vào chỗ hư dối ắt sanh tham trước chấp cho là thật . Do chấp cái vui đó là thật, nên khi vui qua rồi sanh buồn tiếc, nghĩ rằng có lẽ mình thối tâm nên không còn vui ấy nữa. Đó là lầm.
Biết nó là hư dối không thật thì hai thứ phiền não ái kiến không khởi, ấy là tu Chỉ . Nếu biết tâm do yên lặng được thích thú an vui, cũng là hư dối không thật thì phiền não ái kiến không còn dấy khởi nữa. Nếu tâm đắm trước ái kiến kết nghiệp không dứt, khi ấy nên tu Quán . Nếu tâm cứ chấp chỗ thấy đó, cho là cao siêu là hay thì nên tu Quán. Quán tâm vi tế trong định chấp cái vui thích đó ra sao, là cái gì? Khởi quán như thế thì không còn tâm chấp vào định kiến nữa, lúc ấy nghiệp ái kiến phiền não đều sạch, gọi là tu Quán.
Lỗi định kiến vi tế . Khi được định vui vẻ thích thú rồi hài lòng ở đó, gọi là định kiến. Phải phá lỗi định kiến này đừng để mắc kẹt.
V- Quân bình định tuệ tu Chỉ Quán
Hành giả trong khi tọa thiền nhân tu Chỉ, hoặc nhân tu Quán được nhập thiền định. Tuy được nhập định mà không có quán tuệ, ấy là si định, không thể đoạn kiết. Hoặc quán tuệ kém ít thì không thể phát khởi được chân tuệ, đoạn các kiết sử, phát các pháp môn. Khi ấy nên tu Quán mà phá dẹp thì định tuệ được quân bình, hay đoạn được kiết sử và chứng các pháp môn.
Khi tu được định rồi chìm trong cái yên lặng đó gọi là si định, nên phải khởi quán lại tất cả những định này đều không thật, quán sát tường tận để trí tuệ phát sanh, chừng đó mới phá dẹp được các kiết sử. Vì vậy phải khéo quân bình định tuệ, tu Chỉ Quán mới được.
Hành giả trong khi tọa thiền nhân Quán, tâm rỗng rang khai ngộ, trí tuệ sáng suốt, mà định tâm kém ít, nên tâm tán động, như ngọn đèn trước gió không chiếu rõ các vật, không thể xuất ly sanh tử. Khi ấy nên tu Chỉ, do tu Chỉ mà tâm được định, như ngọn đèn để trong nhà kín, hay phá được tối tăm và soi vật rõ ràng. Đó là lược nói quân bình định tuệ tu Chỉ Quán. Hành giả nếu như thế trong khi ngồi thân ngay thẳng khéo dùng năm ý tu Chỉ Quán này, thủ hay xả không mất sự thích ứng của nó, là người ấy đã khéo tu Phật pháp, vì khéo tu nên một đời không luống uổng vậy.
Trong khi tọa thiền, nhân Quán mà tâm rỗng rang khai ngộ, trí tuệ sáng suốt, nếu ngang đó hài lòng nói chuyện trên trời trên mây, mà định tâm kém ít nên tâm tán động, như ngọn đèn trước gió không chiếu rõ các vật, không thể xuất ly sanh tử . Đa số chúng ta tu dễ mắc kẹt bệnh này. Vì thấy trước đây trí tuệ mờ tối, bây giờ sáng suốt tưởng như mình đã thành thánh rồi. Cứ như vậy mà nói cho sướng miệng, rốt rồi tâm không ổn định, không thể phá những niệm vi tế được.
Khi ấy nên tu Chỉ, do tu Chỉ mà tâm được định, như ngọn đèn để trong nhà kín, hay phá được tối tăm và soi vật rõ ràng. Như vậy có trí tuệ rồi còn phải định nữa, chứ không phải có trí tuệ rồi thỏa mãn. Điều này hết sức quan trọng, người tu mà không nắm vững thì sự tu dễ bị lầm lẫn. Tu chưa đến nơi đến chốn mà tưởng là đã thành thánh thành Phật, đó là bệnh rất khó trị.
Có nhiều vị xuất gia cũng như tại gia, trong khi tu thiền bỗng dưng sáng lên, hiểu được câu kinh mà trước đây chưa hiểu, biết rõ câu này, nhớ qua câu kia… nhớ đâu hiểu đó mừng quá làm thơ làm tụng liên miên, trình đọc không hết. Đó là trí tuệ mạnh nhưng chưa có sức định, tuy bừng sáng hiểu được những điều chưa hiểu là tốt, nhưng phải dùng định cho tâm yên lại.
Định và tuệ hợp nhau mới có sức mạnh phá được sanh tử. Nếu chỉ có tuệ mà thiếu định thì lâu ngày trở thành cuồng loạn, cũng như ngọn đèn bị gió nhiều quá thì không sáng được. Thế nên người tu phải nắm vững những điều này, chứ đừng lầm tưởng rồi nói trăng nói cuội đủ thứ, ai nghe cũng nể, nhưng bản thân mình gặp việc phiền não thì vẫn phiền não như thường, không qua được. Bị ai chê hay nói nặng một câu thì nổi sân đùng đùng. Người đạt đạo ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù đối duyên xúc cảnh thuận nghịch cũng vẫn tự tại. Còn nói rất hay mà gặp việc xử trí rất dở, giải quyết không xong, gặp chê nổi sân, gặp khen thì hiếu danh mừng rỡ… đó là còn mắc kẹt.
Trong nhà thiền thường lấy bát phong làm thước đo. Bát phong là tám gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Tám gió này thổi mà không bị động mới là tu thật. Trong tám gió, chỉ nói hai thứ khổ và lạc, chúng ta cũng chưa vượt qua nổi. Khi gặp cảnh đau khổ cùng cực, lúc đó cũng khổ, cũng thở than. Phật tử tại gia đang tu thấy như khá lắm, nói đông nói tây rất lưu loát, nhưng hôm nào bất thần được trúng số, suốt đêm không ngủ được, là bị cái vui làm loạn rồi. Khổ vui thôi mà chưa qua được, nói gì đến các thứ khen chê, hủy nhục…
Như vậy, trong sự tu lấy tám gió để kiểm nghiệm, người nào bị tám gió thổi mà vẫn tự tại thì biết đó là người tu thứ thiệt. Chúng ta tuy cũng có chút công phu, nhưng chưa phải đến nơi đến chốn, chưa diệt trừ được các kiết sử tham sân si, nên phải tu sâu, đoạn cho tận gốc mới được. Đó là khéo quân bình định tuệ để tu Chỉ Quán.
Khéo dùng năm ý tu Chỉ Quán . Năm ý là năm điều mà từ trước đến đây nói:
1- Tu Chỉ Quán đối trị tâm thô loạn ban đầu.
2- Tu Chỉ Quán đối trị bệnh trầm phù.
3- Tùy tiện nghi tu Chỉ Quán.
4- Đối trị tế tâm trong định tu Chỉ Quán.
5- Quân bình định tuệ tu Chỉ Quán.
Năm ý này khi tu chúng ta phải biết rõ, để thủ hay xả không mất sự thích ứng của nó. Khéo tu như thế thì một đời tu không luống uổng vậy.
Thân thường ngồi ngay thẳng tu Chỉ Quán là phương pháp thù thắng cần yếu để vào đạo, nhưng còn ngại khi thân tiếp duyên đối cảnh. Nếu khi tiếp duyên đối cảnh mà không tu Chỉ Quán, ấy là tu tâm có gián đoạn, những kiết nghiệp khi xúc cảnh liền sanh khởi, không thể chóng tương ưng với Phật pháp được. Nếu trong tất cả thời đều tu phương tiện Chỉ Quán thì chắc chắn người ấy thông đạt Phật pháp một cách nhanh chóng.
Thân thường ngồi ngay thẳng tu Chỉ Quán là phương pháp thù thắng cần yếu để vào đạo . Ngồi thiền ngay thẳng là phương pháp thù thắng cần yếu để vào đạo, nhưng ngày đêm chúng ta ngồi thiền được mấy giờ? Chỉ khoảng hai ba tiếng, còn lại thì đi ra ngoài làm việc này việc nọ… Nếu lúc làm việc mà không biết tu thì không thể nào nhiếp tâm, cho nên phải khéo tu khi đối duyên xúc cảnh. Lúc yên tịnh ngồi thiền tu, khi ra ngoài tiếp duyên đối cảnh vẫn khéo tu. Như vậy thời nào, giờ nào cũng tu, cả ngày đều tu được, đó mới là thù thắng.
Thế nào là tu Chỉ Quán khi trải duyên? Nói duyên có sáu thứ: 1- Đi, 2- Đứng, 3- Ngồi, 4- Nằm, 5- Làm việc, 6- Nói năng.
Thế nào là tu Chỉ Quán khi đối cảnh? Nói cảnh là sáu trần: 1- Mắt đối sắc, 2- Tai đối tiếng, 3- Mũi đối mùi, 4- Lưỡi đối vị, 5- Thân đối xúc, 6- Ý đối pháp.
Hành giả tùy trong mười hai việc này mà tu Chỉ Quán, gọi là khi trải duyên, đối cảnh tu Chỉ Quán.
Tu trong trải duyên có sáu thứ: đi, đứng, ngồi, nằm, làm việc, nói năng. Đối cảnh là đối sáu trần. Trong mười hai việc này tùy thời mà tu.
I- Trải duyên tu Chỉ Quán
Nếu khi đi nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì muốn đi? Nếu bị phiền não sai sử và việc ác, vô ký mà đi thì không nên đi; nếu không phải bị phiền não sai sử, vì việc thiện, lợi ích, đúng pháp thì nên đi.”
Tu trong lúc đi, mỗi khi cất bước định đi phải quán lại xem việc đi của mình là do phiền não sai sử, hay việc thiện lợi cho chúng sanh mà đi.
Nếu bị phiền não sai sử và việc ác vô ký mà đi thì không nên đi. Ví dụ hôm nào bị ai nói những câu nặng nề mà trả lời chưa kịp, về nằm suy nghĩ có câu trả lời nặng hơn, thích quá đứng dậy đi đến để trả lời. Như vậy đi là do phiền não sai sử, nên phải xét lại. Nếu đi để trả lời cho người ta phải khổ hơn mình, hoặc kiếm cách trả thù v.v… đây là do phiền não sai sử thì không nên đi, đó là khéo biết tu.
Nếu không phải bị phiền não sai sử, vì việc thiện, lợi ích, đúng pháp thì nên đi. Đi vì nhớ nghĩ có người bị bệnh, hoặc thiếu thốn đói khát, cần đến phụ giúp cho họ có cơm ăn, có tiền mua thuốc uống, đó là việc thiện lợi ích cho người thì nên đi.
Chúng ta phải làm chủ trong khi đi, xét việc gì đáng đi việc gì không đáng đi, chứ không phải mỗi khi muốn đi là vội đi mà không xét đoán thì sẽ dễ bị phiền não sai sử.
Thế nào trong khi đi tu Chỉ? Nếu khi đi liền biết nhân sự đi mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp trong khi đi đều không thể được, thì tâm vọng niệm tự dứt, đó gọi là tu Chỉ.
Chính trong khi đi làm việc này việc kia mà biết phiền não, thiện ác v.v… tất cả pháp đó đều không thật, không để cho tâm vọng tưởng khởi. Khi đi làm việc lợi ích cho người bệnh hay người thiếu thốn, tâm chúng ta vui thích muốn đi, nhưng lại kẹt vào cái danh cho mình là ân nhân tới giúp đỡ họ, nghĩ vậy là đi mà tâm rối loạn nên phải tu Chỉ. Đó là khi đi tu Chỉ để dứt tâm tán loạn.
Thế nào là trong khi đi tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân động, cho nên có tới lui, gọi là đi. Nhân việc đi này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” liền phản quán tâm trong khi đi không thấy tướng mạo, phải biết người đi và tất cả pháp trong khi đi rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Khi đi khởi nghĩ đi làm việc lành hay làm việc ác, biết rõ mới đi. Nếu không khéo quán thì dễ bị lầm lẫn, nên khi đi phải biết đi đó từ đâu mà khởi? Từ tâm dấy khởi mới muốn đi khiến cho thân động, cho nên nhân việc đi này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…
Liền phản quán tâm trong khi đi không thấy tướng mạo, phải biết người đi và tất cả pháp trong khi đi rốt ráo rỗng lặng. Quán lại trong khi đi không thấy tướng mạo, thân tâm đều không thật. Do quán như vậy nên khi đi mà tâm không động, ấy gọi là tu Quán.
Khi đứng nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì mà muốn đứng? Nếu vì các phiền não và việc ác, vô ký mà đứng thì không nên đứng; nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên đứng.”
Tu trong khi đứng. Thường chúng ta tưởng là khi đi mới tạo nghiệp, còn đứng không có tạo nghiệp. Nhưng thật ra đứng cũng tạo nghiệp. Đứng rình xem người ta cất đồ ở đâu để theo dõi tìm cách lấy của người, hay đứng để dò xét coi họ làm việc gì… Đứng mà có ý niệm đó là xấu, không nên đứng. Đứng để chờ người tới nói chuyện đạo lý cho họ nghe, hoặc đứng hỏi thăm bệnh hoạn, giúp đỡ người khác… Đứng vì lợi ích, không có hại cho người, là việc thiện thì nên đứng.
Thế nào trong khi đứng tu Chỉ? Nếu khi đứng liền biết nhân đứng mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp trong khi đứng đều không thể được thì tâm vọng niệm dứt, ấy là tu Chỉ.
Thế nào trong khi đứng tu Chỉ? Chính trong khi đứng, biết rõ tất cả việc làm từ tâm đến hành động đều không thật, do vọng dấy khởi, không chấp không nghĩ thì tâm vọng niệm dứt, ấy là tu Chỉ.
Thế nào trong khi đứng tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân dừng, nên gọi là đứng. Vì nhân đứng mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phải phản quán tâm trong khi đứng không thấy tướng mạo, nên biết người đứng và tất cả pháp trong khi đứng rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Tu Quán trong khi đứng là phản chiếu lại tâm nghĩ suy trong khi đứng, tìm xem tướng mạo nó thế nào, có thật hay không? Tìm thấy tâm không thật, tất cả pháp không thật, liền biết người đứng và tất cả pháp trong khi đứng rốt ráo rỗng lặng. Đó gọi là tu Quán trong khi đứng.
Khi ngồi nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì những việc gì mà muốn ngồi? Nếu vì phiền não và việc ác, vô ký v.v… thì không nên ngồi; vì việc thiện, lợi ích thì nên ngồi.” Thế nào trong khi ngồi tu Chỉ? Nếu khi ngồi phải biết rõ nhân ngồi nên có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… mà thật không có một pháp có thể được, thế là tâm vọng niệm không sanh, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào trong khi ngồi tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm nghĩ nên xếp chân ngồi yên, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… cho nên gọi là ngồi.” Phải quán trở lại tâm trong khi ngồi không thấy tướng mạo, nên biết người ngồi và tất cả pháp trong khi ngồi rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Khi ngồi phải nghĩ xem vì việc gì mà muốn ngồi, việc thiện hay việc ác? Ngồi để suy gẫm tìm cách giúp cho mọi người biết được đạo lý, hoặc nghĩ xem cần làm gì để giúp đỡ người bệnh hoạn, tật nguyền, nghèo khổ v.v… thì nên ngồi, ngược lại thì không nên ngồi. Khi ngồi chúng ta xét từ ý niệm muốn ngồi đến thân ngồi và việc làm trong khi ngồi đều không thật, tâm vọng niệm lặng, đó gọi là tu Chỉ trong khi ngồi.
Tu Quán trong khi ngồi là tìm xem ý niệm trong lúc ngồi thế nào. Tìm xét kỹ thì vọng niệm không còn, vì nó không có tướng mạo, không thật. Phản quan soi lại thấy rõ người ngồi, pháp ngồi đều rỗng lặng, đó là tu Quán.
Khi nằm nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì mà muốn nằm? Nếu vì việc không lành, phóng túng v.v… thì không nên nằm; nếu vì điều hòa tứ đại mà nằm thì nên nằm như sư tử nằm.”
Khi nằm cũng xét vì việc gì mà muốn nằm. Nếu vì việc không lành, phóng túng v.v… thì không nên nằm; nếu vì điều hòa tứ đại mà nằm thì nên nằm như sư tử nằm. Chúng ta đi đứng mỏi mê nên cần nằm để điều hòa tứ đại, nhưng phải nằm như sư tử, tức nằm nghiêng bên phải như đức Phật, gọi là nằm kiết tường, đừng nằm ngửa cũng đừng nằm nghiêng bên trái. Nằm nghiêng bên trái thì tim bị đè, nằm ngửa thẳng chân ngủ dễ bị ngáy, nên nằm bên phải như thế nằm của sư tử là tốt nhất.
Thế nào trong khi nằm tu Chỉ? Nếu khi nằm ngủ nghỉ, phải biết rõ vì nhân nằm mà có tất cả pháp phiền não thiện ác… nhưng thật không có một pháp có thể được, thế là vọng niệm không khởi, ấy gọi là tu Chỉ. Thế nào trong khi nằm tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do sự nhọc nhằn nên sanh mờ mịt, buông lung sáu tình, nhân đó mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Liền phải phản quán tâm trong khi nằm không thấy tướng mạo, nên biết người nằm và tất cả pháp trong khi nằm rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Tu Chỉ trong khi nằm giống như những thứ trước. Do xét biết tất cả hành động trong khi nằm đều không thật, nên không nghĩ chuyện này chuyện kia thì tâm tự dừng. Tu Quán trong khi nằm cũng vậy, phản quan lại tìm cái tâm trong khi nằm không thấy tướng mạo, liền biết người nằm và tất cả pháp trong khi nằm đều rỗng lặng.
Nếu khi làm việc nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì mà muốn làm như thế? Nếu vì việc bất thiện, vô ký v.v… thì không nên làm, nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên làm.”
Khi làm việc nên khởi nghĩ xem việc đang làm có lợi hay vô ích, là thiện hay ác? Nếu việc bất thiện, vô ký thì không nên làm. Vô ký là không nhất định thiện hay ác, tức là làm việc không lợi cho mình cho người, cũng không hại cho mình cho người. Nếu xét thấy ác và vô ký thì không nên làm, nhất định phải chọn việc làm thiện, có lợi ích mới làm.
Thế nào trong khi làm việc tu Chỉ? Nếu khi làm việc nên biết rõ vì nhân làm việc mà có tất cả pháp thiện ác v.v… nhưng thật không có một pháp có thể được, thế là vọng niệm không khởi, ấy gọi là tu Chỉ.
Tu Chỉ khi làm việc nên biết rõ nhân làm việc có thể tạo ra việc thiện, tạo ra việc ác. Nhưng tất cả thiện ác đó đều không thật, không có một pháp có thể được, thế là vọng niệm không khởi, ấy gọi là tu Chỉ.
Thế nào khi làm việc tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm khiến thân chuyển động, tay mới tạo tác các việc, nhân đó mà có tất cả pháp thiện ác v.v… cho nên gọi là làm.” Phản quán tâm trong khi làm việc không có tướng mạo, nên biết người làm và tất cả pháp trong khi làm rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Tu Quán trong khi làm việc là phải phản quán tâm suy nghĩ để làm đó có thật hay không. Nhìn lại thì mất tăm dạng, vì nó không tướng mạo, nên biết người làm và tất cả pháp trong khi làm rốt ráo rỗng lặng . Lối quán này là quán lại nội tâm của mình.
Nếu khi nói nên khởi nghĩ thế này: “Ta nay vì việc gì muốn nói? Nếu tùy thuận phiền não luận bàn những việc ác, vô ký v.v… thì không nên nói; nếu vì việc thiện, lợi ích thì nên nói.” Thế nào trong khi nói tu Chỉ? Nếu khi nói liền biết bởi nhân lời nói này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… biết rõ tâm và tất cả pháp phiền não, thiện ác v.v… trong khi nói đều không thể được thì tâm vọng niệm liền dứt, ấy gọi là tu Chỉ.
Khi muốn nói điều gì trước phải xét kỹ nên nói hay không nên nói. Nói có lợi ích, được việc thiện thì mới nói; còn nói vô ích, nói hại người thì không nên nói. Nói mà không biết kết quả lời nói của mình thế nào, đó là nói mà không nhận định, không suy xét.
Chúng ta nên nhớ kỹ chỗ này để dè dặt từng lời nói. Phần nhiều nói mà không biết nói để làm gì, chỉ nói cho ngon miệng thôi. Trong cuộc sống, chúng ta thường hay không kiểm soát được điều mình muốn nói, nói rồi sau mới hối hận. Nếu người biết tu, trước khi nói xét thấy có lợi ích thì mới nói. Lời nói mà không làm chủ được, dễ gây phiền não cho người và hối hận nơi mình. Khi nói làm người buồn, trong lòng nghe cắn rứt. Nói cho người vui thích, trong lòng xao xuyến phấn khởi. Cả hai tâm vui buồn đó đều là động. Nếu nhìn kỹ, hiểu rõ lời nói của mình thì cuộc sống của chúng ta có khuôn phép, rất chừng mực, không còn lôi thôi nữa. Vì vậy khi nói phải quán xét biết rõ, tất cả lời nói thiện ác… chỉ là hư ảo không thật. Biết rõ rồi thì tâm loạn được dứt, không còn dấy động nữa, đó gọi là tu Chỉ.
Thế nào trong khi nói tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Do tâm xét nghĩ kích động hơi thở xông lên cổ họng, môi, lưỡi, răng, ổ gà, cho nên xuất ra những tiếng nói. Bởi nhân tiếng nói này mà có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… nên gọi là nói.” Phản quán tâm trong khi nói không thấy tướng mạo, phải biết người nói và tất cả pháp trong khi nói rốt ráo rỗng lặng, ấy gọi là tu Quán.
Tu Quán khi nói, nghĩa là xét lúc khởi nghĩ muốn nói, cho tới khi nó kích động ý nghĩ với hơi thở, phát ra cổ họng, môi lưỡi… thành lời nói, nhân tiếng nói mà có sanh ra các pháp phiền não thiện ác v.v… Phải biết tất cả pháp đó đều không có thật. Bởi biết không thật nên không dấy khởi phiền não, tâm rốt ráo được rỗng lặng, gọi đó là tu Quán.
Trở lên sáu nghĩa tu tập Chỉ Quán tùy thời thích hợp mà dùng, mỗi nghĩa đều có ý tu Chỉ Quán của năm phần trước. Như trước đã nói.
Phần tu Chỉ Quán này dạy rất rõ, sự tu không phải chỉ trong giờ ngồi thiền tụng kinh, mà tu trong tất cả hành động. Lúc đi đứng nằm ngồi cho đến trong tất cả công tác, lúc nào cũng phải tu. Biết tu thì tự nhiên kìm chế được những việc vô ích, đem lại phiền não cho mình cho người. Nếu chỉ tu trong giờ tụng kinh, ngồi thiền, ngoài ra tha hồ muốn làm gì thì làm, như vậy thời giờ tu quá ít, không thể nào thắng được nghiệp, bị nghiệp làm chủ dẫn đi. Người chân chánh tu hành phải khéo uyển chuyển, thời giờ nào cũng là thời giờ tu. Như vậy mới được lợi ích.
Tu Chỉ là phải biết trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, nói năng khiến tâm dấy khởi lo lắng, vui buồn… tất cả thứ đó đều không thật, đó là tu Chỉ. Tu Quán là xét gốc từ ý niệm mới dấy lên, nên mới có đi đứng ngồi nằm v.v… Những ý niệm đó cùng tất cả việc làm đều không có chủ, không thật. Cốt yếu làm sao phản quan lại tâm của mình, xét thấy không thật, đó là tu Quán.
Như tôi dạy ngồi thiền thấy vọng đừng theo, hay biết vọng không theo, đó là tu Chỉ hay tu Quán? Nhìn lại mới thấy vọng, chứ không nhìn thì đâu thấy. Nhìn lại tức là phản quan, nhà thiền gọi là phản quan tự kỷ, soi sáng lại chính mình đó là quán. Có người cho rằng tôi dạy phản quan lại ý niệm của mình, nếu ý niệm lặng hết thì không ngơ, như vậy là si định. Chỗ này chúng ta đừng lầm. Phản quan là xem lại. Xoay nhìn lại tâm của mình, niệm khởi niệm lặng đều thấy biết rõ ràng, đó là quán, quán tức là tuệ. Khi niệm vọng lặng xuống, tâm an định gọi là chỉ, chỉ tức là định. Định tuệ gồm đủ thì sao gọi là si định được.
Ngài Huệ Khả, tổ thứ hai của Thiền tông Trung Hoa, nghĩ rằng tâm chạy ngược chạy xuôi là tâm mình, nên đến thưa với tổ Bồ-đề-đạt-ma: “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Tổ không dạy phải tu thế này thế kia mới được an tâm mà chỉ bảo: “Đem tâm ra ta an cho!” Ngài Huệ Khả chới với, tìm lại xem tâm mình ở đâu. Tìm lại thì tâm niệm bất an lặng mất, không còn hình dạng, nên nói: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Tìm lại là phản quan, là tuệ. An rồi là chỉ, là định.
Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ cũng dạy pháp tu định tuệ song hành. Trong định có tuệ, trong tuệ có định, định tuệ không rời nhau. Như vậy lối tu biết vọng không theo, hay phản quan tự kỷ là lối tu gồm cả định tuệ. Bởi vì tâm mình dấy động mà mình không biết, bây giờ nhìn lại xem tâm dấy động đó là thật hay giả. Hoàn toàn không thật. Biết không thật tức là quán, nó lặng mất đó là định. Sự tu thấy như đơn giản mà rõ ràng đầy đủ tất cả.
II- Đối cảnh tu Chỉ Quán
Tùy khi thấy sắc, tưởng như thấy trăng đáy nước, không có thật thể. Nếu thấy sắc đáng yêu không khởi lòng tham ái, thấy sắc đáng ghét không sanh tâm giận ghét, thấy sắc không yêu không ghét, không khởi si mê và loạn tưởng, ấy là tu Chỉ.
Mắt thấy sắc tu Chỉ, tức là khi mắt thấy hình sắc bên ngoài, dừng tâm không chạy theo sắc. Làm sao để thấy sắc mà dừng tâm, không yêu không ghét, không si mê? Tùy khi thấy sắc, tưởng như thấy trăng đáy nước, không có thật thể. Phải biết các hình tượng mà mắt chúng ta thấy được, đều là tướng duyên hợp không thật, giống như trăng đáy nước. Bóng trăng đáy nước, mắt nhìn thấy dường như có, nhưng đưa tay sờ mó thì không thể được, vì chỉ là bóng chứ không phải thật. Biết như trăng đáy nước thì không mến yêu hay chán ghét, nên không có loạn tưởng. Thấy cảnh mà dừng được tâm không chạy theo cảnh, đó là tu Chỉ.
Thế nào là khi mắt thấy sắc tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Những hình sắc trông thấy, tướng của nó là không tịch. Tại sao? Vì ở trong căn, trần, không, minh kia, mỗi cái không có tự thấy, cũng không phân biệt, do nhân duyên hòa hợp mới sanh nhãn thức, kế sanh ý thức phân biệt các thứ hình sắc, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phản quán tâm nghĩ tưởng sắc ấy không thấy tướng mạo, nên biết thấy sắc và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Mắt thấy sắc tu Quán là khi thấy những hình tướng bên ngoài, nên khởi quán tướng của nó là không tịch . Không tịch tức là không có thể thật, duyên hợp thì có, duyên tan thì không. Có và không chỉ là theo duyên chứ nó không có thật thể, nên nói là không tịch. Ví dụ khi co năm ngón tay lại thì gọi là nắm tay, nhưng nếu phân tích từng ngón riêng ra thì tìm nắm tay không thể có. Như vậy nắm tay chỉ là giả tướng duyên hợp do năm ngón co lại, chứ nó không có thể tánh thật, gọi tánh của nắm tay này là không tịch. Từ nắm tay chúng ta nhìn tới bản thân mình, rồi đến tất cả sự vật bên ngoài cũng đều là duyên hợp không có thật thể, tướng của nó là không tịch. Tất cả pháp không có thật thể mà chúng ta yêu thích hay chán ghét, thì cái yêu thích và chán ghét đó cũng là hư giả không thật. Rõ như vậy nên tâm không còn chạy theo cảnh nữa.
Vì ở trong căn, trần, không, minh kia, mỗi cái không có tự thấy, cũng không phân biệt, do nhân duyên hòa hợp mới sanh nhãn thức, kế sanh ý thức phân biệt các thứ hình sắc, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… Như con mắt nhìn thấy bình hoa. Trong có con mắt là căn, ngoài có bình hoa là trần, khoảng trống từ căn đến trần là không, có bình hoa có con mắt có hư không mà không có ánh sáng cũng không thấy được, nên phải có minh, tức là ánh sáng. Khi nhìn thấy hình sắc là do căn, trần, hư không và ánh sáng hòa hợp chúng ta mới thấy, rồi khởi ra nhãn thức để biết, kế sanh ý thức phân biệt hình sắc, nhân đó mới có ưa thích hay chán ghét cùng tất cả pháp phiền não thiện ác. Như vậy phiền não là từ đủ duyên mới có, nên nó không thật.
Chúng ta có bệnh thương ghét nhiều quá, không thật mà thương vẫn thương, ghét vẫn ghét. Nếu dùng trí xét tới nơi thì có gì đâu mà thương mà ghét. Thấy biết được như vậy rồi chúng ta mới phản quán lại, tâm nghĩ tưởng sắc ấy nó không tướng mạo, nên biết thấy sắc và tất cả pháp cứu cánh không tịch. Quán chiếu tâm khởi nghĩ về sắc đó cũng không thật, ấy là tu Quán.
Tóm lại, tu Chỉ là biết các pháp duyên hợp hư giả, tâm không khởi niệm chạy theo. Tu Quán là khởi nghĩ quán chiếu các pháp biết là duyên hợp không thật. Các pháp đã không thật thì tâm duyên theo cảnh đó ở đâu? Hình tướng ra sao? Khi quán lại thì những vọng động trong nội tâm của mình cũng tự lặng. Đó là nói về mắt thấy sắc tu Chỉ Quán.
Tùy khi nghe tiếng, nên xét tiếng như âm vang. Nếu nghe tiếng êm tai thích ý không khởi lòng yêu mến, nghe tiếng trái tai nghịch ý không sanh tâm giận hờn, nghe tiếng không thích không trái chẳng khởi tâm phân biệt, ấy là tu Chỉ.
Phần này dạy tu Chỉ cũng giống như trước, chỉ khác là ở mắt thì thấy sắc như trăng đáy nước, còn ở đây nói tai nghe tiếng nên xét tiếng như âm vang. Vào trong hang núi hét một tiếng, liền có tiếng vang dội lại giống hệt, đó gọi là âm vang. Nghe tất cả tiếng đều như âm vang, nên nghe tiếng êm tai thích ý không khởi lòng yêu mến, nghe tiếng trái tai nghịch ý không sanh tâm giận hờn, nghe tiếng không thích không trái chẳng khởi tâm phân biệt, ấy là tu Chỉ. Tu Chỉ là khi nghe tiếng, dù khen hay chê đều coi như âm vang, phát ra rồi mất. Khen không bận lòng, chê cũng không bực bội.
Phật tử nhiều khi tu rất nhiệt tình, đến chùa tụng kinh lạy Phật thật nhiều, mà ra đường nghe tiếng khen chê liền nổi giận. Như vậy là chỉ tu với Phật chứ chưa biết tu với chúng sanh. Phật có cần chúng ta tu với Phật không? Chúng ta có tán thán bao nhiêu Phật cũng ngồi im lặng, ngài không gật đầu cũng không mỉm cười. Dù có dùng những lời chê bai Phật, ngài cũng không khởi nét buồn, cũng không tỏ ý bất mãn. Phật là vị chứng minh cho mình, chứ không phải để chúng ta tu với ngài. Tu là tu với những ông Phật sống đang ở quanh ta. Gọi là Phật sống vì họ cũng có Phật, nhưng tại chưa nhớ, tại đang phiền não. Ở gia đình thì có Phật sống trong nhà, ra ngoài xã hội thì có vô số Phật sống xung quanh. Đối với những lời khen tiếng chê mà thản nhiên tự tại, đó mới thật là tu, còn khen thì hớn hở vui cười, chê thì mặt xuống màu liền, cái đó chưa phải là hay. Được vậy thì trong lúc tọa thiền cũng tu, lúc đối duyên xúc cảnh cũng nhớ tu, không để thời giờ quý báu trôi qua vô ích.
Thế nào trong khi nghe tiếng tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Những tiếng nghe không thật có, chỉ do căn trần hòa hợp sanh nhĩ thức, kế sanh ý thức gắng khởi phân biệt, nhân đây có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… gọi là nghe tiếng.” Phản quán tâm nghe tiếng không thấy tướng mạo, nên biết người nghe tiếng và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tu Quán khi nghe tiếng là quán tất cả những âm thanh nghe được đều không thật có, chỉ do căn trần hòa hợp sanh nhĩ thức, kế sanh ý thức gắng khởi phân biệt, nhân đây có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… gọi là nghe tiếng. Trong có lỗ tai là căn, ngoài có âm thanh là trần, hai thứ hòa hợp sanh ra nhĩ thức là cái biết của lỗ tai, kế ý thức khởi phân biệt, nhân đây mà sanh ra ưa ghét. Tất cả những thứ đó đều do duyên hợp, căn trần thức chung lại mà có. Khi nghe tiếng chúng ta quán ngược lại tâm nghe tiếng sanh phiền não đó tướng mạo thế nào? Phản quán tâm nghe tiếng không thấy tướng mạo, nên biết người nghe tiếng và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Như vậy, nghe tiếng đáng ưa thích hoặc không ưa thích cũng đều biết là không thật, không khởi niệm chạy theo. Mắt thấy tai nghe đều biết không thật nên tâm không động, đi đứng nằm ngồi thấy nghe vẫn là thiền, đó là tu Chỉ. Khi nghe tiếng khen tâm khởi vui thích mặt tươi cười, nghe tiếng chê tâm bực bội mặt mày quạu đeo, lúc đó quán lại xem tâm ưa ghét ở chỗ nào? Tìm lại không có, lặng lẽ không tịch, đó là tu Quán.
Tùy khi mũi ngửi mùi, biết nó như hơi như khói không thật. Nếu ngửi mùi thơm thích ý không khởi lòng đam mê, ngửi mùi hôi trái ý không khởi tâm ghét giận, ngửi mùi không thơm không hôi chẳng sanh loạn niệm, ấy là tu Chỉ.
Tu Chỉ trong khi mũi ngửi mùi, biết nó như hơi như khói không thật. Mùi như hơi như khói, nhưng chúng ta chỉ đón nhận mùi thơm mà ngăn chặn mùi hôi. Thơm thì thích, hôi không thích, thơm thì mũi nở ra hít vào, còn hôi thì bịt mũi không cho nó chen vô. Đi ngang chỗ hôi mặt nhăn lại, qua chỗ thơm mỉm cười. Rõ ràng chúng ta bị lệ thuộc vào mùi quá nhiều, thế nên phải tu Chỉ.
Nếu ngửi mùi thơm thích ý không khởi lòng đam mê, ngửi mùi hôi trái ý không khởi tâm ghét giận, ngửi mùi không thơm không hôi chẳng sanh loạn niệm, ấy là tu Chỉ. Ngửi mùi thơm hôi, đều không khởi tâm ưa ghét, biết nó là hư dối như hơi như khói, không thật thì tâm liền an định.
Thế nào trong khi ngửi mùi tu Quán? Phải nghĩ thế này: “Ta nay ngửi mùi nó hư dối không thật. Tại sao? Vì căn trần hòa hợp sanh tỹ thức, kế sanh ý thức cố chấp nhận tướng mùi, nhân đó có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v… cho nên gọi là ngửi mùi.” Phản quán tâm ngửi mùi không thấy tướng mạo, nên biết ngửi mùi và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Ngửi mùi cũng dùng hai cách quán chiếu. Cách thứ nhất là, khi ngửi mùi thơm hôi liền biết rõ từ căn trần, hai thứ hợp lại sanh ra tỹ thức, kế sanh ra ý thức cố chấp nhận tướng ngửi mùi, từ đó sanh phiền não thiện ác. Quán tất cả mùi không thật, do căn trần thức hợp lại mà có. Cách thứ hai là, quán tâm ngửi mùi thích thơm ghét hôi đó xem nó ra sao? Quán trở lại liền mất. Như vậy thì biết ngửi mùi và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tùy lưỡi nếm vị liền nghĩ như trong mộng được thức ăn. Nếu được vị ngon không khởi lòng tham đắm, được vị dở không khởi tâm giận ghét, vị không ngon không dở chẳng khởi ý phân biệt, đó là tu Chỉ.
Người ta sống lệ thuộc vào vị rất nhiều, đi làm nhọc nhằn cách mấy mà về nhà có bữa cơm ngon là thấy thỏa mãn, quên mất nhọc nhằn. Vậy khi lưỡi nếm vị phải tu thế nào?
Tùy lưỡi nếm vị liền nghĩ như trong mộng được thức ăn . Khi lưỡi nếm vị khởi nghĩ vị ngon vị dở của bữa ăn, giống như trong mộng được thức ăn. Giả như trong mộng có ai đãi mình một bữa tiệc toàn là cao lương mỹ vị, nhưng khi giật mình thức dậy thì không còn gì hết. Trong mộng thấy như có mà rốt cuộc là không.
Chúng ta xét kỹ lại xem, dù được dự một bữa tiệc thật sang quý, nhưng vị ngon của bữa tiệc nhiều lắm cũng vài tiếng trở lại mà thôi, qua rồi thì những vị đó không còn quý ngon sang trọng nữa. Vị ngon không phải là cái làm cho con người khỏe mạnh, đôi khi còn phá bao tử, làm cho nhọc nhằn, nó chỉ ngon ở lưỡi mà sanh ra những bệnh khác. Xét kỹ rồi không nên đắm mê vị ngon mà chê vị dở.
Ví dụ chúng ta bệnh đi hốt thang thuốc bắc về uống. Thuốc bắc uống vào đắng ở lưỡi, hôi ở mũi. Nhưng vị đắng hôi đó giúp chúng ta khỏe mạnh, còn những thức ăn ngon đủ mùi vị hấp dẫn, chưa chắc ăn vào đã khỏe mạnh. Vậy cái nào là quý, quý ở thân khỏe mạnh hay quý ở cái lưỡi ngon?
Chúng ta ăn là để nuôi thân chứ không phải để phục vụ cho cái lưỡi. Đa số chúng ta đều phục vụ cho cái lưỡi, mà cái lưỡi lại ưa những thứ có hại cho mình. Ví dụ người cữ đường nó lại thích ăn đường, người cữ béo nó lại thích ăn béo. Thích đó là họa. Không phải ăn ngon làm cho thân thể khỏe mạnh, mà ăn vừa phải, đơn giản, đủ chất bổ nuôi thân là được rồi. Ngon dở không quan trọng, quan trọng ở chỗ giúp cho thân khỏe mạnh, đó mới là quý. Nếu biết tu thì có lợi, còn không biết tu là tai họa lớn cho cuộc sống thường ngày của chúng ta.
Nhà thiền thường nói “đói ăn mệt ngủ”. Đói mà còn đòi ngon ghét dở là đói mà chưa chịu ăn, không đắm ngon không ghét dở thì ăn cái gì tâm cũng an. Nên nói, nếu được vị ngon không khởi lòng tham đắm, được vị dở không khởi tâm giận ghét, vị không ngon không dở chẳng khởi ý phân biệt, đó là tu Chỉ.
Thế nào trong khi lưỡi nếm vị tu Quán? Nên xét thế này: “Ta nay nếm các vị thật không thể được. Tại sao? Vì sáu vị trong ngoài tánh nó không có phân biệt, nhân hòa hợp với thiệt căn bên trong mà sanh thiệt thức, kế sanh ý thức cố gắng chấp nhận tướng vị, nhân đó mới có tất cả pháp phiền não thiện ác v.v…” Phản quán thức duyên vị không thấy tướng mạo, nên biết người nếm vị và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Thế nào trong khi lưỡi nếm vị tu Quán? Nên xét thế này: Ta nay nếm các vị thật không thể được. Tại sao? Vì sáu vị trong ngoài tánh nó không có phân biệt. Sáu vị là mặn, ngọt, chua, cay, đắng, lạt. Những vị này tự nó không có phân biệt. Do vị hòa hợp với thiệt căn, rồi thiệt thức khởi phân biệt, sanh ra ý thức chấp vào tướng vị mà phát sanh phiền não. Quán biết thức duyên nếm vị không có tướng mạo, phản quán lại người nếm và các pháp rốt ráo cũng không thật, đều là tướng rỗng lặng không tịch. Ấy là tu Quán.
Tùy khi xúc chạm liền biết nó như bóng, huyễn hóa không thật. Nếu xúc chạm cái vui thích ý không khởi tham trước, xúc chạm cái khổ trái ý không khởi tâm ghét giận, xúc chạm cái không vui không khổ chẳng khởi nhớ tưởng phân biệt, ấy là tu Chỉ.
Tại sao phải tu Chỉ khi xúc chạm? Bởi xúc chạm cái gì thích ý thì vui, xúc chạm trái ý thì không vui. Phải biết tất cả xúc chạm đó đều như bóng, huyễn hóa không thật . Ví dụ chạm vào lạnh nghe tay lạnh buốt, lấy tay ra một lát thì mất. Xúc chạm ấm cũng vậy, qua rồi mất không có gì thật, cảm giác nóng lạnh đó không cố định.
Nếu xúc chạm cái vui thích ý không khởi tham trước, xúc chạm cái khổ trái ý không khởi tâm ghét giận, xúc chạm cái không vui không khổ chẳng khởi nhớ tưởng phân biệt, ấy là tu Chỉ . Tu Chỉ là đối với những sự xúc chạm… đều biết nó tạm bợ không thật, huyễn hóa như bóng, không dấy niệm yêu ghét, nên trong tất cả xúc chạm không có phiền não.
Thế nào khi xúc chạm tu Quán? Nên khởi nghĩ thế này: “Chạm những cái nhẹ, nặng, lạnh, nóng, trơn, nhám v.v… gọi là xúc; đầu mình sáu phần gọi là thân; tánh xúc đã hư giả, thân cũng không thật, do nhân duyên hòa hợp liền sanh thân thức, kế sanh ý thức nhớ tưởng phân biệt tướng khổ vui v.v… gọi là xúc.” Phản quán tâm duyên xúc này không thấy tướng mạo, phải biết người xúc chạm và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Tu Quán trong khi xúc chạm, trước phải biết thân chạm với sự vật bên ngoài sanh ra thân thức, kế sanh ý thức tưởng nhớ phân biệt tướng khổ vui… đều là tướng duyên hợp không thật. Kế phản quán lại tâm duyên xúc sanh ra ưa ghét đó, tướng mạo nó thế nào? Xét kỹ liền biết người xúc chạm và tất cả pháp cứu cánh không tịch, ấy là tu Quán.
Như trong đoạn dạy sơ tọa thiền đã nói rõ.
Từ trước y sáu căn tu Chỉ Quán, tùy ý thích dùng mà áp dụng, mỗi mỗi đều có đủ năm ý ở trước, trong đó đã phân biệt rộng, ở đây không cần biện giải lại. Hành giả nếu hay trong tất cả chỗ đi đứng ngồi nằm, thấy nghe hiểu biết v.v… mà tu Chỉ Quán, là người ấy chân thật tu theo Đại thừa.
Phần trong ý biết pháp tu Chỉ Quán, đây không giải thích, vì trong đoạn nói về tâm ở trước đã có nói. Tâm do duyên theo sáu trần mà có, tâm đó không thật. Cái hay duyên đã không thật thì cảnh bị duyên cũng không thật.
Tóm lại, khi sáu căn tiếp xúc sáu trần, chúng ta áp dụng tu Chỉ hoặc tu Quán đều có kết quả tốt.
Như kinh Đại Phẩm chép: “Phật bảo ông Tu-bồ-đề: Nếu Bồ-tát khi đi thì biết đi, khi ngồi thì biết ngồi, cho đến mặc y tăng-già-lê, nhìn, chớp mắt… đều nhất tâm, ra vào đều trong thiền định, chính người ấy là Bồ-tát Đại thừa.”
Tôi cũng thường hay nhắc các vị tu tập, đi chỉ biết đi, ngồi chỉ biết ngồi, nằm chỉ biết nằm. Nếu trong các oai nghi, thấy nghe hiểu biết rõ ràng mà không khởi niệm ưa ghét, đẹp xấu, hay dở v.v… thì làm tất cả việc vẫn đang tu thiền định. Tu thiền định là cốt làm sao trong tất cả thời, đều giữ được tâm không dính với cảnh, không kẹt nơi sáu trần, luôn luôn an tịnh.
Có Phật tử hỏi, làm nhà giáo ngồi lớp dạy học, ở dưới đám trẻ nhao nhao om sòm, làm sao tu thiền định? Người dạy học đem hết tâm lực trong việc dạy học, soạn bài vở lên lớp giảng cho học trò nghe. Tùy duyên, học trò dễ dạy, khó dạy, hoặc khen hoặc rầy… trong phạm vi dạy học thôi, đừng đi quá phạm vi làm việc của mình, cũng đừng vừa dạy vừa nhớ chuyện nhà, nhớ chuyện đâu đâu. Được như vậy thì tuy động, nhưng vẫn là tu.
Đây không phải là không cho nghĩ, mà đừng nghĩ chuyện lung tung. Như các vị làm bếp, trước lúc đi chợ để ra năm phút nghĩ xem mua món gì, sợ quên thì viết giấy bỏ túi, ra chợ cứ theo đó mà mua. Cứ thế đi chợ, không bận tâm nghĩ tưởng gì hết, đi chợ cũng là tu. Đừng vừa đi vừa nghĩ mua cái này, sắm cái kia… nghĩ tới nghĩ lui khiến tâm xao động mất thời giờ tu tập. Những công tác khác cũng vậy, chúng ta chỉ cần khéo một chút, ở trường hợp nào cũng tu. Đừng nghĩ rằng bận rộn tu không được, chỉ tùy duyên mà làm, đừng nghĩ chuyện khác.
Ngày xưa việc gì cũng gom về vua giải quyết, vậy mà các vị vua nhà Trần như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông… làm vua bận rộn nhiều việc, nhưng vẫn tu được. Còn chúng ta là dân thường thôi mà than tu không được. Đừng cho rằng vì bận rộn nhiều việc nên khó tu; vì không khéo sắp đặt, nếu khéo thì ai cũng tu được.
Lại nữa, nếu người hay như thế trong tất cả chỗ tu hạnh Đại thừa, người ấy ở thế gian là bậc tối thắng, tối thượng không có ai bì kịp.
Nếu chúng ta được như vậy thì tuy cũng sống trên đời, cũng ăn, nói, làm việc… như mọi người mà khác mọi người. Người khác dính kẹt đủ thứ mà chúng ta không dính kẹt. Như đến bữa ăn cùng ngồi năm bảy người, người biết tu có gì ăn nấy không đòi không trách, người không biết tu món gì không vừa ý cằn nhằn không chịu ăn. Cùng một bàn ăn, cũng bao nhiêu món đó, mà một người ăn bình thản tự nhiên, còn một người ăn khó khăn phiền não. Chúng ta đừng nghĩ, năm nay ăn chay nhiều hơn năm trước, hoặc ăn chay là hay hơn người khác, mà cho đó là tu nhiều. Nếu thêm ngày ăn chay mà sân si không giảm thì vẫn không gọi là nhiều.
Trong cuộc sống mỗi người đều biết tu thì cả ngày không có chuyện gì để cãi lẫy. Dù nghe chuyện hay chuyện dở cũng bỏ qua, cười thôi, không có gì quan trọng. Chúng ta phiền não là do nhìn sự việc quan trọng quá, chuyện không đáng cũng quan trọng. Nghe hàng xóm đồn đãi, chê xấu khen tốt… là đã mất ngủ rồi, làm sao yên tu được! Chúng ta nên biết, tu là ngay trong cuộc sống, tu đối với mọi người. Sáu căn tiếp xúc với sáu trần không phiền lụy vì những ý nghĩ tốt xấu, lúc nào cũng tỉnh sáng, đó là người khéo tu.
Như vậy người khéo tu luôn an ổn tự tại trong cuộc sống, nên đây nói người ấy ở thế gian là bậc tối thắng, tối thượng không có ai bì kịp. Không cần tranh với ai mà vẫn là người tối thắng, tối thượng. Tranh cãi hơn người đâu phải là hay, nhiều khi chỉ chuốc lấy phiền hà khổ sở. Chỗ hay của người tu, lợi ích an lạc là ở đó.
Trong bộ Thích Luận, kệ nói:
Yên ngồi trong rừng vắng,
Lặng lẽ diệt các ác,
Đạm bạc được nhất tâm,
Vui đây trời khó bì.
Đây là tán thán những người tu yên ngồi trong rừng vắng. Chúng ta không có rừng thì ngồi yên trong nhà hoặc trong công viên, mà lặng lẽ diệt các ác, đạm bạc được nhất tâm, vui đây trời khó bì.
Người cầu lợi thế gian,
Giường nệm, áo quần đẹp,
Vui này không an ổn,
Cầu lợi không chán nhàm.
Người ưa thích lợi thế gian như được giường to nệm ấm, áo đẹp… cho những thứ đó là vui, nhưng vui đó không an ổn. Bởi vì chưa chắc món đồ đó là đẹp nhất, nếu đi đâu người ta có món đồ đẹp hơn thì sẽ thấy mình thua kém, rồi lo tính tìm kiếm hoài. Chỉ khi nào biết vừa đủ mới an ổn tốt đẹp, còn theo lợi thế gian không bao giờ nhàm chán, không biết tới đâu là cùng, được rồi muốn hơn, cứ thế muốn hoài suốt đời tới nhắm mắt cũng chưa xong.
Áo nhuộm ở chỗ vắng,
Động tịnh tâm thường nhất,
Tự lấy trí tuệ sáng,
Quán thật tướng các pháp.
Người xuất gia ăn uống đạm bạc, mặc áo nhuộm ở nơi vắng vẻ, gặp cảnh động tịnh tâm vẫn an nhiên tự tại, không bị cảnh làm xao động, vì không theo lợi của thế gian. Tự lấy trí tuệ sáng , tức là dùng trí tuệ của mình quán thật tướng các pháp , thật tướng đó là không tướng. Như nắm tay, thật tướng của nắm tay là gì? Là cái không có thật thể, là không tướng. Tất cả các pháp do duyên hợp đều không có thật thể, nên gọi là không tướng. Không tướng đó là tướng thật của các pháp, còn các tướng thấy có to lớn, nhỏ bé v.v… ở bên ngoài, đều là tướng hư giả. Như đống cát ba thước nhỏ hơn so với đống cát bốn năm thước. Đống cát lớn nhỏ là tướng duyên hợp không cố định, bồi thêm hoặc bớt đi liền thành sai khác. Thấy rõ không có thật thể là thấy được tướng thật, đó là quán thật tướng.
Trong tất cả các pháp,
Thảy đều do quán nhập,
Tâm giải tuệ lóng lặng,
Ba cõi khôn so bì.
Dùng trí tuệ quán chiếu các pháp thế gian, thấy rõ duyên hợp không thật, đó là do quán nhập. Tâm giải tuệ lóng lặng , tâm hiểu biết bằng trí tuệ khiến cho nó được lóng lặng, người như vậy trong ba cõi không ai bì kịp. Người đó là Phật, vì Phật là thầy của tam giới. Chúng ta tu mong được thành Phật thì phải nhìn thấy bằng trí tuệ, nếu không khéo tu hoài cũng không tới đâu.