Chánh văn:
Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Khi ấy sẽ có các thứ thiện căn khai phát cần phải biết rõ. Nay lược nói tướng thiện căn khai phát có hai thứ:
I- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN NGOÀI
Nghĩa là những việc thiện khai phát như: bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, tôn trưởng, cúng dường Tam bảo và nghe kinh học đạo v.v… Nếu không tu hành chân chánh sẽ bị ma cảnh chen vào. Ở đây khỏi giải thích.
II- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN TRONG
Nghĩa là những pháp môn thiền định thiện căn khai phát. Có ba ý:
Có năm thứ:
Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Ở trong định này đều không thấy có tướng mạo của thân tâm. Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Trong khi cảm giác, thân tâm an định rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát.” Hành giả hoặc ở trong định Dục giới vị đáo địa thoạt nhiên biết hơi thở ra, vào, dài, ngắn, những lỗ chân lông khắp thân đều trống hở. Dùng tâm nhãn thấy cả ba mươi sáu vật ở trong thân, như mở cửa kho thấy các thứ đậu, mè v.v… tâm sợ, mừng, vắng lặng, an vui. Ấy là tướng “Tùy tức đặc thắng thiện căn khai phát”.
Hành giả nếu được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thân tâm rỗng lặng, thoạt nhiên thấy thân người nam nữ chết; chết rồi phát sình, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi, trong tâm sanh buồn, mừng, nhàm chán sự yêu thương. Đó là tướng “Cửu tưởng thiện căn khai phát”. Hoặc ở trong định yên lặng chợt thấy bên trong thân nhớp nhúa, bên ngoài thân sình trương, rạn nứt, thân mình xương trắng từ đầu đến chân từng lóng gá nhau. Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Đó là tướng “Bội xả thiện căn khai phát”. Hoặc trong khi định tâm thấy trong thân tất cả loài phi cầm tẩu thú, đồ mặc, thức ăn uống, phòng nhà, rừng núi thảy đều bất tịnh. Đây là tướng “Đại bất tịnh thiện căn khai phát”.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thoạt nhiên phát tâm thương, nhớ tưởng chúng sanh. Hoặc vin nơi người thân, được tướng an vui liền phát thâm định, nội tâm vui vẻ thanh tịnh không thể ví dụ. Hoặc vin nơi người không thân không sơ, kẻ oán thù, nhẫn đến năm loài chúng sanh trong mười phương cũng lại như thế. Sau khi xuất định tâm vẫn vui vẻ thấy người nào gương mặt cũng hòa nhã. Ấy là tướng “Từ tâm thiện căn khai phát”. Tướng Bi tâm, Hỷ tâm, Xả tâm khai phát, so cái này có thể biết.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm an tịnh. Thoạt nhiên tâm sanh giác ngộ, suy tầm các nhân duyên vô minh, hành v.v… trong ba đời, không thấy tướng nhân ngã, lìa đoạn kiến, thường kiến, phá các chấp kiến, được định an ổn, giải tuệ khai phát, tâm sanh pháp hỷ, không nhớ việc thế gian, nhẫn đến trong ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy. Đó là tướng “Nhân duyên quán thiện căn khai phát”.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm rỗng lặng. Thoạt nhiên nghĩ nhớ chư Phật có công đức, tướng hảo không thể nghĩ bàn; có pháp thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, tam-muội, giải thoát v.v… không thể nghĩ bàn; có thần thông, biến hóa, thuyết pháp không ngăn ngại, lợi ích chúng sanh không thể nghĩ bàn; như thế, những công đức vô lượng không thể nghĩ bàn. Khi khởi niệm ấy liền sanh tâm kính mến, tam-muội khai phát, thân tâm khoái lạc, thanh tịnh an ổn, không có các tướng ác. Sau khi xuất định, thân thể nhẹ nhàng tự biết có công đức cao vọi, được người yêu kính. Ấy là tướng “Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát”.
Lại nữa, hành giả nhân tu Chỉ Quán, nếu được thân tâm lóng sạch, hoặc phát tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, tướng nhàm chán sự ăn uống, bất tịnh ở thế gian, tướng khi chết lìa tất cả, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên, niệm xứ, chánh cần, như ý, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, không, vô tướng, vô tác, lục độ, các thứ ba-la-mật, thần thông, biến hóa v.v… tướng tất cả pháp môn phát hiện, trong ấy nên rộng phân biệt. Cho nên trong Kinh chép: “Giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong.”
Có hai thứ:
Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động, hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên, hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay, hoặc như bị trói buộc, hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng, hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ, hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn, hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu, hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy. Những thứ tà định này, nếu người mê thích tức là cùng chín mươi lăm thứ quỷ thần tương ưng, phần nhiều ưa mất trí điên cuồng. Hoặc khi các loài quỷ thần biết được những điều mà người tu thiền ưa thích liền giúp thế lực khiến các thứ tà định, tà trí, biện tài, thần thông làm mê lầm xao động người thế gian. Những kẻ ngu trông thấy cho là chứng đạo quả, thảy đều tin phục; kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên hành pháp quỷ làm mê loạn thế gian. Người ấy khi chết hằng không gặp Phật, lại đọa trong các loài quỷ thần. Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó. Làm thế nào đuổi nó? Hoặc biết nó là hư dối, chánh tâm không thọ, không đắm trước liền tự tiêu diệt; nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch.
Hành giả nếu trong khi ngồi phát các thứ thiền không có những tướng tà ngụy như trước đã nói, tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng, sáng suốt, thanh tịnh, trong tâm vui mừng, lặng lẽ khoái lạc, không có che đậy, thiện tâm khai phát, lòng tin kính tăng trưởng, trí soi xét phân minh, thân tâm êm dịu, tinh tế rỗng lặng, nhàm chán thế gian, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát. Ví như cộng sự với người ác thì thường bị lo phiền, nếu cộng sự với người thiện thì hằng gặp những việc tốt, phân biệt tướng hai thứ thiền tà chánh phát hiện cũng như vậy.
Nếu trong khi ngồi, các thứ thiện căn khai phát nên dùng hai pháp Chỉ Quán tiến tu, khiến nó tăng trưởng. Nếu nên dùng Chỉ thì lấy Chỉ mà tu, nếu nên dùng Quán thì lấy Quán mà tu. Phần trước đã nói đủ, ở đây chỉ lược bày đại ý.
Giảng:
Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Khi ấy sẽ có các thứ thiện căn khai phát cần phải biết rõ.
Trong khi tu có những tướng lành hiện ra, gọi là tướng thiện căn khai phát.
Hành giả nếu hay từ Giả nhập Không quán Trung, tu Chỉ Quán như thế thì trong khi tọa thiền thân tâm sáng suốt. Từ Giả nhập Không… là lối tu Tam quán của tông Thiên Thai. Tam quán: Không quán, Giả quán, Trung quán. Biết các pháp do duyên hợp không thật là Giả. Bởi duyên hợp hư giả không có thật thể nên nó là Không. Đó là từ Giả nhập Không. Trung là trung đạo đệ nhất nghĩa. Các pháp duyên hợp hư giả là không, nhưng tâm năng tri không dấy động không phải không mà cũng không phải giả, đó là Trung. Quán như thế từ từ thân tâm sáng suốt, tướng thiện căn khai phát, có những hiện tượng lành hiện ra.
Nay lược nói tướng thiện căn khai phát có hai thứ:
I- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN NGOÀI
Nghĩa là những việc thiện khai phát như: bố thí, trì giới, hiếu thuận cha mẹ, tôn trưởng, cúng dường Tam bảo và nghe kinh học đạo v.v… Nếu không tu hành chân chánh sẽ bị ma cảnh chen vào. Ở đây khỏi giải thích.
Tướng thiện căn khai phát như trước đây chúng ta không có tâm bố thí, bây giờ khi tu Chỉ Quán một thời gian bỗng thấy thương chúng sanh, phát tâm bố thí muốn giúp đỡ họ, đó là tâm lành khai phát. Thiện căn này là do công phu tu tập mà hiện ra. Bình thường đối những giới luật nhỏ không giữ được, nhưng khi tu lâu tự nhiên thuần thục, giới luật dù nhỏ cũng ráng giữ tròn, đó là thiện căn khai phát. Lúc trước đối với cha mẹ cũng thương quý mà không nhiều, nay biết tu rồi nên càng kính trọng tôn thờ cha mẹ hơn, đó là hiếu thuận cha mẹ. Đối với các bậc tôn trưởng cũng vậy, xưa kia đối với những bậc trưởng thượng không tôn kính lắm, do tu tập tự nhiên khởi tâm tôn kính những vị đó. Cúng dường Tam bảo hoặc nghe kinh học đạo… những việc này cũng vậy, càng tu càng thích nghe kinh, bữa nào không nghe cảm thấy buồn v.v… Tóm lại, nếu chúng ta tu hành chân chánh thì tướng thiện căn khai phát rất nhiều, còn không tu chân chánh thì ma cảnh sẽ lẫn vào. Đó là nói thiện căn đối với bên ngoài.
II- TƯỚNG THIỆN CĂN KHAI PHÁT BÊN TRONG
Nghĩa là những pháp môn thiền định thiện căn khai phát. Có ba ý:
Có năm thứ:
Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Ở trong định này đều không thấy có tướng mạo của thân tâm. Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Trong khi cảm giác, thân tâm an định rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát.”
Người tu thiền chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền đến Tứ thiền, gọi là Phàm phu thiền. Sơ thiền Ly sanh hỷ lạc địa, do lìa tất cả dục lạc của thế gian mà sanh ra hỷ lạc, người tu đến đó khi chết sẽ sanh vào cõi trời Sắc giới. Nhị thiền Định sanh hỷ lạc địa, người tu tới chỗ an định hoàn toàn nên sanh ra vui mừng. Tam thiền Ly hỷ diệu lạc địa, lìa hỷ là lìa cái vui mừng do định sanh vì nó còn thô động, tới đây niềm vui rất tế nhị nên gọi là diệu lạc. Tứ thiền Xả niệm thanh tịnh địa, không còn dấy niệm duyên theo cái gì nữa, xả niệm đến chỗ lặng lẽ thanh tịnh. Bốn địa này gọi là Phàm phu thiền, vì tu ngang đó nếu chết thì được sanh lên cõi trời Sắc giới, chứ chưa thành La-hán hay Bồ-tát.
Hành giả vì khéo tu Chỉ Quán nên thân tâm được điều hòa, vọng niệm dừng bặt, nhân đó tự biết tâm dần dần nhập định, phát các định Dục giới vị đáo địa, thân tâm lặng lẽ rỗng rang, định tâm an ổn. Tâm yên định sắp bước vào Sơ thiền mà chưa được Sơ thiền, gọi là Vị đáo địa. Nghĩa là đang sống trong Dục giới mà nhờ tu tập Chỉ Quán, thân tâm điều hòa, vọng niệm dừng bặt dẫn đến nhập định, gọi là Dục giới vị đáo địa, còn trong Dục giới được yên định thôi chứ chưa tới Sắc giới. Người tu trong giai đoạn này sẽ có những hiện tượng như thân tâm lặng lẽ, định tâm an ổn, có khi đang ngồi bỗng dưng rỗng lặng dường như không còn một niệm nào, có khi ngồi bỗng không thấy thân tâm, tưởng là mất mình liền hoảng hốt. Nếu không có tâm thì cái gì biết không có thân tâm? Biết không có thân tâm là đang có tâm, nhưng vì yên lặng quá tưởng như thân tâm mất tiêu. Chỗ này chúng ta đừng lầm, đó chỉ là những hiện tượng trong Dục giới vị đáo địa.
Về sau, hoặc trải một phen ngồi, hai phen ngồi, nhẫn đến một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng lần lần dứt hết không còn đắc thất hay lui sụt. Chính ở trong định chợt biết thân tâm vận động phát ra tám thứ cảm giác. Nghĩa là cảm giác thân đau, ngứa, lạnh, ấm, nhẹ, nặng, nhám, trơn. Có người trong khi ngồi thiền bỗng dưng thấy thân nhẹ như muốn bay, hoảng quá sợ nó bay lên nên mở mắt ra ghị lại. Hoặc thấy thân nặng nề trì xuống như mang đá, có lúc nghe toàn thân ấm ấm, có khi nghe lạnh buốt, hoặc ngứa ngáy, hoặc trơn láng v.v… Những cảm giác ấy đều là hiện tượng Dục giới vị đáo địa phát ra, là ảo giác chứ không có thật. Biết rõ rồi nên dù có thấy gì cũng cười thôi, không sợ, không hoảng hốt. Nghe ngứa ngáy như có con gì bò lăng xăng… cứ yên tịnh thì thắng nó. Nghe thân nhẹ muốn bay bổng thì mở mắt ra, đừng sợ. Những lúc ngồi thấy tướng mình to dần lên hoặc đen sậm lại… đủ thứ. Tất cả đều là trong giai đoạn tu từ Dục giới sắp bước tới Sơ thiền, ở khoảng đó hay có những hiện tượng như vậy.
Trong khi cảm giác, thân tâm an định, rỗng rang thư thái, vui vẻ thanh tịnh không có gì sánh bằng. Tuy thân tâm an định nhưng chưa phải là đến Sơ thiền, người tu phải biết rõ chỗ này để khỏi bị lầm, tưởng mình thành thánh rồi cho rằng đã đắc đạo là sai, hiểu đúng thì không có gì nguy hiểm. Ấy là biết tướng “Sổ tức thiền định căn bản thiện căn khai phát”. Sổ tức là đếm hơi thở. Kết quả được an định rỗng rang thư thái đó, là do công phu đếm hơi thở mà được như vậy.
Hành giả hoặc ở trong định Dục giới vị đáo địa thoạt nhiên biết hơi thở ra, vào, dài, ngắn, những lỗ chân lông khắp thân đều trống hở. Dùng tâm nhãn thấy cả ba mươi sáu vật ở trong thân, như mở cửa kho thấy các thứ đậu, mè v.v… tâm sợ, mừng, vắng lặng, an vui. Ấy là tướng “Tùy tức đặc thắng thiện căn khai phát”.
Người ngồi thiền thấy như không còn hơi thở nữa, tức là thở bằng lỗ chân lông. Khi đó bỗng dưng thấy rõ ba mươi sáu vật trong thân: da, thịt, lông, móng, răng, tóc… cho đến cả bộ xương của mình. Thấy đó là do thiện căn khai phát từ tu tùy tức mà được thù thắng đặc biệt, chứ không có gì lạ. Đến đây cũng còn ở trong định Dục giới vị đáo địa, chưa tới Sơ thiền, đừng tưởng là thánh rồi đi khoe sắp có thần thông, đó là lầm lớn.
Hành giả nếu được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thân tâm rỗng lặng, thoạt nhiên thấy thân người nam nữ chết; chết rồi phát sình, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi, trong tâm sanh buồn, mừng, nhàm chán sự yêu thương. Đó là tướng “Cửu tưởng thiện căn khai phát”.
Quán bất tịnh thiện căn khai phát , không khởi quán bất tịnh nhưng do tu thiền tới định Dục giới vị đáo địa này, tâm rỗng lặng thoạt nhiên thấy, chứ không phải do quán. Thấy thân người nam hoặc người nữ chết, chết rồi sình ra, nứt nẻ, giòi tửa, máu mủ tươm ra, thấy xương trắng bừa bãi… Thấy những thứ đó khiến tâm nhàm chán, đó là tướng Cửu tưởng thiện căn khai phát. Do trước tu về quán bất tịnh, tới đây tâm định phát ra tướng đó. Người ngồi thiền bỗng dưng thấy thây người chết sình trương v.v… nghĩ mình không quán thây người chết sao lại thấy, rồi sanh ra hoảng sợ, đó là chướng ngại. Chúng ta nếu có thấy như vậy đừng sợ, do thiện căn của mình đời trước tu Quán bất tịnh, nên bây giờ định tâm phát ra tướng đó. Biết rõ ràng do công phu đến được địa vị này, chứ không phải là cái gì ở đâu, không phải ma quỷ hiện thây chết cho mình sợ, hiểu vậy thì không bị chướng ngại.
Hoặc ở trong định yên lặng chợt thấy bên trong thân nhớp nhúa, bên ngoài thân sình trương, rạn nứt, thân mình xương trắng từ đầu đến chân từng lóng gá nhau. Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Đó là tướng “Bội xả thiện căn khai phát”.
Bội xả thiện căn khai phát là thấy rõ những thứ trong thân cũng như thây chết sình lên cho tới tan rã ra, thấy từng lóng xương ráp lại với nhau v.v… Thấy việc ấy rồi, định tâm an ổn tỉnh ngộ lý vô thường, chán nhàm ngũ dục, không chấp ngã nhân. Nhờ thấy như vậy nên sanh tâm nhàm chán ngũ dục, bớt được chấp ngã chấp nhân. Hiểu đó là tướng Bội xả thiện căn khai phát thì sự tu không có gì trở ngại.
Hoặc trong khi định tâm thấy trong thân tất cả loài phi cầm tẩu thú, đồ mặc, thức ăn uống, phòng nhà, rừng núi thảy đều bất tịnh. Đây là tướng “Đại bất tịnh thiện căn khai phát”.
Thấy cái nhà, cái giường, đồ mặc, thức ăn… đều nhớp nhúa, nhìn chỗ nào cũng gớm, đó là thiện căn do trước kia tu thiền quán bất tịnh đến đây phát ra các tướng như vậy. Người không biết khi tu tới đây thấy cái gì cũng gớm rồi sợ mình bị điên, nếu biết thì vui chứ không sợ. Đó chỉ là tướng Đại bất tịnh thiện căn khai phát chứ không có gì lạ. Tất cả sự tu đều có công dụng đưa chúng ta tới chỗ tiến lên, nhưng nếu không hiểu gặp những cảnh đó đâm ra hoảng hốt thì thành trở ngại.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa, ở trong định này thoạt nhiên phát tâm thương, nhớ tưởng chúng sanh. Hoặc vin nơi người thân, được tướng an vui liền phát thâm định, nội tâm vui vẻ thanh tịnh không thể ví dụ. Hoặc vin nơi người không thân không sơ, kẻ oán thù, nhẫn đến năm loài chúng sanh trong mười phương cũng lại như thế. Sau khi xuất định tâm vẫn vui vẻ thấy người nào gương mặt cũng hòa nhã. Ấy là tướng “Từ tâm thiện căn khai phát”. Tướng Bi tâm, Hỷ tâm, Xả tâm khai phát, so cái này có thể biết.
Tướng Từ tâm thiện căn khai phát này, có nhiều người đã trải qua. Tu một thời gian thấy chúng sanh dễ thương quá, ai cũng thương hết, kẻ thân người sơ gì cũng thương, đó là tướng Từ tâm khai phát. Có vị thấy người khổ quá, người này khổ người kia khổ, thương quá nên nhìn ai cũng thấy buồn, đó là tướng Bi tâm khai phát. Có người thấy sao vui lạ, thấy ai cũng vui, cái gì cũng vui cũng cười, đó là tướng Hỷ tâm khai phát. Hoặc thấy ai cũng thương, muốn đem cái này cái kia cho họ, muốn bố thí xả bỏ hết, đó là tướng Xả tâm khai phát.
Người tu thiền khi được định Vị đáo địa này, thường phát ra những tướng như vậy, phải biết đây là do định hiện ra. Có nhiều người không biết, thấy mình từ bi quá thương hết chúng sanh, tưởng mình thành Bồ-tát. Nhưng đây mới chỉ là được định tướng Từ tâm thiện căn khai phát. Khi tu có những hiện tượng xảy ra chúng ta biết, cứ thế mà tiến tu không có gì trở ngại, đừng để sanh ra hoảng sợ, cũng đừng có những việc làm quá đáng khiến người khác tưởng mình điên. Thấy ai cũng tội nghiệp, thấy ai cũng khóc… phải biết là do Bi tâm khai phát, biết rồi cười thôi, tự mình kìm chế, gắng tu để vượt qua. Nếu không biết, hiểu lầm, buồn quá vui quá sanh ra nhiều thứ bệnh gây trở ngại cho sự tu.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán, hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm an tịnh. Thoạt nhiên tâm sanh giác ngộ, suy tầm các nhân duyên vô minh, hành v.v… trong ba đời, không thấy tướng nhân ngã, lìa đoạn kiến, thường kiến, phá các chấp kiến, được định an ổn, giải tuệ khai phát, tâm sanh pháp hỷ, không nhớ việc thế gian, nhẫn đến trong ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy. Đó là tướng “Nhân duyên quán thiện căn khai phát”.
Người tu khi được định Dục giới vị đáo địa, bỗng nhiên thấy mình giác ngộ. Suy tầm pháp mười hai nhân duyên, từ vô minh duyên hành, hành duyên thức… quán tới quán lui thấy rõ ràng, biết đầy đủ chín chắn. Đối các tướng nhân, tướng ngã, đoạn kiến, thường kiến… trong ba đời đều phá sạch hết, không còn các kiến chấp, được đinh an ổn, trí tuệ khai phát, tâm sanh hoan hỷ, không nhớ việc thế gian, cho đến ngũ ấm, thập nhị xứ, thập bát giới phân biệt cũng như vậy, biết rõ không nghi ngờ. Đó là tướng Nhân duyên quán thiện căn khai phát.
Chúng ta tu được như vậy có nghĩ mình thành Bồ-tát không? Đây là chỗ dễ lầm, tưởng mình thành Phật, thành Bồ-tát, mà thật sự chưa chứng tới Sơ thiền, chứ đừng nói đến các thiền định cao hơn. Nhiều vị tu cứ tưởng mình đã giác ngộ, nói đạo lý trên trời trên mây rất hay, khi gặp việc cũng buồn, cũng khổ, cũng phàm tục. Đó là bệnh. Tu mà không học rất nguy hiểm, dễ lầm lẫn cho mình và làm lầm cả người.
Hành giả nhân tu Chỉ Quán hoặc được định Dục giới vị đáo địa thân tâm rỗng lặng. Thoạt nhiên nghĩ nhớ chư Phật có công đức, tướng hảo không thể nghĩ bàn; có pháp thập lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng, tam-muội, giải thoát v.v… không thể nghĩ bàn; có thần thông, biến hóa, thuyết pháp không ngăn ngại, lợi ích chúng sanh không thể nghĩ bàn; như thế, những công đức vô lượng không thể nghĩ bàn. Khi khởi niệm ấy liền sanh tâm kính mến, tam-muội khai phát, thân tâm khoái lạc, thanh tịnh an ổn, không có các tướng ác. Sau khi xuất định, thân thể nhẹ nhàng tự biết có công đức cao vọi, được người yêu kính. Ấy là tướng “Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát”.
Người tu thiền đến định Dục giới vị đáo địa, tâm rỗng lặng thoạt nhớ tới Phật có công đức, có thần thông, thuyết pháp không ngăn ngại… Khởi nghĩ nhớ tưởng như thế sanh tâm quý kính vô cùng tận, chánh định được khai phát, thân tâm nhẹ nhàng khoái lạc, thanh tịnh an ổn. Sau khi xuất định tự thấy công đức cao vọi, đáng được mọi người quý kính. Đến đây cũng chỉ mới là Niệm Phật tam-muội thiện căn khai phát trong Dục giới vị đáo địa, chứ chưa phải thành Bồ-tát. Nếu người ngang đây lầm tưởng, tự hào cho mình là thánh thì đều rơi vào đường tà rất nguy hiểm.
Phần thiện căn khai phát này chúng ta cần nắm vững, biết rõ để tu và dạy người khác tu không bị lầm lẫn. Đó là chỗ thiết yếu trong sự tu tập.
Lại nữa, hành giả nhân tu Chỉ Quán, nếu được thân tâm lóng sạch, hoặc phát tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh, tướng nhàm chán sự ăn uống, bất tịnh ở thế gian, tướng khi chết lìa tất cả, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên, niệm xứ, chánh cần, như ý, ngũ căn, ngũ lực, thất giác chi, bát chánh đạo, không, vô tướng, vô tác, lục độ, các thứ ba-la-mật, thần thông, biến hóa v.v… tướng tất cả pháp môn phát hiện, trong ấy nên rộng phân biệt. Cho nên trong Kinh chép: “Giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong.”
Kết thúc đoạn này nói, người tu Chỉ Quán khi tâm được lóng sạch, những tướng vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh… hiện ra. Tất cả công đức niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Thí, niệm Thiên, cho đến ba mươi bảy phẩm trợ đạo, các thứ thần thông biến hóa v.v… tướng tất cả pháp môn phát hiện. Chúng ta phải nên nắm vững biết rõ thì sự tu an ổn, thấu suốt được pháp Phật dạy.
Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: “Chế tâm nhất xứ vô sự bất biện”, giữ tâm một chỗ không việc gì chẳng xong . Chúng ta tu giữ tâm không dính mắc, không bị ngoại cảnh lôi kéo, tâm an định thì có những diệu dụng cao siêu phi thường, trước đây không có mà nay có. Đó là sự thật, không phải tưởng tượng. Nhưng phải biết điều nào có lợi, điều nào không. Khi thấy những cảnh thiện căn khai phát, chúng ta phải biết để tiến lên. Biết rồi cứ một bề tu như trước, tiến mãi tiến mãi thì tốt, còn nếu ngang đó hài lòng, tự mãn rằng đã hay rồi, tưởng đã thành thánh thì đó là bệnh. Biết thì có lợi, không biết trở thành hại. Người học tu thiền cần biết rõ, thấy tường tận nếu không khéo thì dễ bị sai lầm, thấy mình ngộ đạo, thấy thành Bồ-tát, thấy như là Phật… đó là bệnh lớn. Chỉ mới ở Dục giới vị đáo địa mà thấy hiện tượng đã như vậy, huống là lên các địa vị trên còn bao nhiêu thứ lạ lùng, siêu thoát. Nếu chúng ta không hiểu thì dễ lầm lẫn, rất nguy hiểm đời tu không đến đâu mà còn làm lầm người khác. Cho nên cần ráng tinh tấn học kỹ những điều này để về sau không lầm. Đó là những phần hết sức quan trọng.
Có hai thứ:
Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động, hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên, hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay, hoặc như bị trói buộc, hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng, hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ, hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn, hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu, hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy.
Đoạn này rất quan trọng đối với người tu thiền. Nếu tu mà không giản trạch được tà ngụy thì dễ bị lầm lẫn, tưởng đã đạt được bậc nào trong các thứ bậc tu thiền, nhưng không ngờ mình đang đi vào tà ngụy.
Hành giả nếu khi phát các thứ thiền như trước, mỗi pháp tùy nhân hiện ra: hoặc thân xao động. Tôi nhắc kỹ chỗ này, khi ngồi thiền thân xao động, lung lay, đảo như lên đồng, đây là thiền tà ngụy chứ không phải thiền Phật giáo. Có người cho rằng, đó là phản ứng tự nhiên, cứ để nó đảo cho tiêu nghiệp. Nói vậy là sai lầm, lạc vào đường tà không hay, lại xúi người khác làm theo. Ngồi thiền thân phải nghiêm chỉnh, nếu khi nào mỏi mệt ngồi hơi co cúi thì liền sửa cho ngay thẳng, đừng để cho đảo. Từ chư tổ trước cho đến các vị thiền sư, chưa có vị nào ngồi đảo hết, ngồi đảo là thiền tà ngụy.
Hoặc thân nặng nề như bị vật gì đè lên. Khi ngồi thiền cảm thấy thân nặng nề như có cái gì đè lên, đó là hiện tượng tà ngụy không tốt, đừng để bị chi phối mà phải làm chủ thắng được nó. Hoặc khi ngồi thiền có những cảm xúc lạ trên thân, phải biết đều là ảo giác không thật, đừng sợ cũng đừng mừng thì tâm bình an, còn mừng cho là được chiến thắng, hay sợ tưởng là quỷ quái gì đến làm hại mình thì sẽ mất tâm an định.
Hoặc thân nhẹ nhàng muốn bay . Lúc ngồi thiền thấy thân nhẹ nhàng muốn bay, sợ quá xả không dám ngồi nữa là đúng hay sai? Thấy muốn bay nhưng không bay đi được đâu, đừng sợ. Vì từ sợ sẽ sanh bệnh hoạn làm trở ngại sự tu. Chỉ cần điềm tĩnh, mở mắt nhìn thẳng một lát thì hết, đó là ảo giác trong lúc tu thôi. Những trường hợp này đa số là do ngồi thiền nhắm mắt mà thấy, nên nhớ đừng nhắm mắt.
Hoặc như bị trói buộc . Cảm giác như ai trói mình lại, nặng trình trịch không yên, không cục cựa nhúc nhích gì được. Phải biết đó cũng là ảo giác, thong thả xả ra xoa bóp đúng cách thì hết.
Hoặc xiêu vẹo ngủ mê, hoặc rất lạnh, rất nóng . Ngồi thiền một hồi nghiêng bao giờ không hay, hoặc ngủ mê không biết. Có khi thấy lạnh cả người, có khi nghe hơi nóng ở dưới phát lên. Gặp những trạng thái đó đều nên bình tĩnh sáng suốt, mở mắt nhìn thẳng một lát sẽ hết, không có gì đáng sợ.
Hoặc thấy bao nhiêu cảnh giới khác lạ. Ngồi thiền mà thấy người đi, thấy ánh sáng hay những thứ từ đâu xa hiện tới v.v… Những cảnh giới khác lạ này, đa số đều do ngồi mắt nhắm lâu, hơi mơ mơ giống như mộng, chứ không có thật. Muốn hết chỉ cần mở to mắt, chỉnh thân thẳng lên là được.
Hoặc tâm mờ mịt, hoặc khởi nghĩ tưởng dữ, hoặc nhớ các việc thiện tạp nhạp bên ngoài khiến tâm tán loạn . Ngồi thiền mà tâm mờ mịt, lúc đó phải mở mắt ra nhìn thẳng, giữ cho tỉnh sáng. Hoặc khởi tưởng dữ, nghĩ muốn hại người này, trả thù người kia. Hoặc nhớ những việc thiện đã làm như bố thí, cúng dường… suy tính mai kia sẽ đi làm nữa. Ngồi thiền mà tính như vậy có đúng không? Đi cúng dường làm phước thiện là tốt, nhưng lúc ngồi thiền là định tâm, nếu tính toán việc này việc nọ tạp nhạp bên ngoài, làm tâm tán loạn thì hết an rồi.
Hoặc vui mừng loạn động, hoặc buồn bã lo rầu . Đang ngồi thiền bỗng thấy tâm hơi lặng, vui mừng quá cười hoài. Hoặc nghĩ tới kỷ niệm xa xưa, hay nhớ cha mẹ bệnh hoạn… liền buồn bã tha thiết, đó đều là bệnh.
Hoặc những thú dữ chạm vào rợn người lông dựng đứng, hoặc rất vui khiến say mê. Ví dụ đang ngồi thiền bất thần có rết hay bò cạp bò đụng vào giật mình, tuy nó chưa kẹp mà đã nghe rợn người lên, hoảng hốt muốn đứng dậy chạy. Hoặc ngồi được yên vui quá say mê, thấy như đạt được thiền… Sự thật tất cả những thứ gì làm mình động trong lúc ngồi thiền, đều sai. Nên đây kết thúc nói, những thứ tà pháp như thế cùng với thiền đồng phát gọi là tà ngụy.
Những thứ tà định này, nếu người mê thích tức là cùng chín mươi lăm thứ quỷ thần tương ưng, phần nhiều ưa mất trí điên cuồng. Hoặc khi các loài quỷ thần biết được những điều mà người tu thiền ưa thích liền giúp thế lực khiến các thứ tà định, tà trí, biện tài, thần thông làm mê lầm xao động người thế gian.
Gặp những thứ tà định này mà ưa thích, khoe rằng đã đạt đạo là hợp với quỷ thần, đi tới chỗ điên cuồng. Có nhiều người thích thần thông, khi ngồi thiền thấy có được thần thông, mừng quá tự khoe mình đã đạt đạo, ai tới liền biết tâm của người đó đang nghĩ gì nói đúng hết, được người nghe nể phục, tưởng vậy là thánh rồi. Nhưng không biết đó là rơi vào đường tà, tự mình lạc đường mà còn dẫn người khác đến chỗ lạc đường. Nếu gặp những người tự cho là có công phu, hoặc khoe được thần thông phép mầu thì chúng ta biết người đó chưa phải chân chánh.
Người tu thiền không được có tâm mong cầu, chỉ một bề lắng tâm cho an, trí cho sáng. Tâm an trí sáng là trọng tâm của người tu thiền, còn thần thông hay các thứ lạ lùng thì không cần. Nếu còn tâm ham thích, hôm nào ngồi thiền bất thần có sáng, nói chuyện thao thao bất tuyệt, mãn nguyện tưởng mình ngộ đạo, thuyết pháp giảng dạy rất hay mà bệnh tham sân si chưa hết, thì đó chưa phải thật ngộ đạo, mà là ma trợ lực.
Phần đông lầm bởi những thứ xảo ngụy, không biết đó là tà, là do quỷ thần trợ lực chinh phục người khác. Những người tự cho có thần thông, biết được tâm người, nói những điều nghe rất hay, có phép lạ làm mê lầm xao động thế gian, nhưng bản thân họ tham sân si chưa hết, nội tâm chưa trong sạch, ai động tới liền nổi sân, hoặc thấy cái gì quý thì thích, cái gì đẹp thì ưa… nên biết người đó chưa phải thứ thiệt. Biết rõ thì sự tu của chúng ta không lầm lẫn, không uổng phí một đời tu.
Những kẻ ngu trông thấy cho là chứng đạo quả, thảy đều tin phục; kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên hành pháp quỷ làm mê loạn thế gian.
Chư tổ dạy rất kỹ, chúng ta ham tu mà không chịu tìm hiểu thấu suốt, nên dễ bị lầm lẫn. Chỗ này tôi nhắc lại, ham tu cầu điều thiện, đó là điều tốt. Nhưng ham tu mà lại mong cầu những sự mầu nhiệm lạ lùng, thì cái ham đó không đúng. Tại sao? Bởi chúng ta ham lạ, thích mầu nhiệm nên quỷ thần mới dựa vào nói những điều lạ. Ví dụ có người tới nói chúng ta có của quý cất giấu đâu đó trong nhà, họ chỉ mở ra thấy liền, vậy chúng ta có phục không? Mình không biết mà họ biết, không lạ sao được. Vì vậy khi tu cần phải có trí tuệ học hiểu thấu đáo, biết những thứ lạ lùng đó không phải là chánh. Điều gì giúp chúng ta dẹp tham sân si, thấy đạo lý tu được trong sáng, cái đó mới là chân chánh.
Người ấy khi chết hằng không gặp Phật, lại đọa trong các loài quỷ thần. Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó. Làm thế nào đuổi nó? Hoặc biết nó là hư dối, chánh tâm không thọ, không đắm trước liền tự tiêu diệt; nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch.
Sự tu hành chưa tới mà do ma quỷ dựa vào gạt gẫm mê hoặc người, khi chết không được gặp Phật lại còn rơi vào quỷ thần. Tu không được gặp Phật lại đi làm quỷ thần, cho nên chúng ta đừng ham thích sự kỳ lạ, thà làm người ngu tốt hơn là quỷ thần, vì sẽ bị đọa lạc hoài không ra khỏi. Chúng ta tu phải thật đúng với chánh pháp của Phật, đừng mê những việc lạ lùng rồi bị lôi cuốn chạy theo, bỏ hết sự nghiệp làm tan hoang gia đình. Phải sáng suốt cẩn thận.
Nếu khi ngồi phần nhiều hành theo pháp ác tức đọa địa ngục. Phật dạy người tu thiền phải ngồi chỗ thoáng mát yên tịnh thì việc tu mới tốt, nhưng lại có người ngồi thiền nhét lỗ tai trùm kín lại, đó là làm theo pháp ác, tự mình đi vào con đường sai lầm, đọa địa ngục mà không biết. Nên nói, hành giả khi tu Chỉ Quán, nếu chứng các thứ thiền như thế, có những tướng tà ngụy này liền phải đuổi nó . Đuổi nó không khó, chỉ cần biết nó là giả dối không thật, tâm chánh niệm bình thản không chấp nhận những hiện tượng đó, cũng không ưa thích cảnh lạ, cứ chăm chỉ tu thì nó tự tiêu diệt.
Nên dùng chánh quán phá nó tức thì dứt sạch. Quán tất cả pháp là duyên hợp hư giả, hiện tượng đó cũng là tướng giả không thật, biết rõ thì nó dứt sạch. Như vậy khéo biết tu chúng ta dẹp được tà ngụy, còn không biết thì bản thân mình bị tà ngụy rồi lừa bịp người khác để họ cùng rơi trong tà ngụy. Đó là sai lầm, không tốt.
Hành giả nếu trong khi ngồi phát các thứ thiền không có những tướng tà ngụy như trước đã nói, tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng, sáng suốt, thanh tịnh, trong tâm vui mừng, lặng lẽ khoái lạc, không có che đậy, thiện tâm khai phát, lòng tin kính tăng trưởng, trí soi xét phân minh, thân tâm êm dịu, tinh tế rỗng lặng, nhàm chán thế gian, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát.
Phần trên là biết tướng thiền tà ngụy, đến đây là biết tướng thiền chân chánh. Tướng thiền chân chánh là thế nào? Nghĩa là tùy mỗi thứ thiền khi phát hiện liền biết cùng với định tương ưng . Khi ngồi thiền thấy phát ra những điều đặc biệt, tâm sáng suốt thanh tịnh, vui mừng nhẹ nhẹ lặng lẽ khoái lạc, rỗng rang không có che đậy, phát khởi lòng từ bi, kính tin Tam bảo, dùng trí phán xét phân minh thấy rõ hư thật, chánh tà không lầm. Đó là cùng định tương ưng. Khi ấy thân tâm nhẹ nhàng êm dịu, tinh tế rỗng lặng, thấy thế gian tạm bợ không phải là chỗ kiên cố lâu dài, tâm sanh nhàm chán, không tác động, không tham muốn, ra vào tự tại, ấy là tướng chánh thiền khai phát.
Học qua phần này chúng ta giản trạch được đâu là tà, đâu là chánh. Tà cũng có chỗ vui, nhưng đó là cái vui cười bồng bột sai lầm, chứ không phải là vui nhẹ nhàng trong tâm thanh tịnh chân chánh. Người tu có những hiện tượng lạ dấy lên là từ tâm thanh tịnh trí sáng suốt, chứ không phải từ sức nào ở ngoài dựa vào. Do tâm thanh tịnh biết được lẽ thật, thấy thế gian chỉ là tạm bợ nên không ham muốn. Thấy những điều tốt mà tâm lúc nào cũng yên, trí lúc nào cũng sáng, đó là chánh thiền khai phát.
Chúng ta ngồi thiền cũng có những điều lạ, nhưng những điều lạ này phù hợp với đạo đức, giúp cho thân tâm nhẹ nhàng sáng suốt chứ không phải kỳ quặc. Tà thiền thì có cái kỳ quặc làm người thấy lạ, khiến kẻ khác hoang mang kinh sợ, trái với đạo lý. Nhưng làm sao chúng ta biết là tà hay chánh? Người tu theo Phật khi có được những điều hay điều tốt thì tự biết, không được đem đi khoe khoang. Khoe khoang để người tán thán mình, đó là hiếu danh, là tâm tham. Tham danh thì bên trong chứa đủ sân si. Cho nên nếu thấy ai tới vỗ ngực nói tôi là Phật sống, là Bồ-tát thị hiện để giáo hóa, nghe vậy thì xá lui đi vì biết đó không phải là chánh. Tại sao? Trong kinh nói rất rõ ràng, Bồ-tát thị hiện làm cho người hiểu đạo, chứ không phải để được kính trọng lễ lạy. Làm cho hiểu đạo tức là thị hiện như người thường, cũng ăn mặc tu tập như mọi người, nhưng không tham, không mong cầu, mà chỉ nói đạo lý cho người tu đúng với chánh pháp. Chúng ta đừng lầm lẫn, nếu không biết, nghe nói đó là Bồ-tát rồi sợ vô lễ có tội, nên kính lễ cúng dường đủ thứ, đó là không tốt.
Có câu chuyện về Hàn Sơn – Thập Đắc ở núi Thiên Thai, Trung Hoa. Không ai biết tên tuổi của hai ngài. Sở dĩ có tên Hàn Sơn là vì vào mùa tuyết lạnh, ngài từ núi đến xin vào chùa ở không xưng tên tuổi, nên mọi người gọi là Hàn Sơn. Thập Đắc là do Phong Can lượm được lúc còn nhỏ, đem gửi vào chùa. Vì lượm được nên đặt tên là Thập Đắc. Hai vị rất thân với nhau, cùng chơi cùng đùa giỡn. Nói năng trên trời trên mây, không ai biết nói gì, cuộc sống vất vưởng như kẻ ăn mày. Mỗi ngày xuống nhà bếp lượm cơm rớt hoặc đồ thừa, đem đi rửa rồi ăn chứ không ăn với chúng tăng, trông rất nhơ nhớp nên trong chúng coi thường.
Một hôm có vị quan bị bệnh được người mách, nếu muốn hết bệnh hãy đến chùa Quốc Thanh núi Thiên Thai, đảnh lễ Hàn Sơn và Thập Đắc thì ông có phước được tiêu hết nghiệp chướng, vì đó là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền. Vị quan nghe thế mừng quá, đi vào chùa thưa với thầy trụ trì xin gặp hai ngài. Thầy trụ trì ngạc nhiên, hai kẻ lang thang như ăn mày mà sao quan lớn muốn gặp? Buộc lòng kêu hai ngài tới. Vị quan vừa thấy liền sụp xuống lạy, hai ngài cõng nhau chạy vào rừng mất dạng.
Bồ-tát thị hiện là như vậy, không để cho người ta biết. Các ngài làm những hạnh lạ, đi lượm từng hạt cơm ăn là muốn cảnh tỉnh chúng tăng, đừng ăn uống thừa thãi rồi bỏ mang tội. Đến khi có người biết tung tích thì liền bỏ đi, chứ không ngồi đó để cho người lạy. Bồ-tát thật khi bị lộ danh tánh thì bỏ đi, còn Bồ-tát giả hiệu thì vỗ ngực xưng danh lừa gạt người. Chỗ này e người không biết rồi tu lầm lẫn, nên tôi phải nhắc tới nhắc lui cho hiểu. Đáng thương có nhiều Phật tử sợ có lỗi với Bồ-tát, nên khi nghe xưng là Bồ-tát thì cúi đầu lễ lạy, cúng dường để khỏi có lỗi. Đó là điều mà tôi gắng nói cho thông hiểu, đừng để tu mà lầm lẫn.
Chúng ta tu Chỉ nên tin vào chánh pháp của Phật nói, còn ai tự xưng hô này kia thì khoan tin. Gần đây nhiều người đồn đãi đức Phật Di-lặc sắp ra đời. Cứ đồn đãi như vậy, mai kia nếu có đứa bé nào bụng hơi to, kỳ quặc một chút, thì sẽ tưởng là Di-lặc ra đời. Đó là lầm to! Trong kinh Phật có dạy, khi nào không còn ai biết đến danh từ Tam bảo nữa thì chừng đó đức Di-lặc mới ra đời. Bây giờ chúng ta ra đường thấy tăng ni đông đảo, chùa chiền không thiếu, kinh sách đầy kho. Người ta còn đang tu theo pháp của Phật trước, vậy Phật Di-lặc ra đời dạy cái gì? Nếu ra đời để dạy pháp khác thì chẳng lẽ Phật này và Phật kia không đồng, Phật này chê Phật kia hay sao? Phật không làm chuyện dư thừa, chỉ khi nào không còn ai biết đến từ Phật pháp nữa thì Phật kế tiếp mới ra đời, để làm sống dậy cái mà người ta quên, không biết. Vậy mà nghe đồn đãi cũng tin, rồi bị người lợi dụng đánh lừa.
Như đây nói, người tu thiền đúng đắn có những hiện tượng phát hiện ra đều phù hợp với tâm thanh tịnh, làm cho chúng ta tăng trưởng lòng từ bi, kính tin Tam bảo… như vậy mới là tu thiền chân chánh.
Ví như cộng sự với người ác thì thường bị lo phiền, nếu cộng sự với người thiện thì hằng gặp những việc tốt, phân biệt tướng hai thứ thiền tà chánh phát hiện cũng như vậy.
Tà hay phát ra những điều lạ xúi giục người ta làm việc kỳ quái, còn chánh thì phát hiện những thứ tốt đẹp hợp với đạo đức, làm cho tâm trong sáng, nhẹ nhàng thảnh thơi. Chúng ta tự xét, nếu thấy sự việc gì đem lại lợi ích cho mình và cho người thì biết đó là chánh, ngược lại là tà. Việc này không đợi ai nói, tự chúng ta cũng có thể biết.
Nếu trong khi ngồi, các thứ thiện căn khai phát nên dùng hai pháp Chỉ Quán tiến tu, khiến nó tăng trưởng. Nếu nên dùng Chỉ thì lấy Chỉ mà tu, nếu nên dùng Quán thì lấy Quán mà tu. Phần trước đã nói đủ, ở đây chỉ lược bày đại ý.
Khi thấy vọng niệm lăng xăng cần quán sát để dẹp thì dùng Quán mà tu, nếu vọng khởi buông được lặng thì dùng Chỉ mà tu. Chúng ta tùy duyên linh động, không cố chấp, không bắt buộc. Người tu phải khôn khéo, biết cái gì đúng, cái nào hợp thì tu mới có kết quả tốt, nếu không khéo cứ tu lầm thì kết quả sẽ không tốt. Đó là giản trạch về thiền tà ngụy.