Xuân Phụng Hoàng

Phổ Trà Ất Dậu - Buổi tối ngày hai chín tháng Chạp năm Ất Dậu (28-01-2006) -



Qua sự trình bày của đại diện bên Tăng và bên Ni, Thầy rất hoan hỷ, vì hướng dẫn một số đông người tu đúng đường, luôn cần mẫn, đó là chuyện rất khó. Tăng ni hai bên đều thực hiện được điều này, nên Thầy rất vui. Sau đây sẽ có những lời nhắc nhở tăng ni, nói trước thì tối này gọi là ăn Tất niên, Thầy cũng nhắc nhở, rồi sáng mai lúc tám chín giờ cũng nhắc nhở hướng dẫn. Năm nay Thầy già lắm rồi, trên tám chục tuổi sức khỏe cũng suy giảm nhiều. Vì vậy không thể thực hiện hai thời như những năm trước, chỉ một buổi tối này nhắc nhở cho tăng ni, những gì đã qua và chuẩn bị những gì sắp đến.

Ngày mai sáng mùng một, chư tăng ở bên đây, chư ni ở bên kia, đúng tám giờ hoặc tám giờ hơn, lên lễ Phật ngày đầu năm để cầu nguyện cho tất cả chư tăng chư ni tu hành tinh tấn, ít bệnh hoạn. Thầy không nói chuyện nữa, chỉ dồn trong một buổi đêm nay, đó là báo trước cho tất cả ý thức, không giống như những năm về trước.

Thầy có những điểm cần nhắc tăng ni phải cố gắng nhớ và thực hiện. Thứ nhất là người tu chúng ta có nguyện lớn, là nguyện giải thoát sanh tử, không ai cạo tóc tu mà chỉ nghĩ là tu xoàng xoàng thôi. Nguyện lớn thì ý chí phải mạnh, không phải là nguyện suông. Đã nguyện giải thoát sanh tử thì trên đường tu bất cứ trở ngại nào chúng ta cũng phải vượt qua, để đạt được mục tiêu mình đã nhắm. Nếu mới gặp một hai trở ngại mà thối tâm lùi bước, đó là cái yếu cái dở của chính mình.

Nên nhớ kỹ, chúng ta bỏ cha bỏ mẹ bỏ thân bằng quyến thuộc vào chùa tu là cốt để giải thoát sanh tử rồi trở về độ cha mẹ, anh em, thân bằng quyến thuộc. Trách nhiệm đó rất lớn, rất nặng, không phải là chuyện thường, chuyện dễ. Chư tăng chư ni mỗi khi đau yếu bệnh hoạn, uể oải không ngồi thiền được, phải nhớ công ơn của cha mẹ đối với mình rất lớn, hiện tại mình không lo, không nuôi nấng được. Chỉ có bổn phận tu để đền ơn mà lại chần chờ, còn cưng quý thân này, không chịu cố gắng ngồi cố gắng tu, đó là một điều đáng trách. Vì vậy không nên lấy cớ bệnh yếu mà bỏ qua sự tu hành. Phải cố gắng tu luôn luôn.

Những việc này chính bản thân tôi đã có kinh nghiệm. Một lần trong việc của chúng khiến tôi không được vui, tôi cảm thấy uể oải trong người, định ngủ không ngồi thiền; nhưng không thể nằm ngủ, tôi ngồi thiền, khi đó thì khỏe hơn những bữa trước. Tôi biết rằng nhờ sự tinh tấn giúp cho mình thêm sức mạnh, khi xả ra tôi rất vui. Như vậy mình tu không bị thiệt thòi, không bị mất thời gian quý báu. Bình thường một thời thiền hai tiếng đồng hồ ngồi nghe đau chân, nghe hơi nhọc trong người. Nhưng khi thấy cần phải cố gắng ngồi để vượt qua những cái lủng củng, thì tôi ngồi suốt hai tiếng không hay. Mới thấy rằng, mình có tâm quyết tu quyết tiến thì thời gian qua rất nhanh, tâm mình cũng dễ yên ổn. Đó là một ví dụ nhỏ để nhắc chư tăng chư ni đừng vì lý do gì mà tỏ ra uể oải mệt nhọc, bỏ qua giờ ngồi thiền. Phải cương quyết tu cho có kết quả, chính sức tu đó giúp chúng ta ít bệnh. Quý vị thấy tôi già tám mươi mấy tuổi mà ít khi nào trùm chăn rên hừ hừ, còn mấy người trẻ bây giờ sao mà hơi ớn ớn chút liền trùm chăn, than bệnh rồi kiếm thuốc uống.

Chúng ta phải cương quyết ngồi thiền, sức nóng trong người mình phát ra làm tan hết tất cả trược khí, hay những khí lạnh xâm nhập. Tôi nhớ các thiền sư ngày xưa, phát nguyện lên núi vào rừng, muỗi mòng cắn đủ thứ trở ngại, mà các ngài ngồi như chết không sợ nguy hiểm. Chúng ta ngày nay mọi việc đều thuận lợi, chỉ có thiếu ý chí. Phải lập ý chí mãnh liệt, bệnh không quan trọng, thật ra nếu quý vị hơi cảm mà ngồi thiền đủ hai tiếng đồng hồ liền hết cảm, còn mới hơi bệnh mà trùm chăn thì nó run. Khi tu có nghị lực mạnh thì tan được bệnh hoạn, nếu người yếu ớt nhẹ dạ, hơi trở trời thì rên, hơi nhọc nhằn trong người thì cáo bệnh xin nghỉ,… đó là cái rất dở không nên.

Chúng ta phải cần mẫn phải siêng năng đừng bỏ phí thời gian quý của mình. Có tu đều đặn chúng ta mới hăng hái tiến lên, tu mà đôi ba bữa bệnh trùm chăn, năm bảy bữa trùm chăn thì không bao giờ tiến, mà không tiến thì dễ thối Bồ-đề tâm. Chư tăng chư ni phải có ý chí cương quyết khẳng định rằng, mình tu phải tu cho được. Chúng ta nói và làm phải đi đôi, nói rằng tu để cứu độ cha mẹ, thì phải nỗ lực tu, nếu cha mẹ mình có phước sanh chỗ lành thì tốt, nếu cha mẹ vô phước sanh vào những nơi không tốt, thì mình cố gắng tu cho đạt đạo, rồi cứu độ cha mẹ như ngài Mục-kiền-liên ngày xưa. Như vậy mới xứng đáng là người con hiếu thảo. Nếu mình bỏ cha mẹ vô chùa tu rồi cứ ăn chơi đùa giỡn… như vậy thật là tệ hại, không xứng đáng tý nào. Nhìn lại cha mẹ già mình không nuôi, mà vô chùa mình không chịu tu nữa, có nhục nhã không? Mình là đứa con hiếu thảo hay là đứa con bất hiếu? Rõ ràng là bất hiếu rồi.

Chúng ta phải dồn hết tâm lực, dồn hết thời gian để lo tu hành, không nên thờ ơ bỏ qua thời gian quý báu của mình. Ai bảo đảm mình sống tới bảy tám mươi tuổi? Có khi sáu bảy mươi tuổi chết, hoặc bốn năm mươi tuổi chết cũng có. Ngày nào ở trong đạo là ngày đó phải lo, phải cố gắng, đền ơn cha mẹ, đền ơn đàn-na thí chủ, đền ơn thầy tổ, đền ơn đất nước… Người tu thật là gánh nặng hai ba vai, gánh nặng vậy mà đôi khi tôi nhìn thấy có mấy thầy nhỏ nhỏ hay nói chuyện tào lao rồi cười giỡn om sòm, thật là đáng trách. Từ đây về sau quý vị phải nhớ, những điều tôi kể đây để tôi nhắc, không nên phí thời gian quý của mình. Còn trẻ thì phải tu phải học, nếu không có người dạy thì mình nghiên cứu trong kinh điển, không nên bỏ phí thời gian đi đây đi kia, hoặc ngồi tán dóc. Đó là những điều tôi nhắc nhở tăng ni phải chú ý, phải lưu tâm làm sao xứng đáng là một người thật tu. Xứng đáng để cha mẹ không hổ thẹn với người khác, và chúng ta khỏi mắc nợ của đàn-na thí chủ, đó là những điều thiết yếu.

Hiện giờ chúng ta tu thiền. Tại sao chúng ta tu thiền? Tôi muốn nói cho quý vị hiểu sâu đường lối tu của mình để đi theo con đường của đức Phật. Khi ngài ngồi ở cội Bồ-đề, tâm lặng lẽ thanh tịnh, từ tâm thanh tịnh mà ngài giác ngộ viên mãn tròn đầy, không phải giác ngộ một phần, một góc nào. Đó là vấn đề tôi muốn nhắc cho mọi người đều nhận ra.

Nhà thiền nói về hai thứ tâm: tâm sanh diệt và tâm không sanh diệt. Tâm sanh diệt là cái lăng xăng trong đầu trong trán mình. Tâm không sanh diệt là tánh biết trùm khắp, con muỗi cắn dưới chân liền biết, con kiến cắn trên cổ liền biết, chỗ nào bị động tới đều biết. Tánh biết đó trùm khắp, không có tướng mạo, đụng tới thì biết, chạm tới thì biết. Còn cái biết lăng xăng trong đầu có bóng dáng, nhớ người thì có hình ảnh người, nhớ vật thì có hình ảnh vật…

Chúng ta phải giản trạch được chỗ này. Phật dạy chúng ta ngồi thiền để định tâm, tâm đó là tâm nào? Tâm lăng xăng trong đầu suy tính luôn luôn, cho nó dừng lại lặng hết gọi là định, được định rồi thì trí tuệ mới sáng. Trí tuệ tức là tâm chân thật không sanh diệt trùm khắp.

Như vậy, chúng ta ngồi thiền để dừng lặng tâm sanh diệt, tâm sanh diệt lặng thì vô sanh hiện tiền. Tâm đó không tướng mạo. Có những lúc tôi hơi nghi, Phật nói tâm mình trùm khắp cả pháp giới, nhưng cái biết trong con người mình có tướng mạo sanh diệt chỉ giới hạn trong con người thôi, đâu có gì trùm khắp? Nhưng đến một hôm tôi ngồi thiền bỗng dưng tôi sáng được lẽ đó. Cái gì có tướng mạo thì bị khu biệt, còn cái không tướng mạo thì trùm khắp. Như hư không trong nhà này với hư không ở ngoài trời, thì hư không trong nhà này nhỏ, nhưng khi phá vách ra thì nó hòa đồng với hư không ở ngoài. Như vậy, khi nó bị đóng khung thấy nhỏ, phá cái khung đó ra thì nó cũng hòa đồng hư không khắp cả bầu trời. Tâm chúng ta cũng vậy, tâm suy nghĩ là có tướng mạo nên sanh diệt hư dối, còn tâm biết toàn thể không tướng mạo, không giới hạn, nó rỗng rang chân thật.

Đó là một điều phải tu mới thấy được. Tâm biết không tướng mạo này bủa khắp, không giới hạn trong thân này. Phật thường dạy trong kinh, tâm mình đồng với pháp giới tức là cả bầu hư không. Tâm mình rộng lớn, là cái biết không tướng mạo, nó hòa đồng với hư không. Hư không thì vô tri, tâm mình là tri giác. Vì vậy, chúng ta tu để lặng tâm sanh diệt, tâm sanh diệt lặng rồi, tâm chân thật hiện, tâm chân thật hiện thì mới giải thoát sanh tử. Còn tâm sanh diệt có tướng mạo đây, khi gần tắt thở nhớ việc gì hoặc thương hoặc ghét thì nó dẫn mình đi trong luân hồi để đền trả. Tâm biết không tướng mạo không thương ghét nên tự do tự tại không bị lôi dẫn theo nghiệp. Chỗ này phải có tu mới nhận ra.

Chúng ta đại duyên đại phúc, gặp được Phật pháp biết rõ để mà tu. Xét kỹ xem, từ đầu tới chân có chỗ nào chạm tới mà mình không biết không? Tất cả chạm đến đâu đều biết đến đó, cái biết trùm khắp không có tướng mạo. Còn cái biết trong đầu mình thì có tướng mạo, nhớ người thì có bóng người, nhớ vật thì có bóng vật sanh diệt liên miên. Phật dạy mình dừng được cái biết sanh diệt đó thì cái biết kia là chân tâm, cái biết chân thật trùm khắp không có tướng mạo, đó là giải thoát sanh tử.

Chúng ta có sẵn chân tâm, mà cứ chạy theo vọng tưởng, tạo nghiệp dẫn đi sanh tử luân hồi. Chân tâm đâu có tạo nghiệp, biết mà không thương không ghét, không oán thù thì tạo nghiệp gì? Không tạo nghiệp tức là giải thoát sanh tử. Trong con người mình có đủ điều kiện trầm luân sanh tử và giải thoát sanh tử. Phật dạy chúng ta tu là trở về chính mình, ngài ngồi dưới cội bồ-đề cũng trở về với mình, tâm định tức là lặng được tâm lăng xăng thì ngài sáng ra, thấy được cái chân thật bất sanh bất diệt của mình, gọi là giác ngộ. Không phải tìm tòi xứ nào cũng không phải Phật cho mình giác ngộ được. Chính mình tu dừng được tâm sanh diệt, nhận ra cái thấy biết đúng như thật từ tâm chân thật hiện, không phải tìm kiếm đâu xa.

Chúng ta bỏ cái thật để chạy theo cái giả, hư dối, không phải riêng chúng ta, cả nhân loại đều như vậy. Vì thế Phật dạy chúng ta tu là phải dừng được tâm lăng xăng sanh diệt đó, để sống trở lại với chân tâm của chính mình đang đầy đủ. Sống được tâm chân thật đó là ngộ đạo, là thấy được lẽ thật. Lâu nay chúng ta sống với cái bóng dáng lăng xăng, lầm bám vào cái hư giả cho là tâm mình, tôi nghĩ thế này tôi nghĩ thế kia, cho cái suy nghĩ là tôi mà sự thật không phải, nó chỉ là bóng dáng.

Khi chúng ta ngồi thiền hay không ngồi thiền chừng năm phút mười phút mà không suy nghĩ gì hết, lúc đó mình có biết không? Cái biết đó không phải do suy nghĩ. Song, đáng thương cho chúng ta, cứ bám vào suy nghĩ này nọ cho đó là tâm mình. Từ đó phát ra khôn dại, phải quấy, hơn thua…; còn cái biết hằng hữu ở mình thì quên tuốt.

Chúng ta quyết tâm tu thì phải tu cho đến nơi đến chốn, không phải tu được vài năm từ Sa-di lên thọ Tỳ-kheo, rồi được phong làm đại đức, thượng tọa… Hài lòng xưng ta thượng tọa, đó là cái giả dối không đáng. Tu là trở về cái thật của chính mình, nhận cho được cái thật, sống cho được cái thật đó là đạt đạo, không phải tìm kiếm ở đâu.

Vì vậy mà tôi nói phải ngồi thiền. Nhiều khi quý vị xếp chân ngồi không biết để làm gì, cứ ráng ngồi cho tới giờ rung chuông xả, cứ mong hết giờ xả thôi. Không ngờ kết quả ngồi thiền là dừng được loạn tưởng của mình, dừng được nhiều chừng nào tốt chừng nấy, đến bao giờ tất cả loạn tưởng lặng sạch, cái chân thật hiện tiền, đó là chúng ta ngộ được bản tâm, thấy được Phật tánh. Chúng ta tu là một việc làm phi thường, tại sao phi thường? Vì người thế gian không ai biết, không ai làm được, tất cả chỉ sống với tâm sanh diệt mà trôi theo sanh tử. Bây giờ chúng ta biết có tâm chân thật, muốn dừng tâm sanh diệt, là việc phi thường không phải thường tình, là việc xuất thế ra khỏi vòng phàm tục. Khi người xuất gia cạo tóc rồi nói xuất gia là xuất thế, nhưng chưa phải. Phải ngộ được, thấy được tâm chân thật, mới gọi là xuất thế.

Ngày xưa có nhiều vị cư sĩ, tuy còn tóc mà ngộ đạo, nhận được tâm chân thật của mình rồi ngay nơi đó mà sống. Không kể xuất gia hay tại gia, nhận được sống được là đời sống rộng rãi xuất trần. Tại sao tâm chân thật đó trùm khắp? Vì tâm suy nghĩ cần có hình bóng, giới hạn, duyên theo hình ở ngoài rồi kết tập thành bóng người bóng vật… Tâm biết chân thật thì không có hình bóng, không cần suy nghĩ, tất cả chỗ nào đều có sẵn. Chỉ vì chúng ta chạy theo tâm vọng tưởng, cứ cho cái suy nghĩ lành thiện đó là tu. Thật ra đó chỉ là tu để đời sau có phước, còn tu để ra khỏi sanh tử là phải trở về cái thật của chính mình, cái đó đang hiện hữu mà mình quên.

Như vậy, quý vị ráng nhận cho kỹ, hiểu cho rõ ứng dụng tu sẽ thấy kết quả rõ ràng. Tôi chỉ nói một thời này trong một tiếng đồng hồ, quý vị nghe mà ứng dụng được. Cố gắng buông loạn tưởng thì cái chân thật hiện tiền, không bao giờ thiếu, cũng không người nào thiếu, dễ hay khó? Thấy thì rất là dễ, vì nó sẵn không cần tìm đâu khó khăn. Chỉ một việc đuổi ăn trộm ăn cướp cho chạy ra, chủ nhà hiện lại. Lâu rồi bị trộm cướp vô hoành hành, lâu rồi quên mất ông chủ. Bây giờ đuổi nó ra khỏi thì ông chủ hiện, ông chủ hiện thì giải thoát sanh tử, rất khỏe.

Tu giải thoát xa hay gần? Hết sức là gần, bởi vậy nên ngày xưa Phật thường dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, không chịu nhìn không chịu nhận, cứ mải đuổi theo những gì đâu đâu. Tôi nói hết sức tận tình để quý vị biết cái tâm sẵn có của mình là tâm Phật, không có tâm gì lạ. Sống trở về cái đó thì giải thoát sanh tử, không trở về mà đuổi theo tâm sanh diệt thì muôn kiếp đi trong sanh tử, muốn cái nào tùy ý. Thôi bao nhiêu đó đủ rồi, ráng mà tu.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.