Chánh văn:
Hỏi: Kinh nói có năm ấm, việc ấy thế nào?
Đáp:
Nếu lìa nơi sắc nhân,
Sắc ắt không thể được.
Nếu sẽ lìa nơi sắc,
Sắc nhân không thể được.
Sắc nhân như sợi là nhân của vải, trừ sợi thì không có vải, trừ vải thì không có sợi. Vải như sắc, sợi như nhân
Hỏi: Nếu lìa sắc nhân mà có sắc thì có lỗi gì?
Đáp:
Lìa sắc nhân có sắc,
Sắc ấy ắt không nhân.
Không nhân mà có sắc,
Việc ấy ắt không đúng.
Như lìa sợi mà có vải, vải ắt không nhân. Không nhân mà có pháp, thế gian hoàn toàn không.
Hỏi: Trong pháp Phật, pháp ngoại đạo, pháp thế gian đều có pháp không nhân. Pháp Phật có ba vô vi, vô vi là thường nên không nhân. Trong pháp ngoại đạo có: hư không, thời, phương, thức, vi trần, Niết-bàn v.v… Pháp thế gian có: hư không, thời, phương v.v… Ba pháp ấy không chỗ nào chẳng có nên gọi là thường. Thường nên không nhân, vì sao ông nói pháp không nhân, thế gian hoàn toàn không?
Đáp: Pháp không nhân này chỉ có ngôn thuyết, suy nghĩ phân biệt ắt đều không. Nếu pháp từ nhân duyên có, không nên nói không nhân. Nếu không nhân duyên thì như tôi đã nói.
Hỏi: Có hai thứ nhân, một là tác nhân, hai là ngôn thuyết nhân. Pháp không nhân ấy không có tác nhân chỉ có ngôn thuyết nhân khiến cho người biết.
Đáp: Tuy có ngôn thuyết nhân, mà việc ấy không đúng. Hư không như trong phẩm Lục chủng sẽ phá, còn những việc khác sau này sẽ phá. Lại nữa việc hiện tại còn phá được huống là vị trần v.v… là pháp không thể thấy. Thế nên nói pháp không nhân, thế gian không thể có.
Hỏi: Nếu lìa sắc có sắc nhân thì có lỗi gì?
Đáp:
Nếu lìa sắc có nhân,
Ắt không quả có nhân.
Nếu không quả có nhân,
Ắt không hợp lý vậy.
Nếu trừ sắc quả chỉ có sắc nhân, tức là không quả mà có nhân.
Hỏi: Nếu không quả mà có nhân thì có lỗi gì?
Đáp: Không quả mà có nhân, thế gian hoàn toàn không có. Vì cớ sao? Do quả nên gọi là nhân. Nếu không quả làm sao gọi là nhân? Lại nữa nếu trong nhân không quả, vật sao chẳng từ phi nhân sanh. Việc ấy trong phẩm Phá Nhân Duyên đã nói. Thế nên không có không quả mà có nhân.
Lại nữa:
Nếu trước đã có sắc,
Ắt không dùng sắc nhân.
Nếu trước không có sắc,
Cũng không dùng sắc nhân.
Hai chỗ có sắc nhân ắt không đúng. Nếu trước trong nhân có sắc thì không gọi là sắc nhân. Nếu trước trong nhân không sắc cũng chẳng gọi là sắc nhân.
Hỏi: Nếu hai chỗ đều không đúng, chỉ có không nhân mà có sắc thì có lỗi gì?
Đáp:
Không nhân mà có sắc,
Việc ấy trọn không đúng.
Thế nên người có trí,
Không nên phân biệt sắc.
Nếu trong nhân có quả, trong nhân không quả, việc ấy còn không thể được huống là không nhân mà có sắc. Thế nên nói không nhân mà có sắc, việc ấy trọn không đúng. Thế nên người có trí không nên phân biệt sắc. Phân biệt gọi là phàm phu. Do vô minh ái nhiễm tham trước sắc, nhiên hậu dùng tà kiến sanh phân biệt hý luận nói trong nhân có quả, không quả v.v… Nay trong đây tìm sắc không thể được, thế nên không nên phân biệt.
Lại nữa:
Nếu quả giống với nhân,
Việc ấy ắt không đúng.
Quả nếu chẳng giống nhân,
Việc ấy cũng không đúng.
Nếu quả với nhân giống nhau, việc ấy chẳng đúng. Vì nhân nhỏ mà quả to, nhân quả sắc lực mỗi cái khác, như vải giống sợi ắt không gọi là vải, sợi nhiều mà vải chỉ có một tấm nên không được nói nhân quả giống nhau. Nếu nhân quả không giống nhau ấy cũng không đúng, như sợi gai không dệt thành lụa vì sợi thô không thể thành vải mịn được. Thế nên không được nói nhân quả chẳng giống nhau. Hai nghĩa đều không đúng nên không sắc, không sắc nhân.
Thọ ấm và tưởng ấm,
Cùng hành ấm, thức ấm.
Ngoài ra tất cả pháp,
Đều đồng với sắc ấm.
Bốn ấm và tất cả pháp cũng nên như thế suy nghĩ để phá. Nay người tạo luận muốn tán thán cái hay của nghĩa Không nên nói kệ:
Nếu như có người hỏi,
Lìa Không mà muốn đáp,
Ấy ắt không thành đáp,
Đều đồng với nghi kia.
Nếu người có nạn vấn,
Lìa Không, nói lỗi kia,
Ấy không thành nạn vấn,
Đều đồng với nghi kia.
Nếu người khi luận nghị, mỗi bên có sở chấp, lìa nghĩa Không mà có hỏi đáp đều không thành hỏi đáp, đều cũng đồng với nghi. Như người nói bình là vô thường, người hỏi: Cớ sao vô thường? Đáp: Vì từ nhân vô thường sanh. Đây không gọi là đáp. Vì cớ sao? Trong nhân duyên cũng nghi không biết là thường là vô thường, ấy là đồng với chỗ nghi kia. Người hỏi nếu muốn nói lỗi kia, không y nơi Không mà nói các pháp vô thường ắt không gọi là vấn nạn. Vì cớ sao? Ông nhân vô thường phá thường của tôi, tôi cũng nhân thường phá vô thường của ông. Nếu thật vô thường thì không nghiệp báo. Mắt, tai v.v… các pháp niệm niệm diệt cũng không có phân biệt. Có những lỗi như thế đều không thành vấn nạn, đồng với nghi kia. Nếu y nghĩa Không mà phá thường ắt không có lỗi. Vì cớ sao? Vì người này không chấp tướng Không. Thế nên nếu muốn hỏi đáp, thường nên y pháp Không, huống là người muốn tìm tướng lìa khổ tịch diệt (Niết-bàn).
Giảng:
Ngũ ấm, chỗ khác gọi là ngũ uẩn, đó là hai lối dịch khác nhau. Có người phân biệt ngài Cưu-ma-la-thập đứng về tánh mà nói nên dịch là ngũ ấm, tức là năm cái che đậy làm cho tánh giác không được sáng suốt; còn ngài Huyền Trang dịch ngũ uẩn là đứng về mặt tích lũy hay chung hợp. Nhưng thật ra nói năm ấm tức nói sự chung hợp, do sự chung hợp đó chúng ta mê lầm, nên tánh giác không hiện. Phẩm trước phá lục tình tức là nói về sáu căn, sáu trần, sáu thức không thật. Khi nói như thế người ta lại nghĩ Phật nói năm ấm là thật. Nếu năm ấm là thật thì sáu căn, sáu trần cũng phải thật, do đó phải phá hết.
Hỏi :Kinh nói có năm ấm, việc ấy thế nào? Ông nói sáu căn, sáu trần không thật, nhưng kinh nói có năm ấm, việc ấy có thật không?
Đáp:
Nếu lìa nơi sắc nhân,
Sắc ắt không thể được.
Nếu sẽ lìa nơi sắc,
Sắc nhân không thể được.
Sắc chỉ cho quả, sắc nhân chỉ cho nhân. Nếu quả lìa nhân thì quả có không? Nhân lìa quả thì nhân có không? Cho nên phá sắc đây là căn cứ trên nhân và quả của nó.
Giải thích: Sắc nhân như sợi là nữ. nhân và quả của vải, trừ sợi thì không có vải, trừ vải thì không có sợi. Vải như sắc, sợi như nhân. Sắc nhân thí dụ như sợi là nhân của vải, trừ sợi ra thì không có vải, việc đó dễ hiểu, trừ vải ra không có sợi thì hơi khó hiểu, vì ngoài vải ra người ta kéo sợi se nhợ, se dây… nên đây không có sợi là nhân của vải, còn sợi là nhân của vật khác thì có. Vải như sắc, sợi như nhân.
Hỏi: Nếu lìa sắc nhân mà có sắc thì có lỗi gì? Tức lìa nhân mà có quả thì có lỗi gì?
Đáp:
Lìa sắc nhân có sắc,
Sắc ấy ắt không nhân.
Không nhân mà có sắc,
Việc ấy ắt không đúng.
Giải thích: Như lìa sợi mà có vải, vải ắt không nhân. Không nhân mà có pháp, thế gian hoàn toàn không. Pháp tức là sự vật.
Hỏi: Trong pháp Phật, pháp ngoại đạo, pháp thế gian đều có pháp không nhận. Pháp Phật có ba vô vi, vô vi là thường nên không nhân. Vật không có, do nhân hợp lại mới có nên là vô thường, còn vật có mặt từ thủy chí chung tức là thường thì không đợi nhân. Trong pháp ngoại đạo có: hư không, thời, phương, thức, vị trần, Niết-bàn v.v… Những pháp đó gọi là vô nhân. Pháp thế gian có: hư không, thời, phương v.v… Thời là thời gian, phương là phương hướng chỉ cho không gian. Ba pháp ấy không chỗ nào chẳng có nên gọi là thường. Ba pháp ấy trùm khắp thế gian, chỗ nào cũng có nên gọi là thường. Thường nên không nhân, vì sao ông nói pháp không nhân, thế gian hoàn toàn không?
Đáp: Pháp không nhân này chỉ có ngôn thuyết, suy nghĩ phân biệt ắt đều không. Nếu pháp từ nhân duyên có, không nên nói không nhân. Nếu không nhân duyên thì như tôi đã nói. Đây là lối gạn lại để cho ngoại nhân thấy rõ lý của họ không đúng.
Hỏi: Có hai thứ nhân, một là tác nhân, hai là ngôn thuyết nhân. Pháp không nhân ấy không có tác nhân chỉ có ngôn thuyết nhân, khiến cho người biết.
Có tác nhân và ngôn thuyết nhân. Ông bác pháp không nhân tôi vừa nói là căn cứ trên tác nhân. Như hư không không có tác nhân mà có ngôn thuyết nhân, vậy đâu phải là không nhân?
Đáp: Tuy có ngôn thuyết nhân, mà việc ấy không đúng. Hư không như trong phẩm Lục chủng sẽ phá, còn những việc khác sau này sẽ phá. Đây là không muốn giải trước, đến những phần sau sẽ nói rõ. Lại nữa việc hiện tại còn phá được huống là vi trần v.v… là pháp không thể thấy. Thế nên nói pháp không nhân, thế gian không thể có.
Những pháp hiện có như sáu căn, sáu trần, ngũ uẩn v.v… còn phá được, huống là thuyết vi trần của ông. Vì vậy thế gian không thể có pháp không nhân.
Hỏi: Nếu lìa sắc có sắc nhân thì có lỗi gì?
Đoạn trước nói lìa nhân có sắc, đây hỏi lìa sắc có nhân thì có lỗi gì?
Đáp:
Nếu lìa sắc có nhân,
Ắt không quả có nhân.
Nếu không quả có nhân,
Ắt không hợp lý vậy.
Nếu trừ sắc quả chỉ có sắc nhân, tức là không quả mà có nhân.
Hỏi: Nếu không quả mà có nhân thì có lỗi gì?
Đáp: Không quả mà có nhân, thế gian hoàn toàn không có. Vì cớ sao? Do quả nên gọi là nhân. Gọi là nhân vì căn cứ trên quả. Nếu không quả làm sao gọi là nhân? Lại nữa nếu trong nhân không quả, vật sao chẳng từ phi nhân sanh. Đây ý muốn nói nếu quả và nhân không liên hệ nhau, thì vật có thể từ vật gì sanh cũng được. Việc ấy trong phẩm Phá Nhân Duyên đã nói. Thế nên không có không quả mà có nhân.
Lại nữa;
Nếu trước đã có sắc,
Ắt không dùng sắc nhân.
Nếu trước không có sắc,
Cũng không dùng sắc nhân.
Nếu có quả thì đâu cần nhân, nếu không quả cũng không cần nhân. Tại sao? Đây giải thích: Hai chỗ có sắc nhân ắt không đúng. Nếu trước trong nhân có sắc thì không gọi là sắc nhân. Vì đã có quả rồi thì đâu còn gọi đó là nhân nữa. Nếu trước trong nhân không sắc, cũng chẳng gọi là sắc nhân. Trong nhân không quả nên nhân tụ hội thành quả, tại sao chẳng gọi là sắc nhân? Trên phương diện đối đãi, nhân và quả không tách rời nhau được. Nếu trong nhân trước không quả tức là nhân và quả không liên hệ nhau thì không thể thành sắc nhân. Như lụa là quả, chỉ tơ là nhân, quả đó có liên hệ tới nhân vì không thể dùng chỉ gai dệt lụa được. Như vậy nếu nhân và quả không liên hệ thì không thể thành nhân của quả.
Hỏi: Nếu hai chỗ đều không đúng, chỉ có không nhân mà có sắc thì có lỗi gì?
Đáp:
Không nhân mà có sắc,
Việc ấy trọn không đúng.
Thế nên người có trí,
Không nên phân biệt sắc.
Nếu trong nhân có quả, trong nhân không quả, việc ấy còn không thể được huống là không nhân mà có sắc. Thế nên nói không nhân mà có sắc, việc ấy trọn không đúng. Thế nên người có trí không nên phân biệt sắc. Phân biệt gọi là phàm phu. Do vô minh ái nhiễm tham trước sắc, nhiên hậu dùng tà kiến sanh phân biệt hý luận nói trong nhân có quả, không quả v.v… Nay trong đây tìm sắc không thể được, thế nên không nên phân biệt.
Đây nói phân biệt gọi là phàm phu, vì còn vô minh, ái nhiễm, tham trước, vậy thánh nhân có phân biệt không? Thánh nhân không phân biệt thì thiện ác không rành sao? Đây nói không nên phân biệt là trên đối đãi không thật mà phân biệt cho vật này thật, vật kia thật rồi chấp chặt. Đó là do tà kiến, hý luận. Hý luận là lối nói đùa, không có nghĩa thật. Tất cả những gì nằm trong đối đãi đều không thật mà chúng ta cứ cãi nhau thì thuộc về hý luận. Sống để tìm chân lý, nếu cả ngày cứ hý luận, mất thời gian nói đùa vô ích rồi phiền não sanh bệnh hoạn, đó là điều rất đáng tiếc.
Lại nữa:
Nếu quả giống với nhân,
Việc ấy ắt không đúng.
Quả nếu chẳng giống nhân,
Việc ấy cũng không đúng.
Nếu quả với nhân giống nhau, việc ấy chẳng đúng. Tại sao? Vì nhân nhỏ mà quả to, nhân quả sắc lực mỗi cái khác. Sắc là hình sắc, lực là sức chuyển biến. Như nhân là bông xoài, nụ nhỏ xíu, đến khi thành trái xoài chín, nhân và quả không giống nhau vì bông nhỏ, trái lớn, lúc mới tượng trái chua, đến lớn trái ngọt. Như vải giống sợi ắt không gọi là vải, sợi nhiều mà vải chỉ có một tấm nên không được nói nhân quả giống nhau.
Nếu nhân quả không giống nhau ấy cũng không đúng, như sợi gai không dệt thành lụa vì sợi thô không thể thành vải mịn được. Thế nên không được nói nhân quả chẳng giống nhau. Hai nghĩa đều không đúng nên không sắc, không sắc nhân.
Như vậy sắc không thật, sắc nhân cũng không thật. Thay vì nói vải thì nói thân, nói chỉ sợi thì nói tứ đại. Sắc uẩn tức thân này do tứ đại hợp. Quả là thân, nhân là tứ đại có giống nhau không? Đất, nước, gió, lửa ở ngoài thì vô tri đâu có giống đất, nước, gió, lửa trong thân. Nếu khác tại sao một lát uống một tách nước? Lý này thật lạ lùng! Nhiều lúc nghĩ tức cười, gặp khi lỡ bữa, đói bụng đi hết nổi, chỉ cần ăn hai chén cơm rồi hoạt động bình thường, vậy cơm hoạt động hay mình hoạt động? Tại sao thiếu nó mình hoạt động không được? Việc này không ra lẽ rồi, đoạn sau sẽ giải thích thêm cho thấy lý đó. Như vậy không sắc không sắc nhân.
Thọ ấm và tưởng ấm,
Cùng hành ấm, thức ấm.
Ngoài ra tất cả pháp,
Đều đồng với sắc ấm.
Bốn ấm và tất cả pháp cũng nên như thế suy nghĩ để phá. Nghĩa là bốn ấm và tất cả pháp đều không thật. Nay người tạo luận muốn tán thán cái hay của nghĩa Không nên nói kệ. Giải thích về các ấm rồi, ngài Luận chủ cảm hứng tán thán cái hay của nghĩa Không, nên nói kệ:
Nếu như có người hỏi,
Lìa Không, mà muốn đáp,
Ấy ắt không thành đáp,
Đều đồng với nghi kia.
Nếu người có nạn vấn,
Lìa Không, nói lỗi kia,
Ấy không thành nạn vấn,
Đều đồng với nghi kia.
Như vậy muốn đáp phải lấy nghĩa không tự tánh đáp, muốn hỏi cũng phải dùng nghĩa không tự tánh hỏi. Còn ngoài nghĩa không tự tánh mà đáp, hỏi cũng đều sai sự thật.
Nếu người khi luận nghị, mỗi bên có sở chấp, lìa nghĩa Không mà có hỏi đáp đều không thành hỏi đáp, đều cũng đồng với nghi. Như người nói bình là vô thường, người hỏi: Cớ sao vô thường? Đáp: Vì từ nhân vô thường sanh. Đây không gọi là đáp. Vì cớ sao? Trong nhân duyên cũng nghi không biết là thường là vô thường, ấy là đồng với chỗ nghi kia.
Người hỏi bình là thường hay vô thường, mình đáp là vô thường. Hỏi tại sao vô thường, mình dùng lý tánh không, nói vì nhân duyên, nó không có thật thể, người ta không bác được. Nếu nói vì nhân vô thường nên quả vô thường, thì có người nói bình là thường vì nhân nó thường, nó do đất làm ra, khi bể trở về đất, đất thì còn hoài, không phải vô thường, Như vậy hai bên đều nghi, không giải quyết được. Người hỏi nếu muốn nói lỗi kia, tức là để vấn nạn sự sai lầm của người đó, không y nơi Không mà nói các pháp vô thường ắt không gọi là vấn nạn. Vì cớ sao? Ông nhân vô thường phủ thường của tôi, tôi cũng nhân thường phá vô thường của ông. Nếu thật vô thường thì không nghiệp báo, Vô thường thì không còn gì cả nên không có nghiệp báo. Mắt, tai v.v… các pháp niệm niệm diệt cũng không có phân biệt. Có những lỗi như thế đều không thành vấn nạn, đồng với nghi kia. Nếu y nghĩa Không mà phả thường ắt không có lỗi. Vì cớ sao? Vì người này không chấp tướng Không.
Nếu y nghĩa Không mà phá thường thì rất dễ. Nói bình không phải thường, tại sao? Vì nó do nhân duyên hòa hợp không tự tánh, nhân duyên tụ nó còn, nhân duyên tan nó mất, nhưng mất mà không phải hết nên không phải là vô thường hẳn. Nhân duyên đổi thay không cố định, nên không tự tánh, như vậy không ai bác được. Thế nên nếu muốn hỏi đáp, thường nên y pháp Không, huống là người muốn tìm tướng lìa khổ tịch diệt (Niết-bàn). Vấn đáp còn phải y nơi nghĩa Không, huống là người tu muốn hết khổ, được Niết-bàn mà không y nghĩa Không. Đó là lời ngài Luận chủ tán thán.
Tất cả chúng ta lúc nào cũng nhìn theo một chiều, khen người nào chỉ thấy điều hay, việc phải của họ; chê người nào chỉ thấy điều xấu, việc dở của họ. Thế nên nhìn một chiều không đến được sự thật. Lý Bát-nhã hay lý Trung quán căn cứ trên pháp đối đãi, mà đối đãi là có sự mâu thuẫn. Muôn sự muôn vật ở thế gian này luôn có sự mâu thuẫn nội tại, như ngay nơi thân tứ đại của chúng ta, lửa với nước, gió với đất có ưa nhau không mà chúng phải sống chung? Vậy là có sự mâu thuẫn, nghĩa là hòa hợp nhưng chống nhau, chứ không phải thuận thảo. Lửa với nước luôn chống nhau, nước hơi tăng phải lo kiếm thức ăn làm cho ấm, còn lửa tăng thì kiếm thức ăn làm cho mát… Ngay trong cuộc sống hiện tại, nơi thân chúng ta từng tế bào chết rồi tế bào khác tăng trưởng, sự sanh diệt tiếp nối, như vậy không phải mâu thuẫn là gì? Nơi tâm mình có cả thiện ác, gặp thiện theo thiện, gặp ác theo ác nên thường bất an. Nghe lời không vừa ý mình tức giận, gây cãi, một lúc sau lại hối hận tự trách. Như vậy là nội tâm mâu thuẫn. Thân, tâm, sự vật đều mâu thuẫn, làm sao có một chiều mà muốn tách trắng ra trắng, đen ra đen? Nếu cứ nhìn theo một chiều thì luôn đau khổ bất mãn; trái lại nếu biết tất cả đều tương đối, không đòi hỏi sự tuyệt đối thì an ổn.
Có những người thân nhau, bạn thân thì có nhiều điểm đồng, nhưng cũng có điểm khác, nếu trọn đồng thì thành một người. Nếu chấp nhận điểm đồng thì phải chịu đựng điểm khác. Vì thế Phật đặt tên cõi này là Ta-bà, nghĩa là kham nhẫn, nhẫn nhục, đó là sức chịu đựng trong cuộc sống mâu thuẫn. Như vậy cuộc sống giữa đời này không có gì cố định, nên đối đáp mà nói quyết định tức là nói một chiều đều bị bác. Tóm lại thuyết của ngài Long Thọ chỉ cho chúng ta thấy rõ muôn sự muôn vật ở đời luôn mâu thuẫn, không có một chiều, nhìn một chiều là không đúng lẽ thật. Nơi người tốt cũng có một hai điều xấu, nơi người xấu cũng có một hai điều tốt. Cố định một người nào xấu hoặc một người nào tốt cũng không được, vì khi gặp duyên thì người đó tốt hoặc xấu, chứ không hẳn là tốt hay xấu suốt đời. Hiểu như vậy chúng ta sẽ công bằng rộng lượng, không có thành kiến với mọi người, không phê bình người một cách cực đoan. Muôn pháp không có quyết định, tức là không tự tánh. Thấy đúng như thật tức là trí tuệ, mà trí tuệ là phá vô minh, không mê lầm thì không tạo nghiệp.
Ngài Long Thọ tán thán thuyết này để chúng ta hiểu được lẽ thật. Tại sao chúng ta khổ? Tại chấp cố định. Như chấp mình tốt mình giỏi v.v… mà người ta nói ngược lại thì phiền não khởi lên, bởi chấp không đúng lẽ thật nên khổ. Lại như chấp mình sống dai, nghe ai coi tướng coi tay nói chết yểu thì buồn khổ mất ăn mất ngủ. Nếu biết thân này mâu thuẫn, đất nước gió lửa luôn chống nhau, khi thứ này thắng, khi thứ kia thắng thì sự đổi thay của thân khi bệnh khi mạnh là chuyện thường, không có gì quan trọng. Còn cuối cùng tứ đại không hòa hợp nữa thì tan rã. Mình là chủ nhân cười chấp nhận. Thế là an ổn, không cần phải điều hòa cực khổ. Vậy thì chết có gì đáng sợ? Hiểu được lý này chúng ta thấy tu là từ trí tuệ thấy đúng như thật, chứ không phải lạy nhiều, cầu nguyện nhiều. Phá được những cố chấp thì chắc chắn hết phiền não, vậy không phải Niết-bàn là gì? Hiểu như thế mới thấy gốc của sự tu.