Thiền Tông Phật Giáo Trong Mạch Nguồn Dân Tộc

Những Mốc Lớn Của Phật Giáo Việt Nam



Nói chuyện tại Viện nghiên cứu Hán Nôm Hà Nội ngày 02-04-1996 (Rằm tháng hai Bính Tý) 

Hôm nay là buổi nói chuyện đầu tiên với các vị Giáo sư, Tiến sĩ, Phó tiến sĩ và Nghiên cứu sinh. Tôi xin thưa rõ, chúng tôi không đứng về mặt học giả mà nghiêng về hành giả.

Quý vị là học giả, nên khi nghiên cứu giáo lý của một tôn giáo nào thì nghiên cứu đó sẽ mang tính cách khách quan, cái thấy của quý vị có thể công bằng nhưng đôi khi cũng chưa thâm nhập được. Phần chúng tôi là những hành giả, đương nhiên khi trình bày ý kiến của mình dễ bị chủ quan, chưa hẳn khách quan. Nhưng tôi nghĩ, nếu lúc quý vị nghiên cứu về Thiền có thắc mắc gì, chúng tôi sẽ đóng góp kinh nghiệm theo chuyên môn của mình về mặt thực hành, hy vọng có thể giúp quý vị thấy thêm một khía cạnh mới.

Theo lời yêu cầu của Giáo sư hướng dẫn tại đây, tôi sẽ nói về đề tài Những mốc lớn của lịch sử Phật giáo Việt Nam. Những mốc lớn đó chính là bước ngoặt của Phật giáo, được nhìn theo hai chiều tiến và lùi. Nghĩa là từ khi Phật giáo có mặt, tiến triển dần cho đến suy tàn trên đất nước Việt Nam.

Đạo Phật được truyền sang Việt Nam từ bao giờ, dường như chưa ai biết chính xác. Các nhà nghiên cứu về Phật giáo Việt Nam cũng muốn tìm hiểu tường tận, nhưng tiếc rằng những điều biết được trên lịch sử rất giới hạn. Chúng ta chỉ biết sự có mặt của Phật giáo trên đất nước Việt Nam kể từ khi các bậc tu hành xuất hiện, hoặc lúc kinh điển đã được phiên dịch chứ không biết chính xác manh mối buổi đầu, nhân vật nào đem đạo Phật truyền vào Việt Nam.

Trên lịch sử Phật giáo Việt Nam, vào khoảng thế kỷ thứ III, ngài Khương Tăng Hội là người dịch kinh đầu tiên ở Việt Nam. Những kinh điển ngài dịch gồm có:

– Lục Độ Tập Kinh, 08 quyển.

– Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, 02 quyển.

– Ngộ Phẩm Kinh, tức Tiểu phẩm Bát-nhã, 05 quyển.

– Bồ-tát Tịnh Hạnh Kinh, 02 quyển.

– Quyền Phương Tiện Kinh, 01 quyển.

– Bồ-tát Nhị Bách Ngũ Thập Tháp Kinh, 01 quyển.

– Tọa Thiền Kinh, 01 quyển.

Vị thứ hai là Chi Cương Lương Tiếp, dịch kinh Pháp Hoa Tam-muội. Ngoài ra còn có các tác phẩm khác của những người Trung Hoa nghiên cứu về Phật giáo như:

– Lịch Đại Tam Bảo Ký của Phí Trường Phòng.

– Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Ký của Tĩnh Mại.

– Đại Đường Nội Điển Lục của Đạo Tuyên.

– Khai Nguyên Thích Giáo Lục của Trí Thăng

Nhờ vào những tác phẩm của các nhà tu hành và nghiên cứu này, mà chúng ta biết được Phật giáo có mặt tại Việt Nam vào thế kỷ thứ III. Như vậy chúng ta tạm lấy đây làm chuẩn, để phăn dần về sự phát triển và suy tàn của Phật giáo Việt Nam.

1- Mốc thứ nhất: Phật giáo có mặt 

Xét về sự truyền bá chúng ta có thể thấy, nếu thời kỳ này đã có những tu sĩ, các nhà dịch thuật và nghiên cứu Phật giáo thì tức nhiên đạo Phật phải có mặt ở Việt Nam trước đó, chứ không phải tới thế kỷ thứ III. Bởi không có đạo Phật thì làm gì có người xuất gia, làm gì có người dịch kinh? Căn cứ theo đây, nhiều nhà nghiên cứu phỏng đoán rằng, Phật giáo được truyền sang Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ I hoặc thứ II. Tuy nhiên, đó vẫn là ước chừng chứ không có cứ liệu rõ ràng.

2- Mốc thứ hai: Thiền tông truyền sang Việt Nam 

Cuối thế kỷ thứ VI, vào năm 580 ngài Tỳ-ni-đa- lưu-chi (Vinītaruci) sang Việt Nam, truyền bá Thiền tông tại chùa Pháp Vân và viên tịch vào năm 594. Tính từ lúc mới sang đến khi viên tịch, ngài đã ở Việt Nam mười bốn năm. Theo tôi, đây là mốc quan trọng thứ hai. Tại sao? Bởi vì những kinh sách được trích trong Đại tạng, do ngài Khương Tăng Hội dịch trước kia, là phương pháp dạy cho hàng tu sĩ và cư sĩ tập tu. Khi nghiên cứu các bản dịch này chúng tôi thấy rõ:

– Căn cứ Lục Độ Tập Kinh thì pháp tu này lấy Lục độ làm chính, mà Lục độ là giáo lý thuộc về thiền Đại thừa, sau này gọi là Phật giáo phát triển hay Phật giáo Bắc tông.

– Tọa Thiền Kinh thì dạy về pháp tu Sổ tức quán, tức là quán sát hơi thở, lấy hơi thở làm phương pháp tu thiền định.

Theo đây cho thấy, Thiền đã có mặt từ khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam. Vào thời kỳ sơ khai, chư Tổ căn cứ theo kinh điển Phật để ứng dụng tu thiền, gọi là Như Lai thiền. Đến khi ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang Việt Nam truyền bá thiền, gọi là Tổ sư thiền. Sau này chúng ta thường nghe nói Như Lai tự tánh thanh tịnh thiền, hoặc Tự tánh thanh tịnh thiền. Đây là từ ngữ được dùng tương đương với Tổ sư thiền, chứ không phải chỉ cho Như Lai thiền ở trước. Hai cụm từ này đều có chữ Như Lai, nhưng khác ở chỗ Tự tánh thanh tịnh thiền.

Tại sao thời Tỳ-ni-đa-lưu-chi truyền thiền sang Việt Nam, tôi cho là một mốc quan trọng? Khi nghiên cứu về Thiền, những học giả nước ngoài thường cho rằng, theo lịch sử thì Thiền tông được truyền bá từ An Độ sang Trung Hoa, rồi đến Việt Nam, Nhật Bản… Ngày xưa tôi đọc tác phẩm của Suzuki, ông đề ra như vậy và một số học giả ngày nay cũng hưởng ứng theo. Điều này tôi xin cải chính một chút, vì nói thế e không chính xác, không thực tế.

Trong quyển Ma-ha Chỉ Quán, được dịch là Đại Thừa Chỉ Quán của ngài Trí Khải tức Trí Giả đại sư, ở trang 1 tập 1 có kể ra 26 vị tổ Thiền tông ở Ấn Độ. Một số học giả thời nay thì cho rằng hệ thống truyền thừa của Thiền tông là do thiền sư Thần Hội, đệ tử của Lục tổ Huệ Năng tự dựng lập nên. Nói vậy là không phù hợp, bởi đại sư Trí Khải sống vào cuối đời Trần sang đời Tùy của Trung Hoa, còn thiền sư Thần Hội ở vào đời Đường. Từ thời đại sư Trí Khải ghi chép đã có 26 vị Tổ, đến đời Đường ngài Thần Hội ghi thành 28 vị là hợp lý, chứ không phải bỗng dưng dựng lập.

3- Mốc thứ ba: Phật giáo đồng hành cùng dân tộc 

Mốc thứ ba này là bước ngoặt lớn vì là giai đoạn then chốt, phát khởi sự gắn bó giữa Phật giáo với dân tộc. Tuy nhiên, đây chỉ là theo cái nhìn chủ quan của tôi, còn người nghe thì được quyền tự nhận định.

Vào thế kỷ thứ X, Phật giáo Việt Nam không còn đứng riêng lẻ để truyền bá Phật pháp, mà cùng chung lưng đấu cật lo cho sự tồn vong của đất nước. Với tinh thần Phật pháp đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo và đất nước đã gắn kết thành một khối. Có thể nói, nếu chúng ta nghiên cứu Phật giáo Việt Nam mà không thấy được điểm này thì rất thiếu sót.

Phật giáo thời này gắn liền với dân tộc như thế nào? Tôi tạm dẫn vài vị điển hình:

– Trưởng lão La Quý (852-936) đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Ngài cho đúc pho tượng Lục Tổ bằng vàng tại chùa Lục Tổ, sau vì sợ giặc giã trộm cướp nên đem chôn trước cửa chùa, ngài ghi: “Trị minh vương tắc xuất, ngộ ám chúa tắc tàng”, gặp vua sáng thì hiện, thấy chúa tối nên ẩn.

– Thiền sư Pháp Thuận (915-990) đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Lúc vua Lê Đại Hành hỏi vận mệnh đất nước dài ngắn thế nào? Ngài đáp bằng bài kệ:

Quốc tộ như đằng lạc,

Nam thiên lý thái bình.

Vô vi cư điện các,

Xứ xứ tức đạo binh.

Vận nước như dây quấn,

Trời Nam sống thái bình.

Rảnh rang trên điện các,

Chốn chốn dứt đao binh.

Thái sư Khuông Việt (933-1011) đời thứ 4, dòng Vô Ngôn Thông. Chỉ nghe qua danh Thái sư thôi, chúng ta cũng biết được ngài đã đóng góp như thế nào cho xứ sở mình rồi. Nhưng ở đây tôi không nói trong phạm vi đó, mà muốn nói đến cái thấy của ngài đối với Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là Thiền tông, qua bài kệ:

Mộc trung nguyên hữu hỏa, Nguyên hỏa phục hoàn sanh. Nhược vị mộc vô hỏa, Toản toại hà do manh.

Trong cây sẵn có lửa,

Sẵn lửa, lửa lại sanh.

Nếu bảo cây không lửa,

Cọ xát làm gì sanh.

Bài kệ này đã nói lên nghĩa “tức tâm tức Phật” của nhà thiền. Ngài dùng thí dụ, trong cây sẵn có lửa nên khi dùi mài cọ xát lửa mới phát ra. Nếu trong cây không lửa thì dù cọ xát trăm năm vẫn không có lửa. Cũng vậy, nếu chúng ta không có tánh giác thì dù muốn tu để giác ngộ cũng không bao giờ được. Do có tánh giác nên khi tu hành si mê loạn động lặng thì tánh giác hiện. Bởi trí tuệ là dụng từ tâm phát ra, nên nếu chúng ta khéo biết ứng dụng Phật pháp tu hành, một khi trí tuệ sáng rồi thì thành Phật không nghi.

Thiền sư Vô Ngôn Thông nghe vị tăng hỏi tổ Bá Trượng: “Thế nào là pháp môn đốn ngộ của Đại thừa?” Tổ đáp: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu.” Nghe nói, đất tâm nếu không thì mặt trời trí tuệ tự chiếu, ngài liền đốn ngộ. Rõ ràng mỗi người chúng ta đều sẵn có trí tuệ, nhưng vì để cho vô minh che phủ nên không phát ra được. Nếu biết dẹp những thứ che phủ đi thì trí tuệ tự sáng, ngay đó “tức tâm tức Phật”.

Thiền sư Vạn Hạnh (?-1018) đời thứ 12, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, ngài đang ở tại chùa Lục Tổ mà vẫn biết trước. Để chiêu an bá tánh, ngài ra yết thị:

Tật lê trầm Bắc thủy

Lý tử thọ Nam thiên

Tứ phương can qua tịnh

Bát biểu hạ bình an.

Tật lê chìm biển Bắc, 

Cây lý che trời Nam. 

Bốn phương binh đao dứt,

Tám hướng thảy bình an.

Thiền sư Vạn Hạnh lo sắp đặt một triều đình mới, đem lại sự an lành cho đất nước. Sự góp công của ngài, đưa đến sự gắn bó giữa Phật giáo và dân tộc. Về sau, vua Lý Nhân Tông có làm bài kệ truy tán ngài:

Vạn Hạnh dung tam tế

Chân phù cổ sấm ký

Hương quan danh Cổ Pháp

Trụ tích trấn vương kỳ.

Vạn Hạnh thông ba mé 

Thật hợp lời sấm xưa.

Quê nhà tên Cổ Pháp, 

Dựng gậy vững kinh vua.

Trụ tích trấn vương kỳ, chống gậy mà khiến cho quê hương đất nước được vững vàng. Đó là lời tán hết sức rõ ràng và thật xứng đáng.

Đầu bài tán nói: Vạn Hạnh dung tam tế, câu này lâu nay các nhà nghiên cứu hay tranh cãi nhau, có người cho rằng tam tế tức là Tam giáo. Nhưng theo riêng tôi, tam tế là chỉ cho ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai. Trong kinh Phật thường hay dùng từ này, như nói “tận vị lai tế”, tức là tột mé vị lai. Vì thế, nếu chúng ta hiểu chữ tế là Tam giáo thì quá gượng gạo.

Chân phù cổ sấm ký, tức là lời ngài nói ra rất phù hợp với sấm ký. Sấm ký là dự nói việc quá khứ vị lai. Như vậy, các nhà sư Phật giáo không phải chỉ hiểu Phật pháp để tu thôi, mà các ngài còn theo dõi tường tận, hiểu được vận nước thịnh suy như thế nào, để từ đó vừa giúp giữ gìn đất nước, vừa truyền bá Phật pháp phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.

4- Mốc thứ tư: Phật giáo rực sáng 

Mốc thứ tư là vào thế kỷ thứ XIII, với sự phát triển của Phật giáo đời Trần. Đạo Phật du nhập vào Việt Nam cho tới giai đoạn này là thời kỳ phát triển rực rỡ, nguyên do phát xuất từ các vị vua nhà Trần tu hành và ngộ đạo. Trước kia Phật giáo và đất nước tuy có sự gắn bó, nhưng còn ở hai vị trí khác nhau. Đến đây nhà vua đại diện cho một đất nước, là người cai trị muôn dân lại là ông vua Phật giáo, nên Phật giáo và đất nước hòa quyện thành một, không còn có sự chia cách. Tôi dẫn sơ qua về những vị vua nhà Trần tu hành và ngộ đạo cho quý vị thấy rõ.

Vị vua thứ nhất là Trần Thái Tông. Khi còn tại vị, nhân trì tụng kinh Kim Cang đến câu “Không nên trụ sắc sanh tâm, không nên trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm”, nhà vua nghiền ngẫm rồi ngộ đạo. Đây là điều hết sức đặc biệt. Bởi vì Lục tổ Huệ Năng khi nghe Ngũ tổ Hoằng Nhẫn giảng kinh Kim Cang đến đoạn “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, ngài liền chứng ngộ. Một vị tổ ở Trung Hoa, một ông vua ở Việt Nam, dù ở đất nước khác nhau nhưng cả hai đều ngộ đạo từ đoạn kinh này. Nhưng có lẽ chỗ ngộ của Lục tổ sâu hơn, nên khi ngộ ngài kêu lên: “Đâu ngờ tánh mình xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp v.v..” còn vua Trần Thái Tông ngộ rồi chỉ vui mừng mà thôi. Trần Thái Tông ngộ đạo khi đang làm vua, nên gọi là vua hay cư sĩ Phật tử đều đúng. Bởi đối với dân tộc, ngài là nhà vua có trách nhiệm gìn giữ đất nước không bị ách ngoại xâm. Đối với Phật giáo, ngài là một Phật tử có trách nhiệm hoằng pháp lợi sanh giúp cho dân hiểu đạo lý. Thế nên Phật pháp và dân tộc tới đây đã hòa nhập thành một khối.

Vị vua thứ hai là Trần Thánh Tông. Nhà vua hiểu Phật pháp lúc còn để chỏm, tới khi lên ngôi vua lại thâm nhập đạo sâu hơn. Nhân đọc ngữ lục của thiền sư Đại Huệ mà ngộ được bản lai diện mục của chính mình. Trong bài Tự Thuật, vua nói:

Tự tòng quản giác nhập thiền lưu,

Đả ngõa toản quy một ngoại cầu,

Nhận đắc bản lai chân điện mục,

Đảo đầu hà xứ bất hưu hưu. 

Ngài nói rằng, khi ngộ được bản lai chân diện mục rồi thì đáo đầu hà xứ bất hưu hưu, tức là nơi nào chốn nào mà chẳng thôi dứt. Chúng ta tu hành là buông phiền não, buông vọng tưởng. Khi tâm chân thật hiện tiền rồi thì còn gì nữa mà buông, mà thôi dứt. Vua Trần Thánh Tông nhìn bằng tâm chân thành của người Phật tử thấu suốt được lẽ thật, chứ không phải theo cái nhìn đơn sơ thường tình ở bên ngoài.

Vị vua thứ ba là Trần Nhân Tông. Lúc còn làm thái tử, ngài được vua cha là Trần Thánh Tông gửi đến học đạo với Tuệ Trung thượng sĩ. Khi hỏi về yếu chỉ của thiền, Tuệ Trung đáp: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nhà vua liền khai ngộ, từ đó ngài có hướng đi riêng cho mình. Thâm nhập Phật pháp từ lúc còn trẻ cho tới khi lãnh trách nhiệm làm vua, nên đối với ngài, dân chúng đất nước và Phật giáo không tách rời nhau. Ngài thấy mình có trọng trách đem giáo pháp đã thâm nhập được, giáo hóa cho dân chúng cùng hiểu.

Tại sao tôi nói mốc thứ tư rất đặc biệt? Bởi ở thời kỳ này, ba vị vua đã đem Phật giáo hòa vào dân tộc thành một. Đây là điểm đỉnh của Phật giáo Việt Nam, theo chiều tiến lên. Song, phàm cái gì lên quá cao thì phải tuột xuống, hiển nhiên như thế. Phật giáo đời Trần là Phật giáo phát triển từ cung đình, các vua là vị đại diện cho Phật giáo để truyền bá chánh pháp, thế nên khi triều đại ấy ngã xuống, tức nhiên Phật giáo cũng theo đó mà suy tàn. Điều này rõ ràng, cực thịnh thì phải tới suy. Sự xuống dốc ấy trên sử sách còn ghi rất rõ, ở đây chúng ta không cần phân tích nhiều.

5- Mốc thứ năm: Phật giáo bắt đầu suy tàn 

Sau thời nhà Trần là nhà Hồ lên thay, rồi tới nhà Minh từ Trung Hoa sang. Thời này tất cả kinh điển, sách vở có giá trị thuộc văn hóa Việt Nam, quân nhà Minh thâu lấy đem về nước họ đốt hết, rồi tặng lại Việt Nam những kinh sách và tạng kinh của Phật giáo Trung Hoa. Điều đáng nói là vua nhà Minh xuất thân từ một Sa-di ở chùa, đứng lên chống lại quân Nguyên mà được lên ngôi. Hiển nhiên ông là một vị vua có tinh thần Phật giáo, nhưng đặc biệt là chỉ ủng hộ Phật giáo Trung Hoa chứ không ủng hộ Phật giáo Việt Nam. Tại sao? Vì ở Việt Nam, Phật giáo và dân tộc đồng hành, nếu Phật giáo còn mạnh thì thế lực bên ngoài khó mà cai trị đất nước Việt Nam.

Đứng về mặt chính trị, từ thời nhà Hồ cho đến Hậu Lê lên ngôi, điều mà các vị vua này quan tâm không phải dân chúng, mà mối lo nghiêng về nhà Trần nhiều hơn. Bởi nếu muốn cho triều đại của dòng họ mình được lâu dài thì cái gì gắn bó với đời Trần cũng phải tách rời ra, vì thế Phật giáo Việt Nam ngang đây dần xuống dốc. Sự suy tàn đầu tiên này, tôi tạm gọi là giai đoạn Phật giáo thôn dã. Tức là ngang đây tu sĩ Phật giáo rút lui về rừng núi chuyên tu, trong triều đình chỉ có nhà nho, không còn hình bóng tăng lữ cùng chung lo việc nước nữa. Tới cuối đời Hậu Lê, Phật giáo khởi sắc lên được đôi chút, nhưng chủ yếu chỉ thấy các thiền sư từ Trung Hoa sang, mà không thấy thiền sư Việt Nam, nếu có chăng thì ở nơi rừng núi chứ không xuất hiện hoằng pháp ở bên ngoài.

6- Mốc thứ sáu: Phật giáo suy tàn lần hai 

Ở chặng suy tàn đầu tiên Phật giáo thối lui về rừng núi thôn dã, mãi đến thời Trịnh Nguyễn phân tranh, Phật giáo có tiến triển trở lại mà chưa rõ ràng, vẫn còn bị Nho giáo áp đảo. Mặc dù không phát triển được, nhưng Phật giáo vẫn có sức ảnh hưởng sâu trong lòng quần chúng thôn dã. Tới thời Pháp thuộc lại gặp một phen chí tử, Phật giáo không được thừa nhận là một Tôn giáo mà chỉ là một Hiệp hội. Tới đây Phật giáo đi xuống cùng tột, suy tàn ngót một thế kỷ. Chúng ta thấy rõ, lên thì từng bậc mà xuống rất nhanh, mới hai chặng đã tan nát rồi!

Thời kỳ đương đại của chúng ta, Phật giáo Việt Nam gần đây có sự trỗi dậy trở lại, tuy chưa đáng kể nhưng đã thấy khởi sắc đáng mừng. Sự phát triển và suy tàn của Phật giáo trên đất nước Việt Nam, nhìn tương đối là như vậy. Những dấu mốc thịnh suy mà tôi trình bày ở đây là theo cái nhìn chủ quan của một nhà tu, chỉ mang tính cách tham khảo mà thôi. Riêng đối với các vị học giả, những nhà nghiên cứu, tùy mỗi vị với cái nhìn khách quan mà có thể thấy khác hơn.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.