Nội dung:
Ban đầu Sư ở Long Tuyền thượng đường dạy chúng:
– Hòa thượng Tuyết Phong vì người như chim đại bàng cánh vàng bắt rồng ăn.
Có vị tăng ra hỏi:
– Hòa thượng thì thế nào?
Sư bảo:
– Ở nơi nào đi đến?
– Thế nào ý Tổ sư từ Ấn sang?
– Sao chẳng lễ bái đợi chừng nào?
– Thế nào là mật truyền tâm?
Sư lặng thinh giây lâu. Tăng thưa:
– Thế ấy luống nhọc lắng tai.
Sư gọi thị giả bảo:
– Hãy thắp lửa lên.
Ngài kế thừa tông Tào Động, đầu tiên ngài ở Long Tuyền dạy rằng: Hòa thượng Tuyết Phong vì người như chim đại bàng cánh vàng bắt rồng ăn. Tăng thắc mắc thưa: Còn Hòa thượng thì thế nào? Ngài bảo: Ở nơi nào đi đến?
Tăng hỏi: Hòa thượng thì thế nào, tức muốn biết hành vi, giáo hóa của ngài như thế nào mà ngài lại hỏi ở nơi nào đi đến? Câu hỏi đó hợp lý không? Thật là hợp lý. Ta thế nào nếu ngươi ở chỗ ta thì biết liền, như thời khóa của tôi thế nào thì mấy chú ở đây đều biết. Nếu mấy chú hỏi tôi thời khóa thế nào, tức là mấy chú ở đâu đến. Ở trong đó mà không biết tức là không phải ở trong đó, nên nói ở nơi nào đi đến?
Hỏi: Thế nào là ý Tổ sư từ Ân sang? Câu này là câu không trả lời, ngài nói: Sao chẳng lễ bái đợi chừng nào? Đó là trả lời khéo.
Tăng hỏi: Thế nào là mật truyền tâm ấn? Ngài im lặng, im lặng có mật truyền chưa? Tăng không hiểu nên nói: Thế ấy luống nhọc lắng tai. Như vậy là nhọc công tôi lắng tai nghe mà không được câu nào. Ngài gọi thị giả bảo: Hãy thắp lửa lên.
Tăng hỏi:
– Cổ nhân nói: “Nếu nhớ một câu luận, một kiếp làm dã hồ tinh”, chẳng biết ý cổ nhân thế nào?
Sư bảo:
– Nhà tăng Long Tuyền chưa từng khóa.
– Hòa thượng thế nào?
– Gió thổi bên tại.
Tăng dẫn câu cổ nhân nói: Nếu nhớ một câu luận, một kiếp làm dã hồ tinh. Câu đó khiến chúng ta nghi: nếu nhớ câu thế tục hoặc những câu không đúng đạo lý thì làm dã hồ tinh là phải, nhớ kinh nhớ luận tại sao thành dã hồ tinh? Đó là người xưa răn chúng ta chỉ học để thuộc để nhớ mà không lo tu, nay đến chỗ này công kích, mai đến chỗ kia khoe khoang, học Phật với tâm như thế thì thành dã hồ tinh. Nếu đem chỗ nhớ kinh điển của mình rồi công kích người này người kia, như thế gây thêm tội lỗi, không có lợi gì cả.
Tăng hỏi: Chẳng biết ý cổ nhân thế nào? Ngài đáp: Nhà tăng Long Tuyền chưa từng khóa, ở đây ngài không cấm việc đó.
Hỏi: Hòa thượng thế nào? Riêng Hòa thượng thì sao? Ngài đáp: Gió thổi bên tai. Ngài vẫn nghe kinh luận, nhưng nghe để tu chứ không nhớ không giữ, nên nói như gió thổi bên tai.
Tăng hỏi:
– Thế nào là một câu trước tiếng?
Sư đáp:
– In tuồng chẳng nói.
– Cổ nhân nói: “Như một hạt tuyết trên lò lửa”, ý chỉ thế nào?
Sư bảo:
– Khéo tiếc giữ lông mày.
– Chỉ dạy thế nào liền chẳng lầm trong thời gian?
– Không thể trên tuyết lại thêm sương.
– Thế ấy là toàn nhân nơi Hòa thượng?
– Nhân cái gì?
Tăng hỏi: Thế nào là một câu trước tiếng? Trước tiếng có câu không? Ngài đáp: In tuồng chẳng nói, trước tiếng tức là chưa mở miệng nói.
Tăng hỏi: Cổ nhân nói: “Như một hạt tuyết trên lò lửa”, ý chỉ thế nào? Chư Tổ thường nói mạng sống chúng ta như một hạt tuyết trên lò lửa, vừa rơi xuống liền khô. Thân huyễn này đối với thể chân thật của mình không có nghĩa lý, không thấm vào đâu. Vì thế dẫn lời cổ nhân nhắc cho thấy thể chân thật rộng lớn thênh thang, huyễn thân hiện hữu chẳng khác nào hạt tuyết rơi trên lò lửa. Đó là phương tiện dạy chúng ta biết thân này tạm bợ.
Ngài trả lời: Khéo tiếc giữ lông mày. Khi các thiền sư muốn dùng phương tiện chỉ dạy, thường nói “Lão tăng không tiếc mấy sợi lông mày”, lông mày tức là phương tiện. Tại sao? Mắt là cứu cánh, lông mày chỉ che bụi ngừa mồ hôi là phương tiện phụ, không phải cứu cánh.
Tăng hỏi: Chỉ dạy thế nào liền chẳng lầm trong thời gian? Ngài đáp: Không thể trên tuyết lại thêm sương. Đây tạm ví dụ như những trận mưa đá và những hạt sương buổi sáng. Hai cái đó tuy khác nhưng tạm bợ như nhau. Tuyết rơi xuống rồi tan, sương không thành khối, rơi xuống cũng tan. Ý nói thời gian cũng như vậy, tạm bợ không thật. Người tu chân chính thấy thời gian không thật, đã không thật mà muốn đừng lầm đừng kẹt trong thời gian, đúng hay sai? Vì vậy ngài nói: Không thể trên tuyết lại thêm sương.
Tăng hỏi thêm: Thế ấy là toàn nhân nơi Hòa thượng? Như vậy cái gì cũng nhân nơi Hòa thượng. Ngài đáp: Nhân cái gì?
Có khi Sư đưa gậy lên chỉ chúng:
– Từ trước vẫn lưu lại một đường phương tiện này để tiếp người.
Vị tăng ra hỏi:
– Hòa thượng lại đứng đầu đường vậy.
Sư bảo:
– Tạ nhau xong.
Đường phương tiện này là cây gậy hay là gì? Có vị tăng hỏi ngài Càn Phong: Kinh Lăng-nghiêm nói, Thập phương Bạc-già-phạm nhất lộ Niết-bàn môn, mười phương chư Phật có một con đường vào cửa Niết-bàn. Bạch Hòa thượng! Đầu đường ở chỗ nào? Ngài Càn Phong cầm cây gậy vạch một đường nói: Đầu đường ở đây. Đầu đường ở chỗ cây gậy đưa lên hoặc phất tử đưa lên. Đó là phương tiện, nên ngài Huyền Ngộ nói, lưu lại một phương tiện. Tăng ra hỏi: Hòa thượng lại đứng đầu đường vậy. Nếu lưu lại phương tiện tức là ngài đứng đầu đường chỉ.
Tăng hỏi:
– Thế nào là Văn-thù?
Sư đáp:
– Không có mặt trăng thứ hai.
– Việc hiện giờ thế nào?
– Chính là mặt trăng thứ hai.
Hỏi: Thế nào là Văn-thù? Ngài đáp: Không có mặt trăng thứ hai. Văn-thù là căn bản trí, nên nói không có mặt trăng thứ hai. Kinh Lăng-nghiêm nói, tánh thấy tánh nghe là mặt trăng thứ hai kề cận bên mặt trăng thật, nó không phải là bóng mặt trăng. Căn bản trí là mặt trăng thật, vì ấn mắt nên thấy có mặt trăng lòe ra, gọi là mặt trăng thứ hai. Từ căn bản trí khởi diệu dụng thấy nghe… nên nói không phải là mặt trăng thứ hai. Tăng hỏi: Việc hiện giờ thế nào? Hiện giờ mắt thấy tai nghe thế nào? Ngài đáp: Chính là mặt trăng thứ hai.
Tăng hỏi:
– Thế nào là lời Như Lai?
Sư đáp:
– Gió mạnh có dây trói.
– Thế nào là diệu minh chân tánh?
– Rộng rãi chớ bóp hẹp.
Tại sao hỏi lời của Như Lai mà ngài đáp: Gió mạnh có dây trói? Có dính dáng gì không? Những lời Phật dạy là phương tiện nhắc nhở chúng ta thức tỉnh tu hành, lời của ngài không phải là cứu cánh. Đa số chúng ta lại cho lời đó là cứu cánh, nên ngài nói: Gió mạnh có dây trói. Gió mạnh là chỉ cho những lời Phật dạy tôn quý như gió mạnh. Nhưng bởi tôn quý quá nên chúng ta tự cột trói mình trong đó, không chịu ứng dụng. Điều này thấy quá rõ, ngày nào cũng tụng lời Phật, tụng rồi xá lui xuống, cho là tôi tu rồi. Như vậy cứ làm hoài suốt đời, chừng nào thành Phật? Tụng lời Phật có thành Phật được không? Đó là chỗ thiết yếu để thấy việc tu của mình không đi đến cứu cánh vì còn bị trói.
Tăng hỏi: Thế nào là điệu minh chân tánh? Đây là danh từ trong kinh Lăng-nghiêm, diệu minh chân tánh là thể tánh nhiệm mầu sáng suốt trùm khắp. Ngài đáp: Rộng rãi chớ bóp hẹp. Thể tánh ấy vốn rộng rãi, nhưng nếu ông chấp trên ngôn ngữ, đó là bóp hẹp nó rồi.
Sư thượng đường giây lâu. Có vị tăng bước ra hỏi:
– Vì chúng kiệt lực, họa ra cửa tư, chưa biết tha lỗi, chẳng tha lỗi?
Sư vẫn lặng thinh.
Tại sao nói Vì chúng kiệt lực họa ra cửa tư? Tư tức là riêng, nghĩa là mình đem hết sức vì chúng thì cái họa riêng mình mang lấy. Tại sao? Ngài Huệ Tư nói, nếu không vì chúng giáo hóa thì ta đã chứng được Kim địa, nhưng vì lo cho chúng mà ta xuống Ngân địa. Như vậy có phải họa ra cửa tư không? Đây cũng vậy, nếu vì chúng mà dùng tất cả phương tiện để chỉ bày chỗ chân thật, tự mình đã hạ thấp, là lỗi của mình.
Tăng hỏi tiếp: Chưa biết tha lỗi, chẳng tha lỗi? Ngài im lặng.
Thượng tọa Tiến hỏi:
– Thế nào là chánh chủ Kim Phong?
Sư đáp:
– Đây cách trấn huyện chẳng xa, Xà-lê chớ vội vàng.
– Sao chẳng nói?
– Miệng như bàn đá.
-Ngàn phong muôn phong, thế nào là Kim Phong?
Sư bèn vỗ trán rồi thôi.
Thượng tọa Tiến hỏi: Thế nào là chánh chủ Kim Phong? Nếu tôi là thiền sư, có người đến gặp tôi hỏi: “Thế nào là chủ thiền viện Thường Chiếu?” Đó là câu hỏi thẳng tìm chủ.
Ngài đáp: Đây cách trấn huyện chẳng xa, Xà-lê chớ vội vã. Chỗ đó không ngôn ngữ, không tên mà hỏi có tên là vội vàng. Tăng nói: Sao chẳng nói? Ngài nói: Miệng như bàn đá. Chỗ đó không mở miệng được làm sao nói.
Tăng hỏi thêm: Ngàn phong muôn phong, thế nào là Kim Phong? Ngài bèn vỗ trán, Kim Phong ở chỗ đó.
Sư đưa chiếc gối chỉ Tăng bảo:
– Tất cả người gọi là chiếc gối, Kim Phong nói chẳng phải.
Tăng thưa:
– Chẳng biết Hòa thượng gọi là gì?
Sư cầm chiếc gối đưa lên. Tăng thưa:
– Như thế thì y đó mà hành?
Sự hỏi:
– Ngươi kêu là gì?
– Chiếc gối.
– Rơi trong hang Kim Phong.
Ngài đưa chiếc gối nói, người ta gọi là chiếc gối, nhưng ngài nói không phải. Tăng hỏi: Nếu không phải chiếc gối, Hòa thượng gọi nó là gì? Ngài đưa chiếc gối lên không nói tên, đó là đưa lên để chỉ. Tăng nói: Như vậy y đó mà hành được rồi. Ngài dè dặt không biết ông tăng này hiểu chưa, nên hỏi lại: Ngươi kêu là gì? Tăng nói: Chiếc gối. Như vậy biết ông không y đó mà hành, nên nói: Rơi trong hang Kim Phong.
Tăng hỏi:
– Thân này vô tri như cây đất ngói đá, ý này thế nào?
Sư bước xuống giường thiền lại nắm lỗ tai vị tăng ấy vặn. Tăng đau quá la lên. Sư bảo:
– Ngày nay mới nắm được cái vô tri. Tăng lễ bái đi ra. Sư gọi:
– Xà-lê!
Tăng xoay đầu lại. Sư bảo:
– Nếu vào nhà tăng không được nói lại. Tăng hỏi:
– Vì sao?
Sư bảo:
– Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà.
Đây là chỗ đặc biệt của ngài. Tăng vụng về cho rằng, thân này vô tri như cây đất ngói đá, còn có một cái riêng, là thế nào? Đó là tách rời hai bên, tâm và vật, thân này là vật còn bên kia là tâm.
Câu hỏi đã sai lầm nên ngài không đáp, chỉ cần nắm lỗ tai vặn mạnh, Tăng đau quá la lên. Ngài nói: Bắt được cái vô tri. Vô tri sao biết la? Để thấy chỗ lầm của Tăng, không có tâm ngoài thân, nói thân này vô tri như cây đá là sai lầm. Ngài chỉ cần vặn lỗ tai một cái biết đau liền la lên. Như vậy bắt được vô tri hay bắt được hữu tri?
Khi đó Tăng lễ bái, tưởng hiểu được chỗ ngài dạy, nhưng thật ra chưa hiểu. Ngài muốn đem hết lòng từ bi mà giúp, nên liền gọi: Xà-lê! Tăng xoay đầu lại mà không biết gì. Ngài nói: Nếu vào nhà tăng không được nói lại. Nghe câu đó thì phải biết mà lễ bái ngài rồi đi, Tăng còn thắc mắc tại sao không cho nói lại. Ngài nói: Sẽ có nhiều người cười Kim Phong tâm lão bà, cười tôi vì ông quá mức.
Sư thượng đường:
– Sự còn giấu kín hộp, lý nên tên nhọn chống. Có người nói được chăng? Nếu có người nói được, Kim Phong sẽ chia nửa viện cho ở.
Có vị tăng bước ra làm lễ. Sư bảo:
– Gặp nhau dễ được tốt, ở chung khó vì người. Sư bèn xuống tòa.
Đoạn này ngài nói: Sự còn giấu kín hộp, lý nên tên nhọn chống. Sự còn giấu kín, là việc này mọi người đều sẵn đủ mà không thấy, giống như ở trong hộp đậy nắp. Muốn việc ấy hiển lộ thì dùng mũi tên nhọn khơi ra. Mũi tên nhọn là trí tuệ, muốn thấy được nó thì phải có trí tuệ mới nhận ra.
Ngài nói, nếu có người nói được sẽ chia nửa viện cho. Khi đó có vị tăng bước ra lễ bái, tức là tỏ ra nói được. Ngài liền bảo: Gặp nhau dễ được tốt, ở chung khó vì người.
Câu này tương tự câu châm ngôn của Trung Hoa “Trường đồ tri mã lực, sự cửu kiến nhân tâm”, đường dài biết sức ngựa, ở lâu biết lòng người. Gặp nhau qua loa thì ai cũng tốt, huynh nào cũng dễ thương, ở chung năm bảy năm chừng đó mới thấy cái dễ ghét bày ra. Vì thế ngài nói ở lâu mà được tốt đẹp là việc rất khó, gặp đôi ba ngày tốt đẹp dễ. Mượn một câu châm ngôn để nói với vị tăng rằng, ông nghe rồi tạm hiểu, tưởng như vậy là dễ, nhưng đi sâu vô mới thấy chuyện đó chưa chắc ông đã hiểu.
Sư hỏi Tăng:
– Ra đi từ đâu?
Tăng thưa:
– Từ Triệu Châu.
Sự hỏi:
– Triệu Châu nối pháp ai?
Tăng thưa:
– Nam Tuyền.
Sư bảo:
– Ông đâu phải từ Triệu Châu đi?
Tăng thưa:
– Chẳng biết tôn ý Hòa thượng thế nào?
Sư bảo:
– Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Đến chiều giờ thưa thỉnh, Tăng thưa:
– Sáng này nhờ ơn Hòa thượng từ bi mà con chưa hội, thỉnh Hòa thượng chỉ dạy.
Sư bảo:
Nếu đến chỗ khác, chớ nói câu sau của Kim Phong.
Tăng hỏi:
– Vì sao thế?
Sư bảo:
– E làm nhục Triệu Châu.
Đoạn này nghe rất lạ. Khi hỏi Triệu Châu nối pháp ai? Chúng ta đều biết ngài nối pháp Nam Tuyền. Tại sao ngài Kim Phong bảo: Ông đâu phải từ Triệu Châu đi. Tăng hỏi: Chẳng biết tôn ý Hòa thượng thế nào? Ngài lặp lại: Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Tại sao Tăng đáp trúng mà ngài lại chê? Tất cả thiền sư khi thầy trò kế thừa nhau, chỉ là trên hình thức sự tướng, còn trong chỗ chân thật không ai trao cho ai được. Như ngài Tuyết Phong, Tăng hỏi: “Ngài ở Đức Sơn nhận được gì?”, ngài trả lời: “Ta đi tay không, về tay không.” Không có gì để trao và nhận, nếu có thì đó chỉ là hình thức bên ngoài.
Trên chỗ đất thật không ai trao cho ai, có gì gọi là kế thừa, có gì gọi là nối pháp? Nhưng trên sự tướng cũng không thể nói không. Vì thế, ban đầu ngài hỏi chỗ thật, Tăng không biết, trả lời về sự tướng, ngài chê. Khi Tăng hỏi lại thì ngài nói theo sự tướng: Triệu Châu thật nối pháp Nam Tuyền.
Đến chiều, Tăng thắc mắc, thưa hỏi lại: Sáng này nhờ ơn Hòa thượng từ bi mà con chưa hội, thỉnh Hòa thượng chỉ dạy. Ngài nói: Nếu đến chỗ khác, chớ nói câu sau của Kim Phong. Tăng hỏi: Vì sao thế? Ngài bảo: E làm nhục Triệu Châu. Nói Triệu Châu nối pháp Nam Tuyền là làm nhục Triệu Châu. Triệu Châu không có cái đó sao phải đợi thầy cho mới được gọi là kế thừa? Ý của ngài rõ ràng.
Tăng hỏi:
– Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Sư đáp:
– Trước cửa Kim Phong không có tấm bảng năm dặm.
Gia phong của ngài là chỉ cho đạo lý trong tông môn hay là dòng phái của ngài thừa kế. Cái đó không có tướng mạo, không có danh tự. Đã không có thì làm sao có tấm bảng? Vì vậy ngài nói: Trước cửa Kim Phong không có tấm bảng năm dặm.
Về sau Sư trụ tại viện Báo Ân ở Kim Lăng và tịch tại đây.
Vua phong thụy là Viên Quảng thiền sư, tháp hiệu Quy Tịch.
Sư trụ trì tại viện Hoa Nghiêm ở núi Lộc Môn.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là gia phong của Hòa thượng?
Sư đáp:
– Có muối không giấm.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đạo nhân?
Sư đáp:
– Có miệng giống hệt lỗ mũi.
Tăng hỏi:
– Chợt gặp khách đến, đem cái gì đối đáp?
Sư bảo:
– Cổng gỗ cửa lá cảm ơn ông đi qua.
Ba câu đối đáp của ngài Xử Chơn gọi là không động lưỡi. Hỏi: Thế nào là gia phong của Hòa thượng? Ngài nói: Có muối không giấm. Hỏi: Thế nào là đạo nhân? Ngài đáp: Có miệng giống hệt lỗ mũi
Tăng hỏi:
– Tổ Tổ tương truyền, truyền vật gì?
Sư bảo:
– Ca-sa kim lan.
Tăng hỏi:
– Thế nào là Bát-nhã trong rương?
Sư bảo:
– Trong điện Phật để sáu trăm quyển.
Tăng hỏi:
– Sau khi Hòa thượng trăm tuổi sẽ đi về đâu?
Sư đáp:
– Làm con trâu nhà họ Lý ở dưới núi.
Tăng thưa:
– Cho con cùng đi theo được chăng?
Sư bảo:
– Nếu ông đi theo chớ giống đầu mọc sừng.
Tăng đáp: – Dạ!
Sự hỏi:
– Nên đến chỗ nào?
Tăng thưa:
– Con mắt Phật biện còn chẳng được.
Sư bảo:
– Nếu chẳng bỏ qua cũng là mờ mờ.
Tăng muốn biết cội nguồn thật thể mà chư Phật chư Tổ truyền nhau, nên hỏi: Tổ Tổ tương truyền, truyền vật gì?
Truyền thuyết nói rằng tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa gặp tổ Huệ Khả, thầy trò cảm thông nhau, ngài truyền tâm ấn rồi sau truyền y bát để làm biểu tín. Biểu tín là vật bên ngoài để mọi người tin rằng giữa tổ Đạt-ma là người Ấn và Huệ Khả là người Hoa có sự cảm thông nhau, có y kim lan và chiếc bát làm bằng chứng. Y bát ấy không có giá trị tâm ấn, chỉ có giá trị chứng minh rằng người đó được truyền thật, có bằng cứ.
Hỏi: Thế nào là Bát-nhã trong rương? Đây không phải hỏi kinh Bát-nhã để trong rương, mà hỏi về trí tuệ Bát-nhã còn phủ kín chưa hiển lộ. Ngài lại trả lời: Trong điện Phật để sáu trăm quyển, kinh Đại Bát-nhã sáu trăm quyển đang để trong điện Phật. Như vậy người hỏi nhắm lý sâu, ngài đáp sự tướng bên ngoài.
Ngài Tào Sơn nói có ba thứ đọa, nên câu đáp của ngài: Làm con trâu nhà họ Lý ở dưới núi, là “loại đọa”, đi trong dị loại. Tăng hỏi: Cho con cùng đi theo được chăng? Ngài bảo, nếu muốn đi theo ngài thì chớ giống đầu mọc sừng. Sao vậy? Làm trâu không cho mọc sừng làm sao thành trâu. Chỗ “loại đọa” này là chỉ cho người đi trong lục đạo mà không nhiễm không dính mắc. Làm trâu không có sừng, là trâu mà không phải trâu. Đó là ý nghĩa nếu ông đi trong lục đạo mà không nhiễm thì đi theo ta, nếu nhiễm thì đừng theo.
Tăng “Dạ”, tỏ rằng mình hiểu. Ngài hỏi: Nên đến chỗ nào? Đến chỗ nào để gặp nhau. Tăng thưa: Chỗ đó con mắt Phật biện còn chẳng được. Vị tăng này thật thông minh thấy rõ, nhưng ngài còn dè dặt, nói một câu: Nếu chẳng bỏ qua cũng là mờ mờ. Nếu ông thấy vậy mà còn chấp chặt thì e cũng mờ mờ.
Tăng hỏi:
– Thế nào là thiền?
Sư đáp:
– Loan phượng vào lồng gà.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư đáp:
– Tơ sen cột voi lớn.
Tăng hỏi:
– Khi kiếp hoại cái này có hoại chăng?
Sư đáp:
– Bên đồi dòm mắt cọp, khắp nơi một trường sầu. Tăng hỏi:
– Thế nào là chỗ Hòa thượng chuyển thân?
Sư đáp:
– Canh ba đêm qua rơi mất chiếc gối.
Tất cả lối đáp của ngài đều không cho suy nghĩ, không có chỗ để tâm tư duyên theo. Tăng hỏi: Thế nào là đạo? Ngài nói: Tơ sen cột voi lớn. Tơ sen là sợi tơ kéo ra từ cọng sen, dùng chỉ đó cột con trùng còn không được, làm sao cột voi lớn? Đó là lối nói không cho suy nghĩ.
Tăng hỏi: Thế nào là chỗ Hòa thượng chuyển thân? Người tu là chuyển phàm thành thánh, hỏi chỗ Hòa thượng chuyển thân là hỏi chỗ xoay phàm thành thánh của ngài. Ngài liền đổi qua hình thức rất tầm thường, nói: Canh ba đêm qua rơi mất chiếc gối. Hôm qua giữa đêm, tôi ngủ lăn mình rớt chiếc gối xuống sàn. Lăn mình tức là xoay chuyển thân. Ngài dùng lời nói bình dị để trả lời câu hỏi có ý cao sâu.
Sư có làm bài kệ dạy chúng:
Nhất phiến ngưng nhiên quang xán lạn
Nghĩ ý truy tầm tốt nan kiến
Bình nhiên trịch trước khoát nhân tình
Đại sự phân minh giai tổng biện.
Thị khoái hoạt, vô hệ bạn
Vạn lượng hoàng kim chung bất hoán
Nhậm tha thiên thánh xuất đầu lại
Tùng thị hướng cừ ảnh trung hiện.
Dịch:
Một mảnh lóng trong sáng khắp trời
Để lòng tìm kiếm cách xa vời
Rõ ràng ném hết nhân tình rỗng
Việc lớn phân minh thảy biện rồi.
Thật là vui sống, không buộc ràng
Muôn lượng vàng ròng đổi chẳng màng
Mặc tình ngàn thánh hiện ra đời
Từ ấy theo y trong bóng vàng.
Bài kệ này, hai câu đầu ngài chỉ cho chúng ta thấy thể chân thật sẵn có trong sáng trùm khắp. Nếu khởi tâm tìm kiếm thì càng cách xa.
Hai câu tiếp theo, ý nói muốn được gần nó thì phải sao? Ném hết tất cả nhân tình được rỗng rang, chỗ khác gọi là vô sự. Lúc đó việc lớn rõ ràng hiện trước mắt.
Hai câu năm và sáu nói, khi nhận được tâm mình rõ ràng, thênh thang trùm khắp thì liền sống vui vẻ không gì ràng buộc. Nhận được của báu nhà mình, dù đem bao nhiêu vàng ròng đánh đổi, mình cũng không cần, không màng đến.
Hai câu cuối cùng nói, có Phật hiện ra đời, mình cũng vẫn sống trong bóng của y. Bóng của y tức là thể chân thật, chúng ta cứ nương theo đó mà sống, không tìm Phật, không cầu Thánh ở ngoài.
Sư trụ trì Nam Viện của thiền viện Bảo Ứng ở Nhữ Châu, nên gọi là Nam Viện Huệ Ngung, cũng gọi là hòa thượng Bảo Ứng.
Sư thượng đường dạy chúng:
– Trên cục thịt đỏ vách đứng ngàn nhẫn.
Có vị tăng hỏi:
– Trên cục thịt đỏ vách đứng ngàn nhẫn, đâu chẳng phải lời của Hòa thượng?
Sư đáp:
– Phải.
Vị tăng ấy liền giở giường thiền. Sư bảo:
– Con lừa mù này.
Liền đánh.
Thiền sư Huệ Ngung hiệu Bảo Ứng ở Nam Viện là đệ tử thuộc tông Lâm Tế. Tổ Lâm Tế nói, trên cục thịt đỏ có vô vị chân nhân, ngài Huệ Ngung nói: Cục thịt đỏ trên vách đứng ngàn nhẫn, cục thịt đỏ cao vót không thể với tới được. Tăng hỏi, câu đó phải là lời Hòa thượng không? Ngài nói: Phải. Tăng liền giở giường thiền. Ngài đánh, nói: Con lừa mù này.
Sư hỏi vị tăng mới đến:
– Vừa rời nơi nào đến
Tăng thưa:
– Vừa rời Trường Thủy.
Sư bảo:
– Đi dòng đông hay dòng tây?
Tăng thưa:
– Thảy không thế ấy.
Sư hỏi:
– Làm sao?
Tăng trân trọng. Sư liền đánh, đuổi xuống pháp đường.
Vị tăng này tương đối khéo. Ngài hỏi vừa rời chỗ nào, Tăng thưa: Vừa rời Trường Thủy. Trường Thủy là tên địa phương, cũng có nghĩa là sông dài. Ngài hỏi: Đi dòng đông hay dòng tây? Đưa ra hai dòng để thử xem vị tăng này thoát được không? Tăng lanh lẹ nói: Thảy không thể ấy, không di dòng đồng dòng tây.
Ngài hỏi: Làm sao? Nếu không đi dòng đông hay dòng tây làm sao tới đây? Tăng trân trọng kính chào. Ngài đánh, đuổi xuống pháp đường, tức chấp nhận.
Sư hỏi Tăng:
– Vừa rời nơi nào đến?
Tăng thưa:
– Vừa rời Tương Châu.
Sự hỏi:
– Đến làm gì?
Tăng thưa:
– Riêng đến lễ bái Hòa thượng.
Sư bảo:
– Dường như lão Bảo Ứng chẳng ở đây. Tăng liền hét! Sư bảo:
– Đã nói với ông chẳng có ở đây, lại hét làm gì?
Tăng lại hét! Sư liền đánh. Tăng lễ bái. Sư bảo:
– Gậy này bổn phận ngươi đánh ta, mà ta lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.
Ngài vừa cùng Tăng đối đáp mà nói dường như không có ở đây, Tăng làm sao? Tăng hét thì ngài đánh. Tăng lễ bái, ngài nói lẽ ra gậy đó ông đánh ta, nhưng ta lại đánh ông.
Trong nhà thiền, nếu người đối diện không nhận chính mình, muốn người đó hiển lộ thì đập một gậy thử xem có mặt hay không. Tăng không dám đập chỉ hét thôi, hét thì ngài đánh. Đó là lẽ ra ông đánh ta, nhưng ông không đánh ta thì ta đánh ông.
Hòa thượng Tư Minh khi chưa trụ Tây Viện đến tham vấn Sư, lễ bái xong, nói:
– Không có vật gì tốt khác, từ Hứa Châu mua được dao cạo Giang Tây đến hiến Hòa thượng.
Sư hỏi:
– Ông từ Hứa Châu đến, nơi nào mua được dao cạo Giang Tây?
Tư Minh nắm tay Sư, bấm một cái. Sư bảo:
– Thị giả nhận lấy.
Tư Minh phải áo ra đi. Sư nói:
– A la la!…
Hai vị đều là hàng tác gia. Người kia đến thăm người này, nói rằng tôi ở Hứa Châu đến, không có gì tặng huynh, mua được dao cạo ở Giang Tây tặng huynh. Giang Tây là chỗ của Mã Tổ.
Ngài hỏi, ông từ Hứa Châu đến, mua được dao cạo Giang Tây ở chỗ nào? Ngài Tư Minh liền nắm tay bấm một cái, dao cạo Giang Tây của tôi là đây. Ngài Huệ Ngung kêu thị giả nhận lấy. Nếu lúc đó mấy chú làm thị giả thì làm sao nhận? Ông kia phải áo đi, ngài cười: A la la!
Sư thượng đường nói:
– Các nơi chỉ đủ con mắt thốt trác đồng thời, mà chẳng đủ dụng thốt trác đồng thời.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là dụng thốt trác đồng thời?
Sư đáp:
– Tác gia thấy nhau chẳng thốt trác thì thốt trác đồng thời mất.
Tăng thưa:
– Đây vẫn chưa phải chỗ con hỏi.
Sư hỏi:
– Chỗ ngươi hỏi thế nào?
Tăng thưa:
– Mất.
Sư liền đánh. Vị tăng ấy chẳng chấp nhận.
Sau vị tăng ấy ở trong hội Vân Môn nghe hai vị tăng nhắc lại nhân duyên này. Một vị tăng nói: “Đương thời gậy Nam Viện gãy.” Ông nghe lời nói này hốt nhiên đại ngộ, mới thấy chỗ đáp của Nam Viện. Ông bèn trở về Nhữ Châu yết kiến Sư, Sư đã quy tịch. Ông đến thưa hỏi Phong Huyệt. Phong Huyệt nhận ra liền hỏi:
– Thượng tọa khi xưa hỏi Tiên sư câu thốt trác đồng thời đây chăng?
Tăng thưa:
– Phải.
Phong Huyệt hỏi:
– Hội chưa?
Tăng đáp:
– Hội.
Phong Huyệt hỏi:
– Ông khi ấy hội thế nào?
Tăng nói:
– Tôi khi ấy in tuồng đi trong bóng đèn.
Phong Huyệt nói:
– Ông hội.
Thốt trác là gà con ở trong vỏ trứng, đủ lông đủ cánh kêu chíp chíp, gà mẹ liền mổ vỏ cho con chui ra, gọi là thốt trác đồng thời. Ngài nói, các nơi đủ con mắt thất trác đồng thời, mà không đủ dụng thốt trác đồng thời.
Tăng hỏi: Thế nào là dụng thốt trác đồng thời? Ngài nói: Hàng tác gia thấy nhau chẳng thốt trác thì thốt trác đồng thời mất. Khi hàng tác gia gặp nhau có sự cảm thông tương ứng, nếu không tương ứng thì mất dụng thốt trác đồng thời.
Tăng nói, đó chưa phải là chỗ con hỏi. Ngài hỏi: Chỗ ngươi hỏi thế nào? Tăng nói: Mất. Ngài liền đánh. Nói mất như thế, đánh là phải rồi, nhưng ông tăng không chấp nhận.
Sau vị tăng ấy ở trong hội Vân Môn nghe hai vị tăng nhắc lại nhân duyên này. Một vị tăng nói: Đương thời gậy Nam Viện gãy. Ông nghe lời nói này hốt nhiên đại ngộ. Chừng đó mới hiểu chỗ đáp của Nam Viện, bèn trở về Nhữ Châu yết kiến ngài. Ngài đã quy tịch, Tăng đến thưa hỏi Phong Huyệt. Phong Huyệt nhận ra liền hỏi: Thượng tọa khi xưa hỏi Tiên sư câu thốt trác đồng thời đây chăng? Tăng thưa: Phải. Phong Huyệt hỏi: Hội chưa? Đáp: Hội. Phong Huyệt hỏi: Ông khi ấy hội thế nào? Tăng nói: Tôi khi ấy in tuồng đi trong bóng đèn. Phong Huyệt nói: Ông hội. Cây đèn tỏa ánh sáng chiếu khắp, nhưng không chiếu đến được phía dưới chụp đèn nên để lại cái bóng cây đèn.
Sư quê ở Côn Sơn quận Ngô, cha làm nghề mua bán. Sư theo cha đến Dự Chương nghe các thiền hội thạnh hành, liền xin xuất gia.
Sư đến Giang Hạ yết kiến đại sư Thanh Bình. Thanh Bình hỏi:
– Ngươi đến cầu cái gì?
Sư thưa:
– Cầu pháp.
Thanh Bình cho là lạ, chấp nhận vào chúng. Sư được thọ giới, thờ thầy rất thuần cẩn.
Một hôm Sư tự bảo: “Ông thầy học vô thường, há lại trói buộc ở đây ư?” Sư liền từ tạ thầy đi du phương.
Thiền sư Toàn Phó hiệu Thanh Hóa. Ngài được thọ giới, thờ thầy rất thuần cẩn. Một hôm tự bảo: Ông thầy học vô thường, há lại trói buộc ở đây ư? Tại sao gọi là thầy học vô thường? Chúng ta học giáo lý của Phật, bài pháp đầu tiên là Tứ đế, trước nhất nói về Khổ đế. Đó là học vô thường, đã là vô thường, không có gì bền chắc, đâu cần trói buộc một nơi. Vì thế ngài từ tạ xin đi du phương.
Đến Nghi Xuân, Sư yết kiến thiền sư Quang Dũng. Quang Dũng hỏi:
– Từ đâu đến?
Sư thưa:
– Từ Ngạc Châu đến.
Quang Dũng hỏi:
– Sứ quân Ngạc Châu tên gì?
Sư thưa:
– Ở đất Hóa chẳng dám xúc phạm.
Quang Dũng bảo:
– Ở
– Ở đây chẳng sợ.
Sư thưa:
– Đại trượng phu đâu cần thử nhau.
Quang Dũng vui vẻ cười to.
Sư dừng lại đây và thâm ngộ tông chỉ, được Quang Dũng ấn khả.
Khi đến chỗ thiền sư Quang Dũng, ngài hỏi, ông ở đâu đến, nói: Từ Ngạc Châu đến. Quang Dũng hỏi: Sứ quân Ngạc Châu tên gì? Nói: Ở đất Hóa chẳng dám xúc phạm. Như chúng ta ở tỉnh Biên Hòa, về Cần Thơ học đạo. Đến đó, thầy hỏi: “Ở đâu đến?” Thưa: “Ở Biên Hòa xuống.” Hỏi: “Ông tỉnh trưởng Biên Hòa tên gì?” Trả lời tên Nguyễn Văn A, Nguyễn Văn B… Nhưng đây hỏi tên tỉnh trưởng, không phải hỏi thật, các ngài muốn mượn việc thế gian để nói việc kia. Hỏi ông tỉnh trưởng là hỏi ông chủ của mình.
Ngài nói: Ở đất Hóa không dám xúc phạm. Chỗ đó không thể nói tên. Ngài Quang Dũng nửa tin nửa ngờ, có thể ông tăng này thấy được lý thiền, cũng ngờ vì ở đất đó nên không dám nói. Ngài nói: Ở đây chẳng sợ, đây là tỉnh khác không sợ ai bắt lỗi.
Ngài Toàn Phó thưa: Đại trượng phu đâu cần thử nhau. Đại trượng phu biết nhau là đủ, đâu cần thử. Ngài Quang Dũng vui vẻ cười to. Đối đáp rất hay nên được ấn khả.
Sau, Sư dạo Lê Lăng, quan huyện An Phước lập thiền uyển Ứng Quốc thỉnh Sư trụ trì. Học chúng đua nhau đến tham vấn, ở đây trở thành thiền hội hưng thịnh. Nhà vua nghe tiếng ban cho Sư hiệu Thanh Hóa.
Tăng hỏi:
– Thế nào là chỗ Hòa thượng cấp thiết vì người?
Sư đáp:
– Sáng nhìn đông nam, chiều nhìn tây bắc.
– Chẳng hội.
– Luống khoe khách Đông Dương mà không biết vật báu Tây Dương.
– Thế nào là chánh pháp nhãn?
– Không thể ban ngày mà đái trên giường.
Không thể ban ngày mà đái trên giường, tức là không thể ban ngày mà đái dầm. Hỏi chỗ cấp thiết vì người, là chỗ tha thiết vì người, ngài nói: Sáng nhìn đông nam, chiều nhìn tây bắc. Tăng thưa: Chẳng hội. Như thế là khách Đông Dương mà không biết vật báu Tây Dương. Làm khách bên Đông không biết ngọc quý ở đây. Qua câu đó ngài đã chỉ chưa?
Tăng lại hỏi thêm: Thế nào là chánh pháp nhãn? Chánh pháp nhãn là con mắt chánh pháp, con mắt này ai cũng có, chỉ tự mình mở sáng cho mình. Chỗ này không có hình tướng, không có ngôn ngữ văn tự, mà hỏi thế nào, chẳng phải đái dầm ban ngày là gì?
Về sau, có vị tăng đồng hương khuyên Sư trở về cố hương. Văn Mục Vương đặc biệt quý trọng Sư. Nhà Hậu Tấn niên hiệu Thiên Phước năm thứ hai (937), Văn Mục Vương khai phá ngọn núi Vân Phong lập thiền viện cũng để Thanh Hóa, thỉnh Sư trụ trì. Nơi đây pháp lữ đông vầy.
Tăng hỏi:
– Hòa thượng được bao nhiêu tuổi?
Sư đáp:
– Mới thấy năm rồi chín tháng chín, hiện nay lại thấy lá thu vàng.
– Thế ấy tức là vô số?
– Hỏi lấy lá vàng.
– Cứu cánh việc thế nào?
– Sáu hột xí ngầu đầy bồn đỏ.
Hỏi tuổi, nếu trả lời bao nhiêu tuổi là còn chấp thân thật, thời gian thật. Các ngài thấy thân này không phải ta, còn một cái không hình tướng không tên tuổi. Ngài nói: Mới thấy năm rồi chín tháng chín, hiện nay lại thấy lá thu vàng. Các thiền sư thường đối đáp như vậy.
Vua Lý Thái Tông hỏi thiền sư Thiền Lão ở núi này bao lâu. Ngài đáp: “Chỉ biết ngày tháng này, ai rành xuân thu trước.”
Một thiền sư Nhật Bản với một Sư tu Tịnh độ. Thiền sư hỏi Tịnh sư: “Năm nay Thầy bao nhiêu tuổi?” Đáp: “Tuổi tôi bằng tuổi đức Di-đà.” Hỏi: “Đức Di-đà bao nhiêu tuổi?” Đáp: “Đức Di-đà bằng tuổi tôi.” Người chân thật hiểu nhau đối đáp trên lý thật, không chấp hình tướng.
Tăng nói: Thế ấy tức là vô số? Ngài bảo, hỏi lá vàng đáp cho. Hỏi: Cứu cánh việc thế nào? Ngài nói: Sáu hột xí ngầu đầy bồn đỏ. Hột xí ngầu hay hột súc sắc, người đánh bạc chơi ăn thua, gieo nhằm thì có sáu nút đỏ. Nói cho qua chuyện.
Tăng hỏi:
– Tăng chết sẽ đi đến đâu?
Sư đáp:
– Sông dài không gián đoạn, hòn bọt mặc gió trôi.
– Lại nhận thờ cúng chăng?
– Thờ cúng thì chẳng không.
– Thờ cúng thế nào?
– Lão chài giở chèo hát, trong hang nghe tiếng vang.
Người đạt đạo thấy thân này như hòn bọt, tâm thể chân thật như con sông dài. Sông dài chảy không gián đoạn, từ năm này sang năm khác chỉ một dòng chảy mãi, hòn bọt trên sông thì chợt hợp chợt tan. Thân này giống như hòn bọt, người đời không biết, chấp thân thật, chẳng khác nào chỉ biết hòn bọt không biết dòng sông.
Nếu thấy thân này như hòn bọt, khi tan rã có tiếc nuối, bịn rịn gì không? Kinh Lăng-nghiêm Phật dạy, thân này như hòn bọt trong biển cả, hợp tan không nghĩa lý gì. Chúng sanh mê chấp thân tạm bợ vô thường cho là thật, không nhận ra thể chân thật nơi mình. Vì thế, ngài trả lời khéo: Sông dài không gián đoạn, hòn bọt mặc gió trôi.
Hỏi: Lại nhận thờ cúng chăng? Ngài đáp, vẫn có thờ cúng. Hỏi: Thờ cúng thế nào? Đáp, ông chài đưa chèo hát, trong hang nghe tiếng vang. Như có một dòng sông chảy qua núi, khi ông chài giở chèo hát, trên núi có tiếng vọng lại, tiếng đó có thật không? Chỉ là âm thanh vang vọng. Biết thân như hòn bọt thì sự thờ cúng đều là ảnh hưởng tiếng tăm, như tiếng vang trong hang núi, không quan trọng.
Đến Trung Hiến Vương ban tử y phương bào cho Sư, Sư từ chối chẳng nhận. Sư nói:
– Tôi không thích dùng, sợ e người sau bắt chước tôi mà muốn như thế.
Niên hiệu Khai Vận năm thứ tư (947) tháng bảy năm Đinh Mùi, Sư có chút bệnh, ngồi an nhiên thị tịch, thọ 66 tuổi, 45 tuổi hạ.
Sư người Tân La (Triều Tiên), năm hai mươi tám tuổi đến
Ngưỡng Sơn yết kiến Nam Tháp Quang Dũng, nhân đây được ngộ đạo.
Sư trụ trì tại núi Ba Tiêu, đồ chúng đến tham vấn rất đông.
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là nước Ba Tiêu?
Sư đáp:
– Mùa đông ấm mùa hạ mát.
Tăng hỏi:
– Thế nào là kiếm thổi lông?
Sư tiến ba bước.
– Thế nào là Hòa thượng một câu vì người?
Sư đáp:
– Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.
Những đối đáp này rất khéo. Vì sao gọi ngài là Ba Tiêu? Ngài ở trên núi Ba Tiêu, Ba Tiêu là cây chuối. Như chúng ta đi Đà Lạt có qua đèo chuối, đồi núi trồng nhiều chuối. Chỗ ngài ở có thể rất nhiều chuối nên gọi là Ba Tiêu, trên núi có dòng suối chảy gọi là nước Ba Tiêu. Khi hỏi: Thế nào là nước Ba Tiêu? Thế nào là cảnh của ngài, ngài trả lời: Mùa đông ấm, mùa hạ mát. Hiểu được cái hay của câu nói mới thấm được ý vị của ngài. Mùa đông thì khí trời lạnh nhưng nước lại ấm, mùa hạ thì khí trời nóng nhưng nước lại mát. Thời tiết đông hạ đổi thay, nhưng nước Ba Tiêu không lệ thuộc vào thời tiết. Trời lạnh thì nước ấm, trời nóng thì nước mát. Thuộc về thời tiết thì vô thường, chỗ đó không thuộc thời tiết không bị vô thường chi phối.
Tăng hỏi: Thế nào là kiếm thổi lông? Kiếm thổi lông là cây kiếm bén, sợi lông thổi qua liền đứt, cũng có khi gọi là kiếm không mũi. Ngài chỉ tiến ba bước thôi, để chỉ cây kiếm đó. Tăng hỏi: Thế nào là Hòa thượng một câu vì người? Ngài nói: Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.
Sư thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng:
– Các ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không có gậy thì ta cướp cây gậy các ông.
Sư chống gậy đứng, rồi bước xuống tòa.
Đây là câu nói nổi tiếng trong nhà thiền. Nghe qua dường như vô lý, đã có cây gậy còn cho cây gậy chi dư, không có cây gậy làm sao cướp?
Như có hai thiền sư nói chuyện, một vị hỏi, cõi này (Trung Hoa) có ý Tổ sư không? Vị khác đáp có. Hỏi, đã có ý Tổ sư thì tổ Đạt-ma qua làm gì? Đáp, vì có nên qua. Hiểu câu này thì hiểu câu của ngài Ba Tiêu. Người ngộ được cái đó thì ông thầy mới truyền tâm ấn, nên nói cho cây gậy; nếu không nhận được cái đó, như mất rồi, bị cướp cây gậy.
Tăng hỏi:
– Giặc đến cần đánh, khách đến cần xem, chợt gặp khách giặc đồng thời đến thì làm sao?
Sư bảo:
– Trong thất có một đôi giày cỏ rách.
– Chỉ như đôi giày cỏ rách lại kham thọ dụng chăng?
– Ông nếu đem đi, trước hung sau chẳng kiết.
Những câu này nghe như thần chú, nhưng hàm chứa lý đạo, các thiền sư nói khéo vô cùng. Thế nào là giặc, thế nào là khách? Giặc là vọng niệm xấu như tham sân si, khách là vọng niệm bình thường không quan trọng. Người tu thiền như người chăn trâu, nếu trâu đi bình thường thì đó là khách, nếu nó giẫm đạp lúa mạ thì đó là giặc, giặc thì phải đánh, khách thì thôi.
Vì thế nói: Khách đến cần xem, giặc đến cần đánh. Tăng đưa ra trường hợp giặc và khách đồng thời đến thì phải làm sao? Câu trả lời nghe như không có đạo lý tu hành gì, nhưng đó là cả một công phu tu tập. Trong thất có một đôi giày cỏ rách. Giày cỏ rách là đồ vô dụng, đồ bỏ đi, ngay đó đừng nhìn, đừng nhớ tới nó là được. Nếu giặc khách đồng thời đến thì coi như đồ bỏ không màng, vậy thôi. Rất hay, đầy đạo lý.
Vị tăng này hiểu, nên hỏi: Chỉ như đôi giày cỏ rách lại kham thọ dụng chăng? Chỗ không màng đó nên thọ dụng chăng? Ngài đáp: Ông nếu đem đi, trước hung sau chẳng kiết. Đã là cái không màng còn dùng vào chỗ nào?
Tăng hỏi:
– Quang, cảnh đều quên lại là vật gì?
Sư đáp:
– Tri.
– Tri cái gì?
Kiến Châu Cửu Lang.
Người học thiền nghe những câu này như chuyện trên trời trên mây. Đây là chỗ dụng công, nhưng nói như không có tu gì cả. Quang là ánh sáng, chỉ cho tâm, cảnh là chỉ cho vật. Hỏi, khi tâm vật đều quên là vật gì? Ngài đáp: Tri. Lúc đó chỉ còn cái biết. Rất rõ. Chúng ta mắc kẹt hai bên, trong là tâm ngoài là vật, vì thế trong chấp tâm ngoài chấp cảnh, có ngã có pháp. Tâm vật đều quên là ngã pháp đều buông hết. Khi buông hết thì còn gì?
Lúc đó chỉ còn cái biết, không nói thêm gì nữa. Đã còn cái biết mà Tăng lại hỏi: Tri cái gì? Ngài bèn nói: Kiến Châu Cửu Lang. Nói cho qua thôi, vì ông tăng dốt quá.
Tăng hỏi:
– Chẳng hỏi hai đầu ba cổ, thỉnh Thầy chỉ thẳng bản lai diện mục?
Sư ngồi thẳng lặng thinh.
Bản lai diện mục là chỗ không nói không bày, nên ngài ngồi im lặng.
Những câu đối đáp của ngài Ba Tiêu rất lý thú, nhưng cũng rất khó hiểu, nghe bể đầu bể óc.
Sư họ Hứa quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ, giữ giới luật đầy đủ. Đi du phương, trước nhất Sư đến Nham Đầu.
Sư hỏi Nham Đầu:
– Thế nào là lý bản thường?
Nham Đầu đáp:
– Động.
Sư thưa:
– Khi động thế nào?
Nham Đầu bảo:
– Chẳng phải lý bản thường.
Sư trầm ngâm giây lâu. Nham Đầu bảo:
– Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sanh tử.
Sư liền lãnh hội, thân tâm sáng suốt.
Khi đến Nham Đầu, ngài hỏi: Thế nào là lý bản thường? Lý bản thường là lý gốc còn mãi không mất, lý đó thế nào? Chỗ thường còn không mất là tịnh, nhưng đây ngài Nham Đầu đáp: Động. Đúng theo tinh thần Lục Tổ, hỏi tịnh lấy động đáp. Ngài Sư Ngạn hỏi thêm: Khi động thì thế nào? Ngài Nham Đầu trả lời ngược lại: Chẳng phải lý bản thường, đối ngược với tịnh chẳng phải lý bản thường.
Khi đó ngài trầm ngâm để suy nghĩ. Nham Đầu bảo: Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, khi chấp nhận thì chưa lìa căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sanh tử. Cả hai nhận và chẳng nhận đều mắc kẹt. Ngay đó ngài ngộ.
Sư đến yết kiến Giáp Sơn Thiện Hội. Thiện Hội hỏi:
– Ở nơi nào đến?
Sư thưa:
– Ở Ngọa Long.
Thiện Hội hỏi:
– Khi đến Ngọa Long dậy chưa?
Sư bèn nhìn qua ngó lại. Thiện Hội bảo:
– Trên vết thương lại để bổi đốt.
Sư thưa:
– Hòa thượng lại khổ như thế để làm gì?
Thiện Hội bèn thôi.
Ngọa Long là rồng nằm, tên chỗ ở của thiền sư Nham Đầu. Hỏi: Ngọa Long dậy chưa, rồng nằm dậy chưa? Ngài muốn diễn tả con rồng nằm thức dậy, nên ngó qua ngó lại, ý nói rồng dậy rồi, mới ngó ngoái như thế. Câu hỏi Ngọa Long là hỏi ai? Hỏi chính nơi mình, cái chân thật của mình đã nhận được chưa? Ngài trình bày cái mà mình nhận được.
Ngài Ngưỡng Sơn trình bày ông chủ bằng cách đi từ đông qua tây, ngài Sư Ngạn ngó qua ngó lại. Ngài Thiện Hội e rằng ông này bắt chước chứ chưa thấy thật, nên nói: Trên vết thương lại để bổi đốt. Ngài liền nói: Hòa thượng lại khổ như thế để làm gì? Thiện Hội bèn thôi, như vậy là thấy thật rồi.
Sư tìm đến Đan Khâu, suốt ngày ngồi trên thạch bàn như kẻ ngu, thỉnh thoảng tự gọi: “Ông chủ!” Lại ứng thanh: “Dạ!” Bèn bảo: “Tỉnh tỉnh! Về sau chớ bị người gạt.”
Bốn chúng ngưỡng mộ đức của Sư, thỉnh Sư trụ trì tại Thụy Nham, học lữ nghe danh đua nhau kéo đến.
Lối tu của ngài hết sức đơn giản, suốt ngày ngồi trên thạch bàn, chốc lát kêu: Ông chủ! Rồi lại ứng thanh: Dạ. – Tỉnh tỉnh! Đừng bị người gạt. Tự kêu, tự nhắc. Ngồi im lâu sợ quên ông chủ, phải kêu nhắc tỉnh tỉnh. Đôi khi ngồi đó mà bị người dẫn đi xóm này làng kia, thế là bị gạt, cho nên tỉnh để khỏi gục, tỉnh để đừng bị người gạt.
Cảnh Thanh hỏi:
– Trời không thể che, đất không thể chở, đâu chẳng phải?
Sư đáp:
– Nếu phải tức bị che chở.
– Nếu chẳng phải Thụy Nham vừa gặp?
Sư tự xưng:
– Sư Ngạn.
Ý ngài nói, thể chân thật đó trời không thể che, đất không thể chở, thấy có phải là bị che chở rồi. Nói phải là đối với quấy, như vậy đã bị che chở.
Ngài Cảnh Thanh nói: Nếu chẳng phải Thụy Nham vừa gặp? Cái đó đâu phải cái ông vừa gặp? Ngài tự xưng: Sư Ngạn.
Có ba vị tăng người Ấn, thân hình thanh cao, tròng mắt chuyển như luồng điện, sánh vai đồng bước đến lễ Sư. Sư hỏi:
– Các ông từ đâu đến?
Ba vị ấy thưa:
– Ở Thiên Trúc đến.
Sư hỏi:
– Khởi đi lúc nào?
Họ đáp:
– Sáng đi vừa đến.
Sự hỏi:
– Được chẳng nhọc chăng?
Họ đáp:
– Vì pháp quên nhọc.
Sư nhìn kỹ thấy chân họ chẳng chạm đất. Sư bảo:
– Vào nhà tăng an nghỉ.
Sáng hôm sau chẳng thấy ba vị ấy.
Tăng hỏi:
– Thế nào là Phật?
Sư đáp:
– Trâu đá.
– Thế nào là pháp?
– Con trâu đá.
Hỏi:
– Thế ấy là chẳng đồng?
Sư đáp:
– Hợp không được.
– Tại sao hợp chẳng được?
– Không có cái đồng có thể đồng thì hợp cái gì?
Với câu hỏi, thế nào là Phật, thế nào là pháp, ngài trả lời, con trâu đá. Tại sao? Vì chỗ chân thật đó không có chỗ để gặm nhấm, như con trâu đá.
Tăng hỏi: Tại sao hợp chẳng được? Ngài nói: Không có cái đồng có thể đồng thì hợp cái gì? Gọi là hợp vì có hai cái khác hợp nhau, còn cái đồng còn không có huống có khác, dùng hợp chỗ nào?
Tăng hỏi:
– Làm sao thương lượng được chẳng rơi vào giai cấp?
Sư đáp:
– Đuổi chẳng đi.
– Vì sao đuổi chẳng đi?
– Vì y từ trước không giai cấp.
– Chẳng biết ở vị nào?
– Chẳng ngồi điện Phổ Quang.
– Lại lý hóa chăng?
Sư đáp:
– Tiếng vang ba cõi trọng, chỗ nào chẳng về chầu.
Hỏi: Làm sao thương lượng được chẳng rơi vào giai cấp? Thương lượng là đối đáp, khi đó làm sao không mắc kẹt vào giai cấp. Ngài nói: Đuổi chẳng đi. Vì không giai cấp vị trí nên không mời đến không đuổi đi. Tăng hỏi: Tại sao đuổi chẳng đi? Ngài nói: Vì y không có giai cấp. Thể ấy không có giai cấp, không có ngôi vị, nên ngài đáp: Chẳng ngồi điện Phổ Quang. Kinh Hoa Nghiêm nói, sau khi Phật thành đạo, ngài ngồi nơi cội Bồ-đề thuyết pháp, đó là điện Phổ Quang. Sau lên cung trời Đế-thích, cung trời Dạ-ma… các cõi trời thuyết pháp, nhưng không rời điện Phổ Quang. Thể trùm khắp, tùy dụng giáo hóa mà không rời thể.
Tăng hỏi: Lại lý hóa chăng? Ngài đáp: Tiếng vang ba cõi trọng, chỗ nào chẳng về chầu. Tuy thể ấy không chỗ nơi không hình tướng, nhưng nơi nơi đều không rời nó, mọi nơi đều về chầu.
Một hôm có bà lão trong thôn đến đảnh lễ Sư. Sư bảo:
– Bà về mau để cứu mấy ngàn sanh mạng.
Bà lão về gấp đến nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng đem về. Bà liền tiếp lấy đem xuống hồ thả hết.
Đến khi Sư tịch làm lễ trà-tỳ, có con rắn lớn từ trên cây gieo mình xuống đống lửa. Sau khi lửa tắt, xá-lợi bay tung, gió thổi cỏ cây ngã rạp.
Đời ngài có nhiều việc huyền bí.
Sư họ Tạ, quê ở huyện Mân, Phúc Châu. Thuở nhỏ thích câu cá, Sư sắm một chiếc thuyền nhỏ thường thả câu trên sông Nam Đài.
Đến gần ba mươi tuổi, khoảng niên hiệu Hàm Thông năm đầu (860) Sư chợt phát tâm cầu giải thoát. Liền bỏ thuyền câu, Sư lên núi Phù Dung theo thiền sư Linh Huấn xuất gia, đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương thọ giới Cụ túc với luật sư Đạo Huyền. Sau đó Sư chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi yên lặng. Trong chúng thấy đều kinh dị.
Đối với Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Sư là đàn em trong đạo, mà gần gũi kính thờ như thầy trò. Tuyết Phong thấy Sư khổ hạnh nên gọi là Đầu-đà.
Thiền sư Tông Nhất pháp danh Sư Bị ở Huyền Sa. Giai đoạn đầu của ngài khiến chúng ta sanh nghi, thường các vị túc duyên sâu dày thì đời này sanh ra có người tự nhiên ăn chay, có người gặp hình tượng Phật hoặc gặp chùa thì phát tâm mừng vui. Còn ngài lại thích đi câu, đi câu là sát sanh thì đâu phải chủng duyên Phật pháp. Nhưng sau này ngài được khen là người tái lại.
Như vậy, các vị trở lại không phải chỉ có một hình thức. Có người là con vua như tổ Bồ-đề-đạt-ma. Có người là con không cha như Ngũ Tổ. Có người là chú tiều đốn củi như Lục Tổ. Có người còn ở trong nôi thấy tượng Phật, thấy tràng phan bảo cái đều cười như ngài Tuyết Phong. Ngài Huyền Sa đi câu cho tới ba mươi tuổi mới phát tâm tu.
Bồ-tát ra đời tùy theo duyên, các ngài hiện thân trong mọi trường hợp, để chúng sanh tin rằng dầu ở hoàn cảnh nào đều có thể tu được. Nếu chỉ những người khi sanh ra có những tướng lạ, ăn chay từ thuở nhỏ… mới tu được; những người lỡ làm ác, lỡ sát sanh làm sao tu?
Sau khi xuất gia, ngài mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi yên lặng, không phải tu lừng chừng. Tuyết Phong thấy ngài khổ hạnh nên gọi là Đầu-đà.
Một hôm Tuyết Phong hỏi:
– Cái gì là Đầu-đà Bị?
Sư đáp:
– Trọn chẳng dám dối người.
Hôm khác Tuyết Phong gọi:
– Đầu-đà Bị! Tại sao chẳng đi tham vấn các nơi?
Sư thưa:
– Đạt-ma chẳng đến Đông độ, Nhị Tổ chẳng sang Tây thiên.
Tuyết Phong gật đầu.
Dường như ngài nói trái lẽ thật, Đạt-ma có đến Đông độ không? Nhị Tổ không đến Tây thiên là phải, tại sao nói như vậy mà ngài Tuyết Phong gật đầu?
Câu hỏi Cái gì là Đầu-đà Bị? Ngài đáp Trọn chẳng dám dối người. Nếu nói là cái gì, đó là dối người. Câu đáp đó đã khéo rồi. Nhưng khi hỏi Sao không đi tham vấn các nơi? Ngài nói Đạt-ma chẳng đến Đông độ, Nhị Tổ chẳng sang Tây thiên. Cái đó sẵn ở mỗi người, không phải đợi tổ Đạt-ma đến mới có, không phải Nhị Tổ đến Tây thiên mới được. Đã sẵn rồi, đã thấy rồi kiếm chi nữa? Vì thế Tuyết Phong gật đầu.
Tuyết Phong lên núi Tượng Cốt hoằng hóa, Sư cùng góp sức đắc lực. Học lữ các nơi tụ họp thật đông.
Sư nhập thất quên mất sớm chiều, lại xem kinh Lăng-nghiêm phát minh tâm địa. Do đó Sư ứng đối lẹ làng cùng kinh điển phù hợp. Những vị huyền học ở các nơi chưa giải quyết nghi ngờ đều đến cầu Sư chỉ dạy. Đến như Tuyết Phong gạn hỏi đối đáp cũng tương đương chẳng nhượng. Tuyết Phong bảo: “Đầu-đà Bị là người tái sanh.”
Ngài đặc biệt tu thiền, khi nhập thất xem kinh Lăng-nghiêm mà ngộ từ kinh. Thời nay có nhiều người nói “tu Thiền thì không xem kinh”, vì chủ trương thiền tông là giáo ngoại biệt truyền. Nhưng chính những người xem kinh vẫn ngộ được lý thiền. Như Lục Tổ nhân nghe kinh Kim Cang mà ngộ, Ngũ Tổ cũng giảng kinh Kim Cang cho ngài để truyền tâm ấn; ngài Huyền Giác nhân đọc kinh Duy-ma-cật mà ngộ… Đây ngài Huyền Sa đọc kinh Lăng-nghiêm mà ngộ. Việt Nam chúng ta thì Trần Thái Tông đọc kinh Kim Cang ngộ, ngài Pháp Loa đọc kinh Lăng-nghiêm ngộ. Nếu cứ cố chấp cho rằng tu thiền không cần xem kinh, xem kinh là kiến giải…, đó là lối nhìn cục bộ.
Tuyết Phong thượng đường nói:
– Cần hội được việc này, ví như gương xưa trên đài, Hồ đến thì hiện Hồ, Hán đến thì hiện Hán.
Sư thưa:
– Chợt gặp gương sáng đến thì thế nào? Tuyết Phong bảo:
– Hồ Hán đều ẩn.
Sư thưa:
– Lão hòa thượng gót chân chưa dính đất.
Ngài Tuyết Phong hay dùng gương xưa để ví dụ. Đây là mặt gương, chúng ta nhìn vào, người cao thấp, trắng đen… mỗi mỗi hiện rõ ràng. Gương có suy nghĩ phân biệt không? Hiện rõ mà không suy nghĩ, ví dụ cho thể chân thật. Vì vậy nói Hồ đến hiện Hồ, Hán đến hiện Hán. Hồ là người Ấn, Hán là người Hoa. Người Ấn tới hiện người An, người Hoa tới hiện người Hoa, đâu đó rõ ràng.
Ngài Huyền Sa hỏi: Chợt gặp gương sáng đến thì thế nào? Hai gương sáng cùng đối mặt nhau thì hiện cái gì? Không có chỗ hiện. Ý nói nếu một bậc tác gia đã sống được chỗ đó, người khác cũng sống được như vậy, hai người gặp thì không có gì để nói. Ngài Tuyết Phong trả lời: Hồ Hán đều ẩn.
Ngài nói: Lão hòa thượng gót chân chưa chấm đất, khéo không mắc kẹt.
Trưởng lão Nam Tế đến Tuyết Phong, Tuyết Phong dạy đến hỏi Sư. Sự hỏi:
– Cổ nhân nói “Việc này chỉ ta hay biết”, ý kiến Trưởng lão thế nào?
Nam Tế thưa:
– Nên biết có người chẳng cầu biết.
Sư bảo:
– Hòa thượng ở trên chót núi chịu bao nhiêu thứ khổ sở để làm gì?
Việc này chỉ ta hay biết, việc chân thật này chỉ có ta hay biết, không ai biết thế được. Trưởng lão Nam Tế nói: Nên biết có người chẳng cầu biết. Nếu không cầu biết thì chẳng lẽ tu rồi trở thành vô tri vô giác, nên ngài nói: Hòa thượng ở trên chót núi chịu bao nhiêu thứ khổ sở để làm gì? Tu cốt để trở về tâm thể chân thật, tâm là biết, mà nói không cầu biết thì rốt cuộc thành cái gì? Khổ sở để cầu cái gì?
Tuyết Phong nói:
– Thế giới rộng một thước gương xưa rộng một thước, thế giới rộng một trượng gương xưa rộng một trượng.
Sư chỉ lò lửa hỏi:
– Lò lửa rộng bao nhiêu?
– Như gương xưa rộng.
– Lão hòa thượng gót chân chưa dính đất.
Ngài Tuyết Phong cũng mượn gương xưa mà nói. Gương được đúc trong lò, đồng cho vào lò nấu chảy đổ thành gương. Khi nói gương thì ngài hỏi lò rộng bao nhiêu mà nấu đổ thành gương được? Ngài Tuyết Phong nói: Như gương xưa rộng. Đây là câu đối đáp khéo nên ngài Huyền Sa khen: Lão hòa thượng gót chân chưa dính đất.
Sư từ biệt Tuyết Phong rằng:
– Thưa Hòa thượng! “Mỗi người có tự do tự tại”, hôm nay tôi xin xuống núi.
Tuyết Phong hỏi:
– Lời ai nói thế ấy?
– Lời Hòa thượng nói thế ấy.
– Còn ông thì sao?
– Chẳng tự do tự tại.
– Biết.
Khi ngài sắp từ biệt nói rằng: Mỗi người có tự do tự tại, hôm nay tôi xin xuống núi. Ngài Tuyết Phong gạn lại, câu đó ai nói? Trả lời: Hòa thượng nói. Hỏi, tôi nói như vậy còn ông thì sao? Đáp, con thì không tự do tự tại. Ngài Tuyết Phong nói, nên biết tùy ý.
Lúc đầu Sư được thỉnh trụ viện Phổ Ứng tại trường Mai Khê. Kế đó Sư dời trụ tại núi Huyền Sa. Từ đây chúng tăng khắp nơi đua nhau đến tham vấn. Học chúng hàng ngày trên số tám trăm vị. Mân soái Vương Công thỉnh Sư diễn Vô thượng thừa và kính Sư làm thầy.
Sư thượng đường im lặng giây lâu, bảo chúng:
– Tôi đã vì các ông triệt khốn (thống thiết), lại hội chăng?
Có vị tăng thưa:
– Khi lặng lẽ không nói là sao?
– Nói mớ làm gì?
– Thỉnh Thầy nói việc bổn phận.
– Ngủ mê làm gì?
– Học nhân tức ngủ mê, còn Thầy thì sao?
– Đâu được thế ấy, chẳng biết ngứa ngáy.
Sư lại nói:
– Đáng tiếc! Sư tăng đông như thế, đi hành khước ngàn dặm muôn dặm đến đây, mà chẳng tiêu cái ngủ mê nói mớ, bèn thối lui.
Ngài nói rằng chỗ thống thiết vì người của ngài là yên lặng, đó là chỉ đến chỗ chân thật. Tăng thưa: Khi lặng lẽ không nói là sao? Đã lặng lẽ mà còn hỏi, chẳng phải nói mớ là gì! Nên ngài bảo: Nói mớ làm gì? Tăng lại hỏi: Thỉnh Thầy nói việc bổn phận? Bổn phận là việc của mình, mà bảo người nói! Ngài hỏi: Ngủ mê làm gì? Tăng nói: Con tức ngủ mê, còn Thầy thì sao? Ngài trả lời: Đâu được thế ấy. Tôi không ngủ mê nói mớ như ông, chẳng biết ngứa ngáy gì. Nếu ngứa ngáy còn ngủ mê không? Ngài nói rõ chỗ này.
Vi giám quân đến yết kiến Sư, thưa:
– Hòa thượng Tào Sơn rất kỳ quái.
Sự hỏi:
– Phủ Châu cách Tào Sơn mấy dặm?
Vi Công chỉ vị tăng bên cạnh hỏi:
– Thượng tọa từng đến Tào Sơn chăng?
Vị tăng ấy nói:
– Đã từng đến.
Vi Công hỏi:
– Phủ Châu cách Tào Sơn mấy dặm?
Tăng nói:
– Một trăm hai mươi dặm.
Vi Công bảo:
– Thế ấy là Thượng tọa chưa đến Tào Sơn.
Vi Công đứng dậy đảnh lễ Sư, Sư bảo:
– Giám quân nên lễ vị tăng này, vị tăng này đầy đủ hổ thẹn.
Vi giám quân là cư sĩ, đến khen nói: Tào Sơn rất là kỳ quái. Ngài liền hỏi, Phủ Châu là chỗ ngài đang ở cách Tào Sơn bao nhiêu? Đây là câu gài bẫy, nếu thấy có bao nhiêu là thấy có thứ lớp. Vi giám quân là người sáng mắt nên không bị gạt, liền đẩy qua Tăng, hỏi: Thượng tọa từng đến Tào Sơn chăng? Ông tăng quá thật thà nói: Đã từng đến. Hỏi: Phủ Châu cách Tào Sơn bao nhiêu? Tăng thật thà nói: Một trăm hai mươi dặm. Bị cư sĩ quở, như vậy thì chưa từng tới Tào Sơn. Giám quân lễ ngài, ngài bảo nên lễ vị tăng này, vị tăng này đầy đủ hổ thẹn. Làm tăng mà thua cư sĩ, không đầy đủ hổ thẹn là gì? Mấy chú coi chừng, có khi bị cư sĩ đẩy đến thế kẹt.
Sư dạy chúng:
– Chư thiền đức! Các ông du phương hành khước đến đây, nói rằng ta tham thiền học đạo, là có chỗ kỳ đặc hay chỉ hỏi đông hỏi tây như thế? Nếu có chỗ kỳ đặc hãy thông qua, tôi sẽ vì các ông chứng minh là phải hay chẳng phải. Tôi trọn biết hết, lại có kỳ đặc chăng? Nếu không có kỳ đặc, chỉ là người đuổi theo tiếng. Các ông đã đến đây, nay tôi hỏi các ông là người có mắt chăng? Nếu có thì hiện đây liền nhận biết được. Các ông có biết được chăng? Nếu các ông chẳng biết, bị tôi gọi kẻ mù từ nhỏ, kẻ điếc từ nhỏ, có phải chăng? Chấp nhận lời nói như thế chăng?
Chúng ta là mù điếc hay là có mắt? Có mắt, mở chưa? Cần mở mắt sáng, đừng bị mây che. Ngài chê rồi tiếp theo khuyến khích tiến lên.
Chư thiền đức! Cũng chớ tự khi mà lui sụt, cái chân thật của các ông đâu từng là người mù điếc. Chư Phật mười phương đội các ông trên đầu, chẳng dám sai lầm một phần nhỏ, chỉ nói “việc này duy ta hay biết”, hội chăng? Như hiện nay thừa kế, trọn nói là thừa kế Thích-ca. Tôi nói: “Thích-ca cùng tôi đồng tham cứu.” Các ông hãy nói tham cứu cái gì? Hội chăng? Thật không phải dễ dàng biết. Phải là người đại ngộ mới có thể biết được, nếu cái sở ngộ chừng bậc cũng không thể gặp. Các ông lại biết đại ngộ chăng? Chẳng phải các ông nhận cái chiếu soi trên đầu, chẳng phải cái các ông nói không nói rỗng, nói bên này bên kia, nói có pháp thế gian, nói có một cái chẳng phải pháp thế gian.
Đoạn này ngài khuyến khích chúng ta đừng tự khi mà lui sụt, mỗi người đều có sẵn cái chân thật, đã có sẵn thì đâu phải mù điếc. Chư Phật mười phương đưa các ông lên đảnh, chẳng dám sai lầm một phần nhỏ, chỉ nói “việc này duy ta hay biết”. Tại sao chư Phật lại đội chúng ta trên đầu? Cái chân thật của chúng ta và chư Phật như nhau. Các ngài nhận được liền thành Phật, chúng ta không nhận, bỏ quên nên làm chúng sanh. Nếu khéo tự hay tự biết, đó là đã thừa kế chư Phật, nói cách khác là được tâm ấn nơi Phật nơi Tổ. Ngài còn nói câu: Thích-ca cùng tôi đồng tham cứu. Đức Phật Thích-ca và ngài cách nhau hơn nghìn năm, vì sao nói là bạn đồng tham?
Đức Phật tu cốt yếu tìm lại con người chân thật của mình. Ngài thấy thân tứ đại bị sanh già bệnh chết, luật vô thường chi phối không ai thoát được. Ngoài sự sanh diệt ấy còn có gì nữa không? Ngài tham cứu truy tầm bao nhiêu năm để tìm cho ra, tìm ra được cái đó mới gọi là giải thoát sanh tử. Chúng ta tu cũng là không chấp nhận thân tạm bợ này mà muốn tìm ra cái đó. Chúng ta cùng chư Phật có chỗ tìm giống nhau. Phật không cho chúng ta cái đó, ngài chỉ vẽ đông vẽ tây như chỉ dấu chân trâu, chúng ta theo dấu mà tìm. Vì vậy nói Phật Thích-ca với ta đồng tham.
Mọi người ai cũng phải nhận nơi mình có cái chân thật như thế, nếu không nhận được lại cho cái chiếu soi trên đầu là sáng suốt, rồi nói không nói rỗng, nói thế gian, nói xuất thế gian… Việc ấy không đến đâu. Cái sáng soi trên đầu là gì? Khi chúng ta gặp vấn đề bế tắc thì nhăn trán nhíu mày để tìm cho ra, đó là cái sáng soi trên đầu. Trí tuệ từ đó phát ra, nhưng chỉ là cái giả dối tạm bợ, không phải gốc chân thật. Suy tư sáng suốt, nói năng hay khéo chưa đến được cái đó.
Hòa thượng con! Hư không vẫn từ mê vọng huyễn sanh. Hiện nay nếu đại ngộ thì còn có chỗ nào để nói năng? Còn không có hư không thì chỗ nào có tam giới? Nghiệp dẫn, cha mẹ làm duyên sanh ra ta thành lập trước sau? Hiện nay nói không vẫn là lừa dối, huống là nói có. Biết chăng? Các ông đi hành khước đã lâu, tự nói có việc giác ngộ. Nay tôi hỏi ông: Ví như chót núi bờ vực chỗ không có dấu vết người, lại có Phật pháp chăng? Biện được rành rẽ chăng? Nếu biện chẳng được thật là chưa đúng.
Ngài ngộ từ kinh Lăng-nghiêm, nên dẫn kinh Lăng-nghiêm nói, hư không cũng không thật có, là do mê vọng huyễn sanh. Tại sao? Vì do mê vọng đặt tên đây là hư không, đây là vật… Hư không còn không thật, huống nữa muôn việc trên thế gian nằm trong hư không. Vì thế nói: Còn không có hư không thì chỗ nào có tam giới. Chúng ta thấy cái nào cũng thật có nên mê chìm trong đó. Hư không không thật thì tam giới không thật, tam giới không thật thì làm sao có người thật cảnh thật. Nếu có chẳng qua là huyễn sanh. Ngài nói, nghiệp dẫn cha mẹ làm duyên sanh ra ta, rồi mới thành lập trước sau, khi ta sanh ra mới thấy có hư không thế giới trước, mình có sau. Thành lập đều như huyễn.
Nếu là người đi hành khước, tự nói mình có việc giác ngộ, ngài hỏi, trong chỗ không người, núi sâu rừng rậm nơi đó có Phật pháp không? Thường nơi nào có đạo tràng giảng kinh thì nơi đó có Phật pháp, nơi núi sâu rừng rậm làm gì có Phật pháp. Kinh nói, có nhiều vị Bích-chi ra đời không gặp giáo lý Phật, không gặp thiện tri thức, chỉ quán sát lá cây vàng rồi rụng bèn ngộ đạo. Như vậy có Phật pháp không? Ngài Linh Vân thấy hoa đào nở mà ngộ đạo, trên hoa đào có Phật pháp không? Ngài Hương Nghiêm nghe tiếng sỏi chạm bụi tre dội lại mà ngộ đạo, nơi cây tre có Phật pháp không? Khi mê thì ở đâu cũng không thấy Phật pháp, khi ngộ thì chỗ nào cũng có Phật pháp. Phật pháp ở khắp hết, chỉ vì mê mà không thấy.
Tôi thường nói: Trước mặt vị tăng chết tức là chạm mắt Bồ-đề, thần quang muôn dặm là tướng sau đảnh. Nếu người nhận được, chẳng ngại ra ngoài ấm giới, thoát khỏi ý tưởng trên đầu ông, xưa nay chỉ là thể người chân thật của ông. Chỗ nào còn có một pháp khác che đậy? Các ông biết chăng? Tin chăng? Khéo thừa đương được chăng? Rất cần nỗ lực
Trước mặt vị tăng chết tức là chạm mắt Bồ-đề, chết rồi mà chạm mắt Bồ-đề sao được? Còn nói thần quang muôn dặm là tướng sau đảnh, thần quang là ánh sáng mầu nhiệm, ánh sáng đó ở trước mắt mới thấy, vì sao nói ở sau đánh? Ý nói thể chân thật không bị hạn cuộc trong hình tướng thân thể hay vị trí nơi chốn, nó trùm khắp.
Có vị tăng hỏi:
– Nhân nghe Hòa thượng nói “Tột mười phương thế giới là một viên minh châu”, con làm sao được hội?
Sư đáp:
– Tột mười phương thế giới là một viên minh châu, dùng hội để làm gì?
Vị tăng ấy bèn thôi. Sự hỏi lại:
– Tột mười phương thế giới là một viên minh châu, ngươi làm sao hội?
Tăng thưa:
– Tột mười phương thế giới là một viên minh châu, dùng hội làm gì?
Sư bảo:
– Biết ngươi nhằm trong hang quỷ tìm kế sống.
Sư dạy chúng:
– Nay tôi hỏi các ông đã thừa đương được việc gì? Tại thế giới nào an thân lập mạng? Biện biệt được chăng? Nếu biện chẳng được in tuồng ấn mắt thấy hoa đốm, thấy việc đã sai, biết chăng? Hiện nay thấy núi sông đồng nội sắc không tối sáng bao nhiêu sự vật đều là tướng hoa đốm cuồng nhọc sanh ra, gọi là tri kiến điên đảo. Phàm người xuất gia phải thức tâm đạt bản mới gọi là Sa-môn. Nay các ông đã cạo tóc đắp y làm tướng Sa-môn, thì phải có phần tự lợi lợi tha. Mà nay xem thấy đều đen kịt tối tăm như dầu hắc, tự cứu còn chẳng được, làm sao biết cứu người?
Ngài quở người tu thừa đương được việc gì, đến nơi nào an thân lập mạng, có biện biệt được chưa?… Tất cả các pháp như hoa đốm trong hư không, khi chúng ta ấn mắt thấy dường như có; hoa đốm không thật, vì mắt nhòe mà thấy sai. Hiện giờ tất cả sự vật trên thế gian này không thật, chúng ta thấy thật là đúng hay sai?
Như có chậu bông này, người nói đẹp người nói xấu, nếu biết chậu bông không thật còn nói đẹp xấu làm chi. Người nói đẹp người nói xấu, hai người có tranh cãi không? Tất cả tranh cãi do gốc thấy các pháp là thật, nếu biết không thật thì hết tranh cãi, hết phiền não. Thấy được lẽ thật rồi thì phiền não theo đó dứt. Kinh Tứ Thập Nhị Chương nói: Phàm người xuất gia phải thức tâm đạt bản mới gọi là Sa-môn. Thức tâm là biết được tâm, đạt bản là suốt được gốc. Chúng ta chưa thức tâm đạt bản thì gọi là gì? Nếu tu không khéo thì không xứng mang danh nghĩa Sa-môn.
Ngài nói: Nay các ông đã cạo tóc đắp y làm tướng Sa-môn, thì phải có phần tự lợi lợi tha. Tự lợi là tu để cầu giác ngộ, giác ngộ rồi mới có thể làm lợi ích cho người gọi là lợi tha.
Trọng tâm của người xuất gia lấy giác ngộ làm gốc. Phật nghĩa là giác, tự mình giác ngộ rồi mới giác ngộ cho người. Nếu mình không giác, làm sao giác ngộ cho người? Như người dốt muốn dạy cho người biết chữ, dạy được không? Việc bổn phận mình chưa được một chút nào, làm sao dạy người. Vì thế ngài chê chúng ta, mà nay xem thấy đen kịt tối tăm như dầu hắc, tự cứu còn chẳng được, làm sao biết cứu người. Lời nhắc rất thống thiết.
Nhân giả! Nhân duyên Phật pháp là việc lớn, chớ nên thong thả giụm đầu nói bậy nói loạn theo tiếng qua ngày, thời giờ khó được, đáng tiếc, kẻ đại trượng phu sao chẳng tự tỉnh xét xem là vật gì? Về tông thừa từ trước là dòng chư Phật đảnh, các ông đã thừa đương chẳng được. Do đó tôi phương tiện khuyên các ông nên từ cửa Ca-diếp tiếp tục chóng vượt qua đi. Một cửa này vượt khỏi nhân quả phàm thánh, vượt cả biển thế giới diệu trang nghiêm của Tỳ-lô, vượt luôn cửa phương tiện của đức Thích-ca, thẳng đây vĩnh kiếp chẳng dạy có một vật để ông trông thấy. Sao ông chẳng mau mau tham cứu lấy? Không nên nói “Ta hãy đợi hai đời ba đời, gom chứa tịnh nghiệp lâu xa mới được”.
Chúng ta thừa đương Phật pháp là nhân duyên lớn, phải cố gắng, đừng thong thả giụm đầu nói bậy nói loạn theo tiếng qua ngày. Ngồi một mình cảm thấy buồn, hai ba người rủ lại ngồi chung nói chuyện này chuyện kia là nói loạn. Khi ngồi thiền một tiếng đồng hồ thấy rất lâu, ngồi nói dóc một tiếng đồng hồ qua mau quá chừng. Đó là bệnh. Chúng ta dính kẹt không thoát được những cái phí công vô ích đó. Giụm đầu nói bậy rất là vô ích, nên ngài quở: Thời giờ khó được, đáng tiếc kẻ đại trượng phu, dám cạo đầu, dám bỏ thế tục là đại trượng phu, sao không nỗ lực tu, muốn trở lại làm kẻ thế tục? Sao chẳng tự tỉnh xét xem là vật gì?
Về tông thừa từ trước là dòng chư Phật đảnh, dòng Phật đảnh là chỉ cho thể cao vót của chư Phật. Nên từ cửa Ca-diếp tiếp tục chóng vượt qua đi, cửa Ca-diếp là cửa Tổ, cửa đó không theo thứ lớp. Vượt cả biển thế giới điệu trang nghiêm của Tỳ-lô, vượt luôn cửa phương tiện của đức Thích-ca, vượt cửa pháp thân, vượt cửa hóa thân là cửa phương tiện của đức Thích-ca. Vượt qua tất cả thứ lớp, phân biệt ba thân…, chúng ta đi thẳng con đường đó mà tu thì rất mau.
Không nên nói “Ta hãy đợi hai đời ba đời, gom chứa tịnh nghiệp lâu xa mới được”! Nhiều người hài lòng: đời này tu được ít, đời sau thêm chút nữa, từ từ sẽ được. Như thế cũng như con ông trưởng giả chỉ chịu hốt phân đủ sống, không muốn tiến lên nữa. Con trưởng giả thì phải kế thừa sự nghiệp trưởng giả, không phải lãnh nghề hốt phân cho là đủ. Việc tu không phải việc nhỏ, phải ráng vượt lên đừng tự mãn.
Nhân giả! Việc tông thừa của các ông là gì? Không thể do thâm tâm ông dụng công trang nghiêm mà được, không thể do Tha tâm Túc mạng mà được. Hội chăng? Như đức Thích-ca ra đời làm rất nhiều việc, nói mười hai phần giáo, tạo thành một trường Phật sự cho ông. Nhưng trong cửa này dùng một điểm chẳng được, dùng sự khéo léo bằng sợi lông chẳng được. Biết chăng? Như việc trong mộng, cũng như ngủ mớ. Sa-môn chẳng chịu hiện ra là chẳng đồng việc mộng, bởi vì biết được. Hiểu chăng? Biết được tức là người đại giải thoát, đại thấu triệt. Do đó mà siêu phàm vượt thánh, dứt sanh lìa tử, rời nhân xa quả, siêu Tỳ-lô vượt Thích-ca, chẳng bị nhân quả phàm thánh lừa, tất cả chỗ không người biết được ông. Biết chăng? Chớ quyến luyến mãi trong lưới ái sanh tử, bị nghiệp thiện ác trói buộc lôi đi, không có phần tự do. Dù ông luyện được thân tâm đồng hư không, dù ông được đến chỗ tinh minh lặng lẽ chẳng động, vẫn không ra khỏi thức ấm. Cổ nhân gọi nó “như thác nước”, vì nó chảy nhanh nên chẳng biết vọng, cho là lặng lẽ. Tu hành thế ấy trọn chẳng ra khỏi mé luân hồi, vẫn như trước bị luân chuyển. Cho nên nói “các hạnh vô thường, chính là công quả của tam thừa”. Như thế thật đáng sợ. Nếu không có đạo nhãn, cũng chẳng được cứu cánh, sao bằng hiện nay là phàm phu chay chẳng dùng một mảy công phu liền được chóng siêu xuất. Hiểu sức tỉnh tâm chăng? Lại mong thích chăng? Khuyên các ông, như tôi hiện giờ đứng đây đợi các ông nhìn thấy, chẳng dạy các ông dụng công luyện hạnh. Hiện nay chẳng thế ấy, lại đợi khi nào? Lại chấp nhận chăng?
Liền xuống tòa.
Nhân giả! Việc tông thừa của các ông là gì? Không thể do thâm tâm ông dụng công trang nghiêm mà được, không thể do Tha tâm Túc mạng mà được. Chúng ta đã kế thừa tâm tông, phải khéo nhận, đừng mắc kẹt hình thức. Dù cho người tu có được Tha tâm thông, Túc mạng thông… cũng không bì được chỗ này. Vì thế nói, Như đức Thích-ca ra đời làm rất nhiều việc, nói mười hai phần giáo, tạo thành một trường Phật sự cho ông. Nhưng trong cửa này dùng một điểm chẳng được… Mười hai phần giáo của Phật chỉ là phần Phật sự, không phải chỗ cứu cánh của chư tổ. Phật sự có nhiều thứ nhiều việc, cũng là thứ bậc chưa phải cứu cánh.
Như việc trong mộng, cũng như ngủ mớ, người đời chìm trong mê lầm giống như người sống trong mộng, ngủ mê nói mớ. Sa-môn chúng ta thì sao? Chẳng chịu hiện ra là chẳng đồng việc mộng, chúng ta có mặt ở giữa đời này, không chấp nhận đồng việc mộng như những người mê trước. Chúng ta phải là người có mặt trong tỉnh giác, không muốn là người ngủ mê nói mớ. Bởi vì biết được. Hiểu chăng? Vì chúng ta còn biết được có cái chân thật, không phải chúng ta chấp nhận sống mê mộng. Người đời đôi khi sống say chết ngủ, trong cuộc sống vẫn mê lầm không biết sống thế nào. Người xuất gia là cốt làm sao phải tỉnh phải giác, không thể sống mê mộng. Nếu chúng ta bước vào cửa này được, thấu triệt được rồi, như thế là vượt phàm vượt thánh, tất cả những cái đó không còn dính mắc nữa.
Chớ quyến luyến mãi trong lưới ái sanh tử, bị nghiệp thiện ác trói buộc lôi đi, không có phần tự do. Ngài khuyên chúng ta không nên mắc kẹt trong lưới ái sanh tử, nếu còn mắc kẹt trong đó thì bị nghiệp thiện ác trói buộc lôi đi, không có tự do. Nghiệp ác lỗi thì sợ là phải, nghiệp thiện lỗi có gì sợ? Chắc không sợ, thích được nghiệp thiện lôi. Như chúng ta tu là muốn ra khỏi gia đình cầu giải thoát, giả sử có một người nữ nghèo khổ thương mến muốn rủ ra, mấy chú có chịu ra không? Ra đó là theo nghiệp ác rất khổ. Nếu là người giàu sang quyền quý mến thương, mấy chú thích ra không? Chỗ giàu sang sung sướng, như là nghiệp thiện. Trong hai nghiệp đó, chọn một hay là bỏ hết? Dù nghiệp ác hay nghiệp thiện cũng là bị dẫn, muốn giải thoát sanh tử phải ra khỏi cả hai. Không thể nói nghiệp kia xấu ác phải bỏ, nghiệp này thiện lành không nên bỏ.
Dù ông luyện được thân tâm đồng hư không, dù ông được đến chỗ tinh minh lặng lẽ chẳng động, vẫn không ra khỏi thức ấm. Ngài thấu triệt kinh Lăng-nghiêm, trong phần phá ngũ ấm ma đến đoạn phá thức ấm, lúc đó giống như ở trong lồng pha lê rất trong sáng. Thấy trong sáng tưởng là đã tới nơi, đã giác ngộ rồi, nhưng vẫn còn ở trong lồng thức ấm, phải phá tung lồng pha lê đó mới được tự do tự tại. Vì thế nói, được đến chỗ tinh minh lặng lẽ tưởng là rồi, cũng chưa phải. Cổ nhân gọi nó “như thác nước”, nhìn dòng chảy tưởng như một bề êm trôi, nhưng bên trong ngầm từng hạt nước tuôn đổ luôn luôn không dừng.
Nếu không có đạo nhãn, cũng chẳng được cứu cánh, sao bằng hiện nay là phàm phu chay chẳng dùng một mảy công phu liền được chóng siêu xuất. Hiểu sức tỉnh tâm chăng? Lại mong thích chăng? Người tu phải thâm thúy sâu xa, không thể tự mãn khi được chút ít mà cho đó là cứu cánh. Ngài bảo phải có sức tỉnh tâm, có sự khao khát, tự nhiên sẽ tiến được.
Hiện giờ tôi đứng thẳng đợi các ông nhìn thấy, chẳng dạy các ông dụng công luyện hạnh. Ngài đứng đó đợi chúng ta nhìn thấy. Như đây là chậu hoa, đây là cây kiểng, chúng ta có cần dụi mắt năm lần mười lượt mới nhìn thấy không? Chỉ cần nhìn là thấy. Cũng thế, chỗ này không phải dụng bao nhiêu công phu mới thấy. Ngay đó liền thấy, không thấy thì thôi, nếu bảo phải làm công phu này công phu kia mới thấy thì không đúng.
Sư dạy chúng:
Các ông giống như người ngồi trong biển cả nước ngập lút đầu, mà đưa tay hỏi người xin nước uống. Phàm Bồ-tát học Bát-nhã phải đủ đại căn khí, có đại trí tuệ mới được. Nếu người có trí tuệ thì hiện nay được siêu thoát. Nếu người căn cơ trì độn cần phải siêng năng khổ nhọc nhẫn nại, ngày đêm bỏ ăn quên mệt, giống hệt người đưa đám ma mẹ vậy. Cấp thiết thế ấy đến trọn một đời, lại được người dìu dắt cần phải khắc cốt thật cứu, chẳng ngại gì cũng sẽ được gặp. Huống là, hiện nay ai là người kham chịu thọ học?
Ví dụ này trong kinh cũng thường nói, giống như người chìm xuống biển, đưa tay xin nước. Đầy biển là nước rồi mà xin nước. Ví dụ này không sát lắm, tôi nói lại, vì nước biển mặn không uống được. Như người chìm trong sông nước ngọt mà đưa tay xin một bát nước uống, như vậy hợp lý hơn. Đó là ví dụ cho cái gì? Hiện giờ cái chân thật của mình trùm khắp mà không chịu nhận, cứ kêu cầu xin chỉ giùm, có khác nào người chìm xuống sông nước ngọt mà đưa tay xin nước uống.
Đây là chỗ đáng thương cũng đáng buồn cho mình. Sống trong cái đó lại nhờ người chỉ, cầu cứu người chỉ, thật là sai lầm. Ngài nói Bồ-tát học Bát-nhã phải đủ đại căn khí, đại trí tuệ mới được. Nếu chúng ta là hạng căn cơ trì độn thì phải khổ nhọc nhẫn nại ngày đêm bỏ ăn quên mệt, như người đưa đám ma mẹ. Nghĩa là không bao giờ hài lòng tự mãn, mà phải nỗ lực phải cố gắng. Như vậy nếu được người dìu dắt thì cần phải khắc cốt thật cứu, không thể lơ mơ.
Nhân giả! Chớ có nhớ câu ghi lời, giống hệt người niệm thần chú, cất bước đi đến trong miệng đọc đa đa hòa hòa, bị người chặn hỏi liền quên mất hết, liền nổi sân nói: Hòa thượng chẳng vì con đáp thoại. Việc học thế ấy là đại khổ, biết chăng?
Nếu chúng ta học mà chỉ nhớ câu ghi lời, nhớ thuộc lòng Phật nói kinh này kinh kia, đến khi bị người hỏi đến chỗ chân thật thì bế tắc. Giống như người đang đọc thần chú, bị hỏi thần chú nghĩa gì, không giải nghĩa được.
Có một bọn Hòa thượng ngồi trên giường thiền xưng là thiện tri thức, bị người hỏi liền động thân, động tay, chỉ mắt, le lưỡi, trợn mắt. Lại có một bọn bèn nói: Sáng rỡ linh thông trí tánh linh đài hay thấy hay nghe, nhằm trong thửa ruộng thân năm uẩn làm chủ tể… Thiện tri thức thế ấy là quá dối người. Biết chăng? Nay tôi hỏi các ông: Nếu nhận cái sáng rỡ linh thông ấy là ông chân thật, tại sao khi ngủ mê lại không có sáng rỡ linh thông? Nếu khi ngủ mê chẳng phải, thì tại sao có khi sáng rỡ? Các ông hội chăng? Cái ấy gọi là nhận giặc làm con, là cội gốc sanh tử, duyên khí vọng tưởng. Các ông muốn biết căn do này chăng? Tôi nói với ông: Cái sáng rỡ linh thông của ông chỉ nhân pháp sắc thanh hương vị… của tiền trần mà có phân biệt, bèn nói đây là sáng rỡ linh thông. Nếu không có tiền trần thì cái sáng rỡ linh thông của ông đồng với lông rùa sừng thỏ.
Một số người tu cho rằng cái hay suy nghĩ, sáng rỡ linh thông là trí tuệ của mình, là cái chân thật của mình. Thật sai lầm! Nó chỉ duyên theo bóng dáng tiền trần, nếu tiền trần hết thì trí biết ấy như lông rùa sừng thỏ.
Nhân giả! Chân thật ở chỗ nào? Nay ông muốn ra khỏi chủ tể của thửa ruộng thân năm uẩn, chỉ cần biết nhận lấy thể kim cang bí mật. Cổ nhân đã nói với các ông “Viên thành chánh kiến khắp giáp sa giới”. Nay tôi lấy ít phần nói ví dụ, các ông có trí do đó có thể biết. Các ông thấy mặt trời nơi thế giới này chăng? Người thế gian tạo tác sinh hoạt, bao nhiêu việc tâm hành tạo nghiệp đều nhờ ánh sáng mặt trời mà có. Song mặt trời có nhiều thứ đến tâm hành chăng? Lại có chỗ chẳng khắp giáp chăng? Muốn biết thể kim cang này cũng như thế. Hiện nay núi sông đất bằng, mười phương cõi nước sắc không sáng tối và thân tâm ông, đều nhờ cái oai quang viên thành của ông mà hiện. Cả thảy trời người, các loài quần sanh tạo nghiệp thọ quả báo, có tình không tình, đều nhờ cái oai quang của ông. Cho đến chư Phật thành đạo thành quả tiếp vật lợi sanh đều trọn nhờ cái oai quang của ông. Nhưng thể kim cang lại có phàm phu chư Phật chăng? Có tâm hành của ông chăng? Không thể nói không là đúng được. Biết chăng?
Ông đã có cái kỳ đặc như thế, bày hiện chỗ xuất thân, sao chẳng phát minh lấy? Lại theo người nhằm trong thửa ruộng thân năm ấm, trong cõi quỷ mà tìm kế sống. Hẳn là tự dối mất vậy. Chợt gặp quỷ vô thường đến, mắt trợn miệng méo, thân kiến mạng kiến, khi ấy thật khó chống chọi được. Giống như lột vỏ con rùa sống, thật khổ!
Mỗi người chúng ta đều có thể kim cang bí mật. Tại sao gọi là thể kim cang bí mật? Kim cang cứng chắc không bị phá vỡ, dùng bất cứ phương tiện gì cũng không phá vỡ được nó. Bí mật là không thể thấy, không thể biết. Tâm thể của chúng ta như thế, không có hình tướng nên không thể phá, gọi là thể kim cang. Nó không hình tướng nên không thể thấy, gọi là bí mật. Ngài ví dụ thể ấy như mặt trời. Tất cả chúng ta sinh hoạt, làm tất cả việc đều nhờ ánh sáng mặt trời. Ánh sáng ấy soi khắp, người mù từ thuở bé không biết không thấy, gọi là vô tri.
Tất cả tâm hành chúng ta, tất cả công phu tu tập… đều từ oai quang sẵn có, hay từ thể kim cang sẵn có của mình, cho đến tu hành thành Phật chứng quả cũng từ thể kim cang đó. Nơi mọi người chúng ta có sẵn cái chân thật mà không chịu nhận. Nếu nhận được thì thoát ly sanh tử, không kẹt trong giới hạn của thánh phàm.
Ông đã có cái kỳ đặc như thế, sao chẳng phát minh lấy? Lại theo người nhằm trong thửa ruộng thân năm ấm, trong cõi quỷ mà tìm kế sống. Nhiều người tu luyện cứ nhằm trong thân năm ấm này, muốn sống lâu, muốn được điều kỳ diệu… chỉ là giữ cho thân năm ấm thôi. Nhưng thân năm ấm này có giữ được đâu, đến khi sắp chết thì mắt trợn miệng méo, lúc đó thân kiến mạng kiến không thể chống chọi được. Khi tắt thở thân này đau đớn như con rùa bị bóc vỏ, đau nhức vô cùng. Như thế tu luyện trên thân năm ấm cũng không thoát khổ.
Nhân giả! Chớ bám lấy kiến giải ngủ mê, phải dẹp đi. Chưa biết che đậy được bao nhiêu sợi lông? Ông lại biết chăng? Tam giới không yên ví như nhà lửa, vả lại ông vẫn là người chưa được an ổn, chỉ kết thành bọn can dự việc người khác, bên này bên kia bay chạy in tuồng con nai rừng, chỉ biết tìm ăn tìm mặc. Nếu thế ấy, đâu thể hành vương đạo. Biết chăng?
Hiểu biết của chúng ta, dù rất đúng rất hay, đối với ngài chỉ là kiến giải ngủ mê. Kiến giải đó che đậy được bao nhiêu sợi lông? Ý ngài nói kiến giải đó không xứng gì với tánh thể trùm khắp.
Ngài quở chúng ta, ở trong tam giới này không yên như ở trong nhà lửa, chưa được an ổn, lại can dự việc người khác, tức bàn tán việc này việc kia của người đời. Chạy bên này bên kia tìm ăn tìm mặc, giống như con nai rừng chạy kiếm ăn vậy thôi.
Quốc vương đại thần chẳng bắt buộc ông, cha mẹ cho ông đi xuất gia, mười phương thí chủ cúng dường ông áo mặc cơm ăn, thổ địa long thần ủng hộ ông, cần phải đầy đủ hổ thẹn biết ơn mới được. Chớ cô phụ lòng tốt của người. Khi bệnh nằm liệt trên giường, lăn lộn dưới đất, nói là an lạc thì chẳng có, đều là nhờ cơm cháo nuôi dưỡng. Ông đến khi thân hư hoại như trái bí đao chín rục, rồi đem chôn vùi dưới đất, nghiệp thức mờ mờ không gốc để nương. Sa-môn vì sao lại đến thế ấy? Chỉ như côn trùng trên đất, tôi gọi là tạo nghiệp ở trong địa ngục.
Đối với người xuất gia, nhà nước không đòi hỏi phụ trách công việc quốc gia, trong gia đình thì cha mẹ cho đi tu, trong xã hội thì thí chủ phụ giúp cơm ăn áo mặc, long thần hộ pháp ủng hộ cho được yên ổn. Ơn của các vị đó rất lớn, chúng ta phải làm sao đền đáp, đừng cô phụ lòng tốt của người.
Nếu chúng ta không chịu cố gắng tu, không được an ổn mà tưởng mình an ổn, đến khi bệnh chết mới thấy khổ sở. Nhất là khi thân này hoại, trong khoảng bảy ngày chưa chôn thì thế nào? Da thịt nứt nẻ như trái bí đao chín rục, rốt cuộc đem chôn vùi dưới đất. Cuộc sống của thân này, mấy mươi năm rồi phải hư hoại, nếu chỉ biết bảo vệ, trang sức bồi dưỡng nó, có phải công dã tràng không? Chúng ta phải làm sao khi nương thân này tu tập, làm việc có nghĩa có ích cho bản thân cũng làm lợi ích cho chúng sanh, mới xứng đáng khỏi uổng công.
Nếu không biết tu, cứ lo nuôi dưỡng thân, đến khi thân hoại mạng chung, nghiệp thức mờ mờ không chỗ để nương. Tu hành chưa ra gì thì lúc đó không biết đi đâu. Ngài đặt câu hỏi: Sa-môn vì sao lại đến thế ấy? Sa-môn là người tự do tự tại, tại sao tới đó rồi lờ mờ không biết chi. Chỉ như côn trùng trên đất. Sống như côn trùng nghĩa là có mặt sanh ra rồi chờ chết, không biết gì hơn, cũng gọi là ký sinh trùng, ăn nhờ sống gửi. Vì thế chúng ta tu không nên lôi thôi, phải làm cho đến nơi đến chốn.
Hiện nay nếu chẳng liễu ngộ, sáng sớm hôm nào sẽ thấy vào trong thai lừa bụng ngựa, mang ách kéo cày hàm sắt dây yên, cối đá xay nghiền nước lửa thiêu nấu, thật chẳng dễ dàng chịu được, rất nên kinh sợ. Hoàn toàn tại ông tự tạo khổ lụy. Biết chăng?
Nếu là liễu ngộ, liền đó muôn kiếp chẳng từng dạy ông có những dấu hiệu ấy. Nếu chẳng liễu ngộ thì nhân duyên phiền não ác nghiệp này, chưa phải là một kiếp hai kiếp được hết. Hẳn là cùng với cái kim cang của ông đồng tuổi thọ. Hiểu chăng?
Nếu tu hành không tỉnh, hôm nào nhắm mắt rồi sẽ vào thai lừa bụng ngựa, mang ách kéo cày… đền trả nợ trước. Ai tạo cho mình? Chính mình là người tạo chứ không ai.
Nếu là liễu ngộ, liền đó muôn kiếp chẳng từng dạy ông có những dấu hiệu ấy. Nếu được liễu ngộ rồi thì khỏi bị dấu hiệu đi trong lục đạo, thọ luân hồi khổ sở đó nữa.
Nếu chưa liễu ngộ thì cái mê lầm, cái vô minh này đồng với thể kim cang, rất lâu không có giới hạn. Như vậy mới thấy thật là xa vời không kể, nếu mê thì muôn kiếp không biết chừng nào ra khỏi?
Sư dạy chúng:
– Chân tông cổ Phật thường tùy vật hiện, ứng dụng rành rành, nơi nơi sáng rỡ, ẩn hiện thản nhiên, thấp cao đều chiếu. Thế nên, Sa-môn thượng sĩ duy đạo nhãn là trước, hợp bản minh tâm mới là cứu cánh. Vạn tượng sum la một thể đồng nguồn, rỗng suốt không ngắn, ai luận có kẹt, việc trong trần kiếp hiện ở trước mắt. Người đời cách xa lâu đời, nên trái với thể thường, quên tâm nhận vật, mà ngược với chân tông, chấp có kẹt không, chẳng gặp thầy lành bạn tốt, chỉ tự nhận hiểu riêng mình. Dù họ có bàn luận cũng toàn trong ý so tính. Cho đến, tìm tới chỗ lý tột vẫn không phân biệt chánh tà. Huống là bình sinh chưa từng mò bắt.
Ngài ân cần nhắc nhở, Sa-môn thượng sĩ lấy đạo nhãn làm trước, tức là phải mở con mắt đạo. Đó là cái gốc. Chỗ khác gọi là kiến tánh, phải thấy được, nhận ra được cái đó trước tiên. Phải hợp với gốc, sáng được tâm mới là cứu cánh, mới tròn trách nhiệm của người tu. Khi đạt được rồi thì vạn tượng sum la đồng một nguồn không khác, như vậy còn có gì dính kẹt; tất cả việc trong vô lượng kiếp như là việc trước mắt không xa nữa.
Người đời vì cách xa thể chân thường này quá lâu, trái hẳn cái đó nên quên tâm nhận vật. Thế nào là quên tâm nhận vật? Như tôi đưa tay ra hỏi mấy chú thấy không, trả lời thấy. Rút tay lại hỏi thấy không, trả lời không thấy. Như vậy nhân có tay mới nói có thấy. Tay với tánh thấy, hai cái khác nhau. Thấy là cái hay thấy của mình, tay là cảnh ở ngoài, cho tay là tánh thấy thì có phải quên mình theo vật không?
Khi có tiếng gọi là có nghe, không tiếng gọi là không nghe, đó là quên mình theo vật, hay quên tâm nhận vật. Cả thế gian đều như vậy, đợi có vật mới có mình, không vật nói không mình. Vật mất nói mình mất, chúng sanh thật lầm lẫn, chìm đắm trong ấy không biết bao giờ ra khỏi. Huống là bình sinh chưa từng mò bắt, chưa từng tìm kiếm chỗ chân thật không tùy duyên đó, chưa từng kiếm thì làm sao thấy.
Nếu là bậc cổ đức tiên hiền, biết liền đúng lúc, khắc kỷ thực hành công phu, ở am tranh hoặc thất đá trên chót núi. Cổ đức nói: “Tình còn lượng thánh vẫn rơi trong pháp trần, kiến giải của mình chưa quên bèn thành rỉ chảy.” Không thể nói trì trai giữ giới, ngồi mãi chẳng nằm, dùng ý quán không, kìm tâm vào định là đã đúng. Thế ấy vẫn không có gì giao thiệp. Ngoại đạo ở Ấn Độ nhập định được tám muôn kiếp, lắng thần lặng lẽ, nhắm mắt che tròng, thân bặt trí dứt, sau khi số kiếp mãn vẫn không khỏi luân hồi. Bởi vì đạo nhãn chẳng sáng, nguồn gốc sanh tử không phá vậy.
Dù cho tu được định, có sức thần thông đến đâu, mà không sáng được đạo nhãn, không nhận ra cái chân thật của mình thì cũng chưa khỏi sanh tử.
Phàm là kẻ xuất gia thì chẳng thế, không nên đồng với ngoại đạo. Nếu là người chân thật minh đạt, đủ đại tri kiến, hay cùng chư Phật cùng tột, tịch chiếu quên biết, rỗng trùm vạn tượng. Như hiện nay, chỗ nào chẳng phải là ông? Chỗ nào chẳng rõ ràng? Chỗ nào chẳng bày hiện? Sao chẳng thế ấy hội đi? Nếu khi không có thửa ruộng này thì đâu khỏi các thứ rỉ chảy, thảy thành hư vọng, cái gì là chỗ đắc lực lúc bình sinh?
Nếu ông thật chưa phát minh, cần phải đặt trong thời gian cấp thiết, quên ăn bỏ ngủ, dường như cứu lửa cháy đầu, như thân mạng sắp chết, tâm thầm tự cứu, bỏ hết các duyên rảnh rỗi, đuổi sạch tâm thức, mới có ít phần gần gũi. Nếu không như thế, một hôm nào đó trọn bị thức tình lôi đi, có được phần nào tự do?…
Như vậy thì hiện nay nơi nơi chốn chốn đều sẵn có, đều đầy đủ, tại sao chúng ta không nhận. Bởi không nhận được nên bị rỉ chảy, bị tiêu mòn, đó là cái khổ. Nếu chưa phát minh được thì phải đặt hết thời gian trong sự cấp thiết tu hành, không nên chần chừ lơi lỏng. Việc mình tự cứu không xong, sau này bị thức tình lôi đi, chừng đó mất tự do.
Sư lo đại pháp khó dạy, ít gặp bậc thượng căn, học giả y lời sanh hiểu, theo chiếu mất tông, bèn dạy ba câu cương tông:
Câu thứ nhất: – Hãy tự đảm nhận, hiện thành đầy đủ, tột mười phương thế giới không có gì khác, chỉ là các ngươi, lại dạy cái gì thấy, cái gì nghe? Toàn là tâm vương của ông làm ra, trọn thành trí bất động. Chỉ thiếu đảm nhận, nên mới khai cửa phương tiện, khiến các ngươi tin có một phần chân thường lưu chú. Cùng xưa tột nay chưa có chẳng thị (phải), chưa có chẳng phi (sai). Song câu này chỉ thành pháp bình đẳng. Tại sao? Chỉ vì dùng lời để dẹp lời, lấy lý để đuổi lý, bình thường tánh tướng, tiếp vật lợi sanh mà thôi. Chính nơi tông chỉ vẫn còn sáng phía trước tối phía sau, gọi là “một vị bình thật”, là cái lượng chứng từng phần pháp thân, chưa có câu xuất cách, chết tại câu sau, chưa có phần tự do. Nếu biết cái lượng xuất cách, chẳng bị tâm ma sai khiến, vào trong tay liền chuyển đổi lăn trùng trục, nói là thông đại đạo, chẳng rơi vào kiến giải bình thường trong lòng.
Thể chân thật ấy là thể kim cang không thể chỉ bày, các ngài lập phương tiện gọi là chân thường lưu chú. Chân thường lưu chú tức là tánh thấy ở mắt, tánh nghe ở tai… Từ thể chân thật thường còn rót ra, chảy ra thành diệu dụng nơi sáu căn, chưa phải là thể thật. Nhân nơi đây để chúng ta tin nhận, vì vậy mà nói mặt trăng thứ hai.
Các ngài dùng phương tiện, hoặc đưa phất tử hoặc gọi dạ… là để chỉ cái chân thường lưu chú, nhận được cái đó rồi mới trở về được cái kia.
Cùng xưa tột nay chưa có chẳng thị, chưa có chẳng phi. Song câu này chỉ thành pháp bình đẳng. Chẳng thị tức là không có cái phải, chẳng phi là chưa có cái quấy, chẳng phải chẳng quấy tức là bình đẳng.
Câu thứ nhất chỉ cho cái thể sẵn có, ai ai cũng đủ, chúng ta không thấy nên chư Tổ dùng phương tiện chỉ cái chân thường lưu chú để chúng ta nhận ra mặt trăng thứ hai, sau đó xoay qua nhận hiểu thể chân thật. Đó là phương tiện đầu tiên để chỉ thể.
Câu thứ hai: – Xoay nhân về quả, chẳng mắc nơi lý bình thường nhất như. Phương tiện gọi là “chuyển vị đầu cơ”, sanh sát tự tại buông thâu tùy nghi, vào sanh ra tử rộng làm lợi ích tất cả, ra khỏi sắc dục và cảnh ái kiến. Phương tiện gọi là Phật tánh đốn siêu tam giới. Đây gọi là hai lý cùng sáng, hai nghĩa đồng chiếu, không bị hai bên làm động, diệu dụng hiện tiền.
Đây là thể dụng hợp nhau, không mắc kẹt nơi này nơi nọ.
Câu thứ ba: – Biết có cái gốc tánh tướng đại trí, kiến giải vượt bậc, tối sáng rỗng suốt, thênh thang khắp sa giới, một thể tánh chân thật, đại dụng hiện trước, ứng hóa khôn ngắn, toàn dùng toàn chẳng dùng, toàn sanh toàn chẳng sanh. Phương tiện gọi là “cái cửa Từ định”.
Đây là diệu dụng, từ là từ bi, định là an định, tức là làm lợi ích tất cả mọi người mà không xao động, không bị chuyển biến gọi là Từ định.
Sư có kệ:
Vạn lý thần quang đảnh hậu tướng
Một đánh chi thời hà xứ vọng?
Sự dĩ thành, ý điệc hưu
Thử cá lai tung xúc xứ chu.
Trí giả liêu trước tiện đề thủ,
Mạc đãi tu du thất khước đầu.
Dịch:
Thần quang muôn dặm tướng sau đảnh
Khi chìm mất đánh, chỗ nào trông?
Việc đã thành, ý cũng thôi
Cái ấy lâu nay chạm đến khắp.
Người trí nắm được liền đưa lên,
Chớ đợi phút giây quên mất đầu.
Hai câu đầu, ý nói mỗi người có thần quang muôn dặm nằm sau đảnh, tức là ngay bên cạnh không đâu xa. Tuy nhiên không phải căn cứ vào tướng để tìm, vì nó không nơi chốn. Vì thế nói, khi chìm mất đánh chỗ nào trông? Nếu đảnh khuất rồi thì tìm chỗ nào để thấy nó.
Hai câu tiếp theo nói, khi việc được thành rồi, ý không còn phải duyên nữa. Cái ấy lâu nay chạm đến khắp. Khi nhận được thì nó trùm khắp, không có giới hạn.
Hai câu cuối nói, người trí nắm được liền đưa lên, nếu nhận được phải ngay nơi đó mà giữ, ngay nơi đó mà tu, không đi nơi nào khác. Nếu chưa nhận được, đợi một phút giây suy nghĩ là quên mất đầu, tức là quên thật mà chạy theo bóng.
Lại nói kệ:
Huyền Sa du kính biệt
Thời nhân thiết tu tri
Tam đông dương khí thạnh
Lục ngoạt giáng sương thì.
Hữu ngữ phi quan thiệt
Vô ngôn thiết yếu từ
Hội ngã tối hậu củ
Xuất thế thiểu nhân tri.
Dịch:
Huyền Sa đường tắt riêng
Người đời cần nên biết
Ba đông khí dương thạnh
Tháng sáu sương xuống nhiều.
Có lời không hệ lưỡi
Không nói rất cần câu
Hiểu ta câu rốt sau
Ra đời ít người biết.
Một bài kệ khác, nói: Đường riêng của Huyền Sa, mọi người nên biết đường đó. Tam đông là mùa đông mà khí dương thạnh, tháng sáu mùa hạ mà sương xuống nhiều.
Có lời không hệ lưỡi
Không nói rất cần câu
Đường tắt của ngài có lời mà không kẹt ở lưỡi, không cần ngôn từ. Tức là tuy có văn tự mà không có chỗ cho người gá nương, không cho dính mắc, nên nói như không nói.
Hiểu ta câu rốt sau
Ra đời ít người biết
Hai câu cuối nói ai hiểu được câu rốt sau của ngài thì ra đời ít người biết. Câu rốt sau tức là tâm không nghĩ thiện nghĩ ác.
Sư ứng cơ tiếp vật ngót ba mươi năm, chúng thường có mặt trong hội nghe không dưới tám trăm vị.
Đến đời Hậu Lương niên hiệu Khai Bình năm thứ hai (908), ngày hai mươi bảy tháng mười một năm Mậu Thìn, Sư có chút bệnh rồi tịch. Sư thọ 74 tuổi, được 44 tuổi hạ.
Ngài Huyền Sa chỉ dạy nhiều, rất cặn kẽ. Vì ngài ngộ qua lý kinh, kinh thì có nhiều phương tiện nên ngài có nhiều lời lẽ để nhắc để dạy chúng ta. Có những vị ngộ ngay trong thiền, các ngài chỉ những gì mình đã thấy nên nói đơn giản, ít dùng ngôn từ.
Như tổ Lâm Tế, ngài thông hiểu cả ba tạng, tuy ngộ qua ba trận đòn của tổ Hoàng Bá nhưng mà trước ngài đã học thấu kinh luận rồi, nên sau ngài nói rất nhiều. Ngài Đức Sơn là vị giảng sư thông kinh luận nên cũng nói rất nhiều. Ở đây ngài Huyền Sa cũng vậy. Nghĩa là nhờ thấy được kinh, biết được phương tiện của Phật, nên khi ngộ được lý đó thì dùng nhiều phương tiện chỉ dạy cho người.
Sư họ Tôn, quê ở Diêm Quan, Hàng Châu. Thuở nhỏ Sư bẩm tánh thuần đạm. Năm mười ba tuổi Sư đến chùa Thông Huyền ở Tô Châu xuất gia thọ giới. Sau đó Sư đi tham vấn khắp các thiền hội.
Niên hiệu Càn Phù năm thứ năm (878), Sư vào xứ Mân yết kiến Tây Viện, thưa hỏi Linh Vân. Ban đầu Sư hỏi Linh Vân:
– Thế nào là đại ý Phật pháp?
Linh Vân đáp:
– Việc lừa chưa đi, việc ngựa lại đến.
Sư không khế hội.
Ngài hỏi thiền sư Linh Vân: Thế nào là đại ý Phật pháp? Thiền sư Linh Vân đáp: Việc lừa chưa đi, việc ngựa lại đến. Nhà thiền rất chú trọng câu này, không phải vì nghĩa lý sâu xa, mà chú trọng chỗ ngài Linh Vân khéo đáp một câu không động môi lưỡi.
Ngài Hương Nghiêm dùng ví dụ: Như người trèo lên cây, miệng cắn cành cây, buông thõng tay chân không có chỗ bám. Chợt có người hỏi: Thế nào là đại ý Phật pháp? Nếu người đó mở miệng đáp thì rớt nát thân, không đáp thì phụ lòng người hỏi. Ở đây ngài Linh Vân mở miệng đáp là không phụ lòng người, cũng không trái tông chỉ. Đó là cái khéo.
Sư đến Tuyết Phong cũng đề khởi câu hỏi trên. Tuyết Phong đáp:
– Ông đâu chẳng phải người Tô Châu?
Sư thưa:
– Con đâu chẳng biết là người Tô Châu.
Tuyết Phong dạy yết kiến Huyền Sa. Đến Huyền Sa, Sư cũng hỏi câu ấy. Huyền Sa bảo:
– Ông là Lăng đạo giả, tại sao chẳng hội?
Sư thưa:
– Chẳng biết Linh Vân nói thế ấy là ý tại chỗ nào? Huyền Sa bảo:
– Chỉ là Lăng đạo giả, không thể tìm bên ngoài…
Như thế, nơi Tuyết Phong và Huyền Sa, Sư qua lại thưa hỏi ngót hai chục năm, ngồi rách bảy cái bồ đoàn mà không sáng việc này.
Đến Tuyết Phong, ngài cũng hỏi đại ý Phật pháp, Tuyết Phong đáp: Ông là người Tô Châu. Ngài thưa, con ở Tô Châu, con biết rồi, còn nói là người Tô Châu chi cho dư. Khi đến Huyền Sa thì Huyền Sa nói, ông là Lăng đạo giả. Một người nói chỗ ở, một người nói tên, ngài cũng không biết ý chỉ. Huyền Sa nói: Chỉ là Lăng đạo giả, không thể tìm bên ngoài. Hai vị trả lời ý giống nhau, tuy ngôn ngữ khác, đều không có chỗ để tâm ý dò tìm.
Chỗ đặc biệt của ngài Huệ Lăng là chưa hiểu thì hai mươi năm vẫn tới lui thưa hỏi để tìm ra manh mối, ngồi rách bảy cái bồ đoàn. Ngài ngồi thiền nhiều như thế, chúng ta ngồi chưa thấm vào đâu, nếu tự mãn là hiểu biết nông cạn. Ngài dốc hết ý chí, chưa tìm ra thì vẫn khổ công tìm cho ra mới thôi.
Một hôm, Sư cuốn rèm bỗng nhiên đại ngộ, bèn làm bài tụng:
Dã đại sai, đã đại sai,
Quyển khởi liêm lại kiến thiên hạ.
Hữu nhân vấn ngã thị hà tông?
Niêm khởi phất tử phách khẩu đả.
Dịch:
Cũng rất sai, cũng rất sai,
Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ.
Có người hỏi ta là tông gì,
Cầm cây phất tử nhằm miệng đánh.
Ngài trình bày sở ngộ của mình. Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ. Thấy thiên hạ nhưng không phải thấy cảnh ở ngoài, mà là nhận ra được cái chân thật của mình. Có người hỏi ta là tông gì, cầm cây phất tử nhằm miệng đánh. Khi nhận ra cái chân thật của mình, nếu có ai hỏi thuộc về tông gì, lúc đó cầm phất tử đánh, không nói tông phái nào cả.
Khi ngài hỏi thiền sư Linh Vân: Thế nào là đại ý Phật pháp? Câu đó chỉ đáp rằng việc lừa chưa đi, việc ngựa lại đến. Với ngài, ai hỏi tông gì thì cầm phất tử đánh, đó là trình sở ngộ.
Tuyết Phong nói với Huyền Sa:
– Kẻ này đã triệt ngộ.
Huyền Sa thưa:
– Chưa được, đây là ý thức làm ra, đợi khám nghiệm qua mới được.
Chiều đến, chúng tăng vào pháp đường thưa hỏi. Tuyết Phong nói với Sư:
– Đầu-đà Bị chưa chấp nhận ông, thật có chánh ngộ ở trước chúng nói ra xem.
Sư liền nói bài tụng:
Vạn tượng chi trung độc lộ thân,
Duy nhân tự khẳng nãi phương thân.
Tích thời mậu hướng đồ trung mịch,
Kim nhật khán lại hỏa lý băng.
Dich:
Chính trong vạn tượng hiện toàn thân,
Chỉ người tự nhận mới là gần.
Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm,
Ngày nay xem lại băng trong lò.
Tuyết Phong nhìn Huyền Sa nói:
– Không thể là ý thức làm ra.
Bài tụng này với đoạn trước có phần trùng hợp. Như trước cuốn rèm lên thấy thiên hạ, đây nói rằng: Chính trong vạn tượng hiện toàn thân. Thấy thiên hạ cũng là thấy toàn thân của chính mình. Đây là chỗ tự nhận, không ai chỉ cho được, nên nói: Chỉ người tự nhận mới là gần.
Thuở xưa chưa biết nên lầm chạy đầu này đầu kia tìm kiếm, hôm nay lại thấy băng tuyết trong lò lửa. Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm, ngày nay xem lại băng trong lò. Ngay trong lò lửa mà có băng thì sao? Các ngài thường nói hoa sen trong lò lửa, hay băng trong lò lửa, ngay trong cảnh vô thường tiêu hoại lại có cái chưa từng vô thường tiêu hoại. Cũng như trong nóng mà có lạnh, trong lửa mà có băng.
Sự hỏi Tuyết Phong:
– Một đường từ trước chư thánh truyền trao, thỉnh Thầy chỉ dạy?
Tuyết Phong lặng thinh. Sư lễ bái rồi lui. Tuyết Phong mỉm cười.
Sư vào phương trượng tham vấn Tuyết Phong. Tuyết Phong hỏi:
– Là cái gì?
Sư thưa:
– Ngày nay trời trong nên phơi lúa.
Đạo lý nhà thiền rất lạ lùng. Khi thầy hỏi là cái gì, nếu người thông minh hiểu đạo khá, sẽ nói: chân như, Phật tánh, chân tâm, pháp thân… Đây ngài trả lời: Ngày nay trời trong nên phơi lúa. Không nói ngôn ngữ cao siêu, chỉ nói chuyện rất bình thường trong cuộc sống hàng ngày.
Nhà thiền chỉ cho chúng ta thấy cái hiện hữu trong mọi hành động hàng ngày. Nếu là chuyên viên ruộng thì nói: Hôm nay trời nắng phơi lúa tốt. Việc làm hàng ngày dường như không có đạo lý, nhưng chính đó là đạo lý trong cuộc sống, không nằm trong ngôn từ. Chúng ta lâu nay đa số học ngôn từ nhiều, cứ theo định nghĩa ngôn từ rồi trở thành một vòng lẩn quẩn.
Sư lui tới bên Tuyết Phong hai mươi chín năm. Đến niên hiệu Thiên Hựu năm thứ ba (906), Sư nhận lời thỉnh cầu của Vương Diên Bân thứ sử Tuyền Châu, đến trụ trì tại Chiêu Khánh.
Sau, Mân soái thỉnh Sư sang Tây Viện phủ
Trường Lạc, để hiệu là Trường Khánh.
Vì thế đương thời gọi ngài là Trường Khánh.
Sư thượng đường im lặng giây lâu, bảo chúng:
– Lại có người biết nhau chăng? Nếu chẳng biết nhau là lừa dối huynh đệ, hiện nay có việc gì? Chớ có bít lấp, lại là việc trong nhà ai? Không chịu đảm nhận lại đợi bao giờ? Nếu là kẻ lợi căn tham học chẳng cần đến đây, lại hiểu chăng? Hiện nay có một nhóm người hành khước, lỗ tai chứa đầy dẫy, dù cho thâu thập được, lại có phù hợp việc các người hành khước chăng?
Ngài đặt từng câu hỏi mà hỏi chúng: Lại có người biết nhau chăng? Nếu biết nhau là lừa dối huynh đệ, hiện nay có việc gì? Nếu chúng ta biết nhau thì gọi là lừa dối, tại sao? Chỗ đó mỗi người tự thấy, việc của mình người khác không thể thấy biết, nói rằng người khác biết mình đó là dối gạt. Như có người nói sẽ ấn chứng cho mình thành Phật, Bồ-tát… Tôi có bí quyết dạy ông chứng đạo, tôi có quyền lực, thần thông… làm cho ông mau đắc đạo. Những người nói như vậy là dối gạt. Thế gian này thường dễ bị gạt, nghe nói có gì huyền bí để truyền cho, để trợ lực giúp mình đắc đạo… thì rất thích. Phải biết đó là chuyện của chính mình, nếu khéo nhận thì được, không ai có thể làm thế cho ai.
Chớ có bít lấp, lại là việc trong nhà của ai? Việc trong nhà mình không phải việc nhà ai, tự mình phải giải quyết. Không chịu đảm nhận lại đợi bao giờ? Ngay nơi đây đã có, không chịu nhận lại đợi đến chừng nào? Như hiện tại chúng ta có của báu, đang nghèo mà không lấy ra xài còn đợi chừng nào? Chẳng lẽ đợi giàu mới lấy ra xài, vô lý không? Cho nên ngay đây phải nhận thấy tinh thần của người học đạo.
Hiện nay có một nhóm người hành khước, lỗ tai chứa đầy dẫy, dù cho thâu thập được, lại có phù hợp việc các người hành khước chăng? Chúng ta học nhiều nhớ giỏi, nhưng thứ đó không phải là cái chân thật, không phù hợp việc hành khước của chính mình.
Có vị tăng hỏi:
– Việc hành khước làm sao học?
Sư đáp:
– Chỉ biết đến người đòi lấy.
– Thế nào là một con đường riêng?
– Đâu phiền đến hỏi.
– Về danh ngôn diệu nghĩa trong kinh đã nói, chẳng kẹt ba khoa (Uẩn, Xứ, Giới) thỉnh Thầy nói thẳng?
– Trân trọng!
Tăng hỏi: Việc hành khước làm sao học? Ngài đáp: Chỉ biết đến người đòi lấy. Việc hành khước là việc mỗi người tự nhận, mà hỏi làm sao học? Ngài nói học là đến người này xin đến người kia đòi, đó là chưa biết việc hành khước.
Hỏi: Thế nào là một con đường riêng? Ngài đáp: Đâu phiền đến hỏi. Đã là đường riêng thì mỗi người tự đi, hỏi người nhờ chỉ là thành đường chung rồi.
Tăng lại hỏi: Về danh ngôn diệu nghĩa trong kinh đã nói, chẳng kẹt ba khoa thỉnh Thầy chỉ thẳng. Hỏi chỗ không mắc kẹt trong ba khoa, ngay đó ngài trân trọng chào rồi thôi. Ba khoa, gồm tất cả pháp chia thành ba loại mà nói tùy theo căn cơ để phương tiện giáo hóa, tức là Ấm Nhập Giới: năm ấm hay năm uẩn, mười hai nhập và mười tám giới (căn, trần, thức).
Sư dạy chúng:
– Ca ngâm rõ ràng, các ông còn chẳng hội, chợt gặp việc mờ tối đến, các ông làm sao?
Có vị tăng hỏi:
– Thế nào là việc mờ tối đến?
Sư bảo:
– Uống trà đi.
Trung Tháp thưa:
– Xin thỉnh Hòa thượng cùng uống có bạn.
Ca ngâm rõ ràng là giảng nói rõ ràng các ông còn không hội, huống nữa là việc mờ tối thì các ông làm sao? Việc mờ tối là việc gì? Đó là việc mắt thấy không được, chỉ ra không được, việc đó làm sao hội? Tăng hỏi: Thế nào là việc mờ tối đến? Ngài trả lời: Uống trà đi. Giống hệt Triệu Châu. Nhưng có ngài Trung Tháp thưa: Xin thỉnh Hòa thượng cùng uống có bạn.
Ngài Trung Tháp biết uống trà nên mời ngài uống cho có bạn. Nếu người chưa biết uống thì ngẩn ngơ. Việc uống trà rất bình thường nhưng cũng có người chưa biết uống.
Sư dạy chúng:
– Nếu ta thuần nêu xướng tông thừa, nên đóng kín cửa pháp đường, bởi do “tột pháp thì không dân”.
Có vị tăng hỏi:
– Chẳng sợ không dân, thỉnh Thầy tột pháp?
Sư bảo:
– Lại bỏ rơi chỗ nào?
Ngài dạy rằng, nếu nói thẳng chỗ cứu cánh thì không nói được, vì thế đóng kín cửa pháp đường, không người đến nghe. Vì tột pháp thì không dân, tức là pháp tột cùng thì không người nào tới được.
Tăng nói: Chẳng sợ không dân, thỉnh Thầy tột pháp? Ngài nói: Lại bỏ rơi chỗ nào? Pháp tột cùng ai cũng có đủ, nếu thỉnh thầy chỉ, làm sao chỉ? Nếu bị mất hoặc không có mới chỉ, cái này ai cũng có hết.
Sư khai pháp hai nơi, đồ chúng có đến một nghìn năm trăm vị. Sự giáo hóa của Sư trong hai xứ Mân Việt ngót hai mươi bảy năm.
Đến đời Hậu Đường niên hiệu Trường Hưng năm thứ ba (932), ngày mười bảy tháng năm, Sư quy tịch, thọ 79 tuổi, được 60 tuổi hạ.
Về ngài Trường Khánh, chúng ta nhớ mãi một điểm không quên là qua lại hai mươi năm thưa hỏi, chưa sáng được việc đó, ngồi rách bảy cái bồ đoàn. Như vậy để thấy ý chí của người học đạo không lùi không chán, dù chưa hiểu cũng gắng công cầu thỉnh. Nhờ vậy mà sau này thành công.
Sư họ Trương, quê ở Gia Hưng, Cô Tô. Thuở nhỏ Sư theo luật sư Chí Trừng ở chùa Không Vương xuất gia, ý chí cao siêu trí tuệ mẫn tiệp. Đến lớn Sư thọ giới Cụ túc tại giới đàn Tý Lăng. Sư hầu thầy mấy năm, học thông Luật bộ, tự thấy việc mình chưa sáng nên xin đi du phương hành khước.
Trước Sư đến Mục Châu tham vấn Trần Tôn Túc. Vừa thấy Sư đến, Tôn Túc liền đóng cửa. Sư gõ cửa.
Tôn Túc hỏi: – Ai?
Sư thưa: – Con.
Tôn Túc hỏi: – Làm gì?
Sư thưa:
– Việc mình chưa sáng xin Thầy chỉ dạy.
Tôn Túc mở cửa, trông thấy Sư liền đóng cửa lại. Như thế, liên tiếp đến ba ngày. Ngày thứ ba, Tôn Túc mở cửa, Sư liền chen vào. Tôn Túc chặn lại bảo:
– Nói! Nói
Sư suy nghĩ. Tôn Túc liền xô ra, nói:
– Đồ cũ vô dụng.
Rồi đóng sầm cửa lại, kẹt nát bàn chân Sự. Cái đau thấu xương ấy khiến Sư ngộ nhập. Tôn Túc chỉ Sư đến yết kiến Tuyết Phong.
Người xưa có lối dạy đạo khô khan tàn nhẫn. Khi tới, thấy liền đóng cửa, nghe gõ cửa bèn hỏi: Ai? Nói: Con! Hỏi: Làm gì? – Việc mình chưa sáng xin Thầy chỉ dạy! Mở cửa ra thấy rồi đóng cửa lại liền.
Mở cửa nhìn thấy rồi đóng cửa lại, có dạy gì không? Như thế ba ngày, ngày nào cũng mở cửa thấy rồi đóng cửa lại liền, đến ngày thứ ba ngài Vân Môn mới gan dạ, vừa thấy hé cửa là chen vô liền. Chen vô được bị chụp bảo Nói! Nói! Chưa dạy câu nào bảo nói làm sao nói được, vừa suy nghĩ liền bị đẩy ra. Chân không bước kịp, một chân ngoài một chân trong, cửa đóng lại nên nát bàn chân. Nếu như chúng ta chắc là nổi sân la khóc, nhưng ngài Vân Môn khi bị đau thấu xương liền ngộ.
Sư đến trang sở của Tuyết Phong, thấy một vị tăng, bèn hỏi:
– Hôm nay Thượng tọa lên núi chăng?
Tăng đáp:
– Lên.
Sư nói:
– Có một nhân duyên nhờ hỏi Hòa thượng đường đầu mà không được nói với ai, được chăng?
Tăng bảo:
– Được.
Sư nói:
– Thượng tọa lên núi thấy Hòa thượng thượng đường, chúng vừa nhóm họp, liền bước ra nắm cổ tay nói: Ông già! Trên cổ mang gông sao chẳng
cởi đi?
Vị tăng ấy làm đúng như lời Sư dặn. Tuyết Phong bước xuống tòa, thộp ngực ông tăng, bảo:
– Nói mau! Nói mau!
Vị tăng nói không được. Tuyết Phong buông ra bảo:
– Chẳng phải lời của ngươi.
Vị tăng thưa:
– Lời của con.
Tuyết Phong gọi:
– Thị giả! Đem dây gậy lại đây.
Vị tăng thưa:
– Chẳng phải lời của con, là lời của một thượng tọa ở Chiết Trung đang ngụ tại trang sở dạy con nói như thế.
Tuyết Phong bảo:
– Đại chúng! Đến trang sở rước vị thiện tri thức của năm trăm người lên.
Hôm sau, Sư lên Tuyết Phong. Tuyết Phong vừa thấy liền hỏi:
– Nhân sao được đến chỗ ấy?
Sư bèn cúi đầu. Từ đây khế hợp ôn nghiên tích lũy. Tuyết Phong thầm trao tông ấn cho Sư.
Nghe một câu nói mà biết là thiện tri thức của năm trăm người. Ông tăng này hiền lành quá, bảo nói thì nói, khi nói rồi bị ngài Tuyết Phong gạn chẳng phải lời của ngươi, nhận là lời của con, khi kêu thị giả đem dây đem gậy ra trói đánh cho một trận thì hoảng. Không phải lời của con, lời của một thượng tọa ở Chiết Trung đang ngụ tại trang sở dạy con nói như thế. Tại sao ngài Tuyết Phong biết như vậy?
Câu Ông già! Trên cổ mang gông sao chẳng cởi đi, mới nghe chắc chúng ta không biết nói gì. Thật đó là một câu ý nghĩa rõ ràng, bởi vì tất cả thiện tri thức chưa có ai là Phật, trừ đức Thích-ca. Chưa phải là Phật thì vẫn còn bị cột trói trong vòng tam giới, chưa thoát khỏi gông cùm phiền não. Chưa thoát khỏi mà không lo gỡ, còn dạy bảo lăng xăng làm gì. Nhà thiền nói, nếu người giải ngộ có thể làm thiện tri thức chỉ dạy cho người sau. Giải ngộ là thấy được hiểu được vấn đề, chỉ là việc mình chưa xong hoàn toàn. Việc mình chưa xong như gông của mình cởi chưa xong, chưa hết. Bảo ông già sao không cởi gông trên cổ đi, chứng tỏ người thông cảm được với mình. Người chưa tới thì không thể nói như vậy. Người thông cảm được mình thì không phải là thiện tri thức của năm trăm người là gì.
Hiểu vậy thì mới thấy người xưa dạy chúng ta rằng: Nếu chúng ta chưa hoàn toàn viên mãn công đức, nhưng đã thấy đường đi thì có thể chỉ dẫn cho người cùng đi. Điều này không lỗi, không thấy đường mà chỉ sai là có lỗi. Như đường đến thành phố này chúng ta biết, chúng ta đang đi về thành phố. Gặp một số người hỏi thăm đường, chúng ta chỉ và kêu họ đi chung với mình. Mình là người chỉ đường mà cũng là người đang đi chưa đến nơi. Con đường đó mình biết rồi thì dẫn người đi mình không lỗi. Trừ khi không biết đường về thành phố mà kêu mọi người đến chỉ đường tầm bậy, đó là bướng, là việc làm không có ý nghĩa.
Có vị tăng hỏi Tuyết Phong:
– Thế nào là chạm mắt chẳng hội đạo, giở chân đâu biết đường?
Tuyết Phong nói:
– Trời xanh! Trời xanh
Vị tăng ấy đến hỏi Sư:
– Trời xanh là ý chỉ thế nào?
Sư đáp:
– Ba cân gai một xấp vải.
Tăng thưa:
– Chẳng hội.
Sư bảo:
– Lại dâng ba thước tre.
Tuyết Phong nghe vui vẻ nói với chúng:
– Ta thường nghi ông thầy này.
Thường chúng ta nghe nói “chạm mắt bồ-đề”, nhưng đây nói chạm mắt chẳng hội đạo, giở chân đâu biết đường. Câu đó có gì quan trọng mà Tuyết Phong nói: Trời xanh! Trời xanh! Nếu chạm mắt liền ngộ đạo thì còn có tâm có cảnh, khi chạm mắt cũng không hội đạo thì tâm cảnh không còn. Giở chân đâu biết đường, nếu giở chân có đường là đối đãi, giở chân không có đường là không còn đối đãi. Ngài Tuyết Phong trả lời Trời xanh, trời xanh, là ý nghĩa vượt qua đối đãi không có gì để nói.
Tăng không hiểu nên đến hỏi ngài Vân Môn, ngài đáp: Ba cân gai một xấp vải. Tăng không hiểu, hỏi thêm thì ngài nói: Lại dâng ba thước tre. Những câu nói bình dị, người không hiểu thì cho là lối nói chơi như con nít. Nhưng thật ra đây là chỗ làm cho ngài Tuyết Phong hết nghi, biết rõ ngài Vân Môn là người thật đạt đạo.
Sư từ giã Tuyết Phong, đi hành khước khắp nơi.
Đến Động Nham, Nham hỏi:
– Đến làm gì?
Sư đáp:
– Đến thân cận.
Nham bảo:
– Chạy loạn làm gì?
Sư đáp:
– Tạm thời chẳng còn.
Nham bảo:
– Biết lỗi là được.
Sư đáp:
– Chạy loạn làm gì?
Hai người đối đáp ai thắng ai? Đầu tiên ngài Động Nham hỏi đến làm gì? Câu đáp của ngài rất lương thiện, đến thân cận, nhưng ngài Động Nham liền mở màn: Chạy loạn làm gì? Ai cũng có cái đó, ông chạy loạn tới đây thân cận để làm gì? Ngài trả lời tạm thời chẳng còn. Đối với tôi tạm thời không có gì gọi là tu, gọi là dứt phiền não. Đã không còn gì mà Động Nham lại nói biết lỗi là được. Chỗ đó nói gì lỗi không lỗi, nên Vân Môn đáp lại chạy loạn làm gì. Ngài bảo tôi biết lỗi là chạy loạn rồi.
Đến Sơ Sơn Khuông Nhân, Nhân hỏi:
– Chỗ đắc lực nói cho một câu?
Sư bảo:
– Mời hỏi to lên.
Nhân liền lớn tiếng hỏi. Sư cười nói:
– Hôm nay ăn cháo chưa?
Nhân nói:
– Ăn cháo rồi.
Sư bảo:
– Kêu rùm để làm gì?
Ngài Sơ Sơn bị ngài gạt rất đau. Mới đi đến, Sơ Sơn bảo nói một câu đắc lực. Ngài nói: Mời hỏi to lên, tưởng là điếc nghe không rõ nên Sơ Sơn liền la to lên. Ngài cười hỏi: Hôm nay ăn cháo chưa? Sơ Sơn lương thiện nói ăn rồi, ngài nói kêu rùm để làm gì? Đó là lối nói gạt.
Đến Ngọa Long, Sư hỏi:
– Người rõ được mình lại thấy có mình chăng?
Ngọa Long đáp:
– Chẳng thấy có mình mới rõ được mình.
Sự hỏi:
– Nằm dài trên giường mà học được là cơ thứ mấy?
Ngọa Long đáp:
– Cơ thứ hai.
Sư hỏi:
– Thế nào là cơ thứ nhất?
Ngọa Long bảo:
– Mang giày cỏ gấp.
Ngài đặt câu hỏi rất quan trọng đối với người tu: Người rõ được mình lại thấy có mình chăng? Đa số người học đạo chúng ta lầm vấn đề này rất nhiều. Như nghe nhà thiền nói kiến tánh thành Phật, cứ cho rằng kiến tánh là thấy được tánh của mình. Lại nghe kinh nói chân tâm, Phật tánh, pháp thân… rồi cứ mơ ước làm sao thấy được chân tâm, Phật tánh, pháp thân… Đâu biết rằng muốn thấy chân tâm, Phật tánh… là đối tượng bị thấy bị biết bên ngoài, không phải là chính mình. Nếu là chính mình thì thế nào? Có cần thấy biết không?
Như con mắt của chúng ta bị nhặm nổi ghèn, nhìn thấy mờ mờ, thế rồi có thuốc trị, thuốc nhỏ hết ghèn. Hôm sau nhìn thấy rõ ràng. Như thế, làm sao biết mình có con mắt bệnh, làm sao biết mình có con mắt mạnh? Thấy cảnh mờ mờ thì tự biết con mắt bệnh, khi nhỏ thuốc mắt sáng thấy được cảnh bên ngoài rõ ràng thì biết mắt sáng. Con mắt của mình không thể thấy được con mắt của mình. Đó là chỗ thiết yếu mà lâu nay chúng ta bị lầm, cứ mơ ước làm sao thấy được cái đó, nếu thấy thì cái đó không phải là mình.
Nếu cái đó thật là mình thì không cần thấy nó, chỉ nhân nơi cảnh mà biết. Ví dụ nhân nơi tiếng biết mình có tánh nghe, nhân nơi cảnh biết mình có tánh thấy. Vì thế hỏi: Người rõ được mình lại thấy có mình chăng? Ngài đáp: Chẳng thấy có mình mới rõ được mình. Nếu còn thấy có Phật tánh chân tâm của mình là không rõ được mình. Đó là chỗ đặc biệt.
Đoạn sau ngài hỏi: Nằm dài trên giường mà học được là cơ thứ mấy, Ngọa Long đáp: Cơ thứ hai. Hỏi: Cơ thứ nhất thì sao? Ngọa Long đáp: Mang giày cỏ gấp, mang giày cỏ đi khỏi cần nói nữa.
Đến Giang Châu gặp Trần thượng thư thỉnh thọ trai. Vừa thấy Sư, ông hỏi:
– Trong sách Nho thì chẳng hỏi, ba thừa mười hai phần giáo đã có những vị pháp sư, thế nào là việc của nạp tăng hành khước?
Sư bảo:
– Đã hỏi bao nhiêu người rồi?
Trần thưa:
– Hiện giờ hỏi Thượng tọa.
Sư bảo:
– Việc đó hãy gác qua, thế nào là ý kinh?
Trần đáp:
– Quyển vàng gáy đỏ.
Sư bảo:
– Cái đó là văn tự ngữ ngôn, thế nào là ý kinh?
Trần thưa:
– Miệng muốn nói mà lời mất, tâm muốn duyên mà lự quên.
Sư bảo:
– Miệng muốn nói mà lời mất, là đối có lời; tâm muốn duyên mà lự quên, là đối vọng tưởng; thế nào là ý kinh?
Trần không đáp được. Sư hỏi:
– Nghe nói Thượng thư xem kinh Pháp Hoa phải chăng?
Trần đáp:
– Phải.
Sư bảo:
– Trong kinh nói: “Tất cả trị sanh sản nghiệp đều cùng thật tướng không trái nhau.” Hãy nói cõi trời Phi phi tưởng có bao nhiêu người thoái vị?
Trần không đáp được. Sư bảo:
– Thượng thư chớ hấp tấp, sư tăng thông thạo ba kinh năm luận, ném hết đi vào tùng lâm mười năm hai mươi năm còn chẳng xong thay, Thượng thư làm sao hội được?
Trần lễ bái thưa:
– Tôi tội lỗi.
Thượng thư Trần Tháo là một người nổi tiếng trong thời đó. Ông nhân xem kinh Pháp Hoa ngộ được lý đạo. Ông mời chư tăng thọ trai, nhưng gặp tăng nào ông cũng hỏi. Chư tăng bí hết trả lời không trôi, đến khi gặp ngài Vân Môn bèn đem ra hỏi. Ông nói kinh sách ba thừa mười hai phần giáo đã có pháp sư rồi, khỏi hỏi ngài, bây giờ hỏi thế nào là việc của thiền tăng hành khước? Ngài Vân Môn nói việc đó xin gác qua, bây giờ hỏi lại câu hỏi của ông: Thế nào là ý kinh? Trần Tháo trả lời câu đầu: Quyển vàng gáy đỏ. Vì kinh sách ngày xưa bìa màu vàng còn gáy thì sơn đỏ. Ngài bảo: Đó là văn tự ngữ ngôn, thế nào là ý kinh? Câu trả lời thứ hai, chúng ta nghe cũng giật mình: Miệng muốn nói mà lời mất, tâm muốn duyên mà lự quên. Như vậy là quá hay, đó là chỗ nói không được, nghĩ không đến.
Ngài bắt bẻ: Miệng muốn nói mà lời mất là đối có lời, tâm muốn duyên mà lự quên là đối vọng tưởng. Như vậy cũng còn có lời, có vọng tưởng. Thế nào là ý kinh? Đến đây Trần Tháo không trả lời được. Ngài bảo tiếp, ông xem kinh Pháp Hoa, tôi xin hỏi ông trong kinh Pháp Hoa có câu “Tất cả trị sanh sản nghiệp đều cùng thật tướng không trái nhau.” Hãy nói cõi trời Phi phi tưởng có bao nhiêu người thoái vị? Trị sanh sản nghiệp tức là những việc trong cuộc sống hàng ngày, cùng thật tướng không trái nhau. Như cuốc đất, trồng khoai, nhổ cỏ, nhặt rau… tất cả hoạt động làm ruộng, làm rẫy… đều thuộc về trị sanh. Như thế hỏi cõi trời Phi phi tưởng có bao nhiêu người thoái vị?
Thật tướng là tướng trùm cả tam thiên đại thiên thế giới. Nếu nhận được ý kinh là thấy được thật tướng, tức là thấy trùm hết. Ông thử nói xem cõi trời Phi phi tưởng có bao nhiêu người thoái vị? Vì ở cõi trời này khi hết sức định rồi lại bị rơi xuống các cõi khác, cũng nằm trong tam giới. Ông có thấy được bao nhiêu người? Khi ấy Thượng thư chịu thua. Ngài quở: Thượng thư chớ hấp tấp, sư tăng thông thạo ba kinh năm luận, ném hết đi vào tùng lâm, nghĩa là bao nhiêu sở học đều bỏ hết, mười năm hai mươi năm còn chẳng xong, Thượng thư làm sao hiểu được. Ngang đó thì Trần Tháo xin lỗi: Tôi tội lỗi.
Sư đến Linh Thọ, thiền sư Tri Thánh (trụ trì Linh Thọ) dự biết trước, sai chúng đánh ba hồi chuông trống ra trước cửa rước Thủ tọa. Nơi đây Sư sung chức Thủ tọa.
Quảng chủ họ Lưu muốn cử binh, đích thân vào viện thỉnh Linh Thọ tiên tri kiết hung thế nào. Linh Thọ biết trước, từ giã chúng vui vẻ ngồi an nhiên thị tịch. Quảng chủ hỏi Tri sự:
– Hòa thượng bệnh khi nào?
Tri sự đáp:
– Chẳng từng có bệnh. Hòa thượng có để lại một phong thư xin trình Đại vương.
Quảng chủ mở thư ra xem, thấy nói: “Con mắt của nhân thiên là Thủ tọa trong chùa này.” Ông hiểu ý chỉ của Linh Thọ bèn dừng binh và thỉnh Sư trụ trì Linh Thọ. Sư khai pháp ở đây không được bao lâu, lại dời đến chùa Quang Thới tại Vân Môn.
Khi ngài đến Linh Thọ, thiền sư Tri Thánh trụ trì đã biết trước, thỉnh ngài làm Thủ tọa. Quảng chủ họ Lưu muốn cử binh, đích thân đến thỉnh ngài Linh Thọ để hỏi việc kiết hung. Ngài Linh Thọ từ giã chúng thị tịch, để lại lá thư cho Quảng chủ. Thư nói: Con mắt của nhân thiên là Thủ tọa trong chùa này. Ông hiểu ý chỉ của Linh Thọ bèn dừng binh và thỉnh ngài trụ trì Linh Thọ. Ngài khai pháp ở đây không bao lâu lại dời đến chùa Quang Thới tại Vân Môn.
Câu chuyện này đơn giản nhưng có một chỗ chúng ta thử tìm hiểu. Quảng chủ tức là vị chủ cai trị vùng Quảng Châu, muốn cử binh đi đánh nước khác. Trước khi đi vì tin ngài Linh Thọ là một nhà tiên tri, nên đến hỏi thăm Thầy việc này có lợi hay có hại. Biết ông sắp tới, ngài Linh Thọ viết lá thư để lại rồi tịch. Quảng chủ đến thấy vậy hỏi: Hòa thượng có bệnh không? Tri sự đáp không, Hòa thượng có để lại lá thư cho Đại vương. Trong thư nói: Con mắt của nhân thiên là Thủ tọa trong chùa này. Câu này rõ ràng khuyên Quảng chủ thỉnh ngài Vân Môn làm trụ trì, tại sao ông biết dừng binh? Thỉnh trụ trì tức là giữ lại không đi, ngụ ý không nên kéo binh đi. Vì vậy Quảng chủ biết mà dừng binh. Đó là cái khéo léo, hiểu câu nói không dính gì chuyện binh đao. Người xưa khéo léo còn chúng ta bây giờ vụng về, nói gì là nói trắng, cho nói cho, không cho nói không cho.
Sư nhân bàn chân mang tật nên thường chống gậy. Một hôm chống gậy đi, thấy chúng làm công tác công cộng, Sư đưa gậy lên bảo:
– Xem! Xem! Người Uất-đơn-việt thấy các ông bửa củi khó khăn, ở giữa sân họ dọn đồ cúng dường các ông, lại vì các ông tụng kinh Bát-nhã: “Nhất thiết trí trí thanh tịnh, không hai không hai phần, vì không khác không dứt”
Chúng vây quanh Sư khá lâu không giải tán, Sư lại bảo:
– Hết thảy các ông vô cớ chạy đến đây để tìm cái gì? Lão tăng chỉ biết ăn cơm, đi ỉa, hiểu riêng làm gì? Các ông ở mọi nơi đi hành khước tham thiền hỏi đạo, tôi hỏi các ông việc tham được thế nào? Hãy nêu ra xem?
Khi ấy Sư bất đắc dĩ tụng bài kệ của Tam Bình rằng:
Tức thấy nghe này chẳng thấy nghe.
(Tức thử kiến văn phi kiến văn)
Sư xoay lại nhìn tăng, bảo:
– Gọi cái gì là thấy nghe?
Sư lại tiếp:
Không thừa thanh sắc đáng trình anh.
(Vô dư thanh sắc khả trình quân)
Sư bảo tăng:
– Có bao nhiêu thanh sắc ở đầu môi?
Sự tiếp:
Trong đây nếu liễu toàn vô sự.
(Cá trung nhược liễu toàn vô sự)
Lại bảo tăng:
– Có sự gì?
Sư tiếp:
Thể dụng ngại gì phân chẳng phân.
(Thể dụng hà phòng phân bất phân)
Sư bảo:
– Nói là thể, thể là nói.
Lại đưa gậy lên bảo:
– Gậy là thể, lồng đèn là dụng, là phân hay chẳng phân? Đâu chẳng thấy nói Nhất thiết trí trí thanh tịnh.
Ngài dạy có vẻ huyền bí. Ngài đưa cây gậy lên nói: Xem! Xem! Người Uất-đơn-việt thấy các ông bửa củi khó khăn, ở giữa sân họ dọn đồ cúng dường. Có cúng dường thật không? Lại vì các ông tụng kinh Bát-nhã: “Nhất thiết trí trí thanh tịnh, không hai không hai phần vì không khác không dứt.” Đoạn này trích trong Đại Bát-nhã. Ngài muốn ám chỉ việc gì?
Chúng thấy ngài nói vậy, mừng quá vây quanh đông đảo không giải tán. Ngài nói: Hết thảy các ông vô cớ chạy đến đây để tìm cái gì? Lão tăng chỉ biết ăn cơm, đi ỉa, hiểu riêng làm gì? Câu nói rất thô tục, tầm thường. Thật tình cuộc sống của chúng ta là mượn tứ đại đem vô, rồi tống ra. Buổi sáng thức dậy ngồi thiền rồi xả ra, chốc lát nghe tiếng bảng cốc cốc, mượn vài chén cơm, đó là mượn đất, mượn nước cho vô. Trưa chút thì tống ra, đến giờ ngọ mượn cái khác, cứ vậy mượn rồi tống ra, mượn rồi tống ra, chừng đó việc. Nói là cuộc sống nhưng chỉ là mượn. Gần nhất là lỗ mũi mượn không khí hít vô thở ra, mượn trả, mượn trả, rồi mượn nước, mượn cơm… cứ như vậy.
Mượn trả êm xuôi thuận thảo thì mạnh khỏe vui vẻ. Mượn trả mà trục trặc thì chở đi cấp cứu, hoặc trả ra hết mà mượn vô không được cũng phải đi cấp cứu. Rõ ràng cuộc sống chỉ có hai việc, nên ngài nói một cách đơn giản “ăn cơm, đi ỉa”, không gì khác.
Bất đắc dĩ ngài mượn bài kệ của ngài Tam Bình Nghĩa Trung, bài kệ này nổi tiếng trong nhà thiền.
Tức thử kiến văn phi kiến văn
Vô dư thanh sắc khả trình quân
Cá trung nhược liễu toàn vô sự
Thể dụng hà phòng phân bất phân.
Tức thử kiến văn phi kiến văn, chính nơi thấy nghe này không phải thấy nghe. Tại sao? Vì thường chúng ta đợi có cảnh mới gọi là thấy, có tiếng mới gọi là nghe. Thấy là mắt duyên theo cảnh, nghe thì tại duyên theo thanh, nhưng tánh thấy nghe thật thì không đợi có cảnh duyên mà vẫn hằng thấy hằng nghe.
Vô dư thanh sắc khả trình quân. Nếu nhận được như vậy thì thanh sắc đối với chúng ta có dính dáng gì. Vì vậy nói, không còn thanh sắc thừa nào để trình ông.
Tâm chúng ta sở dĩ rối bời vì mắt thấy sắc chạy theo sắc, tai nghe tiếng chạy theo tiếng, trong tâm khởi lên phải quấy lăng xăng. Đến như thấy sắc nghe tiếng mà không dính mắc thì trong này còn việc gì? Đó là vô sự, nên nói Cá trung nhược liễu toàn vô sự. Ai hiểu được vậy là hoàn toàn vô sự.
Thể dụng hà phòng phân bất phân, thể dụng không ngại gì phân chẳng phân. Gọi là thể là dụng để tạm phân cho dễ hiểu, sự thật nó không hai.
Ví dụ cái bàn này, thể là chất gỗ, tướng là hình vuông, hình chữ nhật… dụng là để làm bàn học, bàn ăn… Nói có mấy thứ, thật ra chỉ cái bàn là đủ. Phân chia thể dụng là tạm không phải thật. Người thấy biết rồi, không còn ý niệm phân biệt đâu là thể đâu là dụng. Nên nói thể dụng ngại gì phân chẳng phân.
Ngài lại nói: Nói là thể, thể là nói. Chúng ta cho rằng nói ra là dụng, thể là tâm nghĩ dấy niệm rồi nói. Như sóng với nước thì nước là thể, sóng là dụng. Nhưng ngay nơi sóng có nước không? Ngoài nước có sóng không? Sóng nước không chia riêng thể dụng, sóng nước chỉ tạm đặt thôi. Khi chúng ta bị cột trong ngôn ngữ phân biệt lăng xăng cái này khác cái kia, thật thể nó không phải vậy.
Do tâm dấy niệm khởi ngôn ngữ, ngoài tâm thể không có lời nói, nên ngài bảo: Nói là thể, thể là nói. Ngài lại đưa gậy lên bảo: Gậy là thể, lồng đèn là dụng, là phân hay chẳng phân? Đâu chẳng thấy nói Nhất thiết trí trí thanh tịnh. Trí nhất thiết thanh tịnh này không còn phân chia, không còn đối đãi.
Sư nghe đánh trống thọ trai, nói với chúng:
– Tiếng trống nhai nát ta bảy phần.
Sư lại chỉ vị tăng bảo:
– Ôm con mèo lại!
Giây lâu, Sư bảo:
– Hãy nói cái trống nhân gì được thành?
Chúng không đáp được. Sự tiếp:
– Nhân da được thành. Bình thường ta nói: “Tất cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật, tột đại địa là pháp thân”, luống tạo thành cái tri kiến Phật pháp. Hiện nay cây gậy chỉ gọi là cây gậy, thấy cái nhà chỉ gọi là cái nhà.
Ngài dạy chúng: Tất cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật. Có tiếng nào chẳng phải là tiếng Phật? Các thiền sư đôi khi nghe người chửi cũng ngộ đạo, nghe người hát một câu cũng ngộ đạo, nghe tiếng hòn sỏi chạm cây tre cũng ngộ đạo, thấy đưa tay lên, thấy hoa nở cũng ngộ đạo. Như thế, âm thanh sắc tướng đều là Phật.
Trong cuộc sống đời thường, nếu tâm chúng ta thấm nhuần Phật pháp sâu đậm thì nhìn cái gì cũng có Phật pháp. Như gỡ một tờ lịch, thấy một lá vàng rơi, thấy con chó chạy ngoài đường gặp mấy con tép con ruốc rớt, nó lo cắm đầu liếm, chợt chiếc xe chạy ngang cán chết. Gỡ tờ lịch thấy thời gian vô thường, mòn dần dần, đó là Phật pháp. Thấy lá từ xanh đến vàng rụng, con người cũng vậy, sanh ra già bệnh rồi chết, thấy vậy nghiệm vậy, đó là Phật pháp. Thấy con chó mê ăn vài miếng mồi nhỏ nhỏ quên nguy hiểm rồi bị xe cán chết, liền thấm sâu Phật pháp. Người ta tham ngũ dục cũng vậy, những thú vui không thấm vào đâu mà mê theo đó, bị quỷ vô thường dẫn đi không thoát khỏi. Như vậy thấy cái gì cũng là Phật pháp, cũng là đạo đức, nên ngài nói tất cả tiếng là tiếng Phật, tất cả sắc là sắc Phật. Mê thì tất cả tiếng tất cả sắc là phàm, còn giác thì tất cả tiếng tất cả sắc là thánh là Phật.
Sư đưa cây gậy lên bảo chúng:
– Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Viên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến.
Trong một cây gậy ngài chia ra nhiều bậc. Phàm phu nói cây gậy là cây gậy thật. Nhị thừa phân tích cây gậy là không. Tại sao? Về thời gian thì cây gậy ngày nay mới làm mới tạo, là cây gậy mới. Qua thời gian nó cũ mục rồi hoại, trước có sau hoại nên nói là không. Về không gian, cây gậy chỉ là một mớ các tế bào của cây ráp lại thành. Nếu phân tích ra từng tế bào tìm cây gậy không có, nên nói cây gậy là không.
Viên giác thấy cây gậy theo lý nhân duyên, do nhiều duyên hợp lại không có thật, cây gậy là huyễn có. Hàng Viên giác thấy các pháp đều duyên khởi nên gọi nó là huyễn.
Bồ-tát đương thể tức không, như chính ngay cái bàn này là tướng duyên hợp, không có thật thể. Đương thể tức không, nghĩa là đương thể không có chủ, ngay nơi đó không có gì là chủ.
Tùy theo cách nhìn, từ phàm phu bước lên Nhị thừa phân tích tỷ mỷ. Đến Viên giác có cái nhìn thuần thục, thấy các pháp duyên hợp như huyễn. Bồ-tát đương thể tức không, ngay cái có này không có thật thể thì lại càng thuần thục thêm.
Với nhà Thiền tại sao nói cây gậy chỉ là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến? Có gì hay hơn phàm phu nói cây gậy là thật? Nhà Thiền thấy tất cả pháp không thật, ngay hiện hữu không có niệm dấy khởi. Không niệm dấy khởi thì cây gậy là cây gậy, đi là đi, ngồi là ngồi, không dấy một niệm phân chia quán chiếu.
Không khởi niệm nên cái gì ra cái nấy. Đó là “sau ba mươi năm thấy núi sông là núi sông”. Câu nói về cây gậy của ngài cho thấy sự khác biệt của mỗi thừa trong nhà Phật. Một cây gậy mà nói lên giá trị đạo lý đầy đủ trong đó.
Tăng hỏi:
– Một đời chứa ác chẳng biết thiện, một đời chứa thiện chẳng biết ác, ý này thế nào?
Sư đáp:
– Đuốc!
Ngài có thuật đáp một chữ. Tăng hỏi: Một đời chứa ác chẳng biết thiện, một đời chứa thiện chẳng biết ác, ý này thế nào? Ngài đáp: Đuốc! Ngài được tặng danh hiệu Nhất tự thiền, thiền một chữ, nói một chữ làm sao suy nghĩ. Đó là lối đáp khéo léo.
Tăng hỏi:
– Giết cha giết mẹ đến trước Phật sám hối, giết Phật giết Tổ đến chỗ nào sám hối?
Sư đáp:
– Bày!
Tăng hỏi:
– Trong mười hai thời làm sao được chẳng luống qua?
Sư hỏi lại:
– Nhằm chỗ nào hỏi câu này?
Tăng thưa:
Con chẳng hội, thỉnh Thầy dạy.
Sư bảo:
– Đem bút mực lại.
Tăng đem bút mực đến. Sư làm bài tụng:
Cử bất cố
Tức sai hỗ
Nghĩ tư lương
Hà kiếp ngộ
Nêu chẳng đoái
Liền sai lẫn
Toan nghĩ suy
Kiếp nào ngộ
Nếu chẳng đoái, liền sai lẫn, toan nghĩ suy, kiếp nào ngộ? Vừa nêu ra câu hỏi mà không nhận được, liền đó sai lầm, vừa khởi nghĩ suy thì không bao giờ ngộ. Đó là ngài trả lời Trong mười hai thời làm sao được chẳng luống qua.
Ngài chỉ thẳng: Nhằm chỗ nào hỏi câu này? Tăng vừa đặt vấn đề, mà ngay đó Tăng không nhận được, mới hỏi thêm, con chẳng hội, thỉnh Thầy dạy. Đoạn thứ nhất không nhận, bước qua giai đoạn thứ hai nên ngài bảo đem bút mực ra làm bài tụng.
Chúng ta bây giờ có nghĩ tư lương không? Việc gì tới cũng bóp đầu bóp trán nghĩ hoài, vì thế không biết đến lúc nào ngộ.
Tăng hỏi:
– Thế nào là lời nói siêu Phật vượt Tổ?
Sư đáp:
– Hồ bỉnh (bánh Hồ).
Sư nói:
– Từ xưa nhẫn lại, các bậc lão túc đều vì lòng từ bi nên có lối nói rơi trên cỏ, tùy lời nói biết được người. Nếu lối nói vạch cỏ chun ra thì không thế ấy. Nếu thế ấy là có câu nói lặp lại rồi hội được lời. Đâu không thấy Hòa thượng Ngưỡng Sơn hỏi vị tăng: “Vừa rời ở đâu đến?” Tăng thưa: “Lô Sơn.” Ngài hỏi: “Từng dạo Ngũ Lão Phong chăng?” Tăng thưa: “Chẳng từng.” Ngài bảo: “Xà-lê chẳng từng dạo núi.” Đây là vì lòng từ bi có lối nói rơi trên cỏ.
Lối nói rơi trên cỏ, tức là lặp lại để cho người hiểu được ý của mình. Ngài dẫn chuyện ngài Ngưỡng Sơn hỏi vị tăng: Vừa rời ở đâu đến? Tăng thưa: Ở Lô Sơn. Lê Sơn là núi, nên ngài hỏi: Từng dạo Ngũ Lão Phong chăng? Tăng nói: Chẳng từng. Ngài nói: Xà-lê chẳng từng dạo núi. Ở núi tại sao chẳng từng dạo núi, nên có câu lặp lại là Xà-lê chẳng từng dạo núi để chỉ cho Tăng biết chỗ chưa thấy. Đây gọi là vì lòng từ bi có lối nói rơi trên cỏ.
Sư bảo:
– Chẳng dám mong các ông có khả năng sóng ngược nước, chỉ cần có ý thuận dòng cũng khó được. Xưa Lương Toại đến tham vấn với Ma Cốc. Ma Cốc thấy đến liền bỏ đi cuốc cỏ. Lương Toại đến chỗ cuốc cỏ. Ma Cốc trọn chẳng thèm nhìn, trở vào phương trượng đóng kín cửa lại. Lương Toại liên tiếp ba ngày đến gõ cửa. Ngày thứ ba vừa gõ cửa, Ma Cốc hỏi: “Ai?” Lương Toại thưa: “Hòa thượng chớ lừa Lương Toại. Nếu chẳng đến lễ bái Hòa thượng, sẽ bị kinh luận gạt qua mất một đời.” Đây là lối sóng ngược nước. Hiện nay được vào đều là ý thuận dòng, cũng gọi là song phóng thời tiết.
Ngài Lương Toại đến ngài Ma Cốc được dạy gì? Ngày đầu đến thì ngài vác cuốc đi cuốc cỏ, Lương Toại đi theo. Ngài Ma Cốc không nhìn tới, vô đóng cửa lại. Ngày sau ngài Lương Toại tới gõ cửa rồi đến ngày thứ ba, Ma Cốc mới hỏi: Ai? Nếu thông thường mình đáp con tên gì… Nhưng ngài Lương Toại đã thâm nhập, nên khi nghe hỏi liền đáp: Hòa thượng chớ lừa Lương Toại, ngài đừng gạt con, con biết rồi. Nếu chẳng đến lễ bái Hòa thượng, sẽ bị kinh luận gạt qua mất một đời. Đó là trình kiến giải một cách khéo léo, gọi là sóng ngược nước, không phải như kiểu thông thường.
Sư thượng đường:
– Tôi sự bất đắc dĩ nói với các ông “liền đó vô sự”, sớm đã chôn vùi nhau rồi. Các ông lại muốn tiến tới trước, tìm lời theo câu, cầu mong được giải hội. Ngàn khôn muôn khéo lập bày vấn nạn, chỉ là tạo được một trường luận suông, cách đạo càng xa, có khi nào được thôi dứt. Việc này nếu ở trên ngôn ngữ thì ba thừa mười hai phần giáo không phải không ngôn ngữ, tại sao lại nói giáo ngoại biệt truyền? Nếu từ học hiểu trí khéo mà được thì tại sao hàng thánh nhân Thập địa nói pháp như mây như mưa, vẫn còn bị quở trách đối với thấy tánh như cách một lớp lụa? Do đây nên biết, tất cả hữu tâm cách xa trời đất.
Tuy nhiên như thế, nếu là người đắc, nói lửa không thể bị cháy miệng, trọn ngày nói việc mà chẳng từng động môi lưỡi, chưa từng nói đến một chữ, trọn ngày mặc áo ăn cơm mà chưa từng chạm đến một hạt cơm, mang một mảnh vải. Mặc dù như vậy, vẫn là lời nói trong môn đình, cần phải thật đắc như thế mới được. Nếu nhằm dưới cửa nạp tăng trong câu lộ bày cơ phong vẫn luống nhọc suy nghĩ. Dù là dưới một câu đảm đang được, vẫn là kẻ ngủ gật.
Tại sao ngài nói Hàng thánh nhân Thập địa nói pháp như mây như mưa, vẫn còn bị quở trách đối với thấy tánh như cách một lớp lụa? Bồ-tát đến vị Thập địa phải trải qua Đẳng giác, Diệu giác mới thành Phật, tức là hàng Thập địa thấy tánh chưa tròn sáng nên nói còn cách lớp lụa. Tại sao? Vì còn có tâm tiến cầu thành Phật. Ngài nói: Tất cả hữu tâm cách xa trời đất, còn có tâm thì còn cách xa chưa viên mãn.
Tuy nhiên như thế, nếu là người đắc, nói lửa không thể bị cháy miệng, trọn ngày nói việc mà chẳng từng động môi lưỡi… Nếu người khéo đạt được thì nói mà không động lưỡi, ăn cơm mà không nát một hạt cơm, cả ngày mặc mà không mang một manh vải. Như hỏi Ý tổ sư từ Ấn Độ sang, trả lời Việc lừa chưa đi việc ngựa lại đến, đó là lối nói không động lưỡi.
Dù là dưới một câu đảm đang được vẫn là kẻ ngủ gật. Ngủ gật là trạng thái nửa tỉnh nửa mê, không thật tỉnh cũng không thật mê. Đây nói nếu một câu đảm đang được thì vẫn là ở trạng thái ngủ gật. Ngài Tuyết Phong kể lại khi đến chỗ ngài Đức Sơn hỏi câu Tông thừa từ trước con có phần chăng? Ngài Đức Sơn đánh cho một gậy rồi thôi. Đến chiều ngài Đức Sơn đăng tòa thuyết pháp nói: Tông ta không ngữ củ, không một pháp cho người. Ngay đó ngài Tuyết Phong liền ngộ, như thùng thông lủng đáy. Đó là ngộ rồi nhưng ngài Nham Đầu chưa bằng lòng, vẫn rầy Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà. Vì thế nói đảm nhận được cũng là kẻ ngủ gật, chưa hoàn toàn tỉnh. Khó tới mức đó, huống nữa là nghe hoài mà không đảm nhận được thì ngủ cỡ nào? Đây là ngủ ngáy chứ không phải ngủ gật.
Sư bảo chúng:
– Đề ra một câu nói, dạy các ông thẳng đó đảm đang, là đã tung phẩn trên đầu các ông, dầu cho nhổ một sợi lông mà cả đại địa một lúc sáng rực, cũng là khoét thịt thành thương tích. Tuy nhiên như thế, các ông cần phải thật đến thửa ruộng ấy mới được. Nếu chưa được gần, chẳng được ôm cái rỗng; phải trở lui nhằm dưới gót chân của chính mình suy tầm xem, ấy là đạo lý gì? Thật không có một mảnh tơ sợi tóc cho các ông giải hội, cho các ông nghi ngờ. Huống mỗi người các ông có một phần việc đại dụng hiện tiền, chẳng nhọc khí lực của các ông chừng bằng sợi tóc, liền cùng Phật tổ không khác.
Nếu từ người khác chỉ cho mình nhận được lại chẳng khác nào tung phẩn trên đầu. Tại sao? Bởi vì thật là cái của mình thì người khác làm sao cho được, cho mình tức là làm nhục mình.
Huống mỗi người các ông có một phần việc, đại dụng hiện tiền, chẳng nhọc khi lực của các ông chừng bằng sợi tóc, liền cùng Phật tổ không khác. Việc này mỗi người sẵn đủ, không tốn công phu bằng sợi tóc. Tại sao dễ quá vậy! Như chúng ta có một món đồ thật quý mà đem cất kín, sợ bị người thấy nên cất chỗ này chỗ kia hai ba lần. Một hôm tìm lại quên không biết chỗ, tìm hoài không ra, đang ngồi buồn bỗng sực nhớ ngay chỗ này. Vừa nhớ liền đến lấy ra, đúng ngay vật đó. Trong tích tắc đồng hồ lấy được, tốn bao nhiêu công phu? Cũng vậy, tất cả chúng ta có cái như Phật tổ mà quên đi, chạy ngược chạy xuôi bao nhiêu đời kiếp khổ não cố gắng tu hành bằng mọi cách; đến một phen sáng bừng, thấy ngay nhận ngay cái đó. Phút giây nhận ra không lâu, không tốn nhiều khí lực, nhưng để gặp được phút giây đó thì cũng phải bao nhiêu năm tháng tích lũy, đem hết tâm lực rồi mới thấy ra. Chỗ tốn công nhiều chẳng qua là phủi bụi bên ngoài, không phải là cái đó.
Tự vì các ông gốc tin cạn mỏng nghiệp ác sâu dày, đột nhiên mọc quá nhiều sừng trên đầu, quảy đãy bát đi ngàn dặm muôn dặm chịu khuất phục người. Vả lại các ông có chỗ nào chẳng đủ? Kẻ trượng phu ai mà vô phần? Chạm mắt đảm đang được vẫn là chẳng được tiện, huống là chịu người lừa dối, nhận sự trừng phạt của người. Vừa thấy Hòa thượng già mở miệng, liền khéo ôm đá lấp miệng lại. Thế mà, như bầy lằng xanh giành nhau trên đống phẩn, ba người năm người giụm đầu thương lượng. Khổ thay!
Tự vì các ông gốc tin cạn mỏng, nghiệp ác sâu dày đột nhiên mọc quá nhiều sừng trên đầu… Đầu chúng ta có sừng không? Mỗi người đều có cái chân thật mà không chịu nhận, khởi vọng nghĩ tính. Bao nhiêu nghĩ tính là bấy nhiêu sừng. Mọc nhiều sừng trên đầu, quên mất gốc của mình, phải chịu khuất phục người.
Vừa thấy Hòa thượng già mở miệng, liền khéo ôm đá lấp miệng lại. Thấy người mở miệng là lấy đá bít lại liền, không nghe được câu nào. Giống như bầy lằng xanh thấy đống phẩn liền bu lại. Ngài chế quá chừng là chê.
Huynh đệ. Các bậc cổ đức một thời vì các ông không phải thế, sở dĩ phương tiện buông một lời nửa câu là khai thông cho các ông thấy đường vào. Bao nhiêu việc bên này đều gom ném một bên, riêng tự đem hết khí lực chú mục vào, thì đâu chẳng được ít phần tương thân. Thích thay! Thích thay! Thời giờ chẳng đợi người, hơi thở ra chẳng bảo đảm hít vào, thử hỏi thân tâm còn dùng vào chỗ rảnh rỗi nào khác? Cần phải chú ý! Chú ý! Trân trọng.
Các bậc tôn túc cổ đức chỉ dùng phương tiện khai thông cho chúng ta thấy đường vào. Thông hiểu rồi, phải dẹp hết ném hết việc bên này, chú tâm vào đó thì sẽ được thân cận. Việc bên này ném hết chưa? Hay là cứ chứa hoài, nhiều khi còn muốn chứa thêm nữa. Vì thế khó thấy được, không được gần gũi.
Ngài nhắc mình, thời giờ qua rồi không trở lại, như hơi thở ra rồi không bảo đảm hít vô. Mạng sống đã mỏng manh thì còn đem thân tâm dùng vào chỗ rảnh rỗi nào khác chi nữa, sao không dồn hết vào việc đó? Cần phải chú ý, chú ý.
Tăng hỏi:
– Thế nào là đạo?
Sư đáp:
– Di.
Tăng thưa:
– Con chẳng hội thỉnh Thầy nói?
Sư bảo:
– Xà-lê đích thân nghiệm chứng rõ ràng, đâu cần lặp lại.
Chữ đạo nghĩa là đường. Tăng hỏi thế nào là đạo? Ngài bảo đi. Đường đó thì đi đi. Tăng nói con không hiểu. Ngài bảo ông là người nghiệm chứng rõ ràng, đâu cần lặp lại.
Sư thượng đường nói:
Cho biết thời vận xui xẻo sanh nhằm thời Tượng quý, sư tăng bắc lễ Văn-thù, nam dạo Hành Nhạc. Nếu đi hành khước như thế là danh tự Tỳ-kheo ăn tiêu của tín thí, khổ thay! Khổ thay! Nếu có ai hỏi đến thì đen tợ dầu hắc, chỉ cần giữ hình thức qua ngày. Giả sử có hiểu hai cái ba cái, cũng luống học đa văn ghi nhớ ngôn ngữ. Đến nơi chỉ tìm những lời nói tương tự của bậc lão túc ấn khả, quên lửng thượng lưu, làm nghiệp bạc phước. Hôm nào đó, vua Diêm-la bắt đóng đinh ông, chớ bảo không người vì tôi nói.
Nếu là kẻ sơ tâm hậu học phải cần đem hết tinh thần, chớ ghi suông lời người nói, nhiều rỗng chẳng bằng ít thật, về sau chỉ là tự gạt. Có việc gì thì đến đây.
Lời than của ngài, chúng ta nghe rất xót xa. Ngài nói xui xẻo sanh nhằm thời tượng quý, là cuối thời tượng pháp. Như chúng ta sanh nhằm thời mạt pháp thì xui đến cỡ nào? Hiện tượng xui xẻo mà ngài nói là chư tăng bắc lễ Văn-thù, nam dạo Hành Nhạc, nghĩa là đi phương bắc đến Ngũ Đài Sơn lễ ngài Văn-thù, phương nam đi Hành Nhạc tức Hành Sơn ở Hồ Nam, nơi chư tổ Hoài Nhượng, Mã Tổ.
Chúng ta nhằm thời mạt pháp thì làm gì? Nay tổ chức hành hương chùa này, mai tổ chức thập tự nơi kia. Làm tất cả chỉ mang danh tự Tỳ-kheo, chỉ có tên suông, không có ý nghĩa thật. Khổ thay! Nếu có ai hỏi bổn phận mình thì đen tợ dầu hắc không biết gì hết. Chỉ cần giữ hình thức qua ngày, có hình thức người tu chứ không đủ tinh thần sáng suốt của người tu.
Giả sử có hiểu hai ba cái, cũng luống học đa văn ghi nhớ ngôn ngữ. Học ngôn ngữ của người mà quên bổn phận thượng lưu của mình, lại làm những nghiệp bạc phước. Những gì là nghiệp bạc phước? Cho rằng tu gieo duyên với Phật pháp để dành đời sau tu nữa. Bổn phận thượng lưu của mình là cùng Phật tổ không hai không khác. Cái đó ai cũng sẵn mà không nhận, lại làm nghiệp phước mỏng.
Hôm nào đó, vua Diêm-la bắt đóng đinh ông, chớ bảo không người vì tôi nói. Đến khi bị vua Diêm-la bắt đóng đinh tra khảo thì bảo sao không ai nhắc nhở. Bây giờ ngài nhắc cho nhớ, về sau đừng than không ai nói.
Nhiều rỗng không bằng ít thật, câu này thật là thiết tha. Nếu chúng ta học rất nhiều mà không ứng dụng được thì không bằng học ít mà ứng dụng được.
Sư thượng đường nói:
– Các Hòa thượng con! Dù ông nói có việc gì vẫn là trên đầu thêm đầu, trên tuyết thêm sương, trong quan tài chớp mắt, trên vết phỏng để bổi đốt, cái ấy một trường bừa bãi chẳng phải việc nhỏ. Các ông phải làm sao mỗi người tự tìm lấy chỗ thác sanh của mình; tốt nhất, chớ dạo suông châu huyện nắm bắt những lời nói rỗng. Đợi Hòa thượng già mở miệng liền hỏi thiền hỏi đạo, hướng thượng hướng hạ, làm sao thế nào, ghi chép thành quyển sách to nhét trong đây da để suy gẫm. Đến bên lò lửa ba người năm người giụm đầu, miệng đọc lẩm nhẩm, lại nói: Đây là lời công tài, đây là lời tùy lý đạo mà nói, đây là lời nói trên sự, đây là lời nói trên thể, ông già bà già ông! Ăn cơm xong chỉ lo nói mộng, nói ta hội Phật pháp xong. Nên biết ông đi hành khước như thế đến năm lừa có được thôi dứt chăng?
Lại có một bọn vừa nghe người nói chỗ thôi dứt, liền nhằm trong ấm giới khép my nhắm mắt, ở trong hang chuột tìm kế sống, dưới hắc sơn ngồi trong cõi quỷ thể cứu, rồi nói “được con đường vào”, lại mộng thấy chăng? Bọn như thế, dù giết muôn người có tội lỗi gì. Bảo là hạ thủ công phu mà chẳng gặp bậc tác gia (minh sư), cuối cùng chỉ là kẻ nói càn.
Các ông nếu thật có chỗ thấy, thử đem lại xem, sẽ cùng các ông thương lượng. Chớ bỏ qua suông, không biết tốt xấu, ngơ ngáo giụm đầu nói dây dưa. Chớ để lão già này thấy được, sẽ lôi ra khám phá, chẳng tương đương sẽ bị đánh gãy chân. Chớ bảo rằng chẳng nói. Trong da các ông có máu chăng? Đi khắp nơi muốn chịu khuất phục làm gì? Bọn diệt giống Phật này, toàn là đám chồn hoang. Ở đây làm gì?
Sư cầm gậy đồng thời đuổi hết.
Ngài quở những người tu thiền muốn tâm mình rỗng rang, ngồi nhắm mắt đè vọng tưởng không cho khởi niệm, xem việc này đúng, rốt cuộc chỉ được cái không ngơ. Cùng một pháp tu, cùng một buông xả mà người biết thì đúng, không biết thì sai. Như chúng ta ngồi thấy từng vọng niệm dấy lên rồi không theo, như vậy là tỉnh hay mê? Nếu mê là không thấy, tỉnh thì mới thấy rõ như vậy. Bởi thế nên khi vọng tưởng hết thì thấy rõ không có vọng tưởng, cũng là làm chủ thấy rõ ràng. Như ngài Thụy Nham kêu “Ông chủ!” Tự dạ tự bảo tỉnh tỉnh đừng để người lừa. Luôn luôn làm chủ rõ ràng không phải để thành không ngơ, nếu thành không ngơ thì thật là vô ích, không có lợi gì cho đạo.
Trong da các ông có máu chăng? Nhà thiền thường hỏi câu này. Dưới lớp da chúng ta có chỗ nào chích mà không ra máu? Luận Nguồn Thiền, ngài Khuê Phong nói tâm là cái biết. Toàn thân chúng ta chỗ nào cũng có biết, chỗ nào cũng là đạo, như nói trong da ở đâu cũng có máu. Cái biết trùm hết, ở mắt, ở tai, ở thân… không lúc nào vắng. Tại sao chấp cái suy nghĩ sanh diệt lăn tăn theo bóng dáng là tâm mình, quên tánh biết toàn thân?
Ngài nhắc chúng ta, không phải chỉ có cái suy nghĩ mới gọi là biết, là tâm. Nó chỉ là vọng tâm chợt có chợt không. Tất cả chúng sanh mê lầm nhận vọng làm tâm nên muôn đời muôn kiếp chìm trong sanh tử. Lấy cái giả dối làm mình, còn cái chân thật thì bỏ quên không biết không nhận. Vì thế lâu lâu các ngài dùng câu trong da các ông có máu chăng, để nhắc nhở toàn thân chúng ta chỗ nào cũng là biết, chỗ nào cũng là tâm, đừng lầm nhận cái suy nghĩ chợt còn chợt mất cho là tâm mình. Thương sự nhận hiểu nông cạn mà các ngài đắng miệng hết lời.
Sư mỗi khi nhìn thấy Tăng liền nói: – Giám (xét). Tăng muốn đáp lại, Sư nói: – Di (chao).
Sư có làm một bài kệ:
Vân Môn tủng tuấn bạch vân đề
Thủy cấp du ngư bất cảm thê
Nhập hộ dĩ tri lại kiến giải
Hà phiền tái cử lịch trung nê.
Dịch:
Vân Môn chót vót khỏi làm mây
Cá lội không dừng nước chảy bay
Vào cửa đã rành trình kiến giải
Đâu phiền lại nói gạch trong lầy.
Bài kệ này nói tông phong của ngài cao như núi chót vót vượt mây. Người vừa bước vào cửa, ngài đã thấy rõ kiến giải của họ, không cần phiền phức lấy gạch ngói bỏ trong đất lầy. Gạch ngói là đất đã nung chín, đất lầy cũng là đất, không uổng phí công đem cái đã nung xong để trong cái chưa nung. Nghĩa là biết được kiến giải của người thì ngài không muốn dùng nhiều ngôn ngữ nhiều phương tiện làm cho người ta thêm rộn thêm rối, giống như để gạch ở trong bùn.
Đến niên hiệu Càn Hòa năm thứ bảy (949) nhà Nam Hán, ngày mùng mười tháng tư, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch.
Sau này, nhằm niên hiệu Càn Đức năm đầu (963) nhà Tống, Tống triều cho mở cửa tháp thấy nhục thân Sư vẫn nguyên vẹn, râu tóc vẫn ra dài. Quan quân thỉnh nhục thân Sư về kinh đô cúng dường hơn một tháng, mới nghênh về nhập tháp.
Điểm đặc biệt của ngài, chết mà thân không hoại, tịch định nhưng còn để thân. Như thế từ năm 949 cho đến năm 963, mười bốn năm trời mà râu tóc vẫn ra dài.