Sơ tổ tụng:
Không sắc xưa nay không,
Thọ tưởng vẫn chung đồng,
Hành thức cũng như vậy,
Có hết lại về không.
Chấp có đâu thật có,
Theo không lại lạc không,
Sắc không tâm lìa hết,
Thế mới được thần thông.
Giảng:
“Không sắc xưa nay không,
Thọ tưởng vẫn chung đồng,
Hành thức cũng như vậy,
Có hết lại về không.”
“Không sắc” hay “vô sắc” ở đây không có nghĩa là không có gì cả, mà là bản chất của sắc uẩn vốn rỗng lặng, hư dối, do nhân duyên hòa hợp mà thành. Nó có sanh có diệt, không phải là thực thể bền vững, nên nói “xưa nay không” chính là nói sự hư dối ấy. Cũng như chúng ta nhìn vào gương thấy hình bóng, hình bóng đó chẳng thật có sanh cũng chẳng thật có diệt, duyên đến thì hiện, duyên tan thì mất.
“Thọ tưởng vẫn chung đồng; hành, thức cũng như vậy”. Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều rỗng lặng, thanh tịnh, chỉ là hiện tượng tạm bợ. Khi đủ duyên thì hợp lại tạo nên thân ngũ uẩn, hết duyên thì tan ra, rồi lại hợp, lại tan v.v… Đời người sống chết bao lần, thân ngũ uẩn này cũng đã từng sanh diệt biết bao nhiêu kiếp.
Có hai thầy trò đến viếng một đám tang, người đệ tử gõ lên quan tài hỏi thầy: “Thưa thầy, giờ gọi là sống hay là chết?”. Kỳ thực, làm gì có cái gọi là thật sống hay thật chết? Chỉ là duyên hợp thì thành, duyên tan thì không. Thân ngũ uẩn này cũng giống như căn nhà, sập rồi lại xây, xây rồi lại sập trên cùng một nền đất. Tất cả các tướng đều là hư vọng. Chúng ta hãy thấu suốt cái lý “có hết lại về không” để đừng vì sự sanh diệt của thân tứ đại mà khởi tâm sợ hãi hay bám víu.
“Chấp có đâu thật có,
Theo không lại lạc không.”
Chúng ta chớ nên chấp vào cái “có”, vì nếu thật sự có, thì tại sao mọi sự vật đều phải hoại diệt? Ngay cả thân ngũ uẩn này, dù bây giờ đang hiện hữu, nhưng cũng chắc chắn sẽ tan rã. Một thứ không bền vững, luôn thay đổi, thì sao có thể gọi là “thật có”?
Nhưng khi nghe nói “vô sắc”, “vô thọ tưởng hành thức”, chúng ta cũng đừng vội “theo không” mà phủ nhận sự hiện hữu của các pháp. Nếu nói không có gì cả, thì những gì đang hiện bày trước mắt chúng ta là cái gì? Nếu phủ nhận tất cả, chúng ta sẽ lạc vào cái hố sâu của sự hư vô, phủ nhận luôn cả sự sống đang diễn ra.
Vậy nên, đừng chấp “có” để rồi khổ đau vì sự vô thường, cũng đừng chấp “không” để rồi rơi vào mê lầm, đoạn diệt. Pháp vốn là duyên hợp, tướng thì hiện ra đó nhưng bản thể là không thật. Hiểu được cái “có” vốn không thật, nhưng vẫn hiện hữu để cho mình dụng công, đó mới là trí tuệ của bậc giác ngộ.
“Sắc không, tâm lìa hết,
Thế mới được thần thông.”
“Sắc không tâm lìa hết” – ở đây, Tổ dạy chúng ta phải lìa bỏ mọi sự chấp trước vào hai bên đối đãi. Sắc cũng lìa, không cũng lìa, thật cũng lìa, giả cũng lìa. Khi nói sắc và không, đó chỉ là những danh từ đối đãi; nếu chúng ta còn bám víu vào một bên, dù là chấp “có sắc” hay chấp “trống không”, chúng ta đều bị trói buộc. Chúng ta phải lìa hết những khái niệm thiện ác, phải quấy, đúng sai, thương ghét, đẹp xấu v.v… Lìa hết mọi sự kẹt dính vào các pháp, đó mới là bước đầu của tự tại.
“Thế mới được thần thông” – Thần thông ở đây không phải là phép biến hóa hô mưa gọi gió, biến thân lớn nhỏ hay làm những điều kỳ lạ. Thần thông mà Tổ muốn nói chính là “Vô ngại đại thần thông” – sự tự tại hoàn toàn giữa muôn vàn pháp thế gian mà không bị bất cứ điều gì ngăn ngại.
Người phàm phu bị trói buộc vì tâm họ bị kẹt vào các pháp. Chúng ta thương, chúng ta ghét, chúng ta chấp vào sự được mất v.v… – chính những niệm ấy là xiềng xích trói buộc chúng ta. Khi chúng ta lìa được mọi sự chấp trước, chúng ta không còn bị cái “thương” trói buộc, cũng không còn bị cái “ghét” kéo đi. Đó mới là trạng thái tự tại vô quái ngại, giống như Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát đã vượt qua mọi khổ ách.
Đừng vì mong cầu thần thông biến hóa mà rơi vào đường tà, bị ma dẫn lối. Thần thông chân thật chính là tâm không bị dao động, không bị vướng kẹt, tự tại giữa muôn trùng sắc tướng. Khi chúng ta đã lìa bỏ được sự phân biệt hai bên, nhìn thế giới như xem một vở diễn, trong tâm bất động, đó mới chính là thần thông của bậc giác ngộ. Đó là cảnh giới mà Tổ muốn chúng ta hướng tới: sống giữa trần thế mà vẫn tự tại, giải thoát, không còn gì có thể ngăn che hay làm chướng ngại được tánh giác của chính mình.