Sử 33 Vị Tổ Thiền Tông Ấn Hoa Giảng Giải

Dẫn Nhập



Trước khi học sử ba mươi ba vị Tổ, chúng tôi giải thích một vài điểm nghi ngờ về lịch sử Thiền tông mà nhiều học giả đang thắc mắc. Trong khi giải thích những điểm nghi ngờ, chúng tôi đứng ở vị trí một hành giả tu theo Thiền tông, nếm được chút ít pháp vị của Thiền mà giải thích, chứ không đứng về mặt học giả.

Gần đây có nhiều quyển sách của các vị học giả khi nghiên cứu về Thiền tông, đứng trên phương diện lịch sử đâm ra ngờ vực nhiều vấn đề. Ở đây tôi chỉ nêu đại khái một vài nghi vấn quan trọng. Có nhiều người cho rằng lịch sử của các tổ sư Ấn Độ không có sự thật mà chỉ là sản phẩm của các thiền sư Trung Hoa tạo nên. Chính ông Suzuki là người viết quyển Thiền Luận cũng nghĩ như vậy. Có người bạo dạn hơn nói rằng đại sư Thần Hội là người hệ thống hóa ra lịch sử đó. Nhận định như thế chúng tôi cho rằng không chính xác.

Nhiều khi chúng ta nghiên cứu không thấy ghi chép trong lịch sử, nhưng chưa chắc là không có sự thật xảy ra trong thời ấy. Nhất là tinh thần của người Ân nặng về siêu hình huyền bí. Hơn nữa các thiền sư ra đi không để lại dấu vết, do đó người sau không biết tìm đâu ra dữ liệu chính xác để ghi lại lịch sử của các ngài. Đó là một lý do mà chúng ta cần phải hiểu kỹ.

Khi Thiền tông truyền vào Trung Hoa, người Trung Hoa thực tế rõ ràng, nên thiền sư nói ra câu nào có giá trị thì đệ tử ghi chép lại thành ngữ lục. Sau khi thiền sư viên tịch là có bộ sách nói về hành trạng và ngữ lục của ngài. Cho nên lịch sử từ tổ Huệ Khả về sau có đầy đủ. Còn những vị trước tổ Bồ-đề-đạt-ma thì thấy như có điều gì huyền bí. Do đó các nhà học giả cho rằng thiếu tính cách lịch sử, thiếu sự thật, e rằng người sau tạo nên.

Thiền tông ở Trung Hoa đã được tổ Bồ-đề-đạt-ma truyền vào, điều này không ai chối cãi được vì đã có lịch sử rõ ràng. Ngài ở chùa Thiếu Lâm, ngồi xoay mặt vào vách chín năm, tịch ở núi Hùng Nhĩ, tổ Huệ Khả là đồ đệ lớn nhất của ngài. Như vậy nếu tổ Bồ-đề-đạt-ma không được thừa kế một vị tổ nào trước đó thì làm sao có tâm ấn để truyền? Nếu đã đạt đạo và truyền đạo thì dĩ nhiên ngài phải là học trò của một vị khác. Một vị khác ấy phải là học trò của vị khác nữa. Như thế thì không thể phủ nhận là không có một dòng lịch sử truyền thừa về Thiền tông.

Hơn nữa sự truyền thừa có khi trực tiếp có khi gián tiếp. Như trường hợp của tôi, nếu căn cứ vào lịch sử thì tôi kế thừa ai mà dám dạy Thiền, vì dòng Thiền Việt Nam đã đứt đoạn quá xa. Từ trước đến giờ tôi thấy khắp nơi đều tu theo tông Thiên Thai, từ năm 1962 trở về trước tôi cũng tu về tông đó. Khi lên Phương Bối Am ở chung với thầy Nhất Hạnh, Thầy đem mấy bài kệ của Tổ nói với tôi, tôi thấy như huyền bí không thông cảm được. Khi nhập thất ở Vũng Tàu, tôi mới nghiên cứu ứng dụng tu theo Thiền tông. Sau đó mở cửa thất dạy Thiền. Như vậy nếu căn cứ vào lịch sử thì thử hỏi tôi kế thừa ai?

Như tổ Huệ Năng ở đạo tràng Hoàng Mai, trong số năm trăm tăng chúng có nhiều vị rất xuất sắc, ngài chỉ là cư sĩ nhưng Ngũ Tổ đã truyền pháp cho ngài thì ai tin. Đó là một vấn đề thật khó chứ không phải dễ. Vì vậy không nên cho rằng lịch sử Thiền tông có những điều bí ẩn lạ thường rồi cho là không có. Vì có những sự kiện không thể nói ra được.

Như tổ Ca-diếp được đức Thế Tôn truyền thừa cho ngài. Nhưng căn cứ theo lịch sử không thấy đoạn nào nói rõ ràng, mà chỉ thấy trích một đoạn nói rằng, trên hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa lên nhìn khắp hội chúng, ngài Ca-diếp mỉm cười. Bây giờ tìm không có trong những quyển kinh, người sau y cứ vào đó nói rằng Thiền tông đặt ra cho có hệ thống. Nói như vậy là đặt nặng về chữ nghĩa trong lịch sử. Nếu ngài Ca-diếp không được đức Phật truyền thừa thì không thể truyền tới tổ Bồ-đề-đạt-ma.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn trong kinh A-hàm: Một hôm đức Phật đang thuyết pháp cho một số đông Tỳ-kheo, ngài Ca-diếp đi giáo hóa ở phương xa về. Ngài tu hạnh đầu-đà nên mặc y phục rách rưới, râu tóc lùm xùm, các vị Tỳ-kheo nhìn thấy khởi niệm xem thường. Phật biết ý tăng chúng liền bảo: “Ca-diếp đến đây ta nhường cho nửa tòa. Ta được cái gì thì Ca-diếp đều được như thế.” Nghe Phật nói, đại chúng ai nấy đều kính phục.

Nếu căn cứ vào đoạn kinh trên thì ngài Ca-diếp có thể là người đáng kế thừa đức Phật. Còn đoạn nói trong hội Linh Sơn đức Phật đưa cành hoa ngài Ca-diếp mỉm cười thì chưa thấy kinh nào ghi. Qua đây cho thấy những người cho rằng hệ thống lịch sử Thiền tông là sản phẩm của người Trung Hoa, nhất là do ngài Thần Hội viết, thì sai lầm quá lớn.

Kế đến căn cứ vào lời tựa viết trong quyển Kinh Đạt-ma-đa-la Thiền của ngài Giác Hiền (Buddhabhadra) dịch, ngài Huệ Viễn ở Lô Sơn viết lời tựa: “Sau khi Phật diệt độ, tôn giả Đại Ca-diếp, tôn giả A-nan, tôn giả Thương-na-hòa-tu, tôn giả Ưu-ba-cúc-đa, tôn giả Đề-đa-ca, tôn giả Di-dá-ca, tôn giả Bà-tu-mật… cho đến tôn giả Bát-nhã-đa-la… Các ngài trì chánh pháp lần lượt truyền thọ.” Như vậy ngài Huệ Viễn không phải là đệ tử của Thiền tông, mà ngài đã biết lịch sử các thiền sư Ấn Độ. Tại sao nói các vị tổ không có một hệ thống truyền thừa mà cho rằng thiền sư Trung Hoa tạo ra? Nếu chúng ta căn cứ vào những nghi vấn của người bây giờ do nghiên cứu sách vở mà nói thì tất nhiên chúng ta hoang mang ngờ vực.

Hơn nữa học hành trạng của chư vị tổ sư là học gương sáng, qua tâm hạnh tu hành và lời dạy của các ngài để chúng ta noi theo tu hành. Nối tiếp mạng mạch Phật pháp, truyền bá chánh pháp lợi lạc quần sanh, đó là điều thiết yếu. Nếu chúng ta nghi ngờ lịch sử chỉ nhọc công nghiên cứu mà thôi chứ không ích lợi gì cả.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.