Nội dung:
Ngài dòng Bà-la-môn (Brāhmana) ở nước Ma-kiệt-đà (Magadha), cha tên Ẩm Trạch, mẹ tên Hương Chí. Thuở bé, ngài dung nghi trang nhã, toàn thân màu vàng, ánh sáng chiếu rất xa. Thầy tướng xem tướng ngài nói: “Đứa bé này đời trước có phước đức thù thắng, lẽ ưng xuất gia.” Cha mẹ ngài nghe nói lo sợ, cùng nhau thầm bàn “sẽ cưới vợ đẹp để làm nhụt chí của nó”.
Vừa lớn lên, cha mẹ liền lo chọn người lập gia thất cho ngài. Nhưng ngài một bề từ chối. Sau cùng, bất đắc dĩ ngài phải nói: “Có người con gái nào thân đồng màu sắc như con, con mới ưng cưới.” Cha mẹ ngài bèn đúc một tượng vàng, đẩy đi khắp trong nước, tìm người nữ nào giống màu sắc ấy, cưới cho ngài. Quả nhiên, gặp được một cô gái có màu da giống hệt như ngài. Thế là ngài phải lập gia đình.
Bởi vào thời đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipaśyin), sau khi Phật Niết-bàn, chúng xây tháp thờ xá-lợi, trong tháp có an trí một pho tượng Phật phết vàng. Lâu ngày pho tượng trên mặt bị lở khuyết. Khi ấy ngài Ca-diếp là thợ đúc vàng. Có cô gái nhà nghèo, vì thấy mặt Phật hư khuyết, cô còn một đồng tiền vàng đem đến nhờ ngài Ca-diếp nấu ra để phết lại tượng Phật. Thấy cô phát tâm tu bổ tượng Phật, ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Nhân đó, hai người cùng nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, mà coi như đôi tri kỷ, chứ không vì tình dục.
Do phước báo đó nên chín mươi mốt kiếp thân thể hai vị đều toàn một màu vàng. Sau, sanh cõi Phạm thiên, hết phước cõi Phạm thiên, chết sanh về cõi này trong nhà Bà-la-môn giàu có hiện tại.
Tuy hiện nay hai vị làm vợ chồng, mà sống như tình tri kỷ, không có ý dâm dục. Đến sau, cả hai đều xin cha mẹ xuất gia. Cha mẹ bằng lòng, ngài liền xuất gia làm Sa-môn vào núi tu hạnh đầu-đà (Dhuta).
Trước hết là nói về gia cảnh của ngài. Ngài là con nhà giàu, dung nghi đẹp đẽ, thân tướng màu vàng.
Khi lớn lên không muốn ở thế gian thụ hưởng dục lạc, chỉ muốn đi tu thôi. Cha mẹ mong có người nối dõi tông đường, nên cố tình giữ ngài ở nhà không cho đi tu, bằng cách ép lập gia đình. Ngài từ chối không được bèn ra điều kiện với cha mẹ, nếu có người con gái nào thân màu sắc vàng như con thì con mới ưng. Quả nhiên gặp được một cô gái thân tướng vàng chói giống hệt như ngài. Tại sao lại có thân tướng lạ đó? Vì thuở đức Phật Tỳ-bà-thi, ngài làm thợ đúc vàng, có cô gái nhà nghèo, nhân thấy tượng Phật mặt bị hư khuyết, bèn đem một đồng tiền vàng duy nhất nhờ ngài Ca-diếp tu bổ. Ngài rất hoan hỷ đứng ra làm chu tất việc này. Do nhân duyên đó, hai người nguyện đời đời sẽ làm vợ chồng, nhưng xem nhau như đôi bạn. Sau hai vị đều xin cha mẹ xuất gia, cha mẹ bằng lòng, ngài vào núi tu hạnh đầu-đà.
Một hôm, nhân nghe trong hư không có tiếng bảo: “Phật đã ra đời, nên đến đó thọ giáo.” Ngài liền tìm đến tinh xá Trúc Lâm, chí thành đảnh lễ Phật. Phật bảo: “Lành thay Tỳ-kheo đến đây, hãy cạo bỏ râu tóc đi!” Ngài liền cạo bỏ râu tóc, thọ giới Tỳ-kheo, mặc y ca-sa. Từ đây, ngài theo Phật hiểu sâu giáo pháp, tinh tấn tu hành không lúc nào lợi lỏng, cho đến chứng quả A-la-hán.
Trước khi gặp Phật ngài đã tu hạnh đầu-đà. Một hôm ngài nghe trên không trung nói đức Phật ra đời, nên đến đó thọ giáo. Ngài liền tới tinh xá Trúc Lâm để xin xuất gia tu học. Đức Phật thâu nhận ngài làm Tỳ-kheo. Khi làm Tỳ-kheo ngài y theo pháp Phật để tu nhưng vẫn tu hạnh đầu-đà như thuở xưa. Sự tinh tấn đó làm cho ngài mau chứng quả A-la-hán.
Có lần, ngài từ xa đến ra mắt Phật. Các chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh Phật, trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy, có ý thầm khinh. Phật biết, bèn bảo: “Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi.” Ngài vẫn không dám ngồi. Phật bảo các Tỳ-kheo: “Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam-muội và vô lượng công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng như thế. Do đó, ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi.” Chúng Tỳ-kheo đều dứt tâm ngạo mạn, lại thầm cung kính ngài.
Một hôm Phật đang thuyết pháp, ngài từ xa đến ra mắt đức Phật. Chúng Tỳ-kheo ngồi vây quanh trông thấy ngài mặc y bằng vải rách, thân hình tiều tụy có ý xem thường. Phật biết ý chúng nên ngài bảo: Ca-diếp đến đây ta nhường nửa tòa cho ngồi. Đức Phật thật là tâm lý, gọi “Ca-diếp đến đây! Ta nhường nửa tòa cho ngồi”. Ngài Ca-diếp bổn phận làm học trò, tuy Phật ban cho đặc ân như vậy, nhưng vẫn không dám ngồi.
Phật bèn chỉ ngài Ca-diếp nói với đại chúng: Ta có đại từ đại bi, các thiền định tam-muội, vô lượng công đức để tự trang nghiêm. Tỳ-kheo Ca-diếp cũng như thế, do đó ta nhường nửa tòa cho Ca-diếp ngồi. Tuy đức Phật không nói rõ truyền tâm ấn, nhưng đọc đoạn kinh này, chúng ta cũng đủ niềm tin rằng đức Phật truyền tâm ấn cho ngài Ca-diếp.
Hôm nọ, Phật ở trong hội Linh Sơn, tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài đắc ý chúm chím cười (niêm hoa vi tiếu). Phật bảo: “Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi. Ngươi khéo gìn giữ chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan.” Thế Tôn đến trước tháp Đa Tử gọi Ma-ha Ca-diếp đến chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp, rồi nói kệ phó pháp:
Pháp bản pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch:
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp.
Một hôm, Phật ở trong hội Linh Sơn tay cầm cành hoa sen đưa lên, cả hội chúng đều ngơ ngác. Chỉ có ngài Ca-diếp đắc ý chúm chím mỉm cười. Phật bảo: Ta có Chánh pháp Nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, pháp môn mầu nhiệm chẳng lập văn tự, ngoài giáo lý truyền riêng. Nay giao phó cho ngươi, ngươi khéo gìn giữ Chánh pháp này, truyền trao mãi đừng cho dứt, đến sau sẽ truyền cho A-nan. Đó là truyền tâm pháp, câu chuyện có vẻ lý thú mà lạ thường. Đây là một ảnh hưởng lớn về phương pháp truyền tâm của Thiền tông sau này.
Ngài Tỉnh Niệm dòng Lâm Tế đệ tử Phong Huyệt, chuyên tụng kinh Pháp Hoa. Một hôm Sư đứng hầu, ngài Phong Huyệt rơi nước mắt nói: Tông Lâm Tế truyền đến ta chắc là dứt. Khi ấy Sư thưa: Bạch Hòa thượng trong chúng này đâu không có người kế thừa? Ngài Phong Huyệt bảo: Người thông thì nhiều nhưng kẻ thấy tánh quá ít. Sư thưa: Như con, Hòa thượng xem thế nào? Ngài Phong Huyệt nói: Lâu nay ta trông cậy vào ngươi, nhưng ngươi còn mê kinh Pháp Hoa quá! Sư thưa: Bạch Hòa thượng việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy. Phong Huyệt nói: Được! Mai ta sẽ lên tòa dạy cho ngươi.
Hôm sau ngài Phong Huyệt thượng đường nhắc lại việc Thế Tôn dùng con mắt như hoa sen xanh nhìn xem đại chúng, bèn hỏi “chính khi ấy hãy bảo nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói lại chôn vùi thánh trước. Hãy bảo nói cái gì?” Cả chúng yên lặng. Sư bèn phủi áo đi ra, ngài Phong Huyệt cũng đứng dậy ném gậy trở về phương trượng. Đó là chỗ bí mật trong nhà Thiền, gọi là giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.
Lúc Thế Tôn đến tháp Đa Tử, gọi Ma-ha Ca-diếp tới chia nửa tòa cho ngồi, lấy y Tăng-già-lê quấn vào mình Ca-diếp rồi nói kệ phó pháp. Sau này các vị tổ truyền y bát cho đệ tử cũng tương tự như thế. Bài kệ truyền pháp này mới nghe qua rất là khó hiểu cũng như đọc thần chú:
Pháp bản pháp vô pháp
Vô pháp pháp điệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.
Dịch:
Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp.
Pháp gốc pháp không pháp, chữ Pháp ở đây cũng gọi là tâm. Pháp gốc là tâm bất sanh bất diệt hay tâm chân như. Tâm chân như là pháp mà không phải pháp, vì sao? Pháp tức là có, mà không phải pháp tức là không. Tâm chân như là tâm nên có cái biết. Cái biết không hình tướng nên nói là không pháp.
Pháp không pháp cũng pháp, chữ pháp này là chỉ cho tâm không có hình tướng, vì không hình tướng nên nói là vô pháp, nhưng tâm có cái biết nên tâm ấy vẫn là pháp. Như vậy để biết rằng bản thể chân tâm là cái biết nên nó là pháp, nhưng không có hình tướng nên nói là không pháp, tuy không có pháp mà nó vẫn biết cho nên cũng gọi là pháp.
Nay khi trao không pháp tức là trao cái pháp không hình tướng, nó là một pháp.
Mỗi pháp đâu từng pháp, nó là pháp mà chưa từng pháp. Vì sao? Vì tâm là nguồn gốc muôn pháp, nên gọi là pháp bản, các pháp đều từ tâm lưu xuất. Nhưng tâm chẳng phải là một pháp, vì nó không phải là sự vật như những thứ mà chúng ta thấy được, sờ mó được.
Như vậy bài kệ đức Phật truyền cho tổ Ca-diếp để chỉ tâm mà ngài trao cho tổ Ca-diếp, không có hình tướng nhưng có cái biết, nên nó cũng là một pháp. Vì vậy gọi là truyền tâm pháp.
Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên:“Ca-diếp tuổi đã già, nên ở một chỗ nhận những thức cúng dường của thí chủ, chớ đi khất thực nhọc nhằn.” Ngài bạch Phật: “Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ. Vì sợ e sau này, các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói: “Đệ tử lớn của Phật trước kia vẫn ở một chỗ thọ sự cúng dường”, rồi họ sanh phóng túng.”
Chúng ta thấy tư cách của ngài Ca-diếp là muốn làm mẫu mực cho người sau. Ngài già yếu, Phật nhiều lần khuyên: Ca-diếp tuổi đã già nên ở một chỗ nhận sự cúng dường của thí chủ chớ đi khất thực nhọc nhằn. Ngài bạch Phật: Con tuy già yếu, song không dám ở một chỗ thọ sự cúng dường của thí chủ, vì sợ các Tỳ-kheo đời sau sẽ nói “Đệ tử lớn của Phật trước kia cũng ở một chỗ thọ sự cúng dường”, rồi họ sanh tâm phóng túng. Chúng ta thấy người xưa, vì muốn làm mẫu mực cho người sau mà quên sự cực khổ nhọc nhằn của mình, đó là tâm lợi tha rất lớn.
Lúc Phật Niết-bàn tại thành Câu-thi-na (Kusinagara) trong rừng Sa-la, thì ngài đang ở trong động Tất-bát-la (Sthāvirā) trên núi Kỳ-xà quật (Grdhrakūta). Nghe tin Phật Niết-bàn, ngài và năm trăm đệ tử vội vã hướng về thành Câu-thi-na. Đến nơi, đã để Phật vào kim quan, ngài buồn bã. Thầy trò đi nhiễu kim quan ba vòng, rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy, hai bàn chân Phật duỗi ra ngoài kim quan để an ủi ngài. Ngài vuốt ve hai bàn chân Phật, lòng rất bi thảm.
Ngài Ca-diếp ở động Tất-bát-la núi Kỳ-xà-quật nghe tin Phật Niết-bàn, vội vàng cùng năm trăm đệ tử đi về thành Câu-thi-na. Đến nơi, nhục thân Phật đã được để vào kim quan. Ngài cùng đệ tử đi nhiễu kim quan ba lần rồi đảnh lễ Phật. Khi ấy Phật duỗi hai bàn chân ra ngoài kim quan để an ủi, ngài vuốt hai bàn chân đức Phật, lòng rất bi thảm. Người sau cũng nói đây là lần thứ ba đức Phật truyền pháp cho Ca-diếp.
Sau khi thiêu thân Phật xong, ngài tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: “Xá-lợi của Phật giao cho trời người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm của Tỳ-kheo chúng ta phải lo kiết tập kinh điển để lưu lại đời sau.” Ngài bèn nói kệ:
Như Lai đệ tử
Thả mạc Niết-bàn
Đắc thần thông giả
Đương phó kiết tập.
Dịch:
Đệ tử Như Lai
Chớ vội Niết-bàn
Người được thần thông
Nên đến kiết tập.
Sau khi thiêu Phật xong, ngài Ca-diếp tuyên bố với chúng Tỳ-kheo: Xá-lợi của Phật giao cho trời người xây tháp thờ làm ruộng phước, còn trách nhiệm của Tỳ-kheo chúng ta phải lo kiết tập kinh điển để lưu lại đời sau. Chúng ta thấy sự kiện này rất là bất hủ. Ngài phân ra rõ ràng như thế. Bây giờ kinh điển đã kiết tập sẵn, bổn phận chúng ta là phải học, phải phiên dịch, phải giảng giải để lưu truyền cho mọi người ứng dụng tu hành. Đó là chúng ta noi theo gương các bậc tiền bối.
Ngài nói kệ khuyên các đệ tử chứng thánh quả có thần thông của đức Như Lai chớ vội Niết-bàn, nếu nhập Niết-bàn hết thì không có những vị A-la-hán kiết tập kinh điển.
Trong kinh A-hàm có một đoạn ghi, đức Phật tuyên bố sau ba tháng sẽ nhập Niết-bàn, bà Ma-ha Ba-xà- ba-đề nghe tin như vậy rất buồn. Bà tới thăm Phật rồi thưa: Con không kham thấy Thế Tôn vào Niết-bàn cho nên con và đại chúng Tỳ-kheo-ni xin nhập Niết-bàn trước. Bà trở về tinh xá ngồi kiết già nhập Niết-bàn. Toàn chúng Tỳ-kheo-ni thấy bà Niết-bàn nên cũng nhập Niết-bàn luôn. Chúng ta thấy chư vị Tỳ-kheo-ni tự tại trong sanh tử chứ không phải là người tầm thường.
Thế là, sau Phật Niết-bàn ba tháng, ngài triệu tập năm trăm vị đại A-la-hán tụ họp tại núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la kiết tập. Chỉ có tôn giả A-nan không được dự hội, vì chưa sạch các lậu. Tôn giả A-nan buồn bã, suốt đêm chuyên tâm thiền định, đến gần sáng liền chứng ngộ, các lậu dứt sạch, được quả A-la-hán. Sau đó, Tôn giả được mời dự hội.
Ngài thưa toàn chúng: “Tỳ-kheo A-nan nhớ giỏi bậc nhất, thường theo hầu hạ Như Lai, nghe pháp Phật nói ghi nhớ không sót, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt, nên mời kiết tập tạng Kinh. Mời Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kiết tập tạng Luật.” Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Hội kiết tập này, ngài là chủ tịch.
Sau ba tháng Phật nhập Niết-bàn, ngài Ca-diếp triệu tập năm trăm vị A-la-hán tụ họp ở núi Kỳ-xà-quật, trong động Tất-bát-la để kiết tập kinh điển. Khi đó chỉ có tôn giả A-nan chưa chứng quả A-la-hán, chưa có thần thông nên không được dự hội. Ngài buồn quá nên suốt đêm thiền định mãi cho đến gần sáng thì chứng quả, bấy giờ mới được mời dự đại hội kiết tập. Khi ấy ngài Ca-diếp tuyên bố giữa chúng: “Tôn giả A-nan thường theo hầu đức Như Lai, nghe Phật nói pháp nhớ không sót một chữ, như nước rót vào bình không rơi ngoài một giọt. Nay mời tôn giả kiết tập tạng Kinh. Nhờ Tỳ-kheo Ưu-ba-ly kiết tập tạng Luật.” Toàn chúng đều hoan hỷ chấp thuận. Đó là lần kiết tập thứ nhất, ngài Ca-diếp làm chủ tịch trong đại hội này. Ngài A-nan đọc lại tạng Kinh, ngài Ưu-ba-ly đọc lại tạng Luật. Nhưng đây chỉ là đọc thôi chứ chưa ghi chép thành văn tự.
Sau cuộc kiết tập đã viên mãn, nhân duyên độ sanh xong xuôi, ngài thấy tuổi đã già yếu lắm, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: “Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn, có dặn ta đem Chánh pháp Nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ẩn, đúng lúc giao phó cho ông, ông phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt.”
Ngài nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời sẽ trao lại, nên dự bị vào núi Kê Túc nhập định. Liền đó, ngài đi từ giã vua A-xà thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ ngồi an nhiên nhập định.
Sau khi hội kiết tập viên mãn, ngài Ca-diếp thấy mình đã già yếu, bèn gọi tôn giả A-nan đến bảo: Khi Như Lai sắp vào Niết-bàn có dặn ta đem Chánh pháp Nhãn tạng giao phó cho ông. Nay ta sắp ở ẩn, đúng lúc ta đem chánh pháp giao phó cho ông, phải khéo gìn giữ chớ để đoạn dứt.
Ca-diếp nhớ lời Phật dặn giữ gìn y bát của Phật đợi đến Phật Di-lặc ra đời để trao lại, nên dự định vào núi Kê Túc nhập định. Ngài từ giã vua A-xà-thế và những người thân thuộc, rồi vào núi Kê Túc trải tòa cỏ an nhiên nhập định. Chúng ta không biết rõ ngài tịch hay ở ẩn.
Những đặc điểm của tổ Ma-ha Ca-diếp:
Thứ nhất, ngài là con nhà trưởng giả, nhưng khi đi tu ngài chuyên tu về khổ hạnh. Khi già Phật khuyên ngài ở một chỗ nhận cúng dường của Phật tử, ngài không chịu, vẫn đi khất thực và sống khổ hạnh như trước. Đó là một điều khó làm.
– Thứ hai, ở trong hội Linh Sơn, Phật đưa cành hoa sen lên, toàn chúng ngơ ngác, chỉ có ngài mỉm cười và được truyền y bát, đây là chỗ cảm thông giữa Phật và ngài rất sâu sắc.
– Thứ ba, khi Phật nhập Niết-bàn, ngài bảo Phật tử lo phần xây tháp cúng dường để thờ xá-lợi Phật gieo trồng ruộng phước, còn trách nhiệm Tỳ-kheo lo kiết tập kinh điển để lưu truyền đời sau. Vì vậy ngài triệu tập toàn những vị thánh tăng chứng A-la-hán kiết tập kinh điển. Ngài giao trọng trách rất là cụ thể cho Phật tử cũng như chư tăng.
Đó là ba đặc điểm của ngài chúng ta phải nhớ học theo.
Ngài con vua Hộc Phạn, dòng Sát-đế-lợi, ở thành Ca-tỳ-la-vệ, em ruột Đề-bà-đạt-đa, em con nhà chú của Phật Thích-ca. Thuở nhỏ, ngài có nhiều tướng tốt và thông minh tuyệt vời. Đến hai mươi lăm tuổi xin theo Phật xuất gia.
Ngài A-nan sanh trong dòng họ vua chúa, em con nhà chú của đức Phật, em ruột của Đề-bà-đạt-đa. Đến hai mươi lăm tuổi bỏ sự giàu sang của thế gian xuất gia làm Tỳ-kheo. Mỗi ngày đi khất thực để tu hành, đó là một điều đáng quý. Đề-bà-đạt-đa thì chống Phật nhưng A-nan theo hầu Phật. Thật là trái ngược nhau.
(2) Ananda: Trung Hoa dịch là Khánh Hỷ. Vì ngài sanh ngay đêm Phật thành đạo, dân chúng đều vui mừng nên cha mẹ đặt tên là Khánh Hỷ.
Một hôm, Phật cần chọn người làm thị giả, tất cả hội chúng lần lượt đứng ra xin làm thị giả, mà Phật không bằng lòng. Sau cùng, tôn giả Đại Mục-kiền-liên nhập định biết tôn ý Phật muốn A-nan làm thị giả. Đại chúng cử tôn giả Mục-kiền-liên, Xá-lợi-phất… đến yêu cầu ngài làm thị giả. Ngài nhiều lần từ chối, song các tôn giả một bề nài nỉ, buộc lòng ngài phải xin Phật ba điều, nếu Phật ưng cho, ngài mới dám làm thị giả:
1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài.
2- Không mặc y thừa của Phật.
3- Không đến Phật phi thời.
Thế Tôn chẳng những chấp thuận lời xin của ngài, mà còn khen ngợi ngài thông minh biết dự đoán trước những điều sẽ xảy ra. Thế là, ngài theo làm thị giả Phật ngót hai mươi lăm năm.
Đức Phật già yếu cần có một thị giả. Trong hội chúng ngài Ca-diếp, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên… xin làm thị giả nhưng toàn những vị lớn tuổi nên Phật không đồng ý. Vì các vị lớn tuổi cũng cần có thị giả, làm sao làm thị giả cho đức Phật. Cuối cùng không ai xin được hết. Lúc đó ngài Mục-kiền-liên nhập định biết ý đức Phật muốn ngài A-nan làm thị giả, nhưng ngài A-nan không có mặt ở đó, ngài đang ở một tịnh thất rất xa. Ngài Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đại diện đến thỉnh: – Thế Tôn cần ông làm thị giả.
Ngài thưa:
– Tôi không làm thị giả được cho đức Thế Tôn.
– Ông đừng phụ lòng đức Phật.
Thỉnh hoài nhưng ngài một bề từ chối. Cuối cùng ngài mới nói:
Nếu Thế Tôn muốn tôi làm thị giả thì xin chấp nhận ba điều kiện tôi đưa ra.
Các ngài nhận ba điều kiện trở về bạch với đức Phật. Nghe xong Phật không quở mà còn khen, nên chấp nhận ngài làm thị giả. Ba điều đó là:
1- Không theo Phật thọ trai riêng, nếu thí chủ không mời ngài. Nếu thí chủ mời tất cả chúng đi thọ trai thì ngài cùng đi, khi nào chỉ mời Phật mà không mời thị giả thì ngài không đi. Tại sao? Tại vì A-nan sợ chúng sẽ nói ông A-nan vì ham ăn uống ngon mà theo làm thị giả Phật.
2- Không mặc y thừa của Phật. Thí chủ cúng dường đức Phật rất nhiều y tốt. Phật dùng không hết nên phải cho bớt. Nếu cho ngài thì nhất định không nhận, để tránh tiếng vì ham mặc y tốt mà làm thị giả cho đức Thế Tôn. Tại sao? Vì thí chủ cúng dường y cho Phật thì cúng y tốt. Cúng dường thực phẩm cho Phật thì cúng thực phẩm ngon, trước đó đã không chịu theo Phật thọ trai riêng thì bây giờ không chịu mặc y tốt.
3- Không đến Phật phi thời. Ngài đến đúng giờ chứ không phải lúc nào cũng đến. Thị giả cũng có thì giờ chừng mực, tức là điều độ, chứ không phải bất thường.
Ngài làm thị giả đức Phật hai mươi lăm năm, mà chưa bao giờ bị Phật rầy. Khi nào Phật cần ngài mới đến, ngài tránh khi Phật không cần. Ngài đoán biết Phật muốn gì để làm như ý Phật. Bây giờ thị giả hầu Thầy mỗi ngày bị rầy tối thiểu hai ba lần, còn ngài hầu Phật hai mươi lăm năm, nhưng chỉ có một lần bị Phật quở không phải vì ngài sai, mà do ngài bênh vực một vị khác. Đây là một thị giả đặc biệt. Ngài rất thông minh nghe Phật thuyết pháp nhớ không sót một chữ, như rót nước từ bình này qua bình kia không rơi một giọt ra ngoài.
Hôm nọ, ngài đi khất thực về đến tinh xá Phật, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề đang đứng tựa cửa khóc. Di mẫu quần áo bụi bặm, chân dính bùn nhơ, vẻ người bi thảm. Ngài đến gần hỏi duyên cớ. Biết Bà từ xa đến tìm xin Phật xuất gia, đôi ba phen năn nỉ mà Phật quyết định không cho. Ngài cảm động, vào đảnh lễ Phật xin cho Bà được xuất gia. Phật nhiều lần từ chối, ngài vẫn kiên chí xin kỳ được mới thôi. Thế là mở đầu cho phái nữ xuất gia, chính ngài là người tích cực khai đường vậy.
Chính đức Phật đã từng khen ngài: “Thị giả các đức Phật đời quá khứ, không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan” Và Phật khen A-nan được tám điều chưa từng có.
Một hôm ngài đi khất thực về đến tinh xá, thấy Di mẫu Ma-ha Ba-xà-ba-đề và năm trăm công nương đang đứng tựa cửa khóc. Quý bà đi bộ từ Ca-tỳ-la-vệ đến Tỳ-xá-ly, quần áo dính bụi bặm, đi chân không nên bị trầy sướt rướm máu. Thấy vậy, ngài rất thương xót hỏi duyên cớ. Bà mới thuật lại là bà xin Phật xuất gia mà Phật không cho. Nghe nói như vậy ngài cảm động quá, nên đến đảnh lễ Phật cầu xin hai ba lần, Phật vẫn từ chối.
Ngài kể rằng khi hoàng hậu Ma-da băng hà, Thái tử còn nhỏ, Di mẫu là người nuôi nấng Thái tử cho đến khôn lớn, công ơn biết bao nhiêu, bây giờ xin Phật xuất gia, ngài không nghĩ công ơn lại từ chối. Phật trả lời: Ta đã hướng dẫn Phụ hoàng và Di mẫu quy y, gìn giữ năm giới, đó là ta đã đền ơn rồi.
Bao nhiêu năm nuôi dưỡng, chỉ hướng dẫn quy y thọ năm giới là đã đền ơn, sao dễ quá vậy? Chúng ta mới nghe qua thấy rất thường, nhưng trong đạo đó là một lẽ thật. Bởi vì săn sóc nuôi dưỡng cha mẹ được cơm no áo ấm, nhẹ nhàng khỏe khoắn đó là chỉ lo xác thân. Nếu cha mẹ không biết tu, không biết làm điều thiện thì khi nhắm mắt vướng vào cảnh khổ không biết ngày nào ra khỏi. Bây giờ khuyên cha mẹ bỏ điều ác, làm việc lành, quy y Tam bảo, giữ năm giới, nhất định không còn đọa trong những đường khổ. Như vậy mới cứu được cha mẹ ở hiện tại và mai sau. Chúng ta thương cha mẹ phần thể xác chưa đủ, mà phải tạo điều kiện cho cha mẹ tu hành, mới đúng tinh thần người con Phật biết thương cha mẹ.
Ngài tha thiết cầu xin đến ba lần mà đức Phật nhất định không cho quý bà xuất gia. Cuối cùng Phật cầm lòng không được, phải ra tám điều kiện tức Bát kỉnh pháp. Di mẫu chấp nhận và thưa, Phật đưa ra một ngàn điều bà cũng giữ được chứ đừng nói chỉ có tám điều. Bà rất hoan hỷ khi được xuất gia, là Ni trưởng của giáo đoàn Ni đầu tiên trong thời đức Phật. Ngài A-nan có công rất lớn đối với phái nữ, cho nên bây giờ đúng ra bên Ni phải thờ ngài A-nan như một vị Tổ.
Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ nói Phật bất công. Tại sao bên nam xin cho liền, còn bên nữ năn nỉ nhiều lần Phật không cho. Tại sao? Khi Phật mới thành đạo không có tinh xá, đi lang thang nay chỗ này mai chỗ khác không dừng trụ. Chư tăng thì được nhưng người nữ đi lang thang nguy hiểm vô cùng. Do đó Phật không cho phái nữ xuất gia. Ngài A-nan ép lắm Phật mới cho. Bây giờ có chùa Tăng chùa Ni đầy đủ thì giải quyết bình đẳng. Hiểu điều này chúng ta mới thấy Phật không bất công.
Phật từng khen ngài A-nan: Thị giả các đức Phật đời quá khứ không ai hơn A-nan, thị giả các đức Phật đời vị lai cũng không ai hơn A-nan. Như vậy ngài A-nan là người thị giả không ai hơn được. Trong kinh A-hàm, đức Phật cũng nói A-nan có tám điều chưa từng có:
1- Tín căn bền vững.
2- Tâm tính chất trực.
3- Thân không bệnh khổ.
4- Thường xuyên tinh tấn.
5- Niệm căn đầy đủ.
6- Tâm không kiêu mạn.
7- Thành tựu định ý.
8- Từ nghe sanh trí.
Sau khi Phật Niết-bàn, tổ Ca-diếp triệu tập các đại Tỳ-kheo kiết tập kinh điển, ngài là người được toàn đại hội đề cử kiết tập tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài nhìn qua đại chúng nói kệ:
Tỳ-kheo chư quyến thuộc,
Ly Phật bất trang nghiêm
Du như hư không trung
Chúng tinh chỉ vô nguyệt.
Dịch:
Tỳ-kheo các quyến thuộc,
Vắng Phật chẳng trang nghiêm!
Ví như trong hư không
Nhiều sao mà không trăng.
Nói kệ xong, ngài đảnh lễ đại chúng, lên pháp tòa mở đầu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ… nói Kinh… ” cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.”
Ngài kiết tập Kinh xong, tổ Ca-diếp hỏi đại chúng: “Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng?” Đại chúng đồng thanh đáp: “Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói.”
Tổ Ca-diếp triệu tập đại hội kiết tập, cử ngài lên tòa đọc lại tạng Kinh. Khi sắp tụng lại lời Phật, ngài đưa mắt nhìn khắp hội chúng rồi buồn bã nói kệ:
Tỳ–kheo chư quyến thuộc,
Ly Phật bất trang nghiêm!
Du như hư không trung
Chúng tinh chỉ vô nguyệt.
Dịch:
Tỳ–kheo các quyến thuộc,
Vắng Phật chẳng trang nghiêm!
Ví như trong hư không
Nhiều sao mà không trăng.
Trong đại hội kiết tập chư Tỳ-kheo ngồi đầy đủ mà không có Phật, thì thấy như thiếu cái gì đẹp đẽ, cao quý, chẳng khác như bầu trời có sao mà không trăng. Do đó ngài cảm động nói kệ, đảnh lễ đại chúng rồi lên pháp tòa trùng tuyên lời Phật. Mở đầu bằng câu: “Tôi nghe như vầy, một lúc nọ Phật ở tại xứ nói Kinh cho đến “trời người v.v… đều kính lễ vâng làm.”
Kiết tập xong, ngài Ca-diếp hỏi: Đại đức A-nan tụng đọc lại có chỗ nào sai lầm chăng? Đại chúng đồng thanh đáp: Chẳng khác những lời đức Thế Tôn đã nói khi xưa. Do đó phần kiết tập đầu tiên tuy chưa ghi chép bằng văn tự nhưng rất có giá trị, vì trong hội kiết tập toàn là những vị Thánh tăng.
Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp:
– Khi Thế Tôn phú chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng?
Tổ Ca-diếp liền gọi: – A-nan
Ngài ứng thanh: – Dạ!
Tổ Ca-diếp bảo:
– Cây cột phướn trước chùa ngã.
Ngài nhân đây tỏ ngộ.
Tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và đem Chánh pháp Nhãn tạng truyền lại cho ngài. Tổ nói kệ:
Pháp pháp bản lai pháp,
Vô pháp vô phi pháp.
Hà ư nhất pháp trung,
Hữu pháp hữu phi pháp.
Dịch:
Các pháp, pháp xưa nay,
Không pháp, không phi pháp.
Tại sao trong một pháp
Có pháp có phi pháp?
Ngài đảnh lễ thọ nhận.
Một hôm, ngài hỏi tổ Ca-diếp: Khi Thế Tôn phủ chúc và truyền y kim lan cho Sư huynh, còn có truyền pháp gì riêng nữa chăng? Tổ Ca-diếp liền gọi A-nan. A-nan dạ. Tổ Ca-diếp bảo cây cột phướn trước chùa ngã. Ngài nhân đây tỏ ngộ. Đó là điều đặc biệt, có liên hệ đến các thiền sư sau này.
Tổ Ca-diếp kêu ngài A-nan, A-nan dạ. Một hôm, Quốc sư Huệ Trung gọi thị giả, thị giả dạ! Sư gọi như thế ba lần thị giả cũng dạ ba lần. Ngài bảo: Tưởng ta cô phụ ngươi, nào ngờ ngươi cô phụ ta. Như vậy khi kêu mà dạ là có ý gì trong đó.
Khi ngài A-nan tỏ ngộ, tổ Ca-diếp bèn ấn chứng và truyền trao Chánh pháp Nhãn tạng cho ngài. Tổ nói kệ:
Các pháp, pháp xưa nay,
Không pháp, không phi pháp.
Tại sao trong một pháp
Có pháp có phi pháp?
Chữ pháp này có hai nghĩa, nghĩa hẹp và rộng. Nghĩa hẹp chữ pháp là chỉ vật này vật nọ, mà người Việt Nam nói cái này cái kia, như cái bàn cái tủ v.v… mỗi cái đều là một pháp.
Có một pháp từ xưa nhẫn đến nay không bị đổi dời, không bị vô thường, pháp đó là một trong các pháp, nhưng nói một pháp cũng không đúng. Bởi vì các pháp có hình tướng đều bị vô thường sanh diệt, nhưng pháp ấy không hình tướng nên không bị sanh diệt. Cái sẵn có không phải pháp, tức là không phải thật có hình tướng như những sự vật, nó cũng không phải là không phải pháp, bởi vì nó thường hằng.
Nói dễ hiểu hơn, từ xưa đến giờ có một cái không sanh không diệt, không thuộc có không thuộc không, cho nên nói Tại sao trong một pháp lại có pháp và phi pháp? Tại sao trong một cái mà nói là có là không? Đọc qua đoạn này chúng ta sẽ thấy trong nhà Thiền không chấp nhận hai bên, vì hai bên có không đều không đúng.
Tóm lại ý bài kệ này nói tất cả hiện tượng mắt chúng ta thấy, gốc từ chân tâm mà ra. Đã từ chân tâm mà nói có nói không, nói phải nói quấy thì không đúng. Đã từ một nguồn gốc chân tâm thì không thấy hai, nếu thấy hai thì đã quên gốc rồi.
Khi ấy ngài A-nan liền đảnh lễ thọ nhận.
Môn đệ của ngài có hai vị xuất sắc:Thương-na- hòa-tu và Mạc-điền-để-ca (Mạc-điền-địa). Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa Tổ vị và truyền trao y bát lại.
Cảm thấy thân bèo bọt đã đến thời kỳ hoại diệt, đã tìm được người kế thừa, ngài dự định vào Niết-bàn. Trước khi vào Niết-bàn, ngài đến từ giã vua A-xà-thế, song không gặp vua. Ngài liền đi thẳng đến bờ sông Hằng, lên một chiếc thuyền ngồi kiết già thả trôi lơ lửng giữa dòng sông.
Vua A-xà-thế hay tin ngài sắp vào Niết-bàn ở sông Hằng, liền cùng quan quân tùy tùng tìm đến bờ sông. Vua thấy ngài ngồi trên thuyền ở giữa dòng sông bèn đảnh lễ nói kệ:
Khể thủ tam giới Tôn,
Khí ngã như chí thử.
Tạm bằng bi nguyện lực
Thả mạc Bát-niết-bàn.
Dịch:
Lạy đấng Tôn tam giới,
Bỏ con đến nơi này.
Tạm nương sức bi nguyện,
Xin chớ vội Niết-bàn.
Vua nước Tỳ-xá-ly nghe tin cũng đến bên bờ
sông Hằng, đảnh lễ và nói kệ:
Tôn giả nhất hà tốc,
Nhi quy tịch diệt trường!
Nguyện trụ tu du gian,
Nhi thọ ư cúng dường.
Dịch:
Tôn giả sao quá nhanh,
Sớm vào nơi tịch diệt!
Xin tạm dừng chốc lát,
Để nhận con cúng dường.
Ngài thấy hai vua đồng đến khuyến thỉnh, bèn nói kệ:
Nhị Vương thiện nghiêm trụ,
Vật vi khổ bị luyến.
Niết-bàn đương ngã tịnh,
Nhi vô chư hữu cố.
Dịch:
Hai Vua ở an vui,
Chớ vì thương buồn khổ.
Niết-bàn, tôi an tịnh
Vì không còn các nghiệp.
Ngài giữ tâm bình đẳng ở giữa dòng sông vào Niết-bàn. Hai vua họp nhau làm lễ thiêu thân ngài và phân chia xá-lợi xây tháp cúng dường.
Trong các môn đệ của ngài, có hai vị đồ đệ xuất sắc là Thương-na-hòa-tu và Mạc-điền-địa. Ngài chọn Thương-na-hòa-tu làm người kế thừa sau này. Khi sắp Niết-bàn, ngài đi thăm vua A-xà-thế rồi lên chiếc thuyền ra giữa sông Hằng. Ranh giới bên này là vua A-xà-thế, bên kia là vua nước Tỳ-xá-ly. Hai nước đang tranh chấp, lấy sông Hằng làm ranh giới. Nếu ngài nhập Niết-bàn ở bên đất của vua A-xà-thế thì vua được trọn quyền xây tháp thờ xá-lợi. Nếu Niết-bàn bên kia thì vua Tỳ-xá-ly được trọn quyền xây tháp cúng dường. Cho nên ngài thả trôi chiếc thuyền giữa dòng sông, giữ tâm bình đẳng vào Niết-bàn. Hai vua nhìn thấy đảnh lễ, nói kệ tán thán, rồi hợp tác với nhau trà-tỳ nhục thân của ngài. Hai bên phân chia xá-lợi bình đẳng xây tháp cúng dường. Đó là chỗ đặc biệt, ngài lựa chỗ chết mà không phiền hà ai hết.