Phụng Hoàng Sách Tấn

Câu Chuyện Buổi Chiều (V)



Có một cư sĩ ở Châu Đốc lên Trúc Lâm, lạy Phật ông khóc, gặp Thầy ông cũng khóc. Thầy bảo dừng lại, muốn hỏi gì thì hỏi, sao khóc hoài vậy? Nghe vậy, ông nín khóc. Thầy chưa thấy ai khóc hu hu như vậy.

Một cô Phật tử khác gặp Thầy cũng khóc, nói:

– Bạch Thầy, con không biết tại sao gặp Thầy con cứ khóc?

Thầy hỏi:

– Sao cô biết Thầy?

Cô nói:

– Vì con đọc sách, nghe băng của Thầy, nên gặp Thầy con xúc động quá.

Thầy giải thích: Đây là duyên tốt của cô đối với Phật pháp, nên nghe giảng cô hiểu, đọc sách Phật cô cũng thâm nhập được. Nhờ nghe giảng dạy mà hiểu Phật pháp nên gặp Thầy cô xúc động. Đó là lý do thứ nhất.

Lý do thứ hai, biết đâu đời trước cô cũng từng học Phật pháp, gieo duyên tốt rồi, bây giờ bất thần gặp lại nên xúc động mạnh, chứ không phải bỗng dưng mà có. Nhiều người khóc không biết lý do gì, thật ra tất cả đều có nhân duyên, quá khứ hoặc hiện tại, chứ không thể tự nhiên. Có thể hồi xưa Thầy đi giảng, những vị già nghe giảng, ít năm sau họ mất, nay trở lại gặp Thầy họ khóc. Do duyên trước gặp lại nên xúc động.

Như bây giờ Thầy dạy tụi con, rồi sẽ ra đi, sau trở lại giáo hóa ở đâu đó. Tụi con ở đây một thời gian, hết duyên qua đó gặp lại Thầy cũng xúc động như vậy, đâu phải chết là hết. Tất cả những gì xảy ra đều có nhân duyên của nó, không thể tự nhiên.

– Thưa Thầy người ta mừng cũng khóc, buồn cũng khóc.

– Ngày xưa Thầy đi giảng, một tuần lễ ở chỗ này rồi dời qua chỗ khác. Phật tử tiễn chân họ khóc lu bù. Ở ngoài Trung, ngoài Bắc Thầy giảng ít nên ít người biết, chứ trong Nam Thầy đi giảng nhiều, đệ tử đông nên nay gặp lại họ xúc động nhiều. Tất cả đều có duyên trước mà mình không nhớ. Nếu Thầy sống tám mươi tuổi trở lên, bà con nhiều người đi, rồi trở lại gặp chắc nhiều lắm. Bởi vì đâu phải ai cũng sống đến bảy tám mươi tuổi, có người chỉ ba bốn mươi, năm mươi đã mất. Mình đủ phước đủ duyên sống ngày nào ráng tu ngày nấy, đừng để phí ngày nào uổng lắm, sau hối hận không kịp.

Tại thiền viện, chiều nào chúng ta cũng nghe kệ hỗ trống Ngày nay đã qua… báo cho biết mình đã mất một thời gian quý báu rồi, nên giờ phút nào cũng ráng tỉnh. Ngày xưa mình ôm ấp giận hờn dai lắm, bây giờ vừa giận liền bỏ. Chúng ta phước lớn được ở nơi có học có tu, được nghe lời dạy của quý thầy quý cô, nhắc tới nhắc lui cho thấm. Mai kia lớn thành người đàng hoàng đứng đắn, tiếp tục làm việc mồi đèn tiếp lửa cho người sau. Muốn mồi đèn nối đuốc trước hết đèn mình phải cháy, đèn mình không cháy mà mồi cho người khác, lấy gì để mồi?

Cho nên tụi con phải chịu cực. Một là học, học cho hiểu thông giáo lý. Hai là tu, tu để chứng nghiệm lời Phật dạy. Lời Phật dạy chỉ có tu mới thấy đúng lẽ thật, không tu thì không thấy được. Nhiều người học giỏi, bằng cấp cao mà giảng Phật pháp ít người chịu nghe, có những người học ít mà giảng pháp thiên hạ chịu nghe. Ở chùa cũng vậy, có những vị học giỏi mà Phật tử không thương bao nhiêu, có những người học thường thôi mà hạnh kiểm tốt, tư cách đàng hoàng ai cũng quý mến.

Quan trọng là chúng ta quân bình được cả hai mặt học và tu, sau này làm Phật sự mới tốt. Được một bên, thiếu một bên thì không tốt. Ở đây tăng ni có giờ học giờ tu, đâu đó đàng hoàng. Nhiều nơi có học mà thiếu giờ tu, hoặc có tu mà thiếu giờ học, cả hai trường hợp đều thiếu sót. Chúng ta đầy đủ phước đức mới được sống trong môi trường đủ cả hai mặt tu và học.

Con người thường có bệnh đứng núi này trông núi nọ. Khi chưa tới đây thì khao khát tới. Ở đây lâu rồi, lại thèm muốn đi nơi khác xem có gì lạ hơn không. Hiểu cho thấu đáo thì nơi nào thuận duyên cho sự tu học, dù bị đuổi cũng không đi, đừng nói buồn giận một chút liền bỏ đi. Có nơi ồn như cái chợ rất khó tu, còn thiền viện có nội viện Tăng nội viện Ni đều yên tĩnh, mát mẻ. Người ở lâu coi thường, người mới tới thấy quý. Bởi vậy, nhiều khi mình đủ phước đủ duyên mà không biết, cứ thả trôi đến lúc mất rồi mới tiếc.

Thật ra, Thầy lập thiền viện đều là từ kinh nghiệm trải qua các nơi, không phải chuyện tự nghĩ. Ngày xưa, ở Phật học đường học nhiều hơn tu, chỉ buổi tối tụng một thời Tịnh độ, khuya một thời công phu, ngoài ra thì cắm đầu học. Như vậy năm mười năm ra làm Phật sự thì không có giờ tu. Thầy làm Phật sự từ năm 1955 đến năm 1966 là hơn mười năm, phần nào trả nợ áo cơm rồi. Sau đó Thầy tìm chỗ chuyên tu, chỉ làm việc của mình.

Ngày xưa học xong quý Thầy ra làm Phật sự liền, giảng từ chỗ này đến chỗ kia, đi lang thang hoài. Cắm đầu học, cắm đầu dạy nên không có thời gian tu. Như vậy làm sao thấu rõ được lời Phật tổ dạy? Phải có thời gian tu mới từ từ thấm nhuần chân lý. Người có học có tu đàng hoàng, lâu ngày tự nhiên tỉnh sáng hơn người chỉ chuyên học. Thí dụ chúng ta nghe Phật nói các pháp vô thường, học và nói ý nghĩa các pháp vô thường thì dễ, nhưng thấu được lý này rất khó.

Thường người ta nghĩ vô thường là sự thay đổi, có rồi mất. Nghĩ đơn giản vậy thôi. Nhưng muốn thấm nó mình phải quán sát các pháp, nhất là căn cứ vào con người. Hồi trẻ mạnh khỏe, lần lần tới trung niên, rồi già, bệnh và chết. Đi một dòng từ sanh đến cuối cùng là chết, ai cũng đi đến điểm cửa tử ấy.

Như một chiếc xe lửa tự động không có người lái. Tuyến đường của nó bắt đầu từ thành phố chạy dài đến cuối cùng là biển. Những ai lên đó, sau cùng trôi tuột xuống biển, rồi đời! Thầy gọi đó là chiếc xe định mệnh. Kết cục là vậy mà ai cũng thích lên đó. Lên rồi, có người được chỗ tốt, có người ở chỗ xấu, giành nhau cự cãi om sòm. Có kẻ đi xung quanh ngắm cảnh này đẹp, cảnh kia xinh. Tuy nhiên một vài người khôn ngoan, mặc kệ mình ngồi đâu, trên sàn cũng được, chỉ lo tìm cách kết phao. Chiếc xe chạy đến điểm cuối cùng rơi ùm xuống biển, tất cả đều rồi đời; chỉ người kết phao, tới biển họ ôm phao nhảy ra khỏi xe nên không bị chết chìm.

Chúng ta muốn mình thuộc hạng nào trong xe đó? Người lo kết phao thì bị chê ngu, không chịu kiếm chỗ tốt ngồi, cũng không biết ngắm cảnh đẹp, mà cặm cụi kết phao, thấy vô lý quá. Nhưng cuối cùng họ mới biết ai khôn ai ngu. Người đời cũng vậy, lo tranh giành danh lợi, giành đủ thứ, tới giờ phút cuối không biết mình ra sao, cam chịu sống trong mê mờ.

Tụi con còn trẻ mà biết suy gẫm lời Phật tổ dạy, hiểu được lý vô thường rồi ứng dụng tu, để khi vô thường đến mình không bị nó chi phối. Đó là người khôn ngoan, cái khôn của người tu là như vậy. Mới nhìn thấy người lo cắm đầu kết phao như ngu, còn những kẻ giành chỗ tốt, ngắm cảnh này cảnh kia vui mắt là khôn. Nhưng cuối cùng mới biết ai khờ ai khôn. Chiếc xe chạy không dừng lại lúc nào, cũng như dòng thời gian chưa dừng lại bao giờ. Hai mươi bốn giờ cứ trôi qua đều đều, đưa mình tới chỗ cuối cùng là cửa tử, không ai tránh khỏi hết. Chỗ không ai tránh khỏi mà không chuẩn bị, không lo xa là sao?

Có Phật tử hỏi:

– Con đọc một quyển sách, trong đó có câu này: “Còn nhỏ thấy cuộc đời là bi kịch, lớn lên rồi thấy cuộc đời là hài kịch”, thưa Thầy đó là sao?

– Khi nhỏ thấy cuộc đời là bi kịch, vì lúc mới lớn ở tuổi thanh niên, trong đầu lúc nào cũng nghĩ tưởng mình có đầy đủ hạnh phúc, sẽ được cái này cái kia, danh lợi đủ thứ. Tưởng tượng quá nhiều nhưng khi đụng thực tế thì những tưởng tượng ấy bị tan vỡ, cho nên nhiều người tự tử ở tuổi thanh niên. Vì vậy họ nhìn cuộc đời là một bi kịch.

Khi lớn lên rồi già, ở tuổi sáu bảy mươi, nhìn lại cuộc đời thấy ông A làm quan, khi chết không còn gì ngoài cái thây thúi, bà B chết cũng là thây thúi. Tất cả những gì họ có được đều là trò chơi, không nghĩa lý gì. Suốt cuộc đời, những gì người ta đuổi bắt tưởng là hạnh phúc, nhưng đến lúc thân bại hoại cũng ra đi tay không. Những cái được đó là hạnh phúc hay cái gì? Chỉ là trò đùa thôi, không có thật. Bởi thấy như trò đùa nên nói là hài kịch.

Sống gần hết một đời mới thấy cuộc đời như trò chơi không có gì thật. Hồi nhỏ thấy cái gì cũng thật, nên muốn được cái này ham cái nọ, không được thì khổ não. Lớn lên thấy cuộc đời tạm bợ không bền lâu, được không được gì cũng chết như nhau, rõ ràng những cái được là trò đùa. Vì vậy coi như hài kịch.

Phật giáo đời Trần có những đặc điểm như sau:

1- Người cư sĩ có thể hiểu đạo thấu đáo không thua kém những vị thiền sư. Họ tu được, nói đạo lý cũng hay, rồi ghi chép lại cho đời sau. Thời của mình ai xuất gia tu cũng được, ai cư sĩ tu cũng được. Biết đâu trong đạo tràng này cũng có người xuất cách, phải không? Vì vậy, ở đây tu chung cả người xuất gia lẫn cư sĩ tại gia, chứ không dành riêng cho một nhóm nào.

2- Chúng ta thấy một người làm vua công việc bộn bề mà còn để tâm nghiên cứu kinh điển thấu đáo. Chúng ta không có việc gì, chỉ một bề học kinh và tu thôi mà không theo kịp. Như vậy là mình đã kém xa hai ba lớp. Vua rất nhiều việc mà lại dành thời gian nghiên cứu Phật pháp, tu hành tinh tấn thì thật đáng nể. Một bên là việc nước, một bên nghiên cứu Phật pháp, hai bên ngài đều làm tròn hết. Chúng ta chỉ một việc chuyên tu mà chưa tròn, có xấu hổ không? Cho nên tăng ni phải cố gắng tu học, không nên trì trệ, chậm lụt để tuổi trẻ đầy sức sống trôi qua, sau này tu học không kịp, uổng đi một đời.

Hai tông phái Thiền và Tịnh độ gặp nhau ở chỗ nào và khác nhau chỗ nào?

Pháp Phật dạy là tùy căn cơ của chúng sanh. Pháp Phật là thuốc, chúng sanh là bệnh, có bao nhiêu bệnh thì có bấy nhiêu thuốc. Người có trí tuệ, dạy tu Thiền; người nặng lòng tin, dạy tu Tịnh độ. Thiền hay Tịnh cũng từ Phật dạy, pháp tuy khác nhưng cuối cùng gặp nhau ở chỗ dứt mê được giác. Hiểu vậy thì không công kích nhau, không ai khen chê ai, tùy căn cơ mỗi người mà chọn pháp tu. Tất cả pháp môn Phật dạy đều đưa đến giải thoát sanh tử.

Thầy nêu câu hỏi: Giải thoát Giác ngộ cái nào trước cái nào sau?

Ngày đêm chúng ta quán sát thấy rõ các pháp tự tánh là không, soi thấu năm uẩn đều là không. Thấy năm uẩn không, sáu trần không, đó là thấy bằng trí tuệ Bát-nhã. Từ thấy các pháp tánh không, duyên hợp mới có, nên biết nó giả dối tạm bợ. Thấy giả dối tạm bợ thì mình không vướng mắc, không vướng mắc nên tâm an định, tâm định thì được giác ngộ.

Người tu phải dùng trí tuệ phá các kiến chấp mê lầm. Chấp thân, tâm là thật, Phật nói là ngu si. Thân này có thật không? Nếu thật thì không chết, chết thì không thật. Điều đó rõ như ban ngày mà người ta không chấp nhận, cứ tưởng tượng theo sự ngu mê. Ông bà chết, cha mẹ chết, anh em chết, mai mốt mình cũng chết là lẽ thật. Lớp người trước chết gọi là giả, lớp người kế chết cũng là giả, như vậy mình thật được sao? Người ta chết thì thấy giả, còn mình sống lại thấy thật! Như vậy có si mê không? Vậy mà ai chỉ mặt mình nói ngu thì nổi giận liền, mê lầm là vậy.

Chúng ta nếu không có duyên gì nên không sân thì không có giá trị, gặp nghịch duyên mà không sân đó mới là thứ thiệt. Người ta chọc ghẹo một chút quạn lên liền là còn sân. Nếu hết sân thì người ta chọc ghẹo cũng chỉ cười thôi. Căn cứ theo đó, chúng ta dễ biết thứ thiệt hay thứ giả. Mình là chủ mà không biết thì ai biết mình còn sân hay hết sân.

Trong ba độc tham sân si thì sân đứng số ba. Số ba mà không bỏ được thì còn xa đạo quá. Niết-bàn không chứa những người còn tham sân si. Người tu cứ đòi lên Niết-bàn mà lại không chịu bỏ tham sân si thì làm sao lên! Như người muốn leo lên đỉnh núi mà quảy cái cối đá nặng trĩu làm sao lên nổi. Mang nặng thì than mà bảo bỏ thì không chịu bỏ. Thật kỳ lạ quái gở!

Những thứ ở bên ngoài tới, mình nói không biết thì được, còn ở trong tâm mình thì phải xét kỹ, biết rõ. Mình không biết thì ai biết? Vậy mà có người tối ngày lo chuyện thị phi, người này tốt người kia xấu, chị này thế này chị kia thế nọ…, còn mình ra sao lại không biết! Như vậy là tu giỏi hay tu dở? Chừng nào việc của người, mình không cần biết, chỉ biết mình còn có cái gì xấu dở để sửa đổi, đó là người khôn ngoan khéo tu.

Người biết tu là biết quay lại mình, nhìn kỹ đang tiến hay lùi. Bước nào đã qua, bước nào chưa qua, để nỗ lực đi cho tới nơi tới chốn. Cứ ngó thiên hạ rồi phê bình hay dở, rốt cuộc mình ra sao không biết, buồn chưa? Nên ngồi tu là cốt nhìn lại mình, biết rõ có vọng tưởng, phiền não hay không. Chừng nào chúng ta nghe người ta mắng mà vẫn cười là thứ thiệt, là Bồ-tát con rồi. Bởi vậy, tu đừng nói cái gì cao siêu xa vời, chỉ nhìn lại xem mình còn những gì xấu dở rồi sửa đổi. Đó là biết nỗ lực tu hành.

Tu là việc làm thực tế, cụ thể nhất. Xoay lại quán sát để biết rõ mình còn phiền não gì, tập khí dở xấu ở đâu để trừ bỏ nó. Đó là thực tu. Cứ biết chuyện của người để khen chê là chưa phải thực tu, đó là tào lao. Những kẻ ấy thiệt thòi hơn ai hết. Như vậy họ đáng ghét hay đáng thương? Đáng thương. Họ không biết quý tiếc thời gian lúc còn khỏe mạnh, mai kia đến lúc già yếu rồi làm sao tu cho kịp. Cho nên, người khôn ngoan khi còn trẻ còn khỏe mạnh thì ráng tu, đừng nên phán xét ai hết. Nên nhớ, hay dở gì cũng là việc của người chứ đâu phải của mình. Tu là biết cái hay cái dở của chính mình rồi sửa, năm nay một phần, năm tới một phần cho tới khi sạch hết.

Tu không phải chuyện ở đâu mà là ngay nơi mình. Mình biết rõ và đủ thẩm quyền quyết định chuyện nên buồn không nên buồn, nên giận không nên giận. Chuyện này đâu ai quyết định cho mình. Chúng ta có quyền quyết định mà không chịu làm thì biết làm sao, lỗi đó của ai? Chắp tay cầu Phật, xin Phật ban cho con hết nóng giận được không? Cho nên phải cẩn thận, đừng quên nhìn lại chính mình. Ai cũng muốn người ta thương mà không chịu hiền hòa, cứ bực bội cái này, quạu quọ cái kia, không được tươi vui chút nào. Người này không khôn ngoan, không sáng suốt nên phải tự chịu thiệt thòi.

Người biết quý tiếc thời gian là ngày nào cũng như ngày nào, dù được nhắc nhở hay không nhắc nhở, nghe đánh kẻng thì đi ngồi thiền, sám hối, không đợi ai nhắc ai kêu. Có khi nào nghe đánh kẻng mà mình đi chậm chậm, uể oải không? Chắc cũng có. Bây giờ phải thấy thời khắc nào mình cũng tự giải quyết, khỏi đợi ai nhắc ai rầy, đó là khéo tu, khéo giữ gìn công phu, không để cho người xung quanh phiền hà.

Ngày xưa Thầy ở Ấn Quang, có một ông bạn ở cạnh Thầy, ông dặn: “Khi nào nghe đánh kẻng kêu tôi dậy giùm nghe.” Vì mỗi buổi khuya công phu Lăng-nghiêm ông bỏ hoài nên dặn Thầy như vậy. Thầy nghe đánh kẻng liền trỗi dậy, kêu ông bạn: “Tới giờ rồi, dậy đi công phu”, thầy đó nghe xong lăn qua trở lại, nói: “Ôi nhức đầu quá!” rồi thôi. Nhưng tới giờ ăn cơm thì thầy ấy hết nhức đầu, đi ăn như thường. Thầy chịu thua! Bởi những thói quen yếu đuối, lười biếng như vậy nên thiếu phước đức. Tăng ni không nên như vậy. Người ta dậy thì mình dậy, người ta đi tụng kinh mình cũng lẹ làng tụng kinh, kịp giờ đừng có trễ nải. Được như vậy mới là khéo tu.

Sống với chúng, mình nên là người mẫu mực, không được lôi thôi. Ở đây lôi thôi, đến chỗ khác chắc gì không lôi thôi, mai mốt ra làm trụ trì cũng lôi thôi như vậy. Nhiều người trụ trì rồi mà ăn mặc lếch thếch, nói năng cẩu thả, nhiều người còn nhai trầu bỏm bẻm, cầm điếu thuốc hút phì phà. Lôi thôi, lếch thếch như vậy sao đủ tư cách làm thầy người.

Phật tử hỏi:

– Thưa Thầy, thế nào là mục đích của đời sống?

– Nói mục đích của đời sống thì có nhiều điểm khác nhau. Cái nhìn của người tu khác hơn người đời. Phật dạy mình phải tự giác rồi giác tha, tức giác ngộ cho người, đó là mục đích sống của chúng ta. Phật tử sống một mình, tâm an vui, sống khỏe mạnh, đem niềm vui và sự khỏe mạnh đó nói cho mọi người nghe, người ta bắt chước theo, đó là giúp ích cho cộng đồng xã hội.

– Con mong Thầy luôn luôn mạnh khỏe.

– Ai rồi cũng phải chết chứ không thể sống mãi. Người hiểu đạo Phật thấy đúng sự thật cuộc đời mình, đem chỗ thấy được chỉ dạy cho người. Con người khi chết cũng như cởi áo thôi, có khi áo cũ đẹp hơn áo mới.

– Thưa Thầy, tại sao áo cũ đẹp hơn áo mới?

– Tại vì không chuẩn bị được số tiền để mua áo mới tốt, nên áo cũ đẹp bị mất rồi, áo mới xấu hơn. Mỗi lần đổi lại càng đi xuống nữa.

– Thưa Thầy, đối với ba và mẹ, Thầy có tương quan chặt chẽ không?

– Đối với ba và mẹ thì Thầy có tương quan chặt chẽ từ khi lọt lòng cho tới lúc lớn khôn. Khi lớn khôn rồi, Thầy chọn lý tưởng và theo đó tu hành, từ đó ít liên hệ. Tuy ít liên hệ, nhưng khi Thầy tu rồi thì biết cha mẹ sẽ được ảnh hưởng tốt từ Thầy.

– Thưa Thầy, khi trở thành người xuất gia, làm cách nào để Thầy chịu đựng, đương đầu với những điều khó khăn trong cuộc sống?

– Ban đầu ai tu cũng có những cảnh khó, nhưng chính sự khó khăn là những bài học hay. Qua một cảnh khó là một bài học kinh nghiệm cho mình, không có gì để sợ. Chúng ta lấy cái khó, cái dở của người làm bài học cho mình.

– Tại sao trong cuộc sống có người được quá nhiều ưu đãi, có người nhận quá nhiều đau khổ?

– Lý do đơn giản lắm. Nếu mình xử sự với mọi người bằng một tâm tốt, ngày nay mình làm nhiều điều tốt cho mọi người, họ đều mến mình thì ngày mai mình sẽ được ưu đãi. Ngày nay mình làm điều xấu với mọi người, họ oán hờn mình thì ngày mai mình sẽ bị khó khăn. Không có điều gì ngẫu nhiên, cũng không ai ban cho mình điều tốt.

Bây giờ mình nghèo đói, có phải đời trước đã làm việc gì không tốt không?

– Một phần là như vậy. Do quá khứ tạo nhân xấu nên hiện tại phải chịu quả xấu. Cũng có người dù cố gắng làm tối đa mà không đủ ăn, đó là do nhân trước không tốt. Nếu hiện tại lười quá nên không có ăn, là tại nhân đời này, không phải nhân quá khứ.

– Thưa Thầy, tại sao phải ngồi thiền ạ?

– Ngồi thiền để vọng tưởng lắng xuống, tâm được yên. Vọng lặng thì tâm nhẹ nhàng, tâm nhẹ nhàng thì trí sáng suốt.

Thầy giảng ý nghĩa bài kệ Mộng.

Gả thân mộng là chỉ cho bao nhiêu lần mình đã tạo nghiệp, dẫn thần thức đến gá vào thân giả huyễn này.

Phá Táo Đọa là chuyện ông thần Táo gá vào mấy cục gạch, cho đó là thân mình. Ai tới cúng kính thì ông cho phước, ai phá phách thì ông giáng họa. Sự linh ứng tựa vào mấy cục gạch. Sau được thiền sư khai thị, ông thoát kiếp thần Táo.

Thiền sư có nói gì đâu, chỉ nhắc thân này do đất nước gió lửa hợp thành. Chỗ ông tựa vào cũng do đất nước gió lửa hợp thành, đâu có giá trị thật. Khi thiền sư đập vỡ ba cục gạch, thần Táo mới biết lâu nay ông mê mờ tựa vào đó chấp là mình. Khi ba cục gạch mất ông chợt thức tỉnh, biết thân tứ đại này giả hợp không phải mình, liền thoát kiếp Táo được sanh lên cõi trời. Thấy thân này giả là thấy thấu đáo lẽ thật, nên được giải thoát.

Nếu người nào còn nói thân này thật, là mê mờ. Chúng ta cũng nói thân không thật nhưng đó là nói gượng, thực tế vẫn không dám nhận thân này là giả. Hiểu được nghĩa chữ gá, biết thân này là chỗ tựa tạm thời, không phải vĩnh cửu, không phải thật mình, ta không còn đắm luyến nó nữa. Thân là gá mượn không thật, nhưng người ta lầm rồi bám vào đó tranh hơn tranh thua, khen đẹp chê xấu đủ chuyện rối rắm, giành giật.

Dạo cảnh mộng. Thân đã là mộng rồi thì mấy chục năm đi đây đi kia, làm việc này việc nọ… là dạo cảnh mộng. Mình không thật thì cảnh cũng không thật, thân mộng thì cảnh cũng mộng. Hiểu vậy rồi khi thân này hoại thì sao? Thì mộng tan.

Mộng tan rồi thì sao, nên cười hay khóc? Thân mộng dạo chơi trong cảnh mộng, mộng tan rồi thì cười, chứ tội gì mà tiếc mà khóc. Như chúng ta ngủ mê nằm mộng thấy cảnh đẹp xấu gì đó, chợt giật mình thức dậy. Nếu mơ cảnh đẹp thì thức dậy hơi tiếc, phải không? Nếu gặp cảnh xấu, thức dậy vui mừng vì đó chỉ là cơn ác mộng. Mình biết rõ nó là mộng, nên tan thì cười, có gì để khổ để khóc!

Bao nhiêu đó đủ tu chưa? Gần nhắm mắt, có ai tới nói mình sắp hết duyên hết khổ rồi, nghe vậy ta cười: “Đồ bỏ này sắp trả lại cho đất nước gió lửa.” Vậy là mộng tan rồi, cười vỡ mộng.

Chúng ta nhắc lại, nói cho người khác nghe cuộc đời là mộng, đó là ghi lời mộng. Nhắn khách nào? Cũng là khách mộng. Nên nói ghi lời mộng, nhắn khách mộng. Câu cuối cùng chí lý nhất: Biết được mộng, tỉnh cơn mộng. Khi ta ngủ gặp mộng lành hoặc dữ, ta thấy vui hay khổ là đang say với cơn mộng đó. Nhưng chỉ cần thức dậy, biết những gì mình thấy là mộng, lúc đó tỉnh hay mê? Tỉnh.

Cũng vậy người nào sống trên cõi đời này, biết thân mộng cảnh mộng, đó là người tỉnh. Đã tỉnh thì không còn gì phải băn khoăn, thắc mắc nữa. Vì vậy biết được mộng, tỉnh cơn mộng là xong. Chuyện hết sức dễ mà người ta không chịu biết. Chuyện qua mất mà mình cứ ôm giữ rồi làm phiền lụy khổ não nhau, thật dại khờ.

Biết cuộc đời là mộng, thân này là thân mộng, cười khóc khen chê gì cũng là mộng thì có gì phiền lụy? Chỉ chuyển một chút vậy thôi, mà là lẽ thật chứ không phải thường. Người thấy được như vậy là có tu rồi, nhưng thế gian không chịu thấy thế. Bởi thấy thân thật cảnh thật nên lo đủ thứ chuyện, lo no lo đói… Lo tới ngày ngã đùng ra chết, lo cho một cái không thể giữ được, vậy mà cứ lo rồi khổ.

Nếu ai bị bệnh nguy hiểm nghe nói “sắp tan mộng rồi”, mình cười với nó chứ không khóc. Ngược lại, nghe ai nói mình bị bệnh nguy hiểm rồi đâm ra hoảng sợ lo âu. Như vậy có cứu được không? Đâu cứu được gì, chỉ càng thêm khổ. Biết thân này giả tạm, mộng huyễn, không có gì quan trọng, còn thì sống, mất thì thôi. Nghĩ vậy ta yên ổn. Rõ ràng tu là sống với trí tuệ.

Người đời thấy như khôn nhưng khôn trong sự mê lầm, giành giật tiền của, danh vọng… Có tất cả những thứ đó rồi sao? Rồi cũng mất. Tiền của tuy quý nhưng khi mình nhắm mắt, nó thành cái gì? Thành của người khác. Ngay cả khi ta còn sống mà không khéo giữ, tiền của danh vọng… cũng sang tay người khác, đừng nói chi đến mất.

Trên thế gian có cái gì thật đâu! Mình tạm dùng mà nghĩ nó thật, lo ky cóp dành dụm, được nhiều thì vui, lỡ mất thì khổ. Phải biết những thứ đó tạm bợ, vì sự sống nên mượn nó làm phương tiện để có cơm ăn, tiền xài… Đã là phương tiện tạm bợ, có gì đâu mà giành giật khổ sở.

Hiểu cho thấu đáo việc tu thấy như ít mà được nhiều, hiểu sơ sơ sẽ tạo nhiều lỗi lầm, rồi sám hối! Sám hối xong, thấy cái gì cũng thật nên lại tranh giành cãi vã, như vậy hết tội không? Sám hối cốt để sửa đổi cho hết tội, nhưng rồi lại cãi nhau, vậy chừng nào hết tội? Sám cái này tạo cái kia, chi bằng thấy rõ lẽ thật. Thấy thân này không thật, nên khen chê tốt xấu gì cũng cười thôi, có gì phải buồn phải khổ. Chúng ta phải tu bằng trí tuệ tỉnh giác, chứ không tu bằng hình thức. Hình thức là phương tiện bên ngoài, đi sâu vào trong thì phải là trí tuệ.

Người tu vượt hơn tầm nhìn của người thế tục. Người thế tục mê lầm cho thân là thật, ăn mặc là thật, rồi giành giật nhau. Thấy những thứ đó là huyễn hóa mới là người thoát tục. Người tu có thoát tục không? Đa số bị mắc kẹt trong tục chứ không thoát nổi. Bây giờ chúng ta phải tu làm sao để khi người ta gặp, biết mình là những người thoát tục thì mới xứng đáng. Nếu hy sinh một đời tu hành mà làm những việc tầm thường thì thật đáng trách.

Có một số người ở chùa mà chỉ chiều chuộng cho khách thương, khách mến để có tiền. Khách đòi gì làm nấy, bảo cúng sao thì cúng sao, như vậy còn gì là tâm hồn siêu thoát của người tu? Người tu phải có cái nhìn siêu xuất, tu hành cho xứng đáng để không hổ thẹn sống một đời vô ích, tu không tới đâu hết. Muốn làm người siêu thoát thì cố gắng tu hành. Mai kia có làm trụ trì hay lãnh Phật sự gì cũng nhớ mình là người thoát tục, chứ không phải kẻ tầm thường kiếm manh áo chén cơm, ăn nhờ ở gửi Phật tử.

Con người siêu thoát có gì ăn nấy không màng ngon dở, ở tùy chỗ không luận tốt xấu, không có gì phải hạ mình cầu xin. Được vậy mới xứng đáng là người thoát tục, không như vậy thì uổng công cạo đầu mặc áo nhuộm.

– Thưa Thầy, con muốn xuất gia mà còn đi làm nên xin được xuất gia tâm.

– Con cứ đi làm, cư sĩ tu cũng tốt, chừng nào dứt khoát không còn bận bịu việc làm ăn nữa, hãy xuất gia. Bây giờ bận tâm việc xuất gia làm chi cho thêm khổ. Làm cái gì dứt khoát cái nấy, đừng có nửa vời, khó lắm.

Thật ra, gốc tu hành là ở tự tâm, tự tâm thì bình đẳng ai cũng có tâm Phật, chứ không có ai lớn ai nhỏ. Trên sự tướng, người tu trước thọ giới cao thì người tu sau phải kính trọng. Sự và lý không tách rời nhau, đối với lý mình hiểu ai cũng có tâm Phật. Nhưng Phật giác ngộ trước thì mình phải lạy ngài, huynh đệ giác ngộ trước mình, mình cũng kính quý, xá chào chứ đừng nghĩ ai cũng có tánh Phật nên bằng nhau. Có tánh Phật đáng quý mà mình để dành không đem ra xài nên hơi nghèo.

– Thưa Thầy, nếu không có đủ duyên để xuất gia thì tụi con giữ năm giới, nếu tụi con muốn giữ thêm một hai giới nữa có được không?

– Cư sĩ tại gia có quyền giữ thêm giới như thọ bát quan trai. Trong tháng mình lựa ngày nào rảnh rỗi đi chùa thọ bát quan trai giữ tám giới, thay vì xuất gia giữ mười giới. Giữ tám giới trong một ngày thôi, rồi xả trở lại giữ năm giới. Đó là nhân để tương lai được xuất gia, vì sợ đời sau quên nên đời này Phật tử thọ bát quan trai. Bát quan trai giới cũng xấp xỉ với Sa-di. Mình tu một ngày giống người xuất gia, gieo nhân đời sau được quả lành đi tu sớm.

– Dạ, mình vô chùa Tịnh độ thọ bát quan trai được không Thầy?

– Chùa nào cũng được, miễn Thầy đó giữ giới luật đàng hoàng đều tốt. Đây là giới luật chứ không phải pháp tu.

– Thưa Thầy, vậy thì có thiền viện ni ở Melbourne, tụi con có được thọ bát quan trai ở đó không?

– Được chứ, nhưng phải từ từ. Mấy cô mới qua nên mọi thứ còn ngổn ngang, ít ra phải một năm về sau, mọi việc sắp đặt ổn định rồi mới tổ chức cho Phật tử tu. Thầy cũng nghĩ bên đó có hai ba thiền viện tăng mà chưa có thiền viện ni, nên cho quý cô qua hướng dẫn Phật tử nữ tu cho dễ.

Thầy hỏi:

– Quý Phật tử nghĩ sao mà xin cạo tóc ở chùa tu?

– Dạ, con muốn tu để sau này về dìu dắt má con tu.

– Dìu dắt mẹ con tu theo, nếu mẹ không tu thì sao? Con nói như vậy là đi tu để trả hiếu thôi. Muốn độ mẹ tu, lỡ độ không được thì sao? Coi bộ cũng còn hơi xa, có gì thực tế hơn không?

– Thưa Sư ông, con thấy mình sống hàng ngày, chuyện vui chuyện buồn rốt cuộc như giấc mộng thôi.

Thầy dạy:

– Khi phát tâm đi tu chúng ta phải có lập trường vững, để khi vào tu không có gì làm lay chuyển mình được. Phát tâm tu mà không có lập trường vững, khi gặp chuyện vui thì hăng hái tu, gặp chuyện buồn liền thối tâm muốn trở về. Đó là điều không tốt. Muốn có lập trường phải làm sao? Phải thấy rõ cuộc đời, dù giàu dù nghèo rốt cuộc cũng là tay không, được tất cả rồi sẽ mất tất cả. Người có nhà lầu xe hơi, sự nghiệp lớn, nhưng tới khi nhắm mắt thì cũng thành tay không. Người tu là tìm lại cái chân thật, nhà thiền gọi là bản lai diện mục của mình. Mặt thật muôn đời mà mình quên, giờ tìm lại cho được thì không còn bị luân hồi sanh tử nữa.

Đi tu với tâm niệm là muốn giải thoát sanh tử chứ không phải tu là chuyện tầm thường. Như vậy, dù cho ở đời được thụ hưởng sung sướng, có đầy đủ mọi nhu cầu nhưng rồi ít chục năm cũng tiêu tan. Hiện giờ mình có một cái chân thật mà bỏ quên, nên tu là để làm sống lại cái thật đó, cái mà Phật gọi là Phật tánh hay tánh giác. Trở lại cái đó rồi mới thoát ly sanh tử được. Nên nhớ mục tiêu người tu là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử trước hết là bỏ tam độc tham sân si. Bởi vì không thể nuôi dưỡng những thứ đó mà có thể giải thoát sanh tử được.

Tham sân si là gốc của sanh tử cho nên khi cạo tóc xuất gia rồi, có ai nói nặng mình, mình nên cự lại hay bỏ qua?

– Dạ, bỏ qua.

– Lời nói thế nào là lời nói nặng? Như mình đang tỉnh táo như vầy, có người nói “Chị là đồ ngư”, tức không? Tức. Hoặc như mình đang đói bụng, có anh em nói: “Tôi sẽ làm bánh đãi anh.” Đang đói bụng mà có người nói đãi bánh, nghe vui hay buồn? Vui. Nhưng nếu người ta chỉ nói miệng chứ không làm, bụng mình có hết đói không? Vẫn đói. Mình không ngu mà người ta nói ngu, vậy có thành ngu không? Cũng y nguyên là mình, đâu có ngu chút nào. Lời kia chỉ là lời rỗng, cãi với họ làm chi, giận người ta làm chi. Nếu người ta nói mình ngu liền vội la lên, đó là ngu thật. Lúc ấy nên nói: “Thưa cô con ngu, xin cô dạy làm sao hết ngư”, chứ cãi làm chi thành ngu cả đám, rồi sanh bao nhiêu chuyện rắc rối khác.

Khi đi tu rồi chúng ta phải nhớ không được si ám nữa. Người thế gian tranh hơn tranh thua từng lời nói, mình vào đạo rồi thì tất cả lời nói coi là gió thổi qua tai, không thật. Lời nào hay thì mình học, lời nào dở mình bỏ qua. Như vậy tu mới tiến, mới an ổn.

Huynh đệ ở chung năm bảy mươi người, thế nào cũng có người vầy người khác. Người hợp với mình thì thương, người không hợp với mình thì ghét; vô chùa tu mà còn thương còn ghét là mắc kẹt rồi. Phải nên nghĩ người hợp với mình thì ta mang ơn đã chỉ dạy cho mình, người không hợp thì nghĩ huynh đó với mình có cái nhìn khác nhau, họ có gì hay thì học, cái dở thì chừa. Chỉ vậy thôi, đừng thương cũng đừng ghét.

Ở thế gian có thương có ghét, vô đạo thì thương ghét gác qua một bên để sống với tình đạo. Đừng cột với người thương, cũng đừng chống chọi với người không thương, như vậy việc tu mới tốt. Nếu cột trói hoặc chống trái thì tu mười năm, hai mươi năm cũng chỉ ở trong vòng luân hồi sanh tử mà thôi.

Có một người Mỹ nắm tay Thầy nói thương như cha vậy. Điều này chứng minh lý luân hồi không nghi ngờ. Nếu không phải đời trước có duyên thì đời này gặp lại đâu có cảm xúc như vậy. Chúng ta nghiệm lại sẽ thấy mọi việc không phải mới có trong hiện tại, mà do quá khứ cộng lại. Khi nhìn mọi người tự nhiên mình có cảm, người này dễ thương, người kia dễ ghét, dù họ chưa làm gì hay chọc ghẹo chi mình. Đó là đời trước có ân oán với nhau, người ân gặp lại có cảm tình liền, người oán gặp lại thấy phát giận. Đó là do nhân duyên quá khứ.

Chúng ta tu hành là đi theo dấu chân đức Phật. Khi ngài đi ra bốn cửa thành thấy cảnh sanh già bệnh chết, liền ngẫm nghĩ con người sanh ra rồi già, bệnh, chết. Một người như vậy, trăm người như vậy, triệu người cũng như vậy. Mọi người có mặt ở đây rồi sẽ già, sẽ bệnh, sẽ chết, có ai đi đường khác không? Khi sanh ra là ta đã có mặt, mình không còn chọn lựa được, nhưng khi già bệnh chết tới chẳng lẽ ta cũng cam lòng, để nó tới đâu thì tới hay sao? Chỗ này Phật dạy có thể chuyển nghiệp.

Khi nghĩ tới mai kia mình phải chết như bao nhiêu người, chúng ta phải chuẩn bị cho mình cái chết tốt hơn. Muốn chuẩn bị phải làm sao? Phải ráng tu. Đối với thân, mình giữ không tạo ác nghiệp như sát sanh, trộm cướp… Đối với miệng không nói lời tổn thương người. Đối với ý luôn luôn giữ trong sạch. Người mới tu thọ năm giới, tu thập thiện giữ cho ba nghiệp được trong sạch. Đó là bước đầu tu tập.

Nếu muốn thoát ly sanh tử thì phải biết manh mối của nó. Đó là nghiệp. Ý niệm dấy động là nhân tạo nghiệp. Có khởi nghĩ thì mới có thương, ghét, buồn, giận… Như vậy khởi niệm là gốc của tạo nghiệp, khởi niệm tham sân si thì tạo nghiệp dữ. Cho nên khi chúng ta ngồi thiền trọng tâm đặt ở chỗ nào? Ở chỗ biết niệm. Niệm khởi là vọng tưởng, thấy nó liền buông xả, xả tới hết niệm rồi mà vẫn rõ ràng thường biết. Cái rõ ràng thường biết đó chính là mình. Niệm khởi thì lăng xăng đủ thứ, khi lặng hết rồi, chỉ còn rõ ràng thường biết. Đó gọi là giải thoát sanh tử, không còn manh mối tạo nghiệp.

Chúng ta tu phải để tâm thanh tịnh, đừng dấy khởi, đừng chạy theo vọng tưởng. Bởi không dấy khởi, không chạy theo nên dừng tạo nghiệp. Khi niệm dừng hẳn rồi thì tâm thanh tịnh hiện tiền. Tâm thanh tịnh hiện tiền đó là thiền định. Từ tâm định, trí tuệ phát sáng gọi là giác ngộ. Mỗi ngày mỗi đêm tăng ni ngồi thiền là cốt dừng niệm tạo nghiệp. Ai ngồi mà loạn tưởng hoài thì khi nhắm mắt sẽ theo nghiệp dẫn vào các đường, rất nguy hại.

Vậy con đường giải thoát gần hay xa? Đi bao nhiêu cây số mới tới? Cái đó ở ngay bên cạnh mình, nhưng vì ta theo niệm tạo nghiệp thành ra xa. Tạo nghiệp thì trầm luân, dừng niệm thì tâm lặng, tâm lặng thì giải thoát sanh tử. Vậy, giải thoát cách chừng bao xa? Chỉ niệm khởi không theo. Niệm này dấy lên không theo, niệm kia dấy lên không theo. Như vậy là chúng ta đang chuẩn bị đi trên con đường giải thoát.

Hết niệm rồi thì cái gì dẫn, cái gì đưa mình tới nơi nhận quả báo? Hết niệm thì hết tạo nghiệp. Hết tạo nghiệp thì không còn sanh tử. Ngay một bên thôi. Người ta tưởng phải đi tới nơi nào đó xa xôi mới giải thoát. Thật ra không phải vậy, mà nó rất gần với mình. Chỉ cần buông niệm, xả niệm, không cho dấy khởi thì không còn tạo nghiệp, ngay đó là giải thoát. Chạy theo nó cũng là mình, buông nó cũng là mình. Đó là việc của mỗi người. Tu là tự mình biết, tự mình sửa, tự mình chuyển, không ai thay thế cho mình được. Nắm vững sự tu, chúng ta thấy việc tu dễ như trở bàn tay, khỏi học nhiều kinh nghiệm ở bên ngoài. Bấy nhiêu đó là biết đường tu rồi.

Ở đây mỗi chiều tăng ni sám hối, tối ngồi thiền, khuya ngồi thiền. Sám hối để giải trừ nghiệp cũ trói buộc mình, ngồi thiền là dừng những manh mối tạo nghiệp mới. Nghiệp mới không tạo, nghiệp cũ hết thì giải thoát sanh tử. Vậy tu không có gì khó, rất hiện thực, không phải chuyện mơ màng trên trời trên mây. Hiểu đạo lý cho thật tường tận mới biết tại sao mình ngồi thiền, nếu không biết lỡ ai hỏi ngồi thiền để làm gì, mình nói lung tung mà không biết gốc ngồi thiền là để buông xả vọng niệm thì thật là sai lầm. Như vậy, lúc mình không ngồi thiền mà nhổ cỏ hay làm gì, dấy niệm liền buông thì có giống ngồi thiền không? Cũng giống. Nên biết không phải ngồi thiền mới tu, trong nhà thiền nói đi đứng nằm ngồi đều là thiền, ăn cơm uống nước, mặc áo cũng là thiền.

Niệm là cái bị mình biết, buông niệm là ta làm chủ, nó là khách chứ không phải chủ. Vậy mà lâu nay chúng ta nô lệ nó, bị nó quậy nên cứ nghĩ chuyện này chuyện kia, năm trên năm dưới đâu đâu, ngủ cũng không yên. Chừng nào chúng ta buông tất cả dấy niệm, những ý niệm lăng xăng lặng hết, mới làm chủ được mình. Ông chủ đã có sẵn mà lâu nay mình bị mất chủ quyền là do cái đám vọng tưởng đó. Bỏ hết vọng tưởng thì lấy lại chủ quyền thôi, nên Lục Tổ dạy không nghĩ thiện không nghĩ ác là đuổi hết vọng tưởng thì bản lai diện mục hiện tiền.

Vậy tu dễ hay khó? Khó. Tại sao kỳ lạ vậy? Biết mà tu hoài không xong là tại vì tập khí nhiều đời nên khó bỏ. Vì thói quen nên vừa ngồi thiền là nhớ chuyện này chuyện kia. Từ hồi bé tới giờ cứ nhớ hoài, nhớ chuyện này đã rồi nhớ chuyện kia, quen cả đời như vậy nên bây giờ muốn buông rất khó. Chúng ta biết rõ là vọng thì phải buông, can đảm buông thì sẽ hết, còn nếu đa mang cứ chạy theo nó hoài thì muôn kiếp không ra khỏi luân hồi. Chọn cái nào, giải thoát sanh tử hay đi trong luân hồi, đó là quyền của chúng ta.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.